Chuyện người cầm bút

Hilary Mantel: Làm thế nào để các nhà văn học cách tin tưởng vào bản thân mình

Published

on

Các cuộc phỏng vấn hiếm khi mang lại cơ hội tốt để khai quật được điều gì đó đáng giá, dù cho người dẫn có chuẩn bị kỹ càng đến đâu đi nữa. Bạn được mời để xào nấu lại những tác phẩm của mình, và bạn phải thuật lại chúng qua những câu hỏi thảm họa như: “Ý anh/chị là gì khi viết rằng….?” hoặc “Tại sao anh/chị lại viết cuốn sách này?” Chẳng nhẽ câu trả lời “tôi viết bởi đó là công việc của tôi và tôi nghĩ độc giả sẽ thích nó” chưa đủ sao?

Tôi từng nghe Salman Rushdie diễn thuyết trên sân khấu ở St Louis, và anh nói rằng, chỉ có một câu cần hỏi một tác giả: đó là chỉ vào bất kỳ câu văn nào và hỏi “Làm thế nào mà nó xuất hiện tại đây?” Sau đó, câu chuyện tự động mở ra, trong nội hạt cuốn sách, và bạn có thể nhìn thấy những cái bóng chuyển động đằng sau hàng tấn chữ ấy.

Các cuộc thảo luận với một nhóm khán giả thường khai sáng hơn là các cuộc phỏng vấn. Bạn có nhân chứng và sự đối đáp bình đẳng, và bạn còn có thể khám phá ra điều gì đó mới mẻ đương trong lúc nói. Trong các cuộc phỏng vấn với báo chí, tác giả thường cảm thấy đề phòng và cảnh giác. Và về phần mình, tôi không cảm nhận mình đang tạo ra một giá trị nào. Tôi chỉ muốn làm cho xong chuyện mà không bị trích dẫn tách rời ngữ cảnh. Và khi đọc lại một cuộc phỏng vấn, bạn hiếm khi nhận ra đó là bản tường trình chân thực về những gì thật sự diễn ra. Nội dung có thể được chuyển tải một cách chính xác, nhưng vẫn còn thiếu một chút gì đó khi ta đảo mắt1. Trừ phi nó được ghi hình – tất nhiên, nhưng lúc đó sẽ tồn tại một giới hạn thời gian nghiêm ngặt và ràng buộc và ý thức ngượng ngùng về bản thân.

Những gì tôi luôn muốn nghe từ các nhà văn khác, là khởi đầu của họ — bao gồm cả phần đời trước khi họ tuyên bố một cách có ý thức, “Tôi sẽ viết một cuốn sách”. Tôi cũng đặc biệt tò mò về những người, giống như tôi, có xuất thân không-văn-chương — nơi mà sau rốt một cuốn sách là thứ cuối cùng mọi người mong đợi ở ta.

*

Thời điểm: sáng sớm. Tôi thường với lấy một cuốn sổ và viết tay trước khi thật sự tỉnh táo. Tôi không viết xuống những giấc mơ mỗi ngày — đôi khi chúng quá hỗn độn và khó nắm bắt. Nhưng chúng sẽ ảnh hưởng lên tâm trạng nếu tôi không giải quyết – như thể cơn đau ở các cơ mà ta có thể xoa dịu bằng cách vận động. Sau đó, tôi thức dậy từ từ và không muốn nói chuyện. Những dòng chữ trong ngày bắt đầu cuộn trào trong tôi. Mỏng manh và thường trong hình thái nhịp điệu hơn là từ ngữ. Nếu tôi không có thời gian để ghi lại thứ gì đó, tôi sẽ phải làm việc trở lại ngay sau đó, một cách siêng năng và chăm chỉ; tốt nhất là khi nó vẫn còn dễ dàng.

Vì thế, ngày yêu thích của tôi là ngày có thể ngủ cho đến khi thức dậy, và tham vọng khiêm tốn là có càng nhiều ngày trong số này càng tốt. Điều đó không nhất thiết có nghĩa là bắt đầu muộn – nếu tôi có ý tưởng trước lúc bình minh thì đó là khi công việc bắt đầu.

Tôi sẽ hoàn thành những công việc lặt vặt vào buổi trưa nếu có thể, và đẩy chúng ra khỏi tâm trí để có thể làm một số công việc thực sự. Tôi cảm thấy ngại ngùng khi nói điều này, bởi đối với những người không phải nhà văn, điều đó nghe có vẻ biếng nhác – nhưng nếu, bảy ngày trong tuần, bạn có thể dành ra hai giờ cho chính mình, khi không phân tâm chỉ để tập trung làm việc, bạn sẽ sớm có một cuốn sách. Thông thường, tôi gọi đây là “những giờ vàng”. Tôi tìm thấy chúng ở đâu không quan trọng, miễn là tôi làm được. Thường thì tôi làm việc nhiều giờ hơn. Nhưng đôi khi tôi tự hỏi tại sao.

Tuy nhiên, bạn phải nhận ra rằng một khi bước chân vào cuộc sống này, bạn có thể phải xử lý cuốn sách xuyên suốt ngày đêm. Và không có ngày nghỉ.

*

Tôi nghi ngờ về sự tồn tại của writer’s block2 hoặc những trạng thái thất vọng chỉ xuất hiện ở các nhà văn. Đôi khi người ta cho rằng họ bị tạm ngưng khi không có gì để viết, hoặc tạm thời đã kiệt sức với chủ đề của mình; nhưng đây không phải là một loại bệnh lý. Đôi khi một dự án chuyển sang giai đoạn ủ bệnh; như tôi đã nói rất thường xuyên, khoảnh khắc nhận ra bạn có một ý tưởng hay không phải lúc nào cũng là lúc bạn nhìn thấu nó. Viết là một trò chơi nhiều chặng và bạn phải thật kiên nhẫn với bản thân mình và chất liệu riêng. Rất nhiều điều có thể xảy ra trong bóng tối, như nó vốn thế; công việc diễn ra một cách nửa tỉnh nửa mê và bạn phải tin tưởng quá trình này vẫn đang diễn ra.

Tất nhiên, người viết khó mà tin tưởng vào chính bản thân mình. Nghe như là một tuyên bố thổi phồng, khi nói rằng bạn là một nhà văn. Vì thế, bạn nghĩ mình phải liên tục chứng minh điều đó, bằng cách làm đầy giấy bằng mực hoặc gõ mạnh lên bàn phím, như thể bạn cần nhân chứng để tự biện minh cho tính kiên định của mục tiêu này. Nhưng chẳng ích gì khi đếm số từ, trừ phi đó là những từ phù hợp. Viết không phải là một quy trình công nghiệp. Bạn không thể đo lường năng suất của mình theo bất kỳ cách nào mà thế giới công nhận. Chắt lọc là ân sủng đầu tiên của phong cách và cần phải lao động nặng nhọc. Những ngày đẹp nhất đôi khi là những ngày kết thúc với số chữ trên trang ít hơn thời điểm bắt đầu.

Căn bệnh trầm cảm cũ kỹ có thể là nguyên nhân dễ thấy cho phần lớn những gì đã làm khổ các nhà văn – loại bệnh trầm cảm đã theo chân những ai thuộc mọi ngành nghề hay không ngành nghề. Điều kiện ủ bệnh hoàn toàn hợp lý. Công việc đòi hỏi phải cắt đứt các mối quan hệ vốn có với những người khác; bạn phải phụ thuộc vào chính mình, bởi không ai làm điều đó cho bạn; thu nhập của bạn cũng không chắc chắn; và vào cuối quá trình, bạn buông xuôi quyền kiểm soát, phụ thuộc vào sự đánh giá của những người lạ; bạn phải đối mặt với rất nhiều lời từ chối. Tại sao lại không chán nản? Điều ngạc nhiên là hàng ngàn người vẫn lao vào nghề này, năm này qua năm khác.

*

Và lời khuyên tốt nhất đã đến từ người đại diện của tôi, khi tôi mới vào nghề tầm được một năm. Tôi đang buồn bã về một dự án trong tương lai, cho rằng có một cách để thực hiện nó đại chúng hơn và thương mại hơn; cách khác tuy thông minh nhưng không phổ biến. Và anh ấy nói, “Cô chỉ cần viết tốt nhất có thể.”

Lời khuyên đó đã cứu rỗi tôi nhiều năm. Tôi không bao giờ hỏi lại bản thân hay bất cứ ai khác. Đó là cách duy nhất để làm việc — đừng viết vì những gì bạn coi là thị trường. Đừng viết ra khỏi nhu cầu của bất kỳ ai ngoại trừ chính bạn. Đừng cố phục vụ đối tượng mà bạn cho rằng không thể theo kịp — hãy đi tìm đối tượng phù hợp. Tôi đã khuếch đại lời khuyên trong đầu: chỉ cần phục vụ đối tượng của tôi. Mỗi cuốn sách đưa ra những yêu cầu khác nhau và độ khốc liệt khác nhau. Mỗi cuốn sách sử dụng hết tất cả những gì bạn có. Sau này bạn có thể làm được nhiều việc hơn.

Một điều khác cũng giúp tôi, không phải là một lời khuyên, mà là sự quan sát. Khi bắt đầu sự nghiệp của mình, nếu tôi viết một chuyên mục, bài phê bình hoặc bất kỳ bài báo ngắn nào, tôi sẽ hoàn thiện nó tốt nhất có thể, nhưng tôi không tài nào chịu đựng việc đọc lại khi nó đã được xuất bản; mắt tôi lướt qua như thể đó là xác chết. Người bảo trợ ban đầu của tôi là Auberon Waugh – một nhà văn, nhà báo giàu kinh nghiệm. Một ngày nọ, anh ấy hỏi, “Em có chịu được khi đọc lại những thứ mình đã viết không? Tôi thì không.” Anh ấy trông như phát bệnh khi nghĩ đến điều đó.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng. Tôi đã nghĩ mình là một kẻ hèn nhát đơn độc, nhưng tôi thấy mình không cô độc và thời gian sẽ không thể chữa lành tình trạng này. Điều đó thật khó chấp nhận, nhưng một phần của quá trình trưởng thành trong nghề là biết rằng không phải mọi thứ ta viết ra đều quan trọng. Tôi sớm quên hầu hết những gì tôi đã viết ra, cũng là một điều tốt nữa. Miễn là nội dung rõ ràng, chính xác, mang lại hiệu quả giải trí dù trong giây lát và không bôi nhọ ai; thế là ta đã đạt mục tiêu và ngừng lo lắng.

Thế nhưng điều này không đúng đối với tiểu thuyết hay bất kỳ hình thức hư cấu nào. Bạn nên hòa thuận với những gì mình đã viết ra.

*

Những bản thảo ban đầu, từng đoạn và từng câu: Tôi yêu cầu chồng tôi, người từng là biên tập viên khoa học, đọc năm mươi trang cùng lúc để xem liệu tôi có nắm bắt được nền tảng không. Tôi không mong đợi nhận định ​​văn học từ phía anh ấy. Thực sự, tôi muốn được anh trấn an. Anh đã làm điều đấy rất tốt. Nếu anh cho rằng có điều gì đó không thật rõ ràng, tôi sẽ bực bội đôi chút — nhưng ngay sau đó sẽ lưu ý hơn.

Tôi nghĩ người viết cần những người rộng lượng xung quanh mình. Người viết gai góc, kỳ lạ, túng thiếu tình cảm, nhưng luôn muốn một mình. Những độc giả đầu tiên cần nhận thức rằng tác giả đang đòi hỏi điều gì từ họ; và đó chủ yếu là sự ủng hộ về mặt tinh thần, nhưng bất kỳ bằng chứng nào về việc đọc kỹ và đánh giá đều thực sự được hoan nghênh đối với những người khốn khổ đang có cảm giác như đi trong bóng tối này — như thể ai đó bật đèn và nói: “Lối này”. Đối với những cuốn sách khác nhau, tôi có những độc giả khác nhau. Tình bạn sẽ tiếp tục và một số người tự kết nối với các dự án nhất định. Người đọc ban đầu đóng vai như một chứng nhân cho quá trình hình thành cuốn sách, bởi có lúc nó biến mất và rồi trở lại giống như ban đầu. Đối với The Mirror & the Light, độc giả đầu tiên của tôi là nam diễn viên Ben Miles, người đóng vai Thomas Cromwell, nhân vật chính trên màn ảnh. Và cùng lúc một tệp đính kèm sẽ gửi đến với anh trai Ben, George, một nhiếp ảnh gia, người nhìn thấy nhiều hơn và tôi nghi ngờ anh viết cũng hay hơn. Tôi cảm thấy một khi họ đã đọc nó, dù chưa hoàn chỉnh, nó vẫn tồn tại.

Hết.

Chú thích:

  1. Ý của Hilary Mantel muốn diễn đạt là, những bài tường thuật có thể chuyển tải nội dung phỏng vấn thông qua con chữ, nhưng không thể diễn tả thái độ chính xác của nhà văn trong cuộc phỏng vấn ấy.
  2. Writer’s block là hiện tượng người viết bị tạm ngưng/mất ý tưởng sáng tác trong việc viết lách.

minh.

Bài gốc được thực hiện bởi Hilary Mantel, đăng tại Literary Hub.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng