Chuyện người cầm bút

Trò chuyện cùng Tim Smedley, tác giả “Giành lại không khí sạch”

Published

on

Tim Smedley là một nhà báo tâm huyết với vấn đề môi trường. Anh đã viết cho tờ The Guardian, The Financial TimesBBC. Năm 2019, anh xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình: Clearing the Air, The Beginning and the End of Air Pollution. Tác phẩm đã được nhà hoạt động môi trường Ngụy Thị Khanh chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề Giành lại không khí sạch – Sự khởi đầu và kết thúc của ô nhiễm khí quyển.

Tờ báo AirQualityNews đã có cuộc trò chuyện ngắn cùng Tim về vấn đề ô nhiễm không khí và tìm hiểu nhiều hơn về quyển sách này.

Tác phẩm Giành lại không khí sạch của nhà báo Tim Smedley

*

Một chương sách mà tôi đặc biệt quan tâm là về sự bất bình đẳng của ô nhiễm không khí. Anh viết: “Nhóm người dễ bị tổn thương, cũng như nhóm người bị tước quyền xã hội đã bị ảnh hưởng một cách không công bằng bởi ô nhiễm không khí.” Anh có thể bình luận thêm về điều này không?

Đây là điều khiến tôi tức giận nhất, người ta chỉ trích các nhà vận động bảo-vệ-chất-lượng-không-khí bằng cách nói rằng “đó chỉ là mối quan tâm của tầng lớp trung – thượng lưu”, rằng “tất cả chúng tôi không có khả năng sắm sửa những chiếc ô tô điện, vậy tại sao lại muốn phạt những người nghèo trong xã hội này”.

Nhưng trên thực tế, vấn đề hoàn toàn ngược lại.

Tại tất cả những địa điểm mà tôi từng nghiên cứu, những khu vực có lượng ô nhiễm không khí trầm trọng nhất và kết quả sức khỏe tồi tệ nhất là những khu vực nghèo nàn nhất, nơi tiếp giáp những con đường đông đúc nhất, gần các lò đốt hoặc nhà máy điện. Vì đó là những nơi có giá thuê nhà rẻ nhất – những nơi người ta ít muốn sinh sống nhất.

Có một sự bất bình đẳng thực sự trong mức độ tiếp xúc của chúng ta với ô nhiễm không khí.

Chẳng có gì liên quan đến chuyện ép người ta mua ô tô điện, nhưng những người có tiền để mua một chiếc, tôi nghĩ họ có nghĩa vụ đạo đức nên làm như vậy.

Anh viết về dịch vụ chia sẻ ô tô. Đây có vẻ như là một giải pháp tuyệt vời để giải quyết các vấn đề kinh tế trong quá trình chuyển đổi sang ô tô điện. Anh có xem các “câu lạc bộ xe hơi dùng chung” là tương lai, hay anh nghĩ mọi người sẽ tiếp tục muốn sở hữu xe riêng để được tự do hoàn toàn?

Đó là một câu hỏi khó, và là mấu chốt của vấn đề.

Giải quyết vấn đề ô tô rất quan trọng. Ai cũng muốn có xe riêng, tất nhiên, tôi nghĩ rằng có việc sở hữu tự do hết mức có thể là mong muốn tương đối phổ biến của con người.

Chúng ta phải giải quyết vấn đề với sự thấu hiểu và khiến mọi người muốn một cái gì đó khác. Và cách để thực hiện điều này là làm cho các phương tiện giao thông khác rẻ hơn, dễ dàng hơn.

Đó là việc đóng cửa nhiều con đường hoặc chỉ cho phép lưu thông vào những thời điểm nhất định, khiến cho cách dễ dàng nhất để di chuyển trong khu vực đô thị là xe buýt, xe điện, đi bộ hoặc đi xe đạp.

Tôi nghĩ rằng có một sự hiểu lầm phổ biến về mức độ đắt đỏ của những chiếc ô tô.

Đúng vậy, ô tô cho chúng ta sự tự do để lái đến bất kì đâu, nhưng 90% thời gian, ô tô của chúng ta chỉ nằm yên trong bãi đậu.

Vì vậy, việc chia sẻ một chiếc ô tô có ý nghĩa hơn rất nhiều.

Ngoài ra, với việc chia sẻ ô tô, bạn có thể sử dụng nhiều loại xe khác nhau. Nếu bạn cần vận chuyển đồ đạc, bạn có thể lấy một chiếc xe van. Nếu muốn lượn lờ quanh thành phố, bạn có thể sử dụng một chiếc xe hatchback EV nhỏ.

Có lẽ vẫn còn quá sớm, nhưng tôi là một người lạc quan.

Ô nhiễm từ bếp đốt củi là một vấn đề lớn khác, mặc cho hiểu biết về tác hại của ô nhiễm lên sức khỏe, hành vi này vẫn càng ngày càng phổ biến trong các hộ gia đình khắp Vương quốc Anh. Anh có nghĩ rằng tình trạng này sẽ thay đổi?

Tôi nghĩ là có chứ, và lý do tôi nói vậy là vì nó đã từng xảy ra trước đây rồi.

Quay ngược thời gian về trận sương mù quang hóa năm 19521, sự kiện này đã thúc đẩy Đạo luật Không khí sạch năm 1956, và người ta đã chuyển hệ thống sưởi từ sử dụng nhiên liệu gas sang nhiên liệu điện.

Đó là một quá trình lớn, thật khó tưởng tượng ra, nhưng tình hình lúc bấy giờ còn tồi tệ hơn hiện nay, nên điều đó cho tôi hy vọng.

Việc sử dụng gỗ đốt trong lò sưởi ít liên quan đến bản thân hệ thống sưởi. Đó là một lối sống, một đặc điểm của tầng lớp trung lưu.

Bây giờ đã có nhiều bằng chứng về tác động của khói gỗ lên sức khỏe, nên ta có thể hy vọng rằng mọi người sẽ thay đổi.

Nhưng điều đó sẽ đòi hỏi một chiến dịch y tế cấp chính phủ.

Chiến dịch này có lẽ sẽ không hiệu quả với một số ít người đã quan tâm đọc sách của tôi hoặc AirQualityNews. Nhưng hầu hết mọi người chỉ đơn giản không hiểu rằng đốt một dạng sinh khối (như gỗ) trong nhà sẽ khiến sức khỏe trở nên tệ hại.

Tim Smedley cùng con gái đầu – một trong những động lực giúp anh hoàn thành cuốn sách Giành lại không khí sạch.

Anh có nghĩ rằng ngành vận tải biển đã được tha bổng trong những cuộc đối thoại về ô nhiễm không khí?

Theo một cách nào đó, tôi nghĩ là có. Tôi không nghĩ mọi người nói đủ nhiều về ngành vận tải biển.

Phần lớn sự phát thải đang diễn ra trên biển, nhưng các con tàu phải cập bến ở đâu đó, có nghĩa là các thị trấn ở bến cảng có thể phải chịu lượng khí phát thải cao nhất.

Ngoài ra, nếu nhìn vào phà chở khách, chúng ta đang khuyến khích mọi người sử dụng chúng thay vì đi máy bay và vâng, chúng tạo ra ít CO2 hơn, nhưng xét về mức độ không khí ô nhiễm mà hành khách đang hít phải thì, điều đó thật kinh khủng.

Các du thuyền có thể được quảng cáo như thể đó là một kỳ nghỉ ngoài trời tuyệt vời lành mạnh. Trong khi trên thực tế, bạn vẫn dành thời gian hít thở một lượng khí thải cực kì lớn.

Chúng ta cần phải nhanh chóng điện khí hóa những chuyến phà có lộ trình ngắn này. Một số thay đổi đang được thực hiện ở Na Uy. Nhưng, vâng, chúng ta chắc chắn cần dời chuyển áp lực sang việc làm sạch ngành công nghiệp phà.

Trong sách, anh đề cập đến thực tế là người ta có thể mua cho mình một không gian để thoát khỏi vấn đề ô nhiễm. giai thoại về một trường tư thục ở Bắc Kinh có mái vòm điều áp xung quanh sân chơi để đảm bảo rằng bọn trẻ được hít thở không khí sạch.

Càng giàu bao nhiêu, bạn càng có khả năng cách ly bản thân khỏi vấn đề bấy nhiêu, nhưng nó vẫn khiến bạn buồn phiền.

Không thể ra ngoài là một thực tế của nhiều người, tôi thấy điều đó nhiều nhất ở Delhi.

Những người giàu hơn sống trong những ngôi nhà được-thông-gió, nhảy vào những chiếc ô tô có-điều-hòa, đi đến văn phòng có-điều-hòa, và họ cảm thấy như bản thân đã được cách ly khỏi vấn đề ô nhiễm không khí.

Nhưng đó chỉ là một cuộc sống không thể ra ngoài, và đó không phải là một cách để sống thực sự.

Quan điểm của tôi là, ngay cả khi bạn có thể mua cho mình một không gian độc lập khỏi khí thải, bạn vẫn không thể sống cuộc sống mà bạn muốn.

Tuy nhiên, theo một cách nào đó, đây là điều đáng lạc quan một cách kỳ cục. Thủ đô thường là nơi ô nhiễm nhất và đó cũng là nơi các chính trị gia đang sinh sống. Họ không thể phủ nhận vấn đề nếu vấn đề đó đang ảnh hưởng đến sức khỏe của chính họ và gia đình họ.

Hết.

Chú thích:

  1. Trận sương mù quang hóa năm 1952: Tháng 12/1952, sương mù chứa chất ô nhiễm đã bao trùm London 5 ngày, gây ra các bệnh đường hô hấp và làm thiệt mạng hàng nghìn người.

 ichigo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Pippa Neill, đăng tại AirQualityNews.

Chuyện người cầm bút

Nguyễn Hoàng Mai: “Sứ đoàn Iwakura” là duyên lành của tôi với Phương Nam Book

Khi dịch sách, tôi đã học hỏi được nhiều về sự dẫn dắt, sắp xếp bố cục logic của Ian Nish – một chuyên gia, nhà nghiên cứu lịch sử người Anh – người đã dành phần lớn cuộc đời mình để cống hiến cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ ngoại giao của Nhật Bản.

Published

on

By

Sứ đoàn Iwakura là tác phẩm nghiên cứu về chuyến du khảo nhằm canh tân Nhật Bản thời Minh Trị dưới góc nhìn của người phương Tây. Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về Sứ đoàn Iwakura, Bookish đã có cuộc phỏng vấn với nhà văn Nguyễn Hoàng Mai – đồng dịch giả của quyển sách.  

Nguyễn Hoàng Mai là tác giả của hai tác phẩm đầy cảm xúc về tuổi trẻ: Đung đưa trên những đám mây (tiểu thuyết, 2018), Bây giờ mình đi đâu (tập truyện ngắn, 2019). Hiện nay, cô đang sinh sống và làm việc tại Tokyo. Tuy đã xa Việt Nam nhiều năm, Hoàng Mai vẫn đọc và thường xuyên theo dõi tình hình văn chương nước nhà. Sứ đoàn Iwakura là tác phẩm dịch thuật đầu tiên của Nguyễn Hoàng Mai được Phương Nam Book xuất bản.

Những tác phẩm văn học của Nguyễn Hoàng Mai thường có chủ đề tập trung vào nỗi cô đơn, tình yêu, suy tư về cuộc đời của người trẻ; vậy nguyên nhân nào khiến bạn quyết định dịch tác phẩm Sứ đoàn Iwakura do học giả Ian Nish biên soạn – đặc biệt là khi tác phẩm sử học này lại có sự khác biệt khá xa với chủ đề bạn thường sáng tác trong văn học?

Năm 2018, tôi vẫn là nghiên cứu sinh thuộc trường Đại học Soka (Soka University, Tokyo, Nhật Bản) khi đó vừa hoàn thành xong tập truyện mới, đang trong giai đoạn “giải lao”. Thời điểm ấy, tôi đã may mắn được một biên tập viên của Phương Nam Book mời tham gia dịch thử những cuốn sách sẽ ra mắt trong đợt kỷ niệm Minh Trị Duy Tân 150 năm.

Trong những cuốn sách tôi được giới thiệu, có tác phẩm Sứ đoàn Iwakura do học giả Ian Nish biên soạn. Thật trùng hợp, tôi cũng đang nghiên cứu về văn học thời kỳ Minh Trị, có tìm hiểu về Sứ đoàn Iwakura. Về chuyến đi lịch sử này, vốn được xem như dấu mốc quan trọng trong công cuộc Duy Tân Minh Trị, thường được ví như chuyến du hành của Columbus hay “Tây du ký” thời hiện đại để tìm hiểu, quan sát thế giới mới. Những nhà tri thức tiêu biểu thời Minh Trị đã vượt biển ra đi với sứ mệnh vẽ nên Nhật Bản, cùng vận mệnh Châu Á tương lai. Sau khi tìm hiểu, tham khảo ý kiến từ các giáo sư ở trường đang học, tôi càng chắc hơn về những giá trị đặc biệt cuốn sách sẽ mang lại cho độc giả Việt Nam.

Là một người viết trẻ, tôi vẫn đi trên con đường sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn hư cấu riêng. Nhưng thời điểm ấy, với những lý do như vậy, tôi đã cố gắng để không bỏ lỡ “duyên lành” được góp phần chuyển ngữ cuốn sách đặc biệt như thế.

Hoàng Mai dịch Sứ đoàn Iwakura từ tiếng Anh hay tiếng Nhật? Mai có thể chia sẻ một chút về quá trình dịch và hoàn thành cuốn sách để độc giả hiểu hơn được không?

Sứ đoàn Iwakura dịch từ nguyên tác tiếng Anh The Iwakura Mission in America & Europe: A New Assessment của học giả người Anh Ian Nish, với đóng góp của các học giả khác. Tôi cùng Nguyên Tâm chuyển ngữ từ tiếng Anh, đồng thời tham khảo các nguồn tài liệu từ tiếng Nhật. Trong quá trình dịch, đôi lúc tôi gặp khó khăn, thiếu tự tin, bởi những từ ngữ mang tính học thuật, khi đó tôi đã cố gắng đối chiếu giữa cả bản tiếng Anh lẫn tiếng Nhật, tham khảo thêm lời giải đáp từ những giáo sư trong trường, cũng như tham khảo thêm tài liệu từ những nguồn khác để tìm được cách dịch phù hợp. Tôi và đồng dịch giả đã trao đổi, thống nhất những thuật ngữ, để bảo đảm nội dung cuốn sách được mạch lạc.

Vì dịch covid, việc ra mắt sách chậm đến 3 năm nhưng cũng vừa hay đúng vào dịp Nhật Bản –  Việt Nam kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao và 150 năm chuyến đi của Sứ đoàn Iwakura. Trộm nghĩ, cũng giống như cái duyên, cái kết đẹp cho quá trình cố gắng nỗ lực của nhiều người tâm huyết với lịch sử thời Minh Trị vậy. Qua đây tôi cũng cảm ơn các biên tập viên giàu kinh nghiệm của Phương Nam Book, đặc biệt là anh Huỳnh Duy Lộc, đã góp phần đưa cuốn sách đến tay bạn đọc một cách chỉn chu nhất.

Sau khi dịch Sứ đoàn Iwakura, với những hiểu biết cặn kẽ hơn về thời Minh Trị, Mai có hứng thú sáng tác thể loại văn học dã sử nói chung, cũng như về thời Minh Trị nói riêng không?

Tôi thích lịch sử Nhật Bản cũng như lịch sử Việt Nam, thế giới nói chung. Nghiên cứu về lịch sử là tìm về những bài học, những giá trị phục vụ cho hiện tại, vẽ nên tương lai.

Lịch sử nước Nhật nói chung và lịch sử thời Minh Trị nói riêng còn nhiều điều để lật lại, để khai thác. Lịch sử Việt Nam cũng có những câu chuyện rất hay. Từ nhỏ, tôi đã thích những câu chuyện dã sử có đan xen những yếu tố huyền ảo, không chỉ về tình yêu mà còn mang lại ý nghĩa thời đại sâu sắc. Sau khi dịch cuốn Sứ đoàn Iwakura, tôi vẫn suy nghĩ, tìm hiểu về đề tài ấy.

Sứ đoàn Iwakura là tác phẩm đầu tiên mà Mai thực hiện công việc chuyển ngữ sau một thời gian dài sáng tác văn học. Từ việc dịch, bạn có suy tư gì về việc viết trong quá trình làm việc với tác phẩm này không? 

Tôi nghĩ, sáng tác văn học là một công việc cô đơn, cần sự đào sâu vào bản ngã, thế giới của chính mình, còn làm một dịch giả thì không thể thỏa mãn bản ngã của người dịch mà cần sự chuẩn xác, tính cẩn trọng cao. Tuy nhiên, viết văn, dịch sách lại gặp nhau ở điểm chung: cần sự uyển chuyển trong câu từ tiếng Việt. Để có được điều này, dịch giả phải không ngừng học hỏi, bổ sung vốn từ vựng, trong quá trình chuyển ngữ phải lựa chọn được những từ ngữ sao cho phù hợp nhất.

Khi dịch sách, tôi đã học hỏi được nhiều về sự dẫn dắt, sắp xếp bố cục logic của Ian Nish – một chuyên gia, nhà nghiên cứu lịch sử người Anh – người đã dành phần lớn cuộc đời mình để cống hiến cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ ngoại giao của Nhật Bản.

Thời gian tới, Mai có dự định tiếp tục dịch sách không? Mai có thể chia sẻ những dự định sắp tới của mình trên con đường viết lách?

Sau khi thử sức với đề tài nghiên cứu lịch sử, thì tiếp theo tôi mong muốn được dịch những cuốn sách thể loại sở trường của mình là: tiểu thuyết, truyện ngắn, mong được giới thiệu những tác phẩm đoạt giải thưởng uy tín của văn học Nhật như giải Akutagawa, Naoki… đến với độc giả.

Tôi cũng đang trong quá trình tự trau dồi vốn ngoại ngữ, tiếp thu nhiều nguồn tác phẩm, tư liệu văn học nước ngoài để có thể viết những cuốn sách hay nhất trong khả năng mình. Hiện tại tôi đang viết một cuốn sách với chủ đề âm nhạc đường phố cùng với một người bạn thuộc thế hệ Gen Z cũng là ca sĩ nhạc sĩ, và một cuốn sách về chữa lành tâm trí. Hy vọng những dự án này sẽ hoàn thành tốt đẹp, có duyên được ra mắt bạn đọc trong thời gian tới.

Cảm ơn Mai đã dành thời gian trò chuyện với Bookish, chúc bạn sẽ phát triển hơn nữa trong tương lai.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Jon Fosse: “Bản thân văn học biết nhiều thứ hơn lý thuyết văn học”

Published

on

By

Jon Fosse

Jon Fosse, 64 tuổi, đã trở thành chủ nhân mới nhất của giải Nobel Văn chương vì “những vở kịch và các áng văn giúp cất lên tiếng nói cho những điều không thể nói ra”. Cuộc phỏng vấn sau đây được đăng trên The New Yorker vào năm 2022, xoay quanh các cuốn tiểu thuyết, những tác phẩm kịch và công việc dịch thuật của nhà văn người Na Uy.

Giải Nobel Văn học 2023 đã được trao cho nhà văn người Na Uy Jon Fosse.

Dễ thấy yếu tố tôn giáo tràn ngập trong các tác phẩm của ông. Điều đó và văn học đã gặp được nhau như thế nào?

Tôi đã có một bước ngoặt lớn trong cuộc đời mình liên quan đến việc bước vào những điều chưa thể biết trước. Tôi là người vô thần, nhưng tôi không thể giải thích điều gì xảy ra khi mà tôi viết, hoặc là điều gì khiến nó xảy ra, nó đến từ đâu? Tôi không thể biết. Ta luôn có thể giải thích não bộ một cách khoa học, nhưng lại bất khả để hiểu động cơ, tinh thần của nó. Đó là một cái gì đó khác. Bản thân văn học biết nhiều thứ hơn lý thuyết văn học.

Asle trong bộ 7 cuốn Septology của tôi cũng nghĩ điều tương tự thế về Chúa: “Bởi vì Chúa vừa là sự vắng mặt rất xa, vâng, là thế đấy, và, vừa là một sự hiện diện rất gần.”

Ngay cả khi Septology hoàn toàn không phải tự truyện, thì vẫn có những suy nghĩ cũng như đặc điểm giống hệt với tôi, chẳng hạn như là vẻ ngoài với tóc hoa râm. Tôi quyết định biến nó thành tự truyện bằng cách làm cho Asle trông giống như tôi, để trước là phù hợp hơn với thể loại này, và sau đó là viết nó theo cách thức của tôi, như một nhà văn. Nhưng có những suy nghĩ, đặc biệt là ở những phần mang tính tiểu luận, sẽ là rất gần với lối suy nghĩ của tôi. Chẳng hạn, ý tưởng cho rằng Chúa ở gần đến mức mà ta không thể trải nghiệm, nhưng Ngài cũng xa đến mức ta không nghĩ đến. 

Có sự tiếp nối với con người ông trước bước ngoặt kia không? Hay chỉ đơn thuần là sự rạn nứt?

Ồ, vâng, có sự liên tục trong các tác phẩm. Tất cả những điều mà tôi nói đến đều “ở bên ngoài”. Việc viết là một cái gì đó khác. Người viết văn trong tôi, anh ấy luôn luôn kiên định. Tôi không chắc anh ấy có tỉnh táo hay không, nhưng anh ấy vẫn luôn như thế.

Ân sủng có ý nghĩa gì với ông?

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về khái niệm đó.

Nó quan trọng với tôi.

Và tôi cũng vậy. Đó là một khái niệm quan trọng. Đôi khi viết được, tôi coi đó như là một món quà, như một ân huệ. Tôi không xứng đáng theo cách nào đó để có được nó. Khi ta ngồi đây với nhau - tôi không cảm thấy rằng mình xứng đáng để có điều này. Cả khi những vở kịch tôi viết được đưa lên sân khấu lớn, thì mỗi một lần đều tốn rất nhiều công sức để các diễn viên phải học lời thoại, làm quen phối cảnh cũng như mọi thứ. Tôi khiến cho rất nhiều người bỏ công bỏ sức, và tôi nghĩ mình không xứng đáng với điều đó. Nó còn nhiều hơn những gì tôi xứng đáng có.

Biết viết và viết được hay đó là ân sủng. Và tôi nghĩ có lẽ cuộc sống tự nó đã là một loại ân sủng. Tôi hoàn toàn có thể hiểu được những người quyết định rời bỏ cuộc đời. Đó là một nơi khủng khiếp theo rất nhiều cách. Cũng có thể coi cái chết như một ân sủng. Ở đây mọi lúc mọi nơi chắc là khủng khiếp lắm.

Các tác phẩm của Jon Fosse. Ảnh The New York Times.

Nó liên quan đến sự đau khổ?

Trong thế giới sa ngã này, theo Kitô giáo, cuộc sống là một loại quà tặng và cũng đồng thời chính là ân sủng. Nhưng rồi mọi chuyện trở nên nghịch lý. Mọi thứ đối với tôi, theo một cách nào đó, đều sẽ kết thúc trong sự nghịch lý. Và đôi khi tôi thấy mình chứa đầy những sự mâu thuẫn đến nỗi khó có thể hiểu được làm cách nào mà tôi-bên-ngoài và tôi-văn-chương có thể ở kề cạnh nhau, và trở thành một.

Ông viết rất hay về tuổi thơ. Tuổi thơ có phải là thời gian không có nghịch lý?

Tôi phải nói vì nó rất quan trọng đối với riêng tôi: lúc 7 tuổi, tôi đã cận kề cái chết trong một tai nạn. Và rồi, từ ở ngoài kia [chỉ về phía xa], tôi có thể thấy mình đang ngồi đây - tôi thấy mình như thế. Và mọi thứ đều yên bình, tôi nhìn những ngôi nhà và thấy khá chắc mình đã thấy chúng vào lần cuối cùng đi khám bác sĩ. Mọi thứ lung linh và rất yên bình, một trạng thái hạnh phúc, giống như đám mây đầy hạt ánh sáng vậy. Trải nghiệm này là quan trọng nhất trong thời thơ ấu. Và nó đã tạo nên tôi với tư cách là một con người, có cả mặt tốt cũng như mặt xấu, và cũng đã tạo ra tôi như một nghệ sĩ.

Đầu tiên tôi đọc tất cả tiểu thuyết của ông, sau đó tôi đọc tất cả các vở kịch của ông. Và điều thú vị với tôi về các vở kịch là chúng thường miêu tả những cảnh ghen tuông một cách dồn nén và rất đau đớn. Điều này lại ít thấy hơn trong các tiểu thuyết. Vì sao lại thế?

Chủ đề hay nhất cho một vở kịch là sự ghen tuông. Đó là “chuyện thường ngày ở huyện” đã có từ thời cổ đại: chỉ đặt 2 người lên trên sân khấu và rồi để người thứ ba bước vào. Sau đó bạn sẽ có được kịch tính ngay lập tức. Thậm chí có thể tạo ra chỉ giữa 2 người, như tôi đã làm trong một số vở kịch của mình.

Đó là một điều khá đau đớn đối với tôi khi đọc.

Vâng, nó hơi giống Tennessee Williams [1] Nhưng đó cũng là lý do vì sao tôi thấy mệt mỏi với việc viết kịch - bởi nó dễ dàng tạo ra cảm giác ghen tuông. Khi tồn tại thứ ấy, tôi thường nghĩ rằng, theo ngôn ngữ thầm lặng của vở kịch, sẽ có cái chết.

Với ông loại tình yêu nào thì đáng tin cậy trong một thế giới sa ngã?

Tôi nghĩ là các vở kịch đều đang nói điều gì đó về tình yêu. Không phải tôi biết câu trả lời đâu. Nhưng tôi cảm giác những gì tôi viết đều đúng ở khía cạnh nào đó. Đó không phải chủ nghĩa hiện thực, và cũng không phải hoàn toàn chỉ là hư cấu.

Và đó là cách mà tôi có thể đưa ra câu trả lời khôn ngoan. Trong sáng tạo của tôi. Chúng khôn ngoan hơn và biết nhiều hơn người viết ra nó đứng dưới tư cách của một con người. Nó lớn hơn thế. Tôi nghĩ đó là món quà của mọi nền văn học vĩ đại. Đối với tôi, tình yêu là thứ gì đó vô cùng độc đáo, nhưng lại đồng thời cũng rất phổ quát. Nhưng để biến sự độc đáo của tình yêu thành văn học đích thực, cần phải tạo ra một cái gì đó xứng đáng hơn.

Mối quan hệ giữa kịch và tiểu thuyết của ông đôi khi là về nhịp điệu - một sự xen lẫn âm thanh rất có chủ ý, ngắt quãng giữa lời nói và suy nghĩ?

Đúng rồi. Theo một cách nào đó, tất cả đều là về nhịp điệu, ngay cả trong một bức tranh. Có nhịp điệu giữa các yếu tố hoặc mối quan hệ giữa chúng. Nhịp điệu thì rất dễ nói, nhưng lại rất khó để biết chính xác nó là cái gì hoặc đang làm gì. Tất cả những khái niệm này - như sự duyên dáng, tình yêu, nhịp điệu - chúng rất dễ dùng nhưng lại khó hiểu theo cách thực tế. Nhưng nó cũng rất hiển nhiên có mặt ở đó. Khi có nhịp điệu, bạn biết điều đó. Khi có tình yêu, bạn cảm nhận được. Và đối với tôi, cả Chúa cũng vậy. Tôi khá chắc Chúa cũng hiện diện. Tuy nhiên, tôi thường không thấy như vậy.

Được biết ông đang dịch cuốn The Plains của Gerald Murnane[2]?

Tôi không biết làm sao mà tôi lại đọc Murnane. Trước đây ông chưa từng được dịch sang tiếng Na Uy. Tôi đã đọc về ông ở đâu đó và cảm thấy ông là một nhà văn thú vị. The Plains là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng và được dịch nhiều nhất của Murnane. Nó cũng đã được dịch sang tiếng Thụy Điển và tiếng Đan Mạch. Về văn học, tôi có thể đọc tiếng Đức và tiếng Anh, nhưng tôi thích đọc bằng tiếng Scandinavi hơn. Vì vậy, tôi đã đọc nó bằng tiếng Thụy Điển và tôi thực sự thấy thích. Sau đó tôi đã quyết định tự chuyển ngữ nó.

Biết rằng ông đang dịch Murnane làm tôi nhớ đến cây vĩ cầm Hardanger[3], với hai lớp dây nằm song song nhau. Có vẻ như ông và Murnane có chung một số suy nghĩ?

Đó là một hình tượng đẹp. Thật hiếm khi gặp được một giọng văn có ý nghĩa. Nó giống như là tình bạn mới vậy, và không xảy ra một cách thường xuyên.

Làm thế nào để ông dịch The Plains sang tiếng Nynorsk[4]?

Tôi sống ở Áo, nơi có phong cảnh bằng phẳng rộng lớn được gọi là Đồng bằng Pannonia. Nó trông hơi giống phong cảnh nước Úc.

Tôi cảm thấy Murnane có giọng văn và cách nhìn khá độc đáo. Tôi chưa bao giờ đọc bất cứ thứ gì như cuốn sách này, nhưng nó giống với văn bản của tôi - cảm giác xa cách nhưng cũng gần gũi. Chúng tôi đang viết theo những cách khác nhau, nhưng có thể nói có một cách nhìn tương tự ẩn đằng sau nó.

Có lẽ là tính kỷ luật hoặc sự tập trung?

Khi tôi viết, mọi thứ cần phải chính xác cũng như chuẩn xác. Tôi không chấp nhận ngay cả nếu sai dấu phẩy. Tôi biết điều đó. Nếu tôi thay đổi điều gì đó ở trang 4, thì tôi sẽ phải thay đổi thêm điều gì khác ở nơi nào khác. Tôi không biết mình có thể tạo ra bao nhiêu mối liên hệ như vậy. Khi bước vào một vũ trụ theo một cách nào đó, bạn đã tách ra khỏi thế giới thực. Khi bạn tạo nên vũ trụ của mình, thì nó sẽ không còn là của bạn.

Có một logic nào đó trong điều đó ư?

Với tư cách là một nhà văn, tôi thấy nó rất cần thiết - một việc phải làm chính xác hoặc như thế này hoặc thế kia. Là một độc giả, khi đọc, bạn sẽ thấy nó logic.

Tôi có thể nói rằng viết mà không cần thiết thì chẳng để làm gì cả. Và đó là sức mạnh của nó. Tôi nghĩ là có hàng nghìn quy tắc tôi phải tuân theo khi viết tiểu thuyết. Hầu hết chúng sẽ nói không với điều này hoặc là nói có đối với điều kia. Để tuân thủ những quy tắc này và lắng nghe chúng, đòi hỏi phải có trí nhớ cũng như năng lực tinh thần mà tôi nghĩ mình không có khả năng sở hữu trong tư cách của một con người. Nhưng tôi nghĩ chúng ta còn nhiều khả năng hơn cả những gì mà chúng ta biết. Con người có khả năng làm những điều kỳ lạ.

Trong đó có cả khả năng, hoặc cũng có thể là sự hiểu biết, để sắp xếp các phần thành một tổng thể?

Vâng, đó là tất cả về tổng thể, về cảm giác trọn vẹn. Và chính sự trọn vẹn đó là linh hồn của văn bản. Thông điệp sẽ đến từ sự trọn vẹn của nó, từ ngôn ngữ thầm lặng của nó. Chính cái toàn thể vẫn sẽ im lặng và khăng khăng đòi im lặng. Và để tạo nên sự trọn vẹn này, mọi bộ phận đều phải khớp nối và hướng về nó. Và đây là điều mà một con người theo nghĩa bình thường không bao giờ có thể đạt được một cách có ý thức.

Đó là lý do tại sao tôi không muốn lên kế hoạch gì cả, không muốn biết trước bất cứ điều gì hết. Tôi chỉ tin tưởng vào việc viết thôi. Khi tôi sáng tác, có thể là 1, 5, 10 trang, nhưng theo một cách nào đó, mọi thứ đều đã có sẵn ở đó. Cho đến lúc đó, ít nhiều nó đã được xác định.

Lược dịch từ bài phỏng vấn Merve Emre, đăng trên The New Yorker ngày 13.11.2022


Một số chú thích diễn giải thêm cho bạn đọc:

[1] Tennessee Williams là một nhà viết kịch người Mỹ. Ông được coi là một trong ba nhà viết kịch xuất sắc nhất của kịch nói Mỹ trong thế kỷ XX. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông là Chuyến tàu mang tên dục vọng.

[2] Nhà văn nổi tiếng người Úc. Năm nay ông đứng thứ 3 trong danh sách đặt cược cho giải Nobel Văn chương, sau Tàn Tuyết và Jon Fosse.

[3] Một loại nhạc cụ đặc trưng của Na Uy, giống violin nhưng có tận 2 lớp dây.

[4] Một trong hai loại ngôn ngữ chính được dùng ở Na Uy, nhưng kém phổ biến hơn loại còn lại. Jon Fosse nổi tiếng về việc sử dụng thứ phương ngữ này.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Phạm Công Luận và những tâm tình về “Hồi ức Phú Nhuận”

Cho dù “Hồi ức Phú Nhuận” không phải là sách biên khảo nhưng cũng cần được sắp xếp tương đối mạch lạc theo từng nhóm nội dung để độc giả dễ theo dõi, để có cái nhìn từ khái quát đến từng lãnh vực, sau đó đọng lại là những tâm tình của người sống ở đó.

Published

on

By

Hồi ức Phú Nhuận tập hợp những bài viết của nhà báo Phạm Công Luận về dòng chảy thời gian đi qua một vùng đất bằng việc sưu tầm và ghi lại những hồi ức tản mạn không chỉ của riêng tác giả – một người sinh ra, lớn lên và gắn bó với Phú Nhuận, mà còn từ lời kể của nhiều cư dân nơi đây qua các thế hệ.

Trong bài phỏng vấn này, Bookish sẽ giúp bạn đọc khám phá quá trình nhà báo Phạm Công Luận đã tái hiện một Phú Nhuận từ cổ chí kim qua từng trang sách trong Hồi ức Phú Nhuận diễn ra như thế nào, cũng như những khó khăn mà anh phải đối mặt. Hãy cùng tìm hiểu bạn nhé.

Trong quá trình thực hiện Hồi ức Phú Nhuận, anh có gặp phải những khó khăn nào khi tìm ý tưởng, nguồn tư liệu, hay nhân vật để phỏng vấn không? Nếu có, anh đã vượt qua những khó khăn đó bằng cách nào?

Viết sách tư liệu luôn có những thách thức từ việc ý tưởng tổ chức cho đến tập hợp tài liệu, cuốn Hồi ức Phú Nhuận cũng vậy. Cần có những ý tưởng cốt lõi từ cách tổ chức các chương mục cho đến thể hiện từng bài. Ở từng đề tài, nếu không tìm ra nhân chứng để phỏng vấn hoặc tài liệu hay thì dễ đi vào bế tắc. Khi gặp trường hợp đó, tôi xếp lại, khai triển một bài viết khác và lúc nào đó sẽ quay lại đề tài cũ khi thấy đã có những thứ cần thiết để viết nó ra.    

Bài viết nào trong Hồi ức Phú Nhuận khiến anh tâm đắc nhất? Anh có thể chia sẻ lí do tại sao không?

Có hai dạng bài tôi cảm thấy tâm đắc trong cuốn này.

Một là những bài tôi tìm được tư liệu hay, viết được những đề tài hầu như không ai viết về, mà lâu nay bản thân tôi luôn thắc mắc: bài viết về gốc gác của chợ Ga, về nhà hàng bò bảy món Ánh Hồng nổi tiếng khắp Sài thành một thời, về xóm cô đầu ở Phú Nhuận trước 1945, về đất Phán Hùng trong đường Cô Giang v.v...   

Hai là những bài được viết với nhiều cảm xúc, hầu hết nằm trong phần ôn chuyện xưa, về ẩm thực và về những con hẻm.  

Hồi ức Phú Nhuận được chia thành 9 phần (8 phần nội dung chính và 1 phần phụ lục) để bao quát những khía cạnh khác nhau trong đời sống Phú Nhuận. Từ khi bắt đầu viết sách, anh có hình dung trước là sách sẽ có 9 phần với các chủ đề như thế để lên kế hoạch viết không hay anh viết bài trước rồi trong quá trình tập hợp lại bài viết cho cuốn sách, anh mới chia bài viết theo chủ đề? Theo anh, phương pháp nào đem lại nhiều hiệu quả hơn?

Cuốn sách này, cho dù không phải là sách biên khảo nhưng cũng cần được sắp xếp tương đối mạch lạc theo từng nhóm nội dung để độc giả dễ theo dõi, để có cái nhìn từ khái quát đến từng lãnh vực, sau đó đọng lại là những tâm tình của người sống ở đó. Dù ban đầu đã có ý định sắp xếp một cách tương đối, khi viết tôi chọn những đề tài mình có hứng thú hoặc có tư liệu hay để viết trước. Sau một thời gian, tôi rà soát lại từng phần nội dung và tiến hành bù đắp những chỗ còn thiếu bằng những bài khác. Có thể cách của tôi không đúng bài bản nhưng ít ra nó giúp tôi duy trì được cảm hứng để viết một cuốn sách khá “lắm chuyện” như vầy.     

Trong Hồi ức Phú Nhuận, có những bài viết kể về các con đường, quán ăn và tiệm cà phê hiện đã không còn tồn tại. Vậy anh tìm kiếm và ghi lại những thông tin này bằng cách nào? Làm sao để anh cân bằng tính trung thực và chi tiết khi tái hiện những ký ức trong Hồi ức Phú Nhuận?

Tôi sống ở Phú Nhuận từ nhỏ đến nay nên không quá khó khăn để nhận diện những gì từng tồn tại và mất đi trong hơn nửa thế kỷ qua. Bên cạnh đó, còn có những nhân chứng chung quanh tôi, họ có thể kể về những quán xá họ từng lui tới, ăn uống ở đó hay về những gì đã xảy ra từ rất lâu trên một con đường. Trang “Phú Nhuận ngày xưa” trên Facebook do tôi lập ra, là nơi tập hợp những người từng hay đang gắn bó với vùng đất này cũng góp phần cung cấp cho tôi tư liệu về các quán, các nhà hàng trong quận, bên cạnh những câu chuyện ở lãnh vực khác.

Đã là hồi ức thì có “nhớ nhớ, quên quên” không tránh khỏi thiếu sót, tôi hạn chế tối đa điều đó bằng cách đối chiếu với các ý kiến khác nhau trên trang “Phú Nhuận ngày xưa” về một sự kiện, đưa ra trước cộng đồng để hỏi ý kiến và gửi bản thảo cho một số người quen nhờ xem giúp và phát hiện lỗi nếu có. Sau khi ra sách, tôi vẫn tiếp tục theo dõi dư luận để nếu cần thì đính chính hay chỉnh sửa sau.    

Hồi ức Phú Nhuận vừa có hình ảnh tư liệu, vừa có tranh minh họa của họa sĩ Phạm Công Tâm. Đâu là tiêu chí để anh quyết định lựa chọn giữa hình ảnh hay tranh minh họa cho một bài viết?

Việc chọn tranh hay ảnh minh họa cho phù hợp bài vở nằm trong góc nhìn từ nghề báo của tôi. Hầu hết bài trong sách được minh họa bằng ảnh, nhất là bài tài liệu. Bên cạnh đó có một số bài được minh họa bằng tranh màu nước, do không có ảnh đủ thể hiện được nội dung và còn giúp trang sách mềm mại hơn, đẹp hơn.

Sau Hồi ức Phú Nhuận, kế hoạch sáng tác tiếp theo của anh là gì? Anh có dự định viết thêm về Phú Nhuận hoặc những quận khác không?

Cho dù Phú Nhuận vẫn còn nhiều điều hay để khám phá và chia sẻ, tôi chưa có ý định viết tiếp ở dạng một cuốn sách mà sẽ dành thời gian cho những đề tài khác.

Tôi vừa viết xong bản thảo cuốn sách về Chợ Lớn, một khu vực đô thị không nhiều người phía Sài Gòn có điều kiện tiếp cận theo chiều sâu. Cuộc sống ở đó, với đa số là di dân người Hoa có những đặc thù riêng, rất thú vị để tìm hiểu. Qua cuốn này, tôi mong có thể phản ánh được một phần nhỏ đời sống, tâm tình, sinh hoạt của vài thế hệ người sống trong Chợ Lớn trong gần trăm năm qua. Đó là một nơi mà một số nhà văn, ký giả nước ngoài như Gontran de Poncins, Georges Ribon hay Kermendec... đã đến và ở lại một thời gian để viết những bài báo và cuốn sách thật lý thú.    

Cảm ơn tác giả Phạm Công Luận vì đã dành thời gian cho một cuộc chia sẻ sâu với Bookish. Chúc anh luôn thành công với những dự án trong tương lai.

Đọc bài viết

Cafe sáng