Phía sau trang sách

Giành lại không khí sạch: Chỉ ngu ngơ mới biết cười

Giành lại không khí sạch phổ quát, lý thú nhưng đầy gần gũi về cách chúng ta sống, cách ta đối xử với mẹ thiên nhiên, với bầu khí quyển; để thông qua đó, lựa chọn hành động của mỗi một người là rất vô cần thiết.

Published

on

London. Thập niên 1890s. “Họ lái xe giữa những hàng rào cây táo gai và cây phỉ, dọc theo những con đường ngoằn ngoèo giữa rừng cây sồi, bạch dương và thủy tùng nhô cao. Philip đã cảm nhận được sự thay đổi trong không khí khi đoàn tàu chạy ra khỏi dãy nhà ở London. Ở nơi này, ta có thể nhìn thấy cái rìa của làn khói ám đen ấy. Ở đây, nó không tệ như bầu không khí đen đặc đầy mụi than và hóa chất nóng chảy tràn từ các ống khói nhô cao và lò nung gốm ở Burslem. Phổi cậu căng tức và quá mệt mỏi. Olive và Tom không coi không khí trong lành là điều hiển nhiên. Họ thốt lên một cách đầy trịnh trọng về việc làm sao để thoát ra khỏi bụi bẩn. Philip cảm thấy nhơ bẩn khắc sâu trong cậu”. [1]

London. 2018. “Qua việc không hành động một cách khẩn trương và hiệu quả nhất có thể, cũng như không thực hiện mọi biện pháp có thể để làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và gia tăng tuổi thọ, chính phủ Anh Quốc đã thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em trong phạm vi và quyền hạn của mình”. [2]

*

Kể từ khi A. S. Byatt làm cuộc khảo cứu ngược về lịch sử thời hậu Victoria cho đến khi chính quyền Trump bỏ lơ hoàn toàn hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu, đã hơn 120 năm trôi qua, thế nhưng, những bóng đen ám khói, những thần chết vẫy gọi vẫn không ngừng nhe nanh múa vuốt trước số phận con người. Tự trong bản chất, khả năng kháng cự và nhận biết hiểm nguy đã tắt lịm đi theo dòng thời đại; từ hư vô khi loài homo sapiens thận trọng dùng lửa, đến thời 4.0 của Internet, của AI hay machine learning thì loài homo deus ấy cũng “tiến hóa” hơn hẳn, khi không sợ lửa, sợ khói và hẳn nhiên không còn sợ cả không khí mà chúng hít phải.

Là một bước tiến hay bước đường lùi? Chẳng ai biết được. Chỉ biết không khí thời còn là sapiens đã trôi rất xa từ khi trở thành giống loài deus. Với Giành lại không khí sạch, Tim Smedley như gã chép sử bơ vơ hiu quạnh ở thời chuyển tiếp, ghi trên đất sét sa thạch một bản tóm lược bầu không khí này, để loài deus hàng triệu năm sau vẫn còn biết được từng bước diễn tiến của bầu không khí thủa còn bốn biển năm châu. Nhưng đến cuối cùng, điều gì đã khiến chúng tệ như thế? Những kẻ giấu mặt, làn khói mong manh và hơn 18.000 người chết mỗi ngày vì không khí ô nhiễm?

Màn khói mù ở Bắc Kinh, nơi tỉ lệ ô nhiễm hạt nhỏ cao gấp 40 lần so với mức tiêu chuẩn an toàn quốc tế.

NHỮNG SỰ THẬT MÔI TRƯỜNG KHÓ CHỊU

Tim Smedley mở đầu Giành lại không khí sạch bằng một trong những mệnh đề vô cùng quen thuộc khi nhắc đến các vấn đề về phát triển bền vững, rằng anh chỉ quan tâm đến chúng khi con cái mình chào đời. Dễ thấy, không khí ô nhiễm như tên sát nhân mang bộ áo giáp vô hình trong tiểu thuyết của H. G. Wells – chúng tàng hình, khó nhận biết nhưng đầy hiểm nguy. Người trưởng thành dường như luôn mang trong mình những tập ý niệm đầy tính trẻ thơ, mà niềm tin về bầu không khí trong lành của 10 hay 20 năm trước chưa hề biến đổi là một trong số đó. Chỉ cho đến khi những chuyển giao thế hệ, những sợi dây liên kết đậm tính máu mủ ruột rà một lần xuất hiện, thì kể từ đó ta mới chú ý để rồi nhận ra cái áo giáp ấy không hề kiên cố như ta vẫn nghĩ.

Và điểm yếu đầu tiên của bộ đồ ấy mà Tim “vô tình nhìn thấy” là ở những tít báo bán chạy hàng ngày ở Anh. Có thể nói ở thời đại mở, nơi thông tin tràn ngập và được thu gom như những vụ mùa bội thu, thì mạng xã hội đóng vai trò vô cùng trọng yếu cho những cuộc vạch trần. Nếu trước đó Trung Quốc từng xóa trắng những dấu hiệu ô nhiễm không khí đầu tiên bằng cách yêu cầu Đại sứ quán Mỹ – nơi gắn những cảm biến không khí nhằm phục vụ cho nhân viên của mình – ngưng đăng trên tài khoản Twitter những số liệu cảnh báo; thì chính quyền Delhi của Ấn Độ cũng tương tự thế, khi phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng của nền ô nhiễm đối với sức khỏe, hay càng vô lý hơn nữa khi một mực cho rằng ô nhiễm môi trường chỉ do khí tượng. Thế rồi rốt cuộc, liệu những che giấu của chính phủ về vấn đề này nhằm mục đích gì hay cốt lõi của chúng nhằm phục vụ ai?

Đội tuyển cricket Sri Lanka có triệu chứng nôn mửa, khó thở vì không khí ô nhiễm khi thi đấu tại New Delhi (Ấn Độ) dù đã đeo mặt nạ chống ô nhiễm.

Với một câu hỏi nửa gây khó chịu, nửa gây tò mò, Smedley với vị thế là một nhà báo độc lập không bị tác động bởi lợi ích nhóm hay bởi đảng phái chính trị đã có cái nhìn khách quan, tổng hợp và thấu suốt về toàn bộ vấn đề này. Lần ngược trở về thời Đại sương mù London năm 1952 đến ngày tận thế năm 2013 của chính quyền Bắc Kinh, ta thấy quan hệ rường cột về mặt kinh tế luôn luôn phủ khắp vấn đề môi trường.

Đứng trước làn đại sương mù năm 1952 bởi than sưởi mùa đông cùng với hiệu ứng nghịch nhiệt, thay vì hành động dứt khoát và thật nhanh chóng, Churchill lại cho rằng cần xem xét thêm quy mô rộng lớn của nền kinh tế trước tác động nhỏ (hay không đáng kể) về mặt môi trường. Sự im lặng của người đứng đầu ở các chính phủ cũng như xung đột lợi ích của rất nhiều bên chỉ biến công dân thành những đàn cừu mặc người chăn thả; để rồi từ đó kết hợp với lối “bế quan tỏa cảng” ở mạng Internet mà Trung Quốc tha hồ o bế, cấm luôn Twitter hay Ấn Độ còn phũ hơn thế, một mực cho rằng khói bụi độc hại tương ứng với khi hút hơn 50 điếu thuốc một ngày vẫn còn chưa tệ bằng cuộc tuyệt diệt thảm họa Pol Pot.

Hơn thế nữa, sự bao che của chính phủ đối với hãng Volkswagen trong việc sản xuất thiết bị triệt tiêu khí thải trong bài thử nghiệm trở thành bê bối không thể dung tha. Dĩ nhiên ta dễ mà suy ra rằng, Volkswagen trong trường hợp này chỉ như anh cả đứng mũi chịu sào, mà trong khu phức hợp chịu trách nhiệm tầm soát ô tô ấy, có hàng tá hàng tá thương hiệu từ Fiat, Subaru đến Peugeot hay Renault. Nực cười hơn nữa khi scandal đã lở vỡ ra, thì chính Volkswagen đã vay một khoản 400 triệu euro từ Ngân hàng đầu tư châu Âu nhằm để phát triển động cơ tuân thủ tiêu chuẩn phát sinh khí thải ngày càng nghiêm ngặt!? Đi suốt đi lui như một vòng luẩn quẩn, và dĩ nhiên, con người luôn là trung tâm toàn bộ mọi thứ.

Thế nhưng cũng không hẳn thế. Một ưu điểm khác của Giành lại không khí sạch là Tim Smedley đã đứng dưới một vai trò của người quan sát – người xin đi lại từ đầu – để đến với những khái niệm thật cơ bản nhất, thật ngọn nguồn nhất; mà một trong số đó là bản chất của tên sát nhân vô hình – ở đây xin được tạm gọi là PM2.5. Dĩ nhiên trong một đám khói ta vẫn hít vào luôn luôn chứa đựng những loại khí khác mà có thể là NOx, VOC, SO2, CO2,… Chúng có thể từ trong vòm cây hoặc từ việc đốt rơm rạ (VOC), cũng có thể là từ núi lửa hoặc đốt nhiên liệu hóa thạch (SO2). CH4 và NH3 thì từ hoạt động chăn nuôi nông nghiệp để lý giải vì sao nước tiểu bò vẫn có thể gây ra ô nhiễm còn O3 từ trong những sự kết hợp giữa NOX với VOC trong ánh sáng. Những cặp tác nhân đều chứa đựng yếu tố tự nhiên và yếu tố người, dĩ nhiên con người luôn luôn phá vỡ và nghiêng cán cân về phía bên mình.

Trong số những hợp chất trên, PM2.5 là vô cùng nhỏ so với kích thước của một cọng tóc và có khả năng vô hiệu hóa toàn bộ khả năng cản bụi ở những cơ quan vốn dĩ sinh ra cho công việc này. Nan giải ở chỗ, ta không thể nào giải quyết toàn bộ vấn đề. Bởi khi giảm xuống nồng độ NOx thì NO2 sẽ liền tăng lên; tương tự như thế, khi giảm PM20 lập tức PM kích thước nano sẽ lại chiếm chỗ. Chì, PM, mất cân bằng oxy gây nên hệ quả không thể không thấy ở ngay trước mắt, để mà nói ra chỉ như sấm truyền cho một cuộc sống đã đến hồi kết, với mất trí nhớ, suy tim, đột quỵ, ung thư, máu không đông, Parkinson, thiếu máu cục bộ và hàng hà sa số những căn bệnh khác.

NHỮNG VÙNG SÁNG ẢM ĐẠM

Nói thế cũng không có nghĩa mọi việc chỉ đang lao đi xuống dốc không thấy đường ra. Trong khi các giải pháp về điện khí hóa đang được cân nhắc và những sản phẩm đầu tiên đã được thành hình; thì kể từ khi sự kiện Olympic Bắc Kinh 2008 đến nay, ngày tận thế vì không khí ô nhiễm đã được khắc phục rõ rệt, với hàng tá những giải pháp như công khai chỉ số môi trường, tái tạo những vành đai xanh hay đóng cửa hoàn toàn những nhà máy nhiệt điện than, sản xuất thép dù cho chưa đi vào hoạt động, mới vừa hoạt động hay đã từng hoạt động… Những chính sách mạnh tay của chính quyền Trung Quốc đã cho thấy cách đối đầu đối với khủng hoảng vô cùng trực diện.

Hơn thế nữa, khi Trump phủ nhận hoàn toàn hiệp ước Paris (chắc hẳn ai đó đã cho ông uống thứ thuốc Dylar của DeLillo trong Tạp âm trắng để mà chế ngự được nỗi sợ chết) thì vé miễn thi hành luật của California đã như ống phễu ngày càng tăng thêm tiêu chuẩn phát thải khí thải. Cùng lúc đó, Paris triển khai hệ thống Velib – xe đạp cho thuê, ngày không xe hơi, tăng lên số lượng làn cho xe đạp hay việc dán nhãn mức độ xả thải, cấm diesel đến năm 2025… đã biến Paris thành nơi đáng đến. Không dừng ở đó, Tesla, BMW, Volvo… cũng đang phát triển phương tiện hoàn toàn bằng điện, mà pin lithium-ion sử dụng cho loại xe này và cách xử lý sau khi hết hạn cũng là vấn đề hết sức nan giải.

Mặt khác, dịch vụ dùng chung xe điện Maas ở Phần Lan đã đại diện cho câu slogan “xe điện hoàn toàn tuyệt vời, nhưng ít xe điện hơn càng tuyệt vời hơn”. Hệ thống BRT ở Mexio, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran cũng đã mang đến lợi ích đáng kể. Thêm vào đó, Stefano Boeri – kiến trúc sư người Ý với lối kiến trúc rừng thẳng đứng ở những tòa nhà bê tông cốt thép – đã góp tính thiên nhiên vào cảnh quan thành phố. Thế nhưng xung đột văn hóa vẫn luôn còn đó, khi  Leban không có dịch vụ công cộng, giao thông Delhi tuân theo đẳng cấp, thói quen tắm hơi ở Hà Lan, tiệc nướng ngoài trời ở Úc hay dịp bắn pháo hoa vào lễ Diwali… Tất cả cho thấy giải quyết ô nhiễm không khí không khi nào là công việc dễ dàng.

*

Với Giành lại không khí sạch – Sự khởi đầu và kết thúc của ô nhiễm khí quyển, Tim Smedley bằng một khởi đầu vô cùng cơ bản đã khái quát hóa một trong những vấn đề rất đáng quan ngại mang tính toàn cầu. Từ những khởi đầu với các khái niệm vô cùng cơ bản đến cuộc vạch trần những mối xung đột trong việc giải quyết ô nhiễm không khí, từ lời cảnh báo đủ thứ căn bệnh đến những điểm sáng của sự nỗ lực; Giành lại không khí sạch phổ quát, lý thú nhưng đầy gần gũi về cách chúng ta sống, cách ta đối xử với mẹ thiên nhiên, với bầu khí quyển; để thông qua đó, lựa chọn hành động của mỗi một người là rất cần thiết. Rất đáng trải nghiệm.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Chú thích:

  1. Truyện trẻ con – A. S. Byatt.
  2. Báo cáo của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.

*

Những bài viết về Giành lại không khí sạch:


Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng