Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Chekhov: Cửa vào Vĩnh Cửu

Published

on

“Một trong những nhà văn ‘phá hoại, lật đổ’ sâu thẳm nhất từng có mặt trên cõi đời này”.

Rất ít người, ngay cả trong số những độc giả ái mộ Chekhov, đồng ý với nhận định trên của Simon Karlinsky, người tuyển chọn và bình luận một số thư từ của nhà văn Nga thường vẫn được coi là “hiền lành” này.[1]

Khác với tiểu thuyết của Dostoevsky – cơn lũ ma quái, của cái gọi là tâm lý con người – kịch và truyện của Chekhov là về những con người bình thường, với cuộc sống nhàm chán, vô vị của họ. Trong khi Tolstoy rao giảng chủ nghĩa vô chính phủ chống lại Nhà Thờ Nga và Nhà Nước, Anton Chekhov lặng lẽ làm một ông thầy thuốc nhà quê, một ông chủ trại nho nhỏ, cho tới khi tình trạng sức khoẻ bắt buộc ông phải lui về sống những mùa đông ở Yalta. Một cuộc sống tránh né mọi vấn nạn nóng hổi của thời đại, cuối cùng cho thấy sự thiếu vắng ý thức “dấn thân” như thế đó đã làm cho những gì ông viết ra đầy chất phá hoại (subversive). Ông “coi thường” rất nhiều những “tín lý” của xã hội hiện đại, về tiến bộ, tự do, đạo đức cá nhân và (không như Tolstoy), ông không tìm cách thay thế những gì mà ông huỷ diệt, bằng những “huyền thoại” riêng của mình.

Xã hội thời đó trông mong nhà văn như những người dẫn đường về ý thức hệ và đạo đức trong cuộc chiến chống lại vương quyền. Trong khi những nhà phê bình cấp tiến đề cao những nhà văn “hạng nhì” như Zlatovrasky và Gled Uspensky với những nhân vật đối nghịch: thầy tu, nhà buôn, sĩ quan (những nhân vật phản diện xấu xa) trong thế đối lập với những người dân quê và những con người trẻ tuổi lý tưởng (những nhân vật với trái tim trong trắng), Chekhov viết thư cho vị chủ báo bắt đầu in tác phẩm của mình: Tôi chẳng cấp tiến, chẳng bảo thủ, chẳng tu sĩ, chẳng dửng dưng. Tôi chỉ muốn là một nghệ sĩ tự do, và chẳng cần chi nữa. Thái độ đạo đức giả, sự ngu si đần độn, hành động hiếp đáp, cả vú lấp miệng em, bạo chúa… ngự trị không chỉ ở trong những gia đình con buôn, những trạm cảnh sát. Tôi thấy chúng ở trong khoa học, văn chương, thế hệ trẻ. Đó là lý do tại sao tôi chẳng trông mong gì ở đó. Điều thánh thiện nhất trong mọi điều thánh thiện, riêng với tôi, đó là thân thể người ta, sức khoẻ, sự thông minh, tài năng, hứng khởi, tình yêu và… tự do – thoát ra khỏi bạo lực và những điều dối trá – không cần biết hai thứ sau mang hình dáng nào.”

Lá thư, một tập hợp 12 truyện ngắn của Chekhov, mỗi truyện như một thước phim sinh động ghi lại cuộc sống của những người xung quanh ông.

Sự ghê tởm bạo lực và giọng ấm ớ đạo đức, Chekhov có rất sớm, ngày càng lộ rõ. Ông có lần nhận xét (nhân nói về thái độ lý tưởng của Tolstoy đối với dân quê Nga): “Tôi nhà quê ở trong máu, và tôi chẳng hề bị xúc động bởi những đức hạnh của họ.”

Ông sinh năm 1860, được một tuổi là bãi bỏ chế độ nông nô. Ông nội, ông ngoại là nông nô. Ông già trút được lốt nhà quê khi chen chân làm chủ một cửa tiệm tại thành phố Taganrog ở phía Nam nước Nga. Là con trai thứ ba trong sáu người, ông nhớ hoài nguồn gốc nông dân, chế độ gia trưởng tàn bạo của ông bố mà ông và hai người em trai là nạn nhân, chưa kể những giờ dài đằng đẵng quỳ trên đá lạnh, hát thánh ca tại nhà thờ dưới con mắt khắc nghiệt của ông thầy dậy nhạc. Mười sáu tuổi, bị bỏ lại ở Taganrog, tự lo thân khi ông bố khánh tận phải đem gia đình về Moscow tìm việc làm. Trong ba năm vừa học vừa lo kèm trẻ, ông làm được điều Tolstoy suốt đời mơ ước nhưng không sao thực hiện được: tái tạo ra chính mình, một con người như một toàn thể đạo đức, thoát ra khỏi những biến dạng bởi chế độ bạo chúa vốn đè nặng đời đời kiếp kiếp lên người dân Nga.

Ông trở thành đầu đàn trong gia đình; sự sống còn chỉ còn trông vào số tiền ông gửi về. Cùng thời gian, ông lo tự trau dồi bằng những giờ tại thư viện thành phố. Thành quả của những năm tháng cô đơn đó, chúng ta có thể nhìn ra, trong thư viết cho người em Nicolai: “để vượt lên khỏi những ngọn roi khốc liệt thuở ấu thời, (em) phải làm sao tạo được sự kính trọng của những con người có nhân cách; phải tự kiềm chế trước hành động nông nổi, liều lĩnh, và lừa dối; không được ngừng đọc, nghiền ngẫm sâu xa, trau dồi ý nguyện của mình. Mỗi giờ là một hiếm hoi, quý báu.” Vào năm ba mươi tuổi, ông đã chứng tỏ điều này, khi một nhà xuất bản coi ông là một nhà văn “vô nguyên tắc”: “Tôi chưa từng nịnh bợ, nói dối, sỉ nhục bất cứ một ai”, “chưa từng viết ra một dòng mà tôi cảm thấy nhục nhã vì nó.”

Đời văn của Chekhov bắt đầu là để giúp đỡ gia đình khi ông được học bổng và rời thành phố quê hương tới Moscow làm sinh viên Đại học Y khoa. Trước tiên là những bài viết nho nhỏ, gửi cho những tuần báo. Thành công đến nỗi, sau khi tốt nghiệp y khoa, ông “đành” phải chia thời giờ ra làm hai, “giữa y học… người vợ hợp pháp, và văn chương… người tình (bà vợ bé), của tôi.”

Truyện ngắn của ông có một sắc thái riêng, đề tài đa dạng, trải dài toàn cảnh nước Nga với những con người của nó. Chưa tới ba mươi, ông đã là một nhà văn lớn. Năm 1887, vở Ivanov cho ông danh hiệu: người viết bi kịch. Nhờ nó, ông mua được căn nhà cho gia đình thuộc vùng ngoại vi Moscow. Trở thành nhân vật trung tâm của giới văn nghệ thủ đô và của phái đẹp; một số người tình (trước khi có vợ, vào năm bốn mươi) sau này trở thành bạn thân. Bạn trai cũng “mê” ông: họa sĩ Konstantin Korovin mô tả bạn mình “cực kỳ đẹp trai”, với đôi mắt dịu dàng, và một nụ cuời “e thẹn lạ chi đâu”, “toàn vẻ bề ngoài gây một sự tin cậy đặc biệt”. Niềm tin cậy đặc biệt này, là do tình nhân loại “chân trần”, luôn luôn bám vào đất của ông. Chính nó đem đến cho ông “một cái mũi rất nhọn” chuyên trị mùi ghê tởm, của “thói đời”.

Những nghiên cứu, ghi nhận riêng của ông, về “việc thiện”, các công trình nhân đạo, thật đáng nể. Cuốn sách của ông về đảo tù Sakhalin (The Island of Sakhalin, 1893, dựa trên số liệu từ những cuộc thanh tra tình trạng y tế ở đó) đã bầy ra cho cả nước Nga thấy sự khủng khiếp, ghê rợn của hệ thống nhà tù. Những cố gắng của ông trong việc cứu đói tại vùng ông vào năm 1891-1892, được kèm theo bằng những chuyến đi mệt nhoài, thường lội bộ suốt vùng băng giá, như một ông thầy thuốc không được trả lương có nhiệm vụ ngăn chặn một trận dịch, bên cạnh một trận đói. Ông đã chữa trị hàng ngàn dân quê tại y viện địa phương, hoạch định, tham gia việc xây cất trường lớp, thư viện, đóng góp tiền bạc cho những công trình phúc lợi, trong đó có việc cứu trợ một tờ báo y học bị khánh tận, mua ngựa phân phát cho dân chúng, làm phương tiện chuyên chở lúa gạo. Chính thái độ lăn xả vào cuộc sống hàng ngày đã khiến ông trở nên khinh khi những phương thuốc về một “ngày mai ca hát”, hay rõ hơn, một cuộc cứu đói toàn cầu: nhân một chuyến thăm Venice, ông đưa ra nhận xét, một trong những niềm vui của “Đến thăm Venice rồi hãy chết”: thành phố thiếu vắng hẳn những bộ mặt làm ra vẻ quan trọng của mấy ông Mác-xít. Khi đến thăm Hong Kong, ông nhận xét, so với người Nga, người Anh vậy mà đã nhiệt tình quan tâm tới những “người làm” (employees) của họ. Ông viết, tôi chẳng hề tin vào tầng lớp trí thức “en masse”; ông đặt để niềm hy vọng của mình ở nơi những cá nhân, bất kể trí thức hay nông dân, rải rác khắp nước Nga, chỉ có họ là đáng kể: chỉ với những hiểu biết, những cố gắng của họ mà xã hội từ từ biến đổi.

“Tôi có niềm tin vào sự tiến bộ, ngay khi còn là một đứa bé, nhưng chuyện đó chẳng giúp tôi, khi không tin vào nó, bởi vì sự khác biệt giữa thời kỳ thấm đòn và hết còn bị đòn thật là lớn lao.” Ông ngưỡng mộ thái độ lý tưởng của những người Nga cấp tiến, nhưng những lời hô hào của họ chỉ làm ông nhớ lại ấu thời: “Tôi quá ớn sự lạm dụng, bất kể nó nhắm vào ai.” Ông buộc tội tầng lớp trí thức, do không tưởng nên bỏ qua những thành quả của zemstva – Những Thay Đổi Lớn, The Great Reforms, hay là những định chế mà chính quyền đưa ra vào thập niên 1860 – nhằm canh tân xã hội Nga. Về những tiến bộ trong ngành giải phẫu tại Nga trên hai thập niên trước đó, ông có lần đưa ra nhận xét, “nếu phải chọn lựa giữa không tưởng cấp tiến, được miêu tả như trong tiểu thuyết của Nicolai Chernyshevsky, What Is to Be Done? nổi tiếng vào thập niên 1980, và bệnh viện tồi tệ nhất ‘zemstvo’, tôi chẳng do dự lấy một chút, khi ôm lấy bệnh viện.”

Đề tài trấn ngự cơ bản của nghệ thuật “Chekhovian” là từ cuộc chiến đấu đầu đời, cộng với những thực hành do nghề thầy thuốc mang lại: cuộc chiến đấu của những ước vọng con người, chống lại những hoàn cảnh “bất thuận lợi”. Những năm tháng ở Taganrog đã dạy ông một điều: những cuộc chiến đấu quan trọng nhất, mang tính đạo đức, “được hay thua” không phải vào thời điểm căng thẳng, bi đát, mà thông qua một quá trình những chọn lựa chẳng có gì đáng kể, rất cá nhân. Chúng ta có thể nhận ra dáng dấp của “người hùng Chekhovian” qua lời khuyên của ông gửi tới nhà xuất bản, và cũng là bạn, Aleksei Suvorin, khi ông này viết một bi hài kịch truyền thống: Bạn không thể kết thúc với những người theo chủ nghĩa hư vô. Với họ, chỉ có bão tố, hung bạo. Điều vở kịch của bạn cần là một kết cục êm ả, trữ tình, cảm động… Nếu nữ nhân vật của bạn, sau cùng nhận ra, những con người quanh cô đều làm tầm thường, vô dụng, xấu xa… điều này chẳng lẽ không “khủng khiếp” hơn cả chủ nghĩa hư vô hay sao?

Điều kỳ lạ ở cái bình thường; thảm kịch của điều “chẳng có gì bi thảm”, đó là đề tài kịch Chekhov, cùng với nó là cuộc cách mạng kịch nghệ Nga vào thập niên cuối đời ông. Vở kịch lớn đầu tay, Ivanov, vẫn còn giữ những yếu tố bi kịch truyền thống, đã được đón nhận khá nồng nhiệt; vở kế, The Seagull (trong đó, ông đưa ra kỹ thuật của mình, bỏ đi những “mưu đồ” kịch mang tính ước lệ) là một thất bại thê thảm ngay đêm đầu được trình diễn vào tháng Mười 1896; nhưng lần trình diễn thứ nhì, tại Moscow vào năm 1898, đã được nồng nhiệt đón nhận, cũng như những vở kế tiếp: Uncle Vanya, Three Sisters, và vào tháng Giêng 1904, The Cherry Orchard. Sự kiện “chẳng có gì xảy ra” ở trong kịch Chekhov đã trở thành “dấu ấn” của ông, nhưng giới phê bình lại coi đây là khả năng tạo nên không khí, trạng thái kịch, chúng thường được cắt nghĩa như những gợi nhớ u buồn về một nước Nga tranh tối tranh sáng, khi những bậc trưởng thượng, đại diện cho giai cấp đang hấp hối, “nhìn ngắm những cuộc đời thừa thãi của họ.”

Richard Gilman, trong Kịch Chekhov: Cửa vào Vĩnh cửu[2], đả phá những nhận định “bản kẽm” như thế. Ảnh hưởng Francis Ferguson, khi coi The Cherry Orchard là “thơ-kịch của nỗi khổ đau, do tang thương dâu bể”, Gilamn tiếp cận kịch Chekhov: “một điều giả dụ như là không-bi đát”; “miêu tả, không phải một hành động, nhưng một điều kiện”; nỗi thống khổ ở đây là do cảm nghĩ của chúng ta – những con người sinh tử lão bệnh – về thế gian; chúng ta: mồi ngon của thời gian, và của đổi dời. Khả năng của Chekhov – khi “bi đát hóa” nỗi “không-bi đát”, thảm kịch của điều vô ích, của chuyện thường ngày – thật mãnh liệt, ở Three Sisters, trong đó, bước đi thời gian xói mòn dần mọi hy vọng về tương lai vẹn toàn, qua chuyến về thành phố, nơi đồng nhất với quá khứ lý tưởng của họ. “Nó đâu mất rồi? Đâu? Đâu? Chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở về được Moscow, chẳng bao giờ… giờ này, tôi thấy rõ điều đó.”

Như Gilman chỉ ra, rất nhiều nhân vật của Chekhov mong ước trở thành một người nào khác, ở một nơi chốn nào khác, “kịch” bắt họ trở về nơi chốn, con người, là họ hiện giờ. Nhưng ở đây không có vấn đề “số mệnh, căn phần”. Diễn tiến đơn tuyến, ước lệ đưa đến nút mở chót, được thay thế bằng điều mà Gilman gọi là “trường bi kịch” (dramatic field): chuỗi phản ứng đưa đến cảm nhận về sự mất mát. Chúng ta chỉ nhìn thấy những nhân vật, một khi bị giam cứng vào vùng ao tù đóng váng, họ chẳng còn chi để mà vui đùa, giải trí, ngoại trừ những câu nói dấm dẳn, những mẩu chuyện nhát gừng, đong đưa giữa hoài nhớ và nhận thức, được đánh dấu bằng những trống vắng, bằng đột biến, từ khôi hài qua nghiêm trọng. Như Karlinsky chỉ ra, một trong những tư tưởng “chìa khóa” của Chekhov là trong bản tự thuật tóm tắt (resumé), theo đó, tác giả khẳng định nghề y của ông đã có một ảnh hưởng quan trọng đến sáng tác văn học. Ông nhấn mạnh, nhà văn phải trung thành với thực tại thực nghiệm, với thế giới, hành vi cư xử của con người; và đưa ra những nhân vật, với những cái nhìn “khách quan tuyệt hảo”. Khi một truyện ngắn của ông bị coi là không có một thái độ rõ ràng về chủ nghĩa bi quan, ông trả lời: công việc của nhà văn không phải là giải quyết những vấn đề như là Thượng Đế, bi quan… nhưng ghi nhận, ai, trong điều kiện nào, đã nói hay đã nghĩ thế này thế nọ về Thượng Đế, về bi quan.

Trên tờ TLS, July 18, 97, John Stokes, khi điểm cuốn Anton Chekhov: A Life, đã cho rằng chủ nghĩa nhân bản Chekhovian, vốn nhập thân vào những nhân vật thầy thuốc, mãnh liệt, vì nó kính trọng “tiếng hát nhân ngư” từ cõi tư riêng (the siren-songs of privacy), từ nỗi bầm rập, té lên té xuống của con người. Những đức hạnh của con người, “chân thật nhất, hướng thượng nhất, nhưng cũng khó khăn nhất”, có cội rễ ở từ “Sod”, tên con mongoose, hay mangu, của Chekhov. Ông nói, những đặc tính của con vật, là “can đảm, tò mò, và rất mến con người”. Con vật Sod tội nghiệp có cơ hội là bỏ chạy, cuối cùng chấm dứt cuộc đời, tại Sở Thú Moscow. Chủ của nó cũng chia sẻ với con vật thân yêu của ông, “đặc tính” chạy trốn đó, nhất là khi có đàn bà dính vào! Rayfield cho biết Chekhov sợ tình dục như sợ bệnh nghiền; nếu ông đầu hàng, nó sẽ tiêu huỷ tự do và tài năng sáng tạo của ông. Thù Zola, khi miêu tả những cuộc tình “nhà nghề, thô bỉ”, ông đã viết về một gái điếm Nhật, “nghề riêng ăn đứt” đến nỗi “bạn cảm thấy không phải đang tình tự, mà là tham dự một lớp cao học, về nghệ thuật cưỡi ngựa.” Tuy đẹp trai, nhưng qua cuốn tiểu sử của Rayfield, chúng ta thấy đây là một con người với những cuộc tình “bỏ đi”. Thê thảm nhất là cuộc tình với “Lika” Mizinova, một người đẹp nghệ sĩ. Trong nhiều năm họ chia sẻ hoan lạc, hiến dâng và sự lạnh lùng, dửng dưng.

“Tin tưởng vào Chúa, một chuyện quá dễ dàng. Đám ‘mật vụ’ nhà thờ người Tây Ban Nha (inquisitors) tin vào Chúa. Không, bạn phải tin vào con người! Niềm tin này, chỉ có thể khả hữu, ở một số rất ít những con người hiểu và cảm thấy Christ.”, một truyện ngắn Giáng Sinh của Chekhov đã kết thúc như vậy, nhưng đã bị kiểm duyệt đục bỏ.

Hết.

Chú thích:

  1. Anton Chekhov’s Life and Thought: Selected Letters and Commentary, Michael Henry Heim và Simon Karlinsky dịch từ tiếng Nga, 494 trang, nhà xb Northwestern University Press, 1997.
  2. Yale University Press, 261 trang, 1997.

Nguyễn Quốc Trụ

Theo bài viết Chekhov, the Subversive của Aileen Kelly, NYR Nov 6, 1997; và The Human Virtues của John Stokes TLS July 18, 1997.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Lê Khải Việt và những cảm hứng mong được kể lại

“Trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.”

Published

on

By

Tôi đọc Chuyến bay tháng ba tình cờ vào đúng những ngày cuối tháng Tư đỏ lửa, nhưng không phải của hơn 45 năm trước mà là ở thời, ngày và giờ hiện tại. Thật trùng hợp khi mà đây cũng là một cuốn sách (phần nhiều) nói về chiến tranh, và hơn hết, còn về những điều đến nay ta vẫn không thể biết ai đúng, ai sai, ai phải, ai trái. Những dòng đầu của Lê Khải Việt làm tôi nhớ nhiều tới The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen. Đơn cử cả hai đều viết về chiến tranh, đều là hành trình lội ngược về ký ức; nhưng còn hơn thế, đó là nỗ lực nhằm lộn trái cái tôi, đi sâu vào trong câu hỏi muôn đời của cái căn bản nhất và cốt tủy nhất khi sinh ra dưới nhân dáng con người.

Tôi cũng rất thích Austerlitz của W. G. Sebald vì những dòng hồi tưởng dài ngoằng, về những nhà ga và những con người nay đã chìm vào dĩ vãng. Càng thích hơn nữa những tấm ảnh trong cuốn sách ấy, vì đó là những hiện-thực-hóa câu văn để cho tâm trí bớt phần mỏi mệt vì những tưởng tượng phải vắt kiệt ra để tiêu hóa chúng. Và trong cuốn sách này, ngôi miếu cũ với ký hiệu EE vòng ngoài chữ C, tấm ảnh về chiếc trực thăng trên nóc chuồng cu vào ngày 29 tháng Tư hay cảnh chạy loạn của một gia đình đông đúc từ An Lộc chạy ra Sài Gòn… thực sự khiến tôi thích thú. Tôi hỏi anh về cảm hứng viết nên cuốn sách này, bởi nhẽ, những tấm ảnh, tư liệu hay những tưởng tượng khơi nguồn ngòi bút là một ấn tượng vô cùng sâu xa mà ta không thể chối cãi, dẫu ở vị thế nào hay chịu ảnh hưởng ra sao.

*

Dễ thấy một vài câu chuyện trong Chuyến bay tháng ba được khơi nguồn dựa trên những tư liệu lịch sử. Vậy quá trình sáng tạo nên cuốn sách này diễn ra thế nào, thưa anh?

Tôi khởi viết những truyện ngắn trong tập này từ cảm hứng của người viết, chứ không phải từ tư liệu lịch sử. Đương nhiên, khi viết tôi dựa trên những tư liệu lịch sử nhất định chứ không hoàn toàn hư cấu. Ví dụ như chi tiết về người đội trưởng toán biệt kích là dựa theo chuyện có thật của một vị cựu binh Mỹ ở Việt Nam mà vài năm trước người ta bàn tán khá sôi nổi. Ngoài cuốn sách của tác giả Vistica (The Education of Lieutenant Kerrey – Người viết) về chuyện này, tôi còn đọc một vài cuốn hồi ký khác của những biệt kích Navy SEAL để hy vọng miêu tả chân thực hơn.

Những chi tiết trong những truyện khác đều dựa vào những gì tôi đã đọc được trong sách lịch sử. Đó là phần tư liệu. Quay trở lại câu hỏi chính. Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được. Về chuyện sáng tạo, thông thường trước khi viết tôi hay đọc lại vài trang của những tác giả ưa thích. Điều đó đem lại một chút kích thích để tay mình đỡ ngại ngùng hơn trên bàn phím.

*

Và cũng phải khẳng định rằng, đối với tôi, đây dường như không phải là một tuyển tập truyện ngắn dẫu cho dung lượng vừa phải của những kết cấu cấu thành nên nó. Mà cách gọi khác (có vẻ toàn diện và đầy đủ hơn) rằng chính nhưng văn bản này của Lê Khải Việt đã xây nên một bức tranh khớp nối hoàn hảo giữa ba thành tố - ký ức, thời gian và sự chuyển dời, để làm nên một cõi nhân tình thế thái mênh mông và đầy chuyển động. Trong đây ẩn chứa những câu chuyện tình của anh bộ đội và cô học sinh, những mưu mô tiếm quyền tự sâu bản chất hay những mối quan hệ đời sống đã đến hồi kết… mà anh gọi rằng là những “đoản văn vô thưởng vô phạt”. Nhưng rốt cuộc rồi liệu có hay không cũng không quan trọng, bởi lẽ, cái lững thững, lơ lửng; cái mất kết nối hay vô căn cước này đã xuất hiện tràn khắp một vùng không gian – có thể là những đặc trưng chiến tranh, mà cũng có thể rất là con người; không chút ngơi nghỉ hay khi vắng bóng.

*

Nói về thể loại của Chuyến bay tháng ba, liệu có thể cho rằng đây là một “tập truyện ngắn” bởi những sợi dây liên kết dẫu cho mong manh nhưng có tồn tại giữa các văn bản?

Nếu có một liên kết chung nào, như một chất liệu nền, thì đó là chiến tranh. Thật ra cũng có một hai truyện trong tập này chỉ là những đoản văn vô thưởng vô phạt, không dính dáng gì đến chiến tranh.

Nhân vật trong các câu chuyện của anh thường không có một căn cước xác định. Liệu đó là đặc tính của ký ức – sự bất định, hay ngầm ý rằng ai rồi cũng sẽ trở thành “nạn nhân” trong chính “trang sử” riêng bản thân mình?

Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.

*

Là tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, thế nhưng Chuyến bay tháng ba đưa tôi đi vào nhiều vùng từ trường khác nhau của các cách viết mới lạ. Tôi phát hiện một chút Kafka trong Đấu tranh, một chút George Saunders trong Căn phòng, và sau này, cả một chút lửng lơ của Sâm Thương hay Phan Triều Hải (như anh trả lời trong cuộc phỏng vấn) ở Ăn tối hay Ba điều ước. Nếu một người ngủ dậy bỗng chốc biến thành gián, thì ở đây bạn sẽ thấy loài rồng trên nóc miếu thờ trở về trong mơ. Nếu cặp đôi bị đưa vào phòng thí nghiệm thử loại Verbaluce ™ của một nhà khoa học dở hơi nào đó; thì căn phòng và một chỗ trũng trong cuốn sách này sẽ là điểm tụ phối cảnh làm trầm trọng hơn não trạng đã phân hai cực bởi do chiến tranh.

*

Một vài khoảnh khắc anh viết dễ gợi nhớ tới màu sắc của Franz Kafka hay George Saunders. Những nhà văn nào đã có tác động rất lớn lên anh?

Chắc chắn là Franz Kafka rồi. George Saunders cũng rất hay nhưng tôi chỉ mới đọc một cuốn của ông. Gần đây thì có Ray Bradbury. Tác giả Việt Nam thì Phạm Công Thiện, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Triều Hải.

*

Và như đã nói, bởi những ý tưởng vượt thoát ra khỏi chiến tranh, tiếm quyền, tội ác… – bỗng chốc tôi nhận ra anh chỉ đang mượn ký ức như lớp vỏ ngoài của loài tôm sông. Cái lớp nhờ nhờ, sệt sệt mà ta đem đun hay đi nướng lên thành ra đỏ tươi vô cùng bắt mắt ấy thật ra vô nghĩa. Những điều xấu xa ẩn giấu trong đây qua lớp từ ngữ nay được mài khảm thành những cổ vật chìm giấu nghìn năm, nhưng có điểm chung là dù cho chúng được xử lý theo cách nào thì, rồi cũng sẽ vô dụng như lớp vỏ ấy, không một chút lợi cho vật bị ăn và người muốn ăn. Tôi hỏi anh vì sự vô nghĩa lý của chiến tranh, nhưng ngay cả khi chiến tranh xong rồi; niềm tỵ hiềm của người Việt hải ngoại với chính sách nhập cư của Trump, việc rút ra khỏi các chương trình bảo vệ khí hậu, việc xâm chiếm của đô thị hóa… thế sao vẫn còn? Anh không trải lời nhưng tôi biết một mặt nào đó, thinh lặng là câu trả lời tốt nhất.

*

Dễ thấy anh mượn chiến tranh chỉ như bộ mặt cho những “trò con trẻ” ẩn giấu đằng sau nhân tình thế thái. Dưới góc nhìn của một tác giả văn chương, anh nghĩ chất liệu đời sống có ảnh hưởng thế nào đến một cây viết?

Rõ ràng là cuộc sống chung quanh ảnh hưởng rất lớn đến một người viết. Ví dụ gần và rõ nhất là sự khác biệt trong văn chương của hai miền đất nước khi cuộc chiến diễn ra. Ở nước ngoài, ví dụ trường hợp Raymond Carver, ta có thể thấy sự thay đổi trong văn phong những tập truyện khi đời sống của ông thay đổi xoay quanh chứng nghiện rượu và cuộc hôn nhân trễ.   

Định hình nên cách viết riêng với cuốn sách đầu tay này, tôi hỏi anh thêm về những suy nghĩ rất riêng đối với nền văn chương hiện nay. Một thời đã qua của những tài năng sáng rực như Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp; một thời tiếp nối của Thuận, Nguyễn Bình Phương; hay vươn ra nước ngoài ở phía bên kia địa cầu với Ocean Vương và Linda Lê. Những nhà văn Việt Nam ở ngay tại đây và thời điểm này đối với văn học trong nước dường như đang đi xa quá. Họ không đủ sâu cũng chẳng đủ sát, họ nhợt nhạt, phai mờ và chìm nghỉm trong sự chọn lựa của độc giả. Họ ca ngợi những niềm ngây ngô tưởng như khó bề gọi thành văn chương. Họ già nua, cũ kỹ, hay nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, rằng họ “tự phát thành danh” để “tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa”.

*

Văn chương phương Đông hầu như luôn hướng về những bi kịch từ trong quá khứ. Liệu anh có nghĩ đã đến lúc những cây viết trẻ nên chuyển dịch sang những vấn đề mới hơn, sát sao hơn, ngay-bây-giờ và ở-tại-đây?

Tôi không nghĩ mình đọc đủ nhiều để nhận định về chuyện này. Tuy nhiên, đề tài mà tác giả lựa chọn để viết không nên bị bó buộc trong bất cứ giới hạn hay thành kiến. Quan trọng là tác giả đó viết hay hay dở, có chạm đến người đọc được không. Ngoài ra, những tác phẩm về quá khứ cũng có thể đang nói về hiện tại.

*

Từ quá khứ xa xưa hiện về trong ký ức đến cái hiện đại ào vào đời sống hiện nay, từ những xung đột ngoại quan đến những đối lập đời sống nội vi, từ vấn đề di dân đến người Việt hải ngoại ủng hộ các chính sách hạn chế nhập cư, từ biến đổi khí hậu đến đô thị hóa... Chuyến bay tháng ba là một nỗ lực tìm về những con người chung đã kịp chuyển hóa và bị đặt vào trong cảnh huống lưỡng nan của tình thế làm người. Sau rốt, những hệ giá trị đạo đức nào còn lại? Hay thậm chí, thực chất còn không hiện diện chính khái niệm ấy? Tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, nhưng gợi mở và đầy dấu ấn.

Hết.

minh (thực hiện)

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Trần Vân Anh: Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la

Published

on

By

Tran Van Anh Hom nay me co vui khong

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm: Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion…

Nhưng bên cạnh những chức danh đó, chị còn là một người mẹ.

Tác giả từng trải qua trầm cảm khi một mình nuôi dạy hai đứa con khiếm khuyết, rồi tự chữa lành, vượt mặc cảm khi nhận ra: bản thân phải hạnh phúc thì mới trở thành một người mẹ tốt của hai con.

Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? không là một cuốn sách nuôi dạy con khuôn mẫu. Nó mang dáng dấp của một cuốn nhật ký của bản thân tác giả hơn, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, và vì cả chính mình.

*

Chị có nhiều năm làm viết về mảng làm đẹp, sở hữu một website về làm đẹp vì sao chị lại viết cuốn sách đầu tay về chủ đề tâm lý giáo dục cho phụ nữ chứ không phải về chủ đề làm đẹp?

Tôi coi làm mẹ là sự nghiệp lớn nhất cuộc đời mình. Cho dù tôi rất yêu nghề nhưng phải thú thật là tôi luôn cố gắng cân bằng và dành ưu tiên cho việc làm mẹ nhiều hơn. Thế nên tôi luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá bản thân cũng như từ những người xung quanh sao cho sự nghiệp làm mẹ của mình dễ chịu nhất, các con lớn lên hồn nhiên vui vẻ nhất. Cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? chính là những đúc kết khởi đầu chân thật nhất của tôi về sự nghiệp làm mẹ.

Là một người mẹ đơn thân, lại có công việc bận rộn, làm thế nào chị hoàn thành tốt vai trò làm mẹ đồng thời có một cuộc sống cá nhân vui vẻ?

Thời gian và lòng can đảm là hai thứ cần thiết nhất để một người mẹ đơn thân vừa có thể làm mẹ tốt vừa có thể tận hưởng cuộc sống cá nhân.

Vì thời gian là hạn hẹp trong một ngày nên tôi phải sắp xếp mọi thứ sao cho hợp lý nhất. Sai lầm lớn nhất của phụ nữ chúng ta là ôm đồm mọi thứ một mình trong khoảng thời gian hạn hẹp ấy. Tôi không như vậy, tôi sắp xếp và cùng thực hiện nó việc với các con. Có thể mọi thứ sẽ không hoàn hảo nhất, nhưng không sao, mẹ con tôi tự xoay sở và vui với những gì đang có.

Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la. Vậy nên tôi không sợ bất cứ khó khăn, vất vả nào. 

Theo chị, điều gì là khó khăn nhất với phụ nữ hậu ly hôn?

Cảm giác chông chênh là không thể tránh khỏi. Cho dù bạn chủ động ly hôn thì cũng phải mất một thời gian để cuộc sống quay trở lại bình thường. Ngoài ra, nếu có con cái, người phụ nữ còn phải chăm sóc phần tinh thần - cảm xúc cho những đứa con của mình khi ba mẹ chúng không còn sống chung nữa.

Vậy nên, vực lại tinh thần là điều khó khăn nhất đối với phụ nữ.

Tháng 3 là tháng người ta nói về nữ quyền, chị nghĩ nữ quyền là gì?

Nữ quyền chắc chắn không phải là làm sao đẩy đàn ông vào bếp nấu nướng hoặc bắt chồng làm việc nhà. Theo tôi nữ quyền là quyền được đẹp, được độc lập tự do nhất là trong tư tưởng và cái quyền này đã có, chỉ là phụ nữ có dám dành lấy hay không thôi. Tôi cũng nghĩ rằng, nữ quyền chính là nữ tính - một đặc quyền rất riêng của phụ nữ. Ta vẫn hạnh phúc mà không phải trở thành "như đàn ông" đó mới là hay! 

Theo chị điều người đàn ông cần làm để khiến người phụ nữ hạnh phúc?

Cũng còn tuỳ xem người phụ nữ đó coi trọng điều gì nhất trong cuộc sống. Vậy nên trong cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? tôi có đề cập đến ngôn ngữ tình yêu. Một cô gái chỉ cảm nhận tình yêu thông qua sự chăm sóc mà người đàn ông lại chỉ biết nói lời hay thì không được. Hoặc cô vợ thích quà mà anh chồng không biết tặng quà cũng không xong.

Với riêng cá nhân tôi thì một người đàn ông cho tôi tự nhiên được là chính mình sẽ khiến tôi hạnh phúc nhất.

Đó có phải là lý do chị chọn lấy người nước ngoài sau ly hôn? Phải chăng đàn ông Việt Nam không cho chị điều ấy?

Trai tây trai ta cũng đều có ưu và nhược điểm cả. Tôi thấy xung quanh bạn bè nhiều người chồng người cha tốt, có lẽ tôi không may mắn gặp được (cười).

Nhưng phải thú nhận một điều rằng phụ nữ hiện đại thật sự sẽ có xu hướng thích đàn ông phương Tây hơn. Có thể là nền văn hoá của họ coi trọng phụ nữ hơn chúng ta, họ được sinh ra trong bầu không khí tự do phóng khoáng và bình đẳng giới. Những người đàn ông chứng kiến bà, mẹ, chị em gái của mình tự do, độc lập, không phán xét nhau, không khắc nghiệt với bản thân và người khác. Lối sống của chính những phụ nữ đó là nền tảng văn hoá để đàn ông phương Tây có cách hành xử văn minh hơn.

Chị có cho con trai đọc sách của mình không? Cảm xúc con chị như thế nào

Tôi "bắt" các con đọc sách của mẹ (cười). Tôi bảo chúng rằng các con nên biết là mẹ viết gì về các con trong sách chứ, lỡ nói xấu thì sao. Gấu Tôm đều bất ngờ về cuộc sống thời thơ ấu của mẹ. Các con tự hào vì mẹ ra sách, hai đứa còn xin mẹ kí để đem tặng cô giáo.

Dự định trong tương lai của chị sau quyển sách này?

Tôi có nhiều đam mê và dự định lắm, nhưng năm nay bên cạnh viết sách, tôi ưu tiên các cho các hoạt động cộng đồng. Đầu năm 2021 tôi vừa hoàn thành công trình thư viện cho bà con ở thôn 2, Hoà Ninh, Di Linh Lâm Đồng với 1521 quyển sách chọn lọc. Tôi tin rằng con cái học thông qua việc làm của ba mẹ. Tôi lao động chăm chỉ, tận hưởng thành quả lao động của mình và chia sẻ với những người xung quanh, các con tôi luôn đồng hành cùng mẹ trong tất cả các hoạt động ấy!

*

Kết thúc bài phỏng vấn, xin được trích cảm nhận của nhà thơ, nhà báo Khánh Chi về tác giả Trần Vân Anh cũng như về quyển sách Hôm nay mẹ có vui không:

---
“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi.”
---

Hết.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Tháng 3 Phụ Nữ, điểm mặt 6 tác giả nữ nổi bật

Published

on

By

Họ hiện đại, nhưng cũng nặng lòng với truyền thống. Họ làm việc toàn thời gian, nhưng cũng tận hưởng cuộc sống toàn thời gian. Nhân tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn điểm lại những gương mặt tác giả nữ đã đồng hành cùng Phương Nam trong thời gian qua.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ

Với lối viết tinh tế, nhã nhặn, tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy đã chia sẻ với người đọc những điều mình cảm nhận một cách sâu sắc về cuộc đời.

Với Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, tất cả là ký ức nhưng chị nhìn qua đôi mắt đầy xao xuyến, trái tim đầy nhân hậu. Những khoảng đời dù rất riêng nhưng sao qua lời chị viết, trở nên thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để mà nhớ. Người ta có thể nhìn ra một góc tâm hồn tác giả, và có lẽ nhờ đã viết một cách chân thật với lòng mình, những câu chuyện gửi gắm có thể vượt qua cảm xúc riêng để biến thành cảm xúc của người đọc.

Tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng là thuở ban đầu trong trẻo nhất trước khi được tiếp nối với những tâm tình trong Những lối về ấu thơ và giọng văn gần gũi, thẳng thắn hơn trong Nếu biết trăm năm là hữu hạn.

Bút danh Phạm Lữ Ân là sự kết hợp của hai nhà báo viết cho giới trẻ, cũng là một đôi vợ chồng Phạm Công Luận - Đặng Nguyễn Đông Vy. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái nhìn trong trẻo, tinh tế và sắc sảo với sự từng trải, thương yêu và khoan dung, những bài viết chung của họ đã đưa ra được những kiến giải đầy thú vị và vô cùng sâu sắc về cuộc đời, không chỉ cho giới trẻ mà cho bất cứ ai trong chúng ta, ở bất kỳ lứa tuổi nào.

"Viết được một bài viết nhỏ để nói lên cảm xúc của mình, và được người đọc cảm nhận, có lẽ cũng là một điều hạnh phúc", chị Đông Vy chia sẻ.

Nếu biết trăm năm là hữu hạn (ấn bản đặc biệt)

Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không?

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm, Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion...

Nhưng bên cạnh những tittle đó, chị là một người mẹ. Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? là câu chuyện của tác giả về quá trình tìm lại chính mình, tự chữa lành, là con đường thoát khỏi trầm cảm, tìm lại niềm vui, sự cân bằng, thanh thản trong tâm hồn.

Và trong hành trình của chị Vân Anh, rất nhiều người tìm thấy chính mình trong đó, qua chị Vân Anh – người mẹ hay qua Gấu – Tôm, người con.

Tác giả Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không? mang dáng dấp một cuốn nhật ký của cá nhân tác giả, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Đó không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, vì gia đình, và vì cả chính mình.

Bởi lẽ không có công thức trong việc dạy con, không có phương pháp nào là đúng hay sai nhưng chắc chắn có nhiều con đường để trở thành một người mẹ tốt. Một trong những con đường đơn giản nhất đó là trở thành một người mẹ hạnh phúc.

“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi”, trích lời Nhà thơ - nhà báo Khánh Chi.

Hôm nay mẹ có vui không?

Trần Vân Anh:

  • Chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm
  • Editor-in-chief: Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt
  • Media Director: Kilala Communication
  • Content Manager: Tập đoàn CMG.Asia
  • Senior Beauty Editor: Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion

Lê Mai Anh

Your Brand Talks

Tác giả Lê Mai Anh là Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp & Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc; từng đoạt giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019; hiện là Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters và Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam.

Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up.

Lê Mai Anh - tác giả Your Brand Talks

Your brand talks mang dáng dấp của một tư liệu giáo trình, khi các kiến thức được tác giả sắp xếp trình tự, logic. Bắt đầu từ định nghĩa, sau đó phân loại, rồi đi đến thực hành với các cách thức hiệu quả để xây dựng thương hiệu cá nhân. Song, điểm khác là chị Lê Mai Anh viết với tâm thế một người đồng hành, chứ không phải người thầy, người cô dẫn dắt bạn đi trên con đường định nghĩa bản thân ấy.

Nói như nhà báo Đào Hồng Hạnh là quyển sách “không có nhiều thuật ngữ chuyên ngành lấp lánh, không dạy đời”, mà ngược lại, như một lời tâm tình, sẻ chia từ chính những gì tác giả đã trải qua, nhẹ nhàng mà tinh tế.

Quyển Your Brand Talks được tác giả hi vọng “phần nào giúp bạn tìm ra các giá trị căn bản nhất của bản thân, biết được những nhân tố có thể xây dựng hình ảnh và thương hiệu cá nhân một cách hiệu quả. Và điều quan trọng cuối cùng là cuốn sách có thể truyền cảm hứng đến bạn ít nhiều bằng những câu chuyện hết sức đời thường nhưng biết đâu bạn có thể thấy mình ở trong đó.”

Lê Mai Anh:

  • Cử nhân chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, trường Đại học Ngoại Thương, năm 2005
  • Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp và Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc
  • Giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019 tại Kuching, Malaysia
  • Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters tại Việt Nam, phụ trách các thị trường: Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Philippines
  • Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam
  • Hiện là đồng chủ tịch của Hiệp hội VNPR (mạng lưới những người làm nghề Quan hệ công chúng tại Việt Nam)
  • Giảng viên trường Đại học Nguyễn Tất Thành
  • Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up

Hồ Đắc Thiếu Anh

Mứt Việt, Món cuốn xanh, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh có lẽ không là gương mặt quá xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Cô được biết đến với nhiều tựa sách ẩm thực hay, đẹp mắt, và quan trọng nhất, thấm đẫm truyền thống, văn hóa quê hương.

"Nhà thơ ẩm thực" là cách bạn đọc vẫn hay gọi cô Thiếu Anh. Xuất phát là một nhà thơ, cô trở thành một nghệ nhân ẩm thực tài hoa bởi tình yêu to lớn đối với ẩm thực quê hương, kèm theo đó là tâm tư muốn lưu giữ, truyền bá trọn vẹn tinh hoa của ẩm thực dân tộc qua từng trang sách.

"Tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng lại chọn thơ văn để lập nghiệp. Từng câu chữ trau chuốt là cách tôi yêu quê hương và tôn trọng độc giả. Rồi tôi lại đem thơ văn vào trong ẩm thực, dạy nấu ăn bằng cách kể về câu chuyện riêng của từng món. Ngay từ khi tôi còn trẻ, nhiều người đã gọi cách tôi theo đuổi đam mê là dấn thân bất chấp, còn tôi lại gọi là sống trọn”, nghệ nhân tâm sự trong cuộc phỏng vấn với báo Thanh Niên.

Hậu trường chụp ảnh quyển sách Món cuốn xanh.
Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Cuốn sách mới nhất được giới thiệu, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội là công trình tâm huyết của cô Hồ Đắc Thiếu Anh, một người nặng lòng với ẩm thực cung đình Huế, tuyển lựa những công thức nấu nướng truyền thống nhất của dân tộc. Cuốn sách phù hợp để trưng bày trên bàn trà ngày Tết, là một kho tàng chuyện hay để người nhà kể cho nhau nghe dịp xuân về.

"Hy vọng Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội không những giúp lan tỏa được phần nào nét đẹp truyền thống trong đời sống hiện đại để con cháu sau này biết đến các món bánh của ông bà ngày xưa; mà còn góp phần quảng bá nét văn hóa tinh túy của bánh Việt với bạn bè quốc tế", tác giả chia sẻ.

Món cuốn xanh

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh

  • Quê quán: Thừa Thiên Huế
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO VIệt Nam
  • Thành viên Ban cố vấn Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Nguyễn Hồ Tiếu Anh

  • Giám đốc Công ty Ẩm thực Ngon và Lành
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
  • Hội viên Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo

Tác giả Lăng Vi từng là biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản – Kilala, là người khởi tạo và xây dựng trang Fanpage Vợ Chồng Son với hơn 9.000 người yêu thích và theo dõi. Chính mẹ của chị là người đã truyền cảm hứng và nuôi dưỡng niềm yêu thích nấu nướng để chị thực hiện nên tập sách đặc biệt Nồi niêu xoong chảo. Đây cũng là lần đầu tiên một cuốn sách kỹ năng ẩm thực trẻ trung và bắt mắt ra đời do chính tác giả viết nội dung và vẽ minh họa.

"Mong rằng cuốn sách này sẽ có thể truyền cảm hứng nấu nướng cho bạn, thôi thúc bạn mơ mộng về một căn bếp riêng, nơi bạn có thể hoàn toàn được là chính mình, và tận hưởng việc nấu nướng như một niềm vui trong cuộc sống", tác giả chia sẻ về Nồi niêu xoong chảo.

Tác giả Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo ra đời để làm một người bạn đồng hành trong những bước đi đầu tiên với những ai mới tập tành nấu nướng. Quyển sách không chỉ tổng hợp các kiến thức cơ bản cần thiết mà còn chia sẻ những hướng dẫn rất cụ thể từ việc chọn mua dụng cụ, nguyên liệu thực phẩm, cách bày trí gian bếp, kỹ thuật trong thao tác nấu hoặc trang trí món ăn, kinh nghiệm xây dựng thực đơn và bảo quản thành phẩm...

Thông qua nó, bạn có thể hình dung một cách tổng quát về chuyện bếp núc để tự tin thử sức và khám phá.

Nồi niêu xoong chảo

Lăng Vi:

  • Sinh năm 1990
  • Cung Xử Nữ
  • Nhóm máu B
  • Thích ăn, nấu ăn, vẽ, nghe nhạc, bày bừa, sách, những gì xinh đẹp, dễ thương…
  • Trước đây làm biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản, hiện đang làm freelance tại Sài Gòn

Giang Vũ

30 món mứt ngon của người Việt

Là nhà báo chuyên viết về mảng ẩm thực và du lịch, tác giả Giang Vũ viết và chụp ảnh các món ăn ngon, di sản ẩm thực, và điểm du lịch trên khắp các miền đất nước. Chị đặc biệt tâm huyết với mảng sách “cook book” nên đã đầu tư nhiều thời gian để làm sách nhằm lưu giữ công thức các món ăn truyền thống, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp của ẩm thực Việt.

Trong cuốn sách 30 món mứt ngon của người Việt, chị vừa là người soạn công thức, vừa là người trình bày và chụp ảnh từng món mứt, giúp bạn đọc có thể làm theo một cách dễ dàng. Đồng thời cho thấy tâm huyết to lớn của chị trong mỗi ấn phẩm được tạo ra, sao cho chỉn chu và truyền tải tốt nhất.

Tác giả Giang Vũ
30 món mứt ngon của người Việt (bìa cứng)

"Đã đến lúc, tôi cần phải ghi lại kiến thức đồ sộ của ẩm thực Việt, giữ gìn nó như một di sản phi vật thể cho muôn đời sau. Và tôi đã chọn cách ghi lại gia tài đó bằng một cuốn sách nấu ăn, bắt đầu con đường khám phá cách nấu món Việt dài lâu của mình trước tiên bằng 30 món mứt Việt. Có những món mứt ra đời ở Việt Nam, có những món mứt hình thành trong quá trình giao thoa văn hóa với các nước phương Tây. Mứt Việt rất đẹp, rất công phu và đòi hỏi sự khéo léo – thế mạnh của con người Việt Nam.

Những món mứt trong cuốn sách này được làm bằng tình yêu từ trái tim tôi đối với ẩm thực Việt. Hãy làm theo từng bước như đã hướng dẫn, chắc chắn bạn cũng sẽ vô cùng thích thú khi tạo ra các món mứt vừa ngon, vừa đẹp, vừa lành. Tôi hy vọng, dựa trên cuốn sách cơ bản này, bạn sẽ sáng tạo ra nhiều món mứt tuyệt vời và đẹp mắt hơn thế nữa”, tác giả Giang Vũ chia sẻ.

*

Nhân dịp Tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những người viết nữ của Phương Nam, cũng như toàn thể phái đẹp của thế giới. Phụ nữ đẹp nhất khi là chính mình, và biết thương chính mình!

Hết.

Sách Phương Nam phải đọc nhân tháng Phụ Nữ

Đọc bài viết

Cafe sáng