Chuyện người cầm bút

Trò chuyện cùng Tim Smedley, tác giả “Giành lại không khí sạch”

Published

on

Tim Smedley là một nhà báo tâm huyết với vấn đề môi trường. Anh đã viết cho tờ The Guardian, The Financial TimesBBC. Năm 2019, anh xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình: Clearing the Air, The Beginning and the End of Air Pollution. Tác phẩm đã được nhà hoạt động môi trường Ngụy Thị Khanh chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề Giành lại không khí sạch – Sự khởi đầu và kết thúc của ô nhiễm khí quyển.

Tờ báo AirQualityNews đã có cuộc trò chuyện ngắn cùng Tim về vấn đề ô nhiễm không khí và tìm hiểu nhiều hơn về quyển sách này.

Tác phẩm Giành lại không khí sạch của nhà báo Tim Smedley

*

Một chương sách mà tôi đặc biệt quan tâm là về sự bất bình đẳng của ô nhiễm không khí. Anh viết: “Nhóm người dễ bị tổn thương, cũng như nhóm người bị tước quyền xã hội đã bị ảnh hưởng một cách không công bằng bởi ô nhiễm không khí.” Anh có thể bình luận thêm về điều này không?

Đây là điều khiến tôi tức giận nhất, người ta chỉ trích các nhà vận động bảo-vệ-chất-lượng-không-khí bằng cách nói rằng “đó chỉ là mối quan tâm của tầng lớp trung – thượng lưu”, rằng “tất cả chúng tôi không có khả năng sắm sửa những chiếc ô tô điện, vậy tại sao lại muốn phạt những người nghèo trong xã hội này”.

Nhưng trên thực tế, vấn đề hoàn toàn ngược lại.

Tại tất cả những địa điểm mà tôi từng nghiên cứu, những khu vực có lượng ô nhiễm không khí trầm trọng nhất và kết quả sức khỏe tồi tệ nhất là những khu vực nghèo nàn nhất, nơi tiếp giáp những con đường đông đúc nhất, gần các lò đốt hoặc nhà máy điện. Vì đó là những nơi có giá thuê nhà rẻ nhất – những nơi người ta ít muốn sinh sống nhất.

Có một sự bất bình đẳng thực sự trong mức độ tiếp xúc của chúng ta với ô nhiễm không khí.

Chẳng có gì liên quan đến chuyện ép người ta mua ô tô điện, nhưng những người có tiền để mua một chiếc, tôi nghĩ họ có nghĩa vụ đạo đức nên làm như vậy.

Anh viết về dịch vụ chia sẻ ô tô. Đây có vẻ như là một giải pháp tuyệt vời để giải quyết các vấn đề kinh tế trong quá trình chuyển đổi sang ô tô điện. Anh có xem các “câu lạc bộ xe hơi dùng chung” là tương lai, hay anh nghĩ mọi người sẽ tiếp tục muốn sở hữu xe riêng để được tự do hoàn toàn?

Đó là một câu hỏi khó, và là mấu chốt của vấn đề.

Giải quyết vấn đề ô tô rất quan trọng. Ai cũng muốn có xe riêng, tất nhiên, tôi nghĩ rằng có việc sở hữu tự do hết mức có thể là mong muốn tương đối phổ biến của con người.

Chúng ta phải giải quyết vấn đề với sự thấu hiểu và khiến mọi người muốn một cái gì đó khác. Và cách để thực hiện điều này là làm cho các phương tiện giao thông khác rẻ hơn, dễ dàng hơn.

Đó là việc đóng cửa nhiều con đường hoặc chỉ cho phép lưu thông vào những thời điểm nhất định, khiến cho cách dễ dàng nhất để di chuyển trong khu vực đô thị là xe buýt, xe điện, đi bộ hoặc đi xe đạp.

Tôi nghĩ rằng có một sự hiểu lầm phổ biến về mức độ đắt đỏ của những chiếc ô tô.

Đúng vậy, ô tô cho chúng ta sự tự do để lái đến bất kì đâu, nhưng 90% thời gian, ô tô của chúng ta chỉ nằm yên trong bãi đậu.

Vì vậy, việc chia sẻ một chiếc ô tô có ý nghĩa hơn rất nhiều.

Ngoài ra, với việc chia sẻ ô tô, bạn có thể sử dụng nhiều loại xe khác nhau. Nếu bạn cần vận chuyển đồ đạc, bạn có thể lấy một chiếc xe van. Nếu muốn lượn lờ quanh thành phố, bạn có thể sử dụng một chiếc xe hatchback EV nhỏ.

Có lẽ vẫn còn quá sớm, nhưng tôi là một người lạc quan.

Ô nhiễm từ bếp đốt củi là một vấn đề lớn khác, mặc cho hiểu biết về tác hại của ô nhiễm lên sức khỏe, hành vi này vẫn càng ngày càng phổ biến trong các hộ gia đình khắp Vương quốc Anh. Anh có nghĩ rằng tình trạng này sẽ thay đổi?

Tôi nghĩ là có chứ, và lý do tôi nói vậy là vì nó đã từng xảy ra trước đây rồi.

Quay ngược thời gian về trận sương mù quang hóa năm 19521, sự kiện này đã thúc đẩy Đạo luật Không khí sạch năm 1956, và người ta đã chuyển hệ thống sưởi từ sử dụng nhiên liệu gas sang nhiên liệu điện.

Đó là một quá trình lớn, thật khó tưởng tượng ra, nhưng tình hình lúc bấy giờ còn tồi tệ hơn hiện nay, nên điều đó cho tôi hy vọng.

Việc sử dụng gỗ đốt trong lò sưởi ít liên quan đến bản thân hệ thống sưởi. Đó là một lối sống, một đặc điểm của tầng lớp trung lưu.

Bây giờ đã có nhiều bằng chứng về tác động của khói gỗ lên sức khỏe, nên ta có thể hy vọng rằng mọi người sẽ thay đổi.

Nhưng điều đó sẽ đòi hỏi một chiến dịch y tế cấp chính phủ.

Chiến dịch này có lẽ sẽ không hiệu quả với một số ít người đã quan tâm đọc sách của tôi hoặc AirQualityNews. Nhưng hầu hết mọi người chỉ đơn giản không hiểu rằng đốt một dạng sinh khối (như gỗ) trong nhà sẽ khiến sức khỏe trở nên tệ hại.

Tim Smedley cùng con gái đầu – một trong những động lực giúp anh hoàn thành cuốn sách Giành lại không khí sạch.

Anh có nghĩ rằng ngành vận tải biển đã được tha bổng trong những cuộc đối thoại về ô nhiễm không khí?

Theo một cách nào đó, tôi nghĩ là có. Tôi không nghĩ mọi người nói đủ nhiều về ngành vận tải biển.

Phần lớn sự phát thải đang diễn ra trên biển, nhưng các con tàu phải cập bến ở đâu đó, có nghĩa là các thị trấn ở bến cảng có thể phải chịu lượng khí phát thải cao nhất.

Ngoài ra, nếu nhìn vào phà chở khách, chúng ta đang khuyến khích mọi người sử dụng chúng thay vì đi máy bay và vâng, chúng tạo ra ít CO2 hơn, nhưng xét về mức độ không khí ô nhiễm mà hành khách đang hít phải thì, điều đó thật kinh khủng.

Các du thuyền có thể được quảng cáo như thể đó là một kỳ nghỉ ngoài trời tuyệt vời lành mạnh. Trong khi trên thực tế, bạn vẫn dành thời gian hít thở một lượng khí thải cực kì lớn.

Chúng ta cần phải nhanh chóng điện khí hóa những chuyến phà có lộ trình ngắn này. Một số thay đổi đang được thực hiện ở Na Uy. Nhưng, vâng, chúng ta chắc chắn cần dời chuyển áp lực sang việc làm sạch ngành công nghiệp phà.

Trong sách, anh đề cập đến thực tế là người ta có thể mua cho mình một không gian để thoát khỏi vấn đề ô nhiễm. giai thoại về một trường tư thục ở Bắc Kinh có mái vòm điều áp xung quanh sân chơi để đảm bảo rằng bọn trẻ được hít thở không khí sạch.

Càng giàu bao nhiêu, bạn càng có khả năng cách ly bản thân khỏi vấn đề bấy nhiêu, nhưng nó vẫn khiến bạn buồn phiền.

Không thể ra ngoài là một thực tế của nhiều người, tôi thấy điều đó nhiều nhất ở Delhi.

Những người giàu hơn sống trong những ngôi nhà được-thông-gió, nhảy vào những chiếc ô tô có-điều-hòa, đi đến văn phòng có-điều-hòa, và họ cảm thấy như bản thân đã được cách ly khỏi vấn đề ô nhiễm không khí.

Nhưng đó chỉ là một cuộc sống không thể ra ngoài, và đó không phải là một cách để sống thực sự.

Quan điểm của tôi là, ngay cả khi bạn có thể mua cho mình một không gian độc lập khỏi khí thải, bạn vẫn không thể sống cuộc sống mà bạn muốn.

Tuy nhiên, theo một cách nào đó, đây là điều đáng lạc quan một cách kỳ cục. Thủ đô thường là nơi ô nhiễm nhất và đó cũng là nơi các chính trị gia đang sinh sống. Họ không thể phủ nhận vấn đề nếu vấn đề đó đang ảnh hưởng đến sức khỏe của chính họ và gia đình họ.

Hết.

Chú thích:

  1. Trận sương mù quang hóa năm 1952: Tháng 12/1952, sương mù chứa chất ô nhiễm đã bao trùm London 5 ngày, gây ra các bệnh đường hô hấp và làm thiệt mạng hàng nghìn người.

 ichigo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Pippa Neill, đăng tại AirQualityNews.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng