Phía sau trang sách

Đường xưa mây trắng: Khi trí tuệ và từ bi mở lối cho lý tưởng, tình yêu và tuổi trẻ

Published

on

Gấp lại cuốn sách và bạn sẽ cảm thấy tình yêu mến dành cho Đức Phật dường như được mở rộng ra nhiều. Tình yêu mến đó không bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ, lòng tôn kính dành cho bậc vĩ nhân ta thường thấy, mà từ “cái thấy” của ta dành cho Đức Phật, thấy Người cũng tồn tại trong ta, thấy hình như Người đã nói lên những gì mà ta đã trải qua và trăn trở, thấy Người thật hiểu ta quá.

Như mọi khi, hãy thở ba hơi thở, buông bỏ hết những kiến thức về Phật Giáo mà mình đã tiếp nạp, rồi đón nhận “cơn mưa pháp” giàu tình thương và chân lý, và tiến bộ thông qua hành trình ngược về 2,600 năm trước: nối gót bước chân của người đã làm thay đổi thế giới mãi về sau.

Dành cho những ai đã biết, đã đem lòng kính trọng Đức Phật, đây là cuốn sách để bạn yêu thương Người theo một cách khác: Người sẽ là Bụt, là người thầy, người nghệ sĩ, người cha, người anh em, và là người bạn. Một người bình thường có tính cách, có sức khỏe, có tư duy như bao người bình thường khác. Một người làm nên điều kỳ diệu không cần phép thần thông, cũng không có hào quang tỏa chiếu. Và mình cũng thấy mình làm được những điều kỳ diệu đó. 

Dành cho những ai chỉ mới nghe danh mà chưa tìm hiểu, đây là cuốn sách để bạn tiếp cận với nguồn gốc của Phật Giáo – Đạo Phật nguyên thủy, với triết lý căn bản của Đạo Bụt được Sư Ông truyền đạt cặn kẽ và dễ hiểu. Và bạn sẽ tìm được thêm cho mình những người bạn mới – Bụt và các đệ tử của Ngài. Rồi bạn sẽ hiểu thêm về các quốc gia tôn giáo, nơi mọi thanh niên đều có thể phát nguyện xuất gia ngay từ khi còn trẻ, khi so sánh với những nước chỉ chấp nhận vào đường đạo sau khi đã qua các đỉnh cao cuộc đời. 

Nếu cần phải phân loại, mình sẽ gọi Đường xưa mây trắng là tiểu thuyết lịch sử. Là thể loại truyện hư cấu dựa trên những điển tích trong cuộc đời Đức Phật. Sư Ông Làng Mai chọn yêu mến Đức Phật như một con người, và vì vậy, xây dựng nhân vật về Người cũng có tính cách, có cảm thọ, có nhiều trăn trở bất an, có sự quyết tâm cũng như gặp những khó khăn phàm tục. Trong Đường xưa mây trắng không có Bồ Tát, không có ngạ quỷ, phạm thiên, không có cõi ta bà hay các nhân vật dùng thần thông như những bài kinh của Đại Thừa. Nhưng điều tuyệt nhất của Sư Ông là đã phác họa nên nhân vật Bụt rất thật, như đã từng được gặp Bụt và sống cùng Người.

“Tôi đã viết những chương của Đường xưa mây trắng với rất nhiều hạnh phúc… Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn.”

Truyện có 81 chương, chương nào cũng được lồng ghép một bài kinh, một pháp môn ra đời khi Bụt còn tại thế. Hoặc một câu chuyện của Bụt thu phục một vị đệ tử mới. Độc giả có thể thuận tiện tra cứu lại tóm tắt và điển tích của các chương này ở phần Mục lục cuối sách.

Ta cũng có thể làm điều tương tự

Đường xưa mây trắng xuất bản lần đầu tiên vào năm 1988, năm đó độc giả Việt đâu đã quan tâm nhiều đến sách kỹ năng, đến những buổi nói chuyện truyền cảm hứng, đến tu thân hay phát triển bản thân. Việc kể lại cuộc đời của Bụt như một người bình thường đem lại lợi lạc không thua gì nhiều chương trình truyền lý tưởng sống cho tuổi trẻ. Bạn sẽ đặt xuống những phép màu, những tôn sùng bậc thánh nhân, mong cầu siêu sanh vào thế giới phương Tây mà chính bạn khó lòng chứng nghiệm trong kiếp sống này. Bạn sẽ cầm lên ba viên ngọc quý gọi là Tam Bảo để xây nền cho con đường mà bạn chọn, cho dù là con đường nào, chỉ cần có từ bi và trí tuệ, bạn vẫn sẽ đi thật tự tin, vững chãi, và thong dong.

Mình thấy thích những lần thay đổi điển tích điển cố khéo léo và hợp lý của Sư Ông nên xin phép chia sẻ một vài câu chuyện dưới đây.

  • Chuyện kể rằng khi ngồi tọa thiền dưới gốc cây vào buổi đêm khuya, nhiều lần Bụt đã bị vây hãm và cám dỗ bởi Diêm Vương và bầy nữ quỷ. Đối với Bụt trong Đường xưa mây trắng, chẳng cần Diêm Vương, chẳng cần ngạ quỷ hiện hình, một chiếc lá rơi và tiếng xào xạc của động vật trong rừng cũng làm Người thót tim. Thần thông của Bụt lúc này là khả năng chiến thắng nỗi sợ hãi và khả năng giữ cái định cho thật lâu, thật đều.
  • Điển tích cho rằng Chư thiên đã xuống khẩn cầu Bụt đừng nhập Niết Bàn ngay mà hãy ở lại hóa độ những gì Ngài biết cho chúng sanh. Vì sau cái đêm giác ngộ dưới cội bồ đề, Ngài nghĩ rằng con đường giải thoát khó như vậy, làm sao chúng sanh có thể lĩnh hội được. Nhưng động lực ban đầu để Ngài quyết rời bỏ cuộc sống vương giả là nhìn thấy cảnh sinh, lão, bệnh, tử của dân chúng. Ngài thấy khổ vì không làm gì được cho người ta hết khổ, vậy sao giác ngộ rồi, Ngài lại phải do dự nhập Niết Bàn hay không? Bụt của tác phẩm đã bắt đầu con đường hoằng pháp ngay sau đêm thành đạo.
  • Có nhiều trong các mối quan hệ, những người đem lại cho ta thọ cảm đặc biệt mỗi khi tiếp xúc. Như mình thích kể chuyện với người này vì họ rất biết cách lắng nghe, hay mình thích thảo luận với người kia vì họ phản biện tốt. Còn cô bé Sujata thì bỗng một hôm lại thấy Bụt có gì đó khác lạ, và nhìn ngài, cô cảm tưởng như mọi nhọc nhằn lo lắng trên cuộc đời này không còn to tát nữa. Cô thấy lòng mình vui như một ngọn gió xuân. Niềm an lạc và thanh tịnh của Bụt, đâu có cần phép màu mới được tỏa chiếu.
“Bụt có rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại phải dùng thần thông?”

Điều phục cái tôi và chuyển hóa khổ đau

Cái khổ tâm trong đời sống thường ít khi được coi trọng. Người ta đặt mục tiêu, bắt tay vào làm, rồi nhìn tới kết quả, chứ đâu có quán chiếu tâm mình vui buồn ra sao. Vậy mà giai đoạn điều phục thân tâm trước khi khởi sự lại là yếu tố quyết định hành động của mình có xuất phát từ lòng chân thành hay không hoặc dẫn tới kết cục đổ vỡ hay không. Những điều như chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp… là thành quả của việc quán tâm miên mật. Ai hiểu tâm mình, thì người đó điều phục được bất an.

Nhìn Bụt, thấy Bụt lúc nào cũng an vui, thấy cái tình thế cấp bách không giục được thân tâm của Người. Suốt quãng đời hoằng pháp, Người nói đi nói lại với đệ tử về kinh Quán niệm hơi thở và kinh Tứ niệm xứ, chỉ dạy chúng sanh làm sao quay về với hơi thở của họ. Nhiều lần thấy tình thế lao đao, nhưng Người xoay chuyển được.

  • Lần đoàn viên gia đình đầu tiên sau khi thành đạo, Người nắm tay vua cha đi vào hoàng cung. Nỗi nhớ người thân được khỏa lấp thắm đượm khung cảnh. Người là Bụt, là lãnh đạo tăng đoàn, và còn là lãnh đạo tinh thần của nhiều quốc gia, nhưng vai trò đó là của đương thời. Quay về nguồn cội, Bụt vẫn là con trai của vua Suddhodana. Và ấy là đạo hiếu. Lần đầu Người được ôm đứa con Rahula vào lòng, nắm lấy tay cậu bé, nhưng chỉ chịu tiếp vợ Yasodhara tại tu viện, cùng với mẹ mình. Ấy là đạo hạnh. Muốn theo đúng đường đạo, lắm lúc người tu hành phải chịu đối diện lại những gì mà mình đã buông bỏ, để xem những hạt giống trong tâm mình nảy nở như thế nào, đối trị ra làm sao. (chương 34: Mùa xuân đoàn tụ)
  • Lần chia rẽ trong giáo đoàn đầu tiên, vị luật sư kết tội vị kinh sư vô ý không đổ nước trong chậu sau khi sử dụng, chuyện bé teo nhưng không bên nào nhường bên nào. Bụt khuyên can nhiều lần mà không hiệu quả. Bụt lấy bình bát và áo bỏ đi tận một năm bốn tháng liền. Người ta nói Bụt giận, bỏ giáo đoàn. Giới tu tại gia không buồn cúng dường cho chư tăng nữa vì không hòa hợp. Sư ông không giải thích vì sao Bụt bỏ đi, cũng không thêm tình tiết Người hóa giải ngay mối bất hòa. Nhưng Sư ông có miêu tả rất chi tiết sự an lạc mà Bụt lấy lại được sau khi rời khỏi tu viện. Mình nghĩ đôi khi tạm hoãn, đặt xuống, cũng là một phương pháp nuôi dưỡng thân tâm. Mỗi khi có xung đột, đâu nhất thiết phải cùng ngồi lại để ra ngay giải pháp. Bởi vì thân tâm lúc đó có quá nhiều điều phải sàng lọc. (chương 46: Nắm lá simsapa)
  • Bụt sống đến hơn 80 tuổi. Người đã chứng kiến sự ra đi của hầu hết những người thân trong gia đình và các đại đệ tử. Đại đức Rahula, từng là con trai Bụt, viên tịch năm 51 tuổi. Moggallana (Mục Kiều Liên) viên tịch vì bị ám sát, người cuối cùng qua đời trước Bụt là Sariputta (Xá Lợi Phất). Thị giả Ananda cứ mỗi lần như vậy, là đau buồn tiếc thương, buồn vì xa lìa những người anh em đồng tu một đời, thương Bụt vì Người mất đi nhiều đệ tử lớn, giáo đoàn không biết giao lại cho ai quản. Bụt chỉ mặc niệm, không buồn, không đau khổ.
  • Bụt giác ngộ đạo lý giải thoát là nhờ quán chiếu duyên sinh duyên khởi, vô thường vô ngã. Mỗi một người thân qua đời, là một lần thấy lời nói của Người có tác dụng điều phục thân tâm. Quán chiếu đến khi nào những cảm thọ sợ hãi, buồn phiền, tiếc thương không còn nảy nở nữa, thì cũng là lúc mình an nhiên được với thực tại.

Ngôn ngữ của Sư Ông

Sư Ông từng là giáo viên dạy văn nên chất thơ trong từng tác phẩm không lúc nào cạn, cũng như thời đó người ta thích thơ của Xuân Diệu hay văn xuôi của Thạch Lam vậy. Ngồi đọc chương này tới chương nọ, lắm lúc hình dung được bức họa được Sư Ông vẽ bằng ngôn ngữ từ chân tâm, cảm được sự ấm áp và tình thương yêu trong từng câu từ, và chẳng có nhân vật phản diện nào đáng chê trách cả. Chỉ có mọi nhân vật phản chiếu cái ta trong họ, để ta soi rọi những tập khí, để ta tự cho mình cơ hội từ, bi, hỷ, xả với chính mình. Để ta yêu thương người một cách trí tuệ.

“Nắng lên cao, những đám mây trắng nhỏ vẫn còn lơ lửng trên nền trời xanh biếc.
Bờ sông bên kia vẫn xanh mướt cỏ non. Con đường bờ sông này ngày xưa Bụt đã qua lại nhiều lần.
Con đường bờ sông này có thể dẫn về Banarasi, có thể dẫn về thủ đô Savatthi, có thể dẫn về thủ đô Rajagaha, mà cũng có thể dẫn đi khắp chốn.
Bụt đã ghi dấu chân trên mọi nẻo đường hành hóa. Đi đâu đại đức cũng sẽ giẫm lên dấu chân của người.”

Thầy thường đặt tên các chương sách bằng cách trích dẫn văn học Việt Nam như “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” hay “Bao nhiêu tấc đất bấy nhiêu tấc vàng”. Mình gọi đó là một sự Việt hóa cần thiết. Đạo Bụt dành cho vô số đại chúng, tuy vậy, pháp âm của Bụt trước khi gieo vào lòng người thành công, vẫn phải vượt qua nhiều rào cản. Dù truyền bá từ phía Bắc, hay phía Nam, đạo Bụt vẫn nên thuần Việt khi sinh sôi và phát triển tại Việt Nam. Để giới Phật tử Việt có cơ hội được tiếp xúc với giáo pháp thật tự nhiên, thật gần gũi như lời dạy của mẹ, của bà, của ba. Để khi đối trị với cái tâm nhiều tiêu cực, pháp môn cứ vậy mà tràn về, chẳng cần giở lại kinh, chẳng cần đối chiếu lại bản dịch, chẳng cần dò từng từ Hán Việt.

Hiểu Phật Giáo bằng cái tâm không chướng ngại

Bụt thường nói rằng, ngôn từ không thể diễn tả hết giáo lý của Người. Không chỉ riêng gì Phật giáo, ngôn từ cũng không thể truyền đạt tính chân như của mọi sự vật hiện tượng. Chính vì vậy, để lĩnh ngộ một pháp môn, người đọc cần tìm hiểu kỹ bối cảnh và các nhân vật trong truyện. Người đọc phải tạm đặt xuống những quan niệm, lập trường, ý kiến, định kiến cá nhân trước. Gọi là gỡ bỏ rào cản. Gọi là hạnh lắng nghe. Có như vậy, mới nắm được cơ hội thấu hiểu những gì người viết đang cố gắng truyền tải.

Và bạn sẽ đủ kiên nhẫn để giải đáp nhiều điều về Phật Giáo… Như vì sao Người có thể thu hút lực lượng lớn giới vương giả tại Ấn Độ, vì sao ni thỉnh chư tăng về thuyết pháp lại là một giới luật, từ đâu có thuật ngữ Tam Bảo, ý nghĩa của phước điền y, vì sao có mùa an cư, vì sao kinh Vu Lan Báo Hiếu ra đời, vì sao Bụt là được gọi là Bụt, hay vì sao Bụt tự gọi mình là Như Lai.

Và bạn sẽ bắt đầu yêu (hơn) những bài kinh… Đời sống giới tu tại gia loanh quanh trong việc tụng kinh. Nhiều bài kinh lặp đi lặp lại rằng có cơ duyên trì tụng sẽ giúp thiện nam tín nữ tiêu trừ nghiệp chướng, phước đức vô biên. Người đọc không hiểu được dễ cho rằng như vậy là mê tín, là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng người tụng kinh từ ngày này sang ngày nọ dễ dàng ngẫm ra rằng, việc đọc một bài kinh trong suốt thời gian dài sẽ làm họ thấu hiểu được triết lý mà bài kinh muốn truyền tải, từ đó có thể nhìn ra con đường đạo, sống đúng với đời, với người. Vậy thì nghiễm nhiên nghiệp chướng tiêu trừ, phước đức tăng trưởng.

Tuy nhiên, hành trì kiểu này đôi khi không hấp dẫn lắm đối với người trẻ. Chúng ta muốn sống chậm, nhưng chúng ta vẫn cần cái gì đó dễ thấu, dễ cảm, và lợi ích của nó thực sự mật thiết với đời sống cá nhân. Nếu bạn đang có nhu cầu này, hãy tìm hiểu các bài kinh thông qua Đường xưa mây trắng.

Những nội dung khó như vô tướng, vô ngã, duyên khởi, phân biệt không sinh không diệt với có sinh có diệt, kinh phạm võng,… sẽ được Sư Ông truyền tải bằng một câu chuyện gồm các lần đối đáp giữa Bụt và các vị đệ tử. Kinh được chuyển từ thơ sang lời nói. Những triết lý khó được lặp đi lặp lại ở nhiều chương theo cách diễn giải đa dạng. Hiểu được bối cảnh, hiểu được nghĩa kinh, thì tinh túy của đạo Bụt nguyên thủy quá dễ thấu và dễ cảm.

“Ngón tay chỉ trăng không phải là mặt trăng”

Đường xưa mây trắng rất thành công. Tác phẩm được dịch sang 20 thứ tiếng, trong đó có tiếng Hindu, bán được 1 triệu bản tại Mỹ và được nhiều người công nhận là tác phẩm hay nhất thế kỷ 20. Nhưng nếu là Bụt, Bụt sẽ chỉ mỉm cười và nói rằng, Đường xưa mây trắng cũng chỉ là một công cụ giúp đại chúng nhìn thấy được lối sống an nhiên, buông bỏ được những cố chấp, chấp kiến, vô minh, để nhìn cuộc sống vận hành như bản chất chân như của nó. Giống như ta đưa ngón tay chỉ mặt trăng, thì người trí tuệ hãy nương theo ngón tay mà nhìn thấy trăng, chứ đừng cứ mãi ngắm nghía bàn tay của người đang giương ra giúp đỡ.

Hết.

Anh Đào

*

Bài viết về các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh



Phía sau trang sách

Khán giả học – vai trò của người xem phim

Published

on

Kevin Goetz và Darlene Hayman nghiên cứu tâm lý người xem nhằm lý giải sự thành bại của các phim Hollywood, trong sách "Khán giả học".

Cuốn sách xuất bản trong nước, Phương Nam Book phát hành, đưa ra cách tiếp cận mới khi khảo sát những điều khán giả chờ đợi ở một bộ phim. Hai tác giả đi sâu vào bóc tách tâm lý của khán giả trong 10 chương, từ đó đưa ra sự đúc kết về tầm ảnh hưởng của người xem đối với điện ảnh.

Kevin Goetz cho rằng những lời góp ý, nhận xét sẽ làm thay đổi diện mạo phim. Phản hồi từ khán giả trong các buổi chiếu thử có thể giúp tác phẩm được quảng bá rộng rãi, thậm chí nâng cao chất lượng về mặt nghệ thuật lẫn doanh thu. Goetz lấy ví dụ: "Tờ giấy khảo sát sau khi xem phim có khối lượng chưa đến 100 gr, song lại mang sức mạnh tựa như cú móc hàm phải của võ sĩ Tyson".

Sách có đoạn: "Qua nhiều năm, các nhà nghiên cứu và những người dày dặn kinh nghiệm trong ngành công nghiệp điện ảnh đều biết rõ, thước đo then chốt cho mức độ hấp dẫn của bất kỳ bộ phim thương mại nào cũng được xác định bởi các điểm số xuất sắc và rất hay mà phim nhận được từ phản hồi của khán giả tham dự buổi chiếu thử".

Bìa sách Khán giả học, tựa gốc Audience-ology: How Moviegoers Shape the Films We Love. Tác phẩm dày 364 trang, do Thanh Vy biên dịch. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa cuốn "Khán giả học", tên gốc "Audience-ology: How Moviegoers Shape the Films We Love". Sách dày 364 trang, do Thanh Vy biên dịch. Ảnh: Phương Nam Book

Trong sách, hai nhà nghiên cứu thuật lại quy trình của buổi chiếu thử, từ việc chọn khán giả dựa theo số liệu nhân khẩu học, tiêu chí chọn địa điểm công chiếu, đến những khoảnh khắc trong phim khiến người xem bật cười hay òa khóc. Goetz nhấn mạnh việc lấy khảo sát từ khán giả có thể giúp biên kịch, nhà sản xuất và đạo diễn lược bỏ chi tiết thừa hoặc thêm yếu tố mới, nhằm đẩy câu chuyện lên cao trào, đồng thời giúp phim đạt hiệu quả tốt nhất.

Những lý giải nhằm chứng minh công việc sáng tạo giống như trò chơi "đỏ đen" có tên là tâm lý học. Sau buổi công chiếu thử, tiếng vỗ tay, hò hét hay phản ứng khóc, cười từ khán giả có thể trở thành tín hiệu dự báo mức độ thành công.

Tác phẩm còn cho thấy nền điện ảnh không chỉ có bề dày lịch sử, các đạo diễn gạo cội, phim bất hủ, mà là một ngành khoa học phải đối mặt với nhiều thử thách. Goetz đưa chuyện thực tế trong các buổi chiếu thử phim nhằm giúp độc giả có cơ hội chứng kiến hậu trường Hollywood từ nhiều khía cạnh.

Goetz mời một số nhân vật nổi tiếng để chia sẻ trải nghiệm của họ với các buổi chiếu thử, gồm chủ hãng phim Blumhouse Jason Blum, đạo diễn Ron Howard và nhà sáng lập công ty Illumination Chris Meledandri. Theo Variety, sách cũng cung cấp góc nhìn về tác động của khán giả đối với bản dựng phim cuối trước khi công chiếu, như trong một số tác phẩm biểu tượng Fatal AttractionThelma & Louise và Cocktail.

Tác giả cuốn Khán giả học: Kevin Goetz (trái) và Darlene Hayman. Ảnh: Simon & Schuster
Tác giả cuốn "Khán giả học": Kevin Goetz (trái) và Darlene Hayman. Ảnh: Simon & Schuster

Khán giả học nhận nhiều ý kiến tích cực từ giới chuyên môn. Theo trang Goodreads, sách được viết với giọng văn hài hước, pha lẫn kịch tính và bất ngờ, mang đến cho độc giả cái nhìn mới về lịch sử điện ảnh. Trang tin tức A Frame của giải Oscar xếp tác phẩm là một trong những cuốn sách phải đọc về điện ảnh hiện đại.

Cựu chủ tịch hãng phim Sony Amy Pascal đánh giá tác phẩm gây ấn tượng khi mang đến câu chuyện ngoài lề thú vị ở Hollywood. "Tôi ước quyển sách này xuất hiện lúc tôi bắt đầu sự nghiệp trong ngành điện ảnh", Pascal cho biết trong một cuộc phỏng vấn.

Chủ tịch Sony Pictures Entertainment Motion Picture Group - Tom Rothman - nhận xét: "Thấu hiểu những gì khán giả thực sự nghĩ không phải là điều dễ dàng. Và Kevin là bậc thầy trong việc lắng nghe người xem, như những gì được tiết lộ trong quyển sách của anh".

Kevin Goetz là nhà sáng lập công ty nghiên cứu phim Screen Engine, có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực điện ảnh. Anh cũng là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ, Hiệp hội các nhà sản xuất phim Mỹ. Sách đầu tay của Goetz Khán giả học ra mắt lần đầu năm 2021.

Darlene Hayman là nhà phân tích nghiên cứu thị trường phim ảnh ở Mỹ, cộng tác với Kevin Goetz hơn 15 năm. Cô nổi tiếng vì hỗ trợ các đạo diễn trong việc nắm bắt thị hiếu khán giả, góp phần tinh chỉnh tác phẩm trong giai đoạn cuối quá trình hậu kỳ.

Theo Vnexpress

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Cánh cửa mở vào nội tâm của Maupassant

Published

on

By

Cùng với Chekhov, Guy de Maupassant từ lâu đã được suy tôn là “bậc thầy của thể loại truyện ngắn”. Điều này không chỉ bởi văn phong độc đáo, mà còn nằm ở sự đa dạng về thể loại. Trong đó Horla và những truyện ngắn khác ra mắt gần đây chính là minh chứng cho nhận định này.

Tuy chỉ viết trong vỏn vẹn có 4 thập kỷ, nhưng những di sản mà Maupassant để lại là tương đối lớn. Ông nổi tiếng nhất với các tiểu thuyết cũng như truyện ngắn mang tính hiện thực, hài hước, lãng mạn, như những tập truyện Sáng trăng, Nơi nhà người bạn

Nhà văn nổi tiếng Guy de Maupassant

Nhưng ít người biết ông cũng bén duyên với thể loại kinh dị, và nó cũng truyền cảm hứng cho nhiều tác giả sau này, trong đó có H.P.Lovecraft với Lời hiệu triệu của Cthulhu. Vừa mới ra mắt trong thời gian qua, Horla và những truyện ngắn khác tập hợp 5 tác phẩm có màu sắc kinh dị, siêu nhiên, được Maupassant viết trải dài từ năm 1875 – 1890.

Trí tưởng tượng phong phú

Trong tập truyện Horla và những truyện ngắn khác, bạn đọc có thể thấy rõ 2 giai đoạn mà Maupassant tiến hành tiếp cận thể loại kinh dị. Trong 3 truyện ngắn được viết sớm nhất là Bàn tay bị lột da (1875), Hắn? (1883) và Nỗi sợ (1884), ta đơn thuần thấy đây là một tác phẩm ẩn chứa yếu tố siêu nhiên mà vị tác giả cố gắng khai thác.

Chúng đơn giản xoay quanh những nỗi ám ảnh mà các cá nhân yếu bóng vía hay là nhạy cảm thường cảm nhận được. Chẳng hạn như trong truyện Hắn?, một người đàn ông vì bị ám ảnh bởi một bóng ma trong căn phòng của mình mà đã cưới lấy một người vợ mới, hay ở Nỗi sợ, chỉ vì trên tuyến tàu lửa khi nhìn thấy có 2 người đàn ông xuất hiện trong khu rừng vắng, mà nhân vật chính bỗng dưng cảm thấy trong mình trỗi dậy nỗi sợ chỉ vì không thể lý giải được động cơ của câu chuyện ấy…

Horla và những truyện ngắn khác là tác phẩm mới từ Maupassant

Đây đều là các nhân vật hoàn toàn tỉnh táo, họ nhận thức được những gì xảy ra và khó có thể nói họ có vấn đề riêng về tâm lý. Và vì tính hiện thực đó, Maupassant qua các tác phẩm cũng gửi gắm được bài học của mình. Chẳng hạn trong truyện Bàn tay bị lột da, thông qua nhân vật Pierre B. – một sinh viên trường luật, người xuất thân từ một trong những gia đình danh giá nhất xứ Normandie – ông đã cho thấy chỉ vì chính thói hư vinh cũng như trưởng giả mà y đã mạo phạm đến một phần thân thể của vị phù thủy, từ đó phải chịu cái chết có phần đau đớn.

Hay trong Nỗi sợ, Maupassant cũng khẳng định “cùng với những điều siêu nhiên, nỗi sợ hãi đích thực đã biến mất khỏi hành tinh này, bởi con người ta chỉ thực sự sợ những gì nằm ngoài tầm hiểu biết của mình”. Câu nói này như đại diện cho tất cả những gì ông muốn nhắm tới, về sự nhỏ bé và đầy mông muội của con người với những kỳ bí chưa được lý giải.

Như vậy những tác phẩm này đều được viết bởi một Maupassant khách quan, đứng ở bên ngoài, từ đó đưa ra những lời lý giải hoàn toàn hợp lý. Thế nhưng ở 2 truyện sau là Horla viết năm 1887 và Ai mà biết được? viết năm 1890, thì ta lại thấy có phần ngược lại, khi chính nhà văn dường như không thể thoát được cái bóng của bản thân mình.

Bi kịch của Maupassant

Hai truyện ngắn này có được điểm chung khi nhân vật chính đều là người đàn ông rơi vào loạn trí. Nhân vật chính này đã từng không dưới một lần thừa nhận chính mình như có đến 2 bản thể cùng nhau tồn tại. Một bên kêu gào giữ lại lý trí, trong khi phía còn lại đòi hỏi rất nhiều hành động mang tính tàn phá.

Sự chia đôi này gợi ta nhớ đến trường hợp của bác sĩ Jekyll và ông Hyde tương đối kinh điển trong tác phẩm nổi tiếng của Stevenson. Như vậy chủ đề của Maupassant đã chuyển từ những nỗi sợ tương đối hữu hình thành ra vô hình và khó lý giải, khi được bao bọc bởi những vấn đề có liên quan đến thần kinh cũng như tinh thần.

Tình tiết của những câu chuyện cũng khó nắm bắt. Ở Ai mà biết được?, đó là một người gần như điên loạn bởi sự xuất hiện và rồi biến mất của những vật dụng ngay trong nhà mình một cách liên tục. Còn ở Horla, đó là một sinh vật gần như trong suốt, thứ được nuôi sống bằng sữa và nước, luôn luôn theo dõi vật chủ mà nó bám theo, từ đó khiến họ “sống không bằng chết”.

Maupassant và những ám ảnh tâm trí của bản thân mình

Theo Charlotte Mandell – dịch giả của truyện ngắn này cho nhà xuất bản Melville House, thì “horla” là từ ghép của “hors” (“bên ngoài”), và “la” (“ở đó”). Vì vậy “horla” có nghĩa là “người ngoài cuộc”, “người bên ngoài”, và có thể được dịch theo nghĩa đen là “cái gì ở ngoài đó”. Thế nhưng cũng có những lý giải khác, khi nhiều người xem đây là một sự kết hợp của cụm “hors-la-loi” (tức “ngoài vòng pháp luật”) và “horsain” (có nghĩa là “thứ lạ lùng”).

Thế nhưng dù có là gì, thì Maupassant như đang cảm nhận những nỗi ám ảnh đến từ sâu hơn và khó lý giải hơn. Xét về bối cảnh của chính tác giả, thì những truyện này tương đối trùng khớp với thời kỳ mà ông có những dấu hiệu đầu tiên của chứng điên loạn, khi ông xuất hiện nhân cách kép và ngày càng gặp nhiều ảo giác do bệnh giang mai. Một năm sau đó, vào năm 1891, ông có dấu hiệu của chứng hoang tưởng.

Có thể là bởi xuất phát từ những trải nghiệm chính ông kinh qua, nên 2 truyện này trở nên chân thật và đầy ám ảnh đối với người đọc. Nếu được viết từ một người tỉnh táo, thì đây chính là tài năng của sự tưởng tượng. Nhưng với Maupassant thì đó là nỗi đau và sự sợ hãi mà bản thân ông mong muốn giải bày thông qua việc viết.

Như vậy đi từ mục đích sáng tạo ở buổi ban đầu, Maupassant dần dần chuyển sang hành động kể lại điều đã trải qua, và làm sáng tỏ chứng bệnh tâm lý mà thời kỳ đó còn bị che khuất bởi những định kiến mà những quan điểm mang tính thủ cựu. Có thể nói Horla và những truyện ngắn khác không chỉ mở ra cánh cửa khám phá một Maupassant rất khác, mà có thể nói cũng đã góp phần giúp ta hiểu được những gì đã từng xảy đến với một trong những nhà văn lớn của nhân loại.

Anh Đoàn

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tư duy tích cực tạo thành công: Chìa khóa dẫn đến sự thịnh vượng

Published

on

Tác phẩm Tư duy tích cực tạo thành công của Napoleon Hill và William Clement Stone là một cẩm nang hữu ích cho bất kỳ ai muốn đạt được thành công trong cuộc sống. Cuốn sách không chỉ cung cấp những nguyên tắc và chiến lược hiệu quả để phát triển bản thân mà còn truyền cảm hứng giúp người đọc có một thái độ tích cực hơn trong cuộc sống.

Tư duy tích cực tạo thành công là một tác phẩm kinh điển về chủ đề phát triển bản thân, đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên khắp thế giới kể từ khi xuất bản lần đầu tiên vào năm 1959, khẳng định vị trí là một trong những tác phẩm self-help bán chạy nhất mọi thời đại. Cuốn sách vén màn bí mật về sức mạnh của tư duy tích cực, giúp người đọc khai phá tiềm năng bản thân và đạt được những thành tựu phi thường trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

Tìm kiếm hình mẫu thành công làm ngọn đuốc soi sáng

Để có thêm động lực và định hướng rõ ràng cho bản thân, tác giả gợi ý rằng người đọc có thể xây dựng cho riêng mình một hình mẫu thành công từ những câu chuyện về người thật, việc thật trong sách báo. Khi dành thời gian tìm hiểu về hành trình của họ, những khó khăn họ đã trải qua và cách họ vượt qua những thử thách đó, ta sẽ có thể biến kinh nghiệm của họ trở thành ngọn đuốc soi sáng cho con đường của chính mình.

Bên cạnh đó, người đọc còn có thể chọn một bức ảnh có ý nghĩa đặc biệt với mình để đặt câu hỏi khi nhìn bức ảnh đó rồi lắng nghe câu trả lời từ chính tâm thức bật ra. Bức ảnh ấy có thể là hình ảnh về mục tiêu ta muốn đạt được, về một giá trị sống mà ta trân trọng, hoặc đơn giản là một khoảnh khắc đẹp trong cuộc sống. Chẳng hạn, nếu người đọc muốn mua nhà nhưng chưa có đủ tài chính thì có thể chọn bức ảnh về một mái ấm khang trang để ngắm nhìn và tự đặt câu hỏi rằng mình phải làm gì để đạt được số tiền sở hữu căn nhà đó. Không phải lúc nào câu trả lời cũng đến ngay lập tức, nhưng việc cụ thể hóa mục tiêu bằng một hình ảnh rõ ràng sẽ giúp người đọc tăng cường ý chí nỗ lực.

Ngoài ra, niềm tin chính là nguồn động lực mạnh mẽ giúp mỗi người vượt qua mọi khó khăn và chinh phục mục tiêu. Trong Tư duy tích cực tạo thành công, có một công thức thường được lặp lại nhiều lần để người đọc ghi nhớ là: “Khi con người người nghĩ đến và tin tưởng vào điều gì, họ sẽ có thể đạt được điều đó với thái độ tích cực.” Đây cũng là một biện pháp tự truyền cảm hứng.

Hai mặt của tình thế bức bách: Thành công hay tội ác?

Tư duy tích cực tạo thành công nhấn mạnh tầm quan trọng của tính lương thiện trong hành trình chinh phục thành công. Cuốn sách khẳng định rằng thành công đích thực không chỉ dựa trên kết quả mà còn phải dựa trên phương tiện đạt được kết quả đó. Một người có thể đạt được thành công bằng mưu mô, thủ đoạn, nhưng đó chỉ là thành công giả tạo, thiếu bền vững và không mang lại hạnh phúc thực sự.

Ngoài ra, tác giả cũng bàn về vai trò của tình thế bức bách: nó như một con dao hai lưỡi, có thể đưa con người đến đỉnh cao thành công hoặc vực sâu tội ác. Tình thế bức bách là phép thử cho bản lĩnh, đạo đức và thái độ của mỗi cá nhân. Khi đó, thành công hay thất bại đều tùy thuộc vào thái độ:

Thái độ tích cực: Khi đối mặt với nghịch cảnh, người có thái độ tích cực sẽ biến nó thành cơ hội để học hỏi, rèn luyện và phát triển bản thân. Họ kiên trì nỗ lực, tìm kiếm giải pháp sáng tạo và không bao giờ bỏ cuộc. Nhờ vậy, họ có thể vượt qua mọi khó khăn và gặt hái thành công.

Thái độ tiêu cực: Ngược lại, người có thái độ tiêu cực sẽ dễ dàng gục ngã trước nghịch cảnh. Họ chìm trong lo âu, sợ hãi, nghi ngờ bản thân và tìm kiếm lối thoát bằng những hành vi sai trái. Hậu quả là họ đánh mất bản thân, vướng vào vòng xoáy tội ác và tự hủy hoại cuộc đời.

Từ đó, cuốn sách đưa ra hai công thức đơn giản nhưng đầy ý nghĩa:

Tình thế bức bách + Thái độ tích cực = Thành công
Tình thế bức bách + Thái độ tiêu cực = Tội ác.

Cân bằng cảm xúc, rèn luyện tư duy và đặt mục tiêu hiệu quả

Cảm xúc và lý trí đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, mỗi người cần học cách cân bằng hai yếu tố này để đưa ra những quyết định sáng suốt. Đôi khi, ta cũng nên lắng nghe tiếng nói con tim và hành động theo những gì mình mong muốn. Chẳng hạn, khi phải lựa chọn giữa một công việc ổn định và theo đuổi đam mê, ta cần cân nhắc kỹ lưỡng cả hai yếu tố cảm xúc và lý trí: ta thường dùng lý trí để đánh giá khả năng thực tế của bản thân, nhưng cũng đừng quên lắng nghe tiếng nói con tim.

Bên cạnh đó, tác giả cho rằng mỗi ngày, chúng ta chỉ cần dành 1% thời gian để nghiên cứu, suy nghĩ, lập kế hoạch là đã có nhiều cơ may tạo ra sự khác biệt để vươn đến thành công. Theo ước tính, một ngày có 1440 phút, 1% sẽ tương ứng với 14 phút. Trong 14 phút đó, nếu ta chú tâm suy nghĩ kế hoạch cho những gì mình muốn làm, ta sẽ dần hình thành được thói quen có thể suy nghĩ sáng tạo mọi lúc, mọi nơi: khi rửa chén, lúc ngồi trên xe bus, hay thậm chí là khi đang tắm.

Ngoài ra, đặt mục tiêu là bước đầu tiên và quan trọng nhất trên kế hoạch chinh phục thành công. Mục tiêu rõ ràng sẽ giúp bạn tập trung nỗ lực, đưa ra quyết định sáng suốt và duy trì động lực để đạt được ước mơ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách đặt mục tiêu hiệu quả. Dưới đây là bốn điều quan trọng cần ghi nhớ khi đặt mục tiêu:

1. Viết mục tiêu ra giấy: Khi viết mục tiêu ra giấy, bạn sẽ buộc bản thân phải suy nghĩ cẩn thận về những gì mình muốn đạt được. Việc này giúp bạn tập trung và ghi nhớ mục tiêu tốt hơn.

2. Đặt mốc thời gian: Mốc thời gian giúp bạn chia mục tiêu lớn thành những mục tiêu nhỏ hơn, dễ quản lý hơn. Việc này giúp bạn có động lực để hoàn thành từng bước và tiến đến mục tiêu cuối cùng.

3. Đặt tiêu chuẩn thật cao: Khi đặt tiêu chuẩn cao, bạn sẽ buộc bản thân phải nỗ lực hết mình và phát huy tiềm năng tối đa.

4. Đặt mục tiêu cao: Mục tiêu cao sẽ giúp bạn có tầm nhìn xa và thúc đẩy bạn không ngừng phát triển.

Nhìn chung, Tư duy tích cực tạo thành công đã mang đến cho người đọc những bài học quý giá về sức mạnh của tư duy tích cực trong việc gặt hái thành công và hạnh phúc. Hãy nhớ rằng, thành công không phải là đích đến mà là hành trình. Hành trình chinh phục thành công bắt đầu từ việc nuôi dưỡng tư duy tích cực. Ta cần tin tưởng vào bản thân và những điều kỳ diệu mà cuộc sống có thể mang lại. Từ đó, ước mơ sẽ thành hiện thực bằng chính những hành động mà ta lựa chọn ngay từ hôm nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng