Trích đăng

Đại sương mù? – Trích “Giành lại không khí sạch”

Published

on

“Một kẻ giết người vô hình” sinh ra từ xe cộ và các quy trình công nghiệp mà chúng ta đang không mảy may biết đến. Nhà báo về môi trường Tim Smedley, thông qua quyển sách Giành lại không khí sạch, đã kể một câu chuyện đầy đủ về những gì đã xảy ra với không khí mà chúng ta đang hít thở, bao gồm nó là gì, hóa chất nào có hại, chúng đến từ đâu và quan trọng nhất, chúng ta có thể làm gì với chúng. Giữa những con số thống kê đáng sợ, Tim Smedley hé mở hy vọng vẫn còn cho hành tinh.

Sách lọt vào danh sách rút ngắn của giải thưởng Royal Society Science Book Prize 2019 – giải thưởng tôn vinh các quyển sách hay về khoa học và những tác giả không chỉ là người viết, mà còn là những nhà tiên phong.

*
CHƯƠNG 1
Đại Sương Mù

London 1952
Cả cha và mẹ tôi đều sinh năm 1952. Ông ngoại của tôi, Selwyn Bate, là luật sư địa phương ở Tamworth, thành phố quê hương của tôi, và là giảng viên tại Trường Luật Birmingham. Thỉnh thoảng – mặc dù cố gắng tối đa để tránh điều đó – ngoại tôi vẫn phải đi đến London. Dì Claire của tôi nhớ mỗi khi ngoại đi tàu tới London mang theo Bộ Luật của Elizabeth, được viết trên da cừu, để giải quyết tranh chấp tại Tòa án Tối cao. Ông ngoại ghét thủ đô. Quá đông đúc và quá bẩn. Ông thường tắm rửa ngay mỗi khi trở về nhà từ London. Khi nghe những câu chuyện này, tôi đã từng giả định rằng đó là một kiểu hợm hĩnh nghịch lý. Vì là một người Lancaster, sống tại Tamworth thuộc vùng miền trung, ông chỉ muốn nam tiến đến đó là hết mức bởi không thích miền nam nước Anh. Sau đó, tới khi tôi biết về vụ Đại Sương Mù năm 1952, tôi đột nhiên hiểu được ý nghĩa của việc ông ngoại Bate tránh London như bệnh dịch hạch.

Thời tiết đầu mùa đông ở London vào năm 1952 rất lạnh, với tuyết rơi dày đặc trên toàn miền nam nước Anh. Để giữ ấm, người London phải đốt một lượng lớn than trong nhà của họ. Trong những thời điểm đặc biệt lạnh như thế này, ban đêm hầu hết các hộ gia đình đều “tiếp thêm những lớp than mới” vào lò sưởi để nó có thể cháy đến sáng. Điện được cung cấp bởi các nhà máy điện nội thành tại Battersea và South Bank, các nhà máy này đốt than và xả khói từ các ống khói cao hơn các ngọn tháp của nhà thờ. Vào mùa đông, không chỉ người ta đốt nhiều nhiên liệu hơn và tạo ra nhiều khói hơn, mà còn điều kiện “nghịch nhiệtI ” cũng sẽ xảy ra: nếu không khí gần mặt đất lạnh hơn không khí ở trên cao, nó sẽ bị giữ lại ở tầng thấp. Với bầu trời trong xanh, không có gió và mặt đất ẩm ướt, sương mù cũng hình thành. Và London từ lâu đã nổi tiếng với biệt hiệu “soup đậu” theo kiểu nói tiếng lóng của người vùng cực Đông của London (ý chỉ sương mù ô nhiễm London có màu vàng và đặc như soup đậu) được lãng mạn hóa trong những câu chuyện của Dickens và Conan Doyle và những bức tranh của Turner và Monet (người thích đến thăm vào mùa đông vì bị hút hồn bởi màu vàng u uẩn của sương khói ảo ảnh London).

Vào Thứ sáu ngày 5 tháng 12 năm 1952, làn sương mù dày đặc quen thuộc lại xuất hiện trên khắp London. Đám sương mù ấy cứ trơ ì đó, không bay lên cao được vào ngày hôm sau, hoặc ngày tiếp sau đó. Hiện tượng nghịch nhiệt kéo dài đã cho thấy nồng độ khói bụi tăng cao tới 56 lần so với mức độ bình thường. Các hồ sơ chính thức cho thấy tầm nhìn ở một số nơi giảm chỉ còn một thước Anh, mức thấp nhất từng được ghi nhận trong thành phố. Mọi người thậm chí không thể nhìn thấy đôi chân của mình. Do sương mù mà nhiều hành khách bị hổng chân từ những cây cầu xuống sông Thames băng giá và hụt chân rơi từ những thềm ga xuống đường ray khi tàu đang lao tới. Trong vòng 12 giờ kể từ khi khói bụi xuất hiện, hàng ngàn người bắt đầu gặp vấn đề về hô hấp và số ca nhập viện tăng đáng kể.

Theo hồ sơ ghi nhận của Met OfficeI , dải khói bụi kéo dài 13 dặm và chứa các chất gây ô nhiễm bao gồm: 1.000 tấn hạt khói (mà ngày nay chúng ta gọi là “carbon đen” hoặc PM10), 2.000 tấn carbon dioxide, 140 tấn acid clohydric và 14 tấn fluorine. Điều tồi tệ nhất trong địa ngục đó chính là 370 tấn lưu huỳnh dioxide ngưng tụ bởi các hạt nước trong sương mù đã biến đổi thành 800 tấn acid sulphuric. Nó cứ treo lơ lửng như thế này, dày đặc trong không khí, trong 5 ngày.

Tại Nhà hát Sadler’s Wells, vở opera La Traviata đã phải dừng lại do khán giả không còn có thể nhìn thấy sân khấu. Tại chợ gia súc Smithfield, những người nông dân phải đeo những chiếc mặt nạ làm từ vải bao bố tẩm whisky cho những con bò để cố gắng bảo vệ chúng. Khói bụi dính lên những tấm kính chắn gió như những vết sơn, buộc tài xế phải bỏ mặc phương tiện của mình. Phóng viên Phố Fleet của tờ báo Northern Whig đưa tin vào Thứ bảy ngày 6 tháng 12, “Nó đã len lỏi vào các cửa và văn phòng, nơi đèn đã bật sáng cả ngày… “Làn sương khói dày đặc” không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân, mà các hóa chất độc hại nó mang theo còn ăn sâu vào cấu trúc của các tòa nhà, đốt cháy và “nhuộm đen” cây cối”. Có một sự giễu cợt đầy lo lắng trong những bản tường thuật đầu tiên. Tờ Daily Telegraph đưa tin về thương vong đầu tiên: “Một chú vịt trời, được cho rằng đã bị che khuất bởi màn sương, đã đâm vào ngài John Maclean khi ông đang trên đường về nhà tại đường Ifield, Fulham. Cả hai đều bị thương nhẹ.” Tờ The Times thậm chí còn đưa một dòng tít giễu cợt hơn, tuyên bố rằng “Làn sương mù là những người Briton cổ đại. Họ đã gặp thuyền của tổ tiên bộ tộc Boadicea… họ đi lại xung quanh… một cách tự do trước khi bất cứ ai nghe về vấn đề giảm khói ô nhiễm”. Và có lẽ để dẫn đầu xu thế, phát ngôn chính trị ban đầu từ Đảng Bảo thủ của Churchill rất cao tay. Harold Macmillan, Bộ trưởng Bộ Nhà ở, nói với Hạ viện rằng “những cân nhắc quy mô rộng về kinh tế cần được đưa vào xem xét” – nói theo cách khác, những nhu cầu của công nghiệp được ưu tiên hơn những mối lo ngại về thời tiết.

Roy Parker, một sinh viên năm ba tại Đại học Kinh tế London vào thời điểm đó, hồi tưởng lại tại “Đại Sương Mù: 50 năm sau sự kiện màn sương khói khổng lồ London 1952”, một hội thảo dành cho các nhân chứng của sự kiện được tổ chức tại Trung tâm Lịch sử Sức khỏe Cộng đồng vào ngày 10 tháng 12 năm 2002, khi đó các báo cáo tin tức hầu hết chỉ quan tâm đến việc hủy bỏ các sự kiện thể thao: cả tôi lẫn họ đều không dành nhiều sự chú ý cho những hệ lụy về sức khỏe của con người. Tôi đáng lẽ ra đã phải nhận ra mức độ nghiêm trọng của thảm họa ấy, bởi vì cha của tôi, khi đó là một người điều khiển đầu máy hơi nước, và trước đó bị nhiễm khói độc một phần trong cuộc chiến tranh 1914-1918, đã có rất nhiều triệu chứng của việc hít phải bụi than và lưu huỳnh. Hầu hết thời gian ông đều gặp khó khăn trong việc hô hấp. Lúc đó ông 56 tuổi, và khi chúng tôi gặp nhau vào cuối tuần, ông đang ở trong tình trạng hết sức đau đớn, thở hổn hển để lấy hơi, chật vật, [nhưng] kiên quyết rằng mình sẽ đi làm bằng xe đạp… Thật khó để đánh giá mức độ phổ biến của bệnh viêm phế quản mãn tính đối với tầng lớp lao động công nghiệp ở đất nước này… Trong gia đình tôi, tất cả đàn ông đều có những triệu chứng như vậy.

Đến ngày thứ tư, thái độ của công chúng đã thay đổi. Tờ Hartlepool NorthernDaily Mail gọi nó là “màn sương mù đen đặc… dày đặc đến mức xe tuần tra của cảnh sát cũng bị tê liệt, và họ phải xử lý những cuộc gọi khẩn cấp 999 bằng cách đi bộ”. Số gia súc tại chợ Smithfield khi đó cũng đang chết dần, những con còn lại cũng bị mổ thịt sớm “theo yêu cầu của chủ”. Một phóng viên Phố Fleet viết cho một trong số những bài báo sáng Thứ hai tuyên bố: “Đây không phải là sương mù bình thường: nó chứa mọi thứ hổ lốn – bữa khai vị, cá, món ngọt, món mặn, cà phê đen và vẻ cau có của người bồi bàn. Nó làm cho mắt cay, cho hơi thở trở nên hôi thối… Tại Quảng trường Trafalgar tôi có thể nghe thấy tiếng của những hồ phun nước, nhưng chúng vô hình… [một người đồng nghiệp của tôi] tìm thấy một người đàn ông đang tìm ga tàu điện ngầm trong khi đang ở giữa Cầu Blackfriars.”

Khi sương mù biến mất vào ngày thứ năm – Thứ ba ngày 9 tháng 12, báo cáo về các bệnh viện quá tải bắt đầu tràn về, và sự nghiêm trọng của sự kiện trở nên rõ ràng. Giống như thảm họa tại Donora, Pennsylvania xảy ra 4 năm trước đó, các nhà tang lễ hết sạch quan tài và không còn hoa ở cửa hàng. Do tắc nghẽn giao thông và tầm nhìn gần như bằng không, số người chết tại nhà còn cao hơn số người kịp đi đến bệnh viện. Rosemary Merrit hồi tưởng lại với đài BBC World Service vào năm 2012 rằng cha của cô đi bộ một dặm rưỡi qua làn sương từ nơi làm việc đến nhà. Đêm hôm đó “ông ho nặng đến mức người ông trở nên tái xanh, và mẹ cô phải đánh thức hàng xóm dậy để cứu giúp… họ không thể đưa ông đến bệnh viện bởi lúc đó không hề có xe cứu thương”. Ông qua đời vào ngày hôm sau. Thi thể của ông được đặt ở phòng phía trước trong nhà họ trong suốt 3 tuần cho đến khi một người khâm liệm làm việc quá sức cuối cùng cũng có thể chôn cất ông, ngay trước Giáng sinh. “Tôi không bao giờ còn muốn ở trong căn phòng phía trước đó”, cô nói. “Nó luôn luôn lạnh lẽo.”

Chỉ tính riêng trong tuần đó, 4.703 người đã chết ở London – nhiều hơn 3.000 trường hợp so với bình thường. Một thảm họa môi trường, chính màn sương mù nổi tiếng của thành phố đã gây ra thương vong cho người dân London nhiều hơn bất cứ chiến dịch đánh bom 5 ngày nào của Đức chỉ vài năm trước đó. Không chỉ có người già và những người có sức đề kháng kém bị tổn hại. Một chiếc xe cứu thương chở một thủy thủ 21 tuổi đang phục vụ quân ngũ; vị bác sĩ chữa trị cho anh ấy, Horace Pile, về sau tường thuật lại trong bộ phim tài liệu Killer Fog của UK Channel 4 vào năm 1999 rằng ông “chưa từng thấy điều tương tự ở bất cứ người trẻ nào ở độ tuổi đó, với những khó khăn về hô hấp và tim dần ngừng hoạt động một cách tuyệt vọng”. Khi xe cứu thương đến nơi, bệnh viện đã đầy ắp các bệnh nhân. Và cả bệnh viện thứ hai cũng vậy. Vào lúc xe cứu thương xuất phát đến bệnh viện thứ ba, người thủy thủ đã chết trên đường đi. Con số thương vong cuối cùng được tin rằng có thể đạt mức từ 8.000 đến 12.000, cộng thêm hàng ngàn trường hợp mắc các vấn đề sức khỏe kéo dài cả đời bao gồm các bệnh về phổi và tim.

Vào những năm 1930 và 1940, hệ thống giao thông công cộng trên mặt đất của London chủ yếu là những chiếc xe điện không phát thải, bao gồm cả xe hai tầng. Tuy nhiên, chúng liên tục bị thay thế bởi các phương tiện chạy bằng động cơ đốt trong. Xe buýt chạy diesel thế chỗ chiếc xe điện cuối cùng ở London vào ngày 5 tháng 6 năm 1952, chỉ 5 tháng trước Đại Sương Mù. Tính đến tháng 12, 8.000 chiếc xe buýt chạy diesel mới đã được vận hành, tiếp tục thải thêm khói vào làn sương mù mùa đông. Tiến sĩ Barry Gray, một bác sĩ hô hấp tại Bệnh viện King’s College, người đã được phỏng vấn trong phim tài liệu Killer Fog, miêu tả sự chuyển đổi từ xe điện sang xe buýt chạy diesel trong những năm 1950 như “một thảm họa có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân ở London”.

Sau những trải nghiệm cá nhân với tư cách là một học sinh trong thảm họa Đại Sương Mù, Roy Parker đã cống hiến sự nghiệp của mình cho việc nghiên cứu về ô nhiễm môi trường. Anh đã tính toán rằng có khoảng 12 triệu hộ gia đình đốt lửa bằng than tại Vương Quốc Anh vào năm 1952. Ngoài ra còn có 20.000 tàu lửa chạy hơi nước đốt than chất lượng thấp, trong khi riêng nhà máy năng lượng Battersea đã đốt 10.000 tấn than mỗi tuần. Ý tưởng về việc không có xe hơi chạy bằng xăng hoặc dầu diesel trên đường ngày nay cũng khó để hình dung như việc loại bỏ tàu lửa chạy bằng hơi nước và đốt lửa bằng than đối với một người dân ở London vào những năm 1950. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, trong chỉ hơn một thập kỷ, đó chính xác là điều đã xảy ra. Năm 1952, Ủy ban về Ô nhiễm Không khí báo cáo rằng có một sự liên quan giữa ô nhiễm và các bệnh về đường hô hấp, từ đó đặt nền móng cho Đạo luật Không khí sạch của Vương Quốc Anh (1956). Quá trình hiện đại hóa hoàn toàn hệ thống đường sắt của Anh được công bố vào năm 1955, đánh dấu thời đại của động cơ hơi nước chạy bằng than chấm dứt. Nhà máy năng lượng Battersea sau cùng cũng đóng cửa vào năm 1975. Cho đến cuối thập niên 1970, đặc sản “soup đậu” của London đã trở thành dĩ vãng. Giáo sư Peter Brimblecombe đã chủ trì buổi hội thảo các nhân chứng của sự kiện tại Trung tâm Lịch sử Y tế Công cộng vào năm 2002. Tôi hỏi ông liệu có một cảm xúc chung tại sự kiện, rằng giờ đây vấn đề ấy đã được giải quyết sau 50 năm thảm họa Đại Sương Mù không? “Ôi tất nhiên rồi”, ông trả lời ngay lập tức. “Tôi nghĩ rằng chắc chắn là có cảm giác ấy… họ tin rằng mọi thứ đã thay đổi rất nhiều.”

London: những năm 2010
Vào một buổi sáng tháng 4 lạnh lẽo năm 2016, tại Quảng trường Trafalgar của London, một người biểu tình đã trèo lên công trình biểu tượng của thành phố, Đài tưởng niệm Nelson. Alison Garrigan đã lên kế hoạch cho việc này trong nhiều tháng. Trong ánh bình minh dịu nhẹ, cô cùng một đồng phạm đã đeo chiếc mặt nạ phòng độc trắng bóng loáng lên khuôn mặt màu đen được phủ bởi bồ hóng của Đô đốc Nelson. Là một nhà hoạt động xã hội kỳ cựu của tổ chức Hòa Bình Xanh, cô hy vọng sẽ làm nổi bật lên tình trạng ô nhiễm không khí ở London. Đại học Y Hoàng gia và Đại học Hoàng gia về Nhi khoa và Sức khỏe Trẻ em gần đây đã ước tính rằng mỗi năm có tới 40.000 ca chết sớm do ô nhiễm không khí tại Anh Quốc, 10.000 trong số đó là người London. Trẻ em ở một số Giành lại không khí sạch 27 khu vực bị ô nhiễm của London có dung tích phổi thấp hơn 5 đến 8% so với mức trung bình của độ tuổi. Vào năm 2013, Ella KissiDebrah, chín tuổi, đến từ phía nam London, đã tử vong sau khi nhập viện nhiều lần vì bệnh hen suyễn, dẫn đến một cuộc điều tra về tác hại của ô nhiễm không khí.I Vào tháng 1 năm 2017, nữ Nam tước Jones của Viện Quý tộc đã đưa ra cáo buộc “Tội vô trách nhiệm của một chính phủ không có mong muốn bảo vệ sức khỏe của công dân” trong một bài báo trên tờ The Times “Kêu gọi hạn chế giao thông sau tình trạng khói bụi kéo dài 10 ngày khiến 300 người chết”.

Nếu cho rằng London đã giải quyết được vấn đề này vào những năm 1970, thì điều gì đã trở nên tồi tệ đến vậy? Trong cuốn cẩm nang bảo tồn năm 1972 Trận chiến mới của nước Anh, tác giả H. F. Wallis đưa ra lời cảnh báo từ lịch sử: “Khói bụi kiểu Los Angeles – gây ra bởi tác động của ánh sáng mặt trời lên hơi xăng – có thể xảy ra ở Vương Quốc Anh… những chiếc xe mới trên đường vẫn có thể đầu độc không khí ở mức độ như hiện tại và tất nhiên, chúng sẽ còn xuất hiện nhiều hơn.”

Wallis lưu ý rằng giữa năm 1957 và 1967 “mạng lưới đường sắt của công ty Đường sắt Anh giảm mạnh từ 14.622 dặm xuống chỉ còn dưới 10.000 dặm” trong khi một phần năm các dịch vụ xe buýt biến mất. Mọi người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển sang xe cá nhân. Vào thời điểm viết bài, chỉ có 14 triệu chiếc ô-tô trên đường phố tại Vương Quốc Anh. Vào cuối năm 2017, đã có 37,7 triệu phương tiện được cấp phép tại nơi này, khoảng 31 triệu trong số đó là xe hơi. Và 12,4 triệu trong số đó – gần bằng với tổng số xe ở thời của Wallis – là những chiếc xe động cơ diesel.

Khi Giáo sư David Newby bắt đầu nghiên cứu về ô nhiễm không khí vào đầu những năm 2000, ông cho rằng – giống như những người sống sót qua sự kiện Đại Sương Mù – ô nhiễm không khí tác động lên sức khỏe đã là tin tức của ngày hôm qua. Cho đến những năm 1990 và 2000, những nhà máy điện than nội thành tại Victoria từng làm London ngạt thở đã chuyển đổi thành các trung tâm văn hóa; nhà máy điện Tate Modern và Battersea giờ đây “nhả ra” tiền của du khách, không phải khói. Những nhà máy ấy chính là những di tích cao chót vót cho một thời kỳ khai sáng của chúng ta. Nhưng Newby, hiện là giáo sư tim mạch tại Trung tâm Nghiên cứu Xuất sắc của Quỹ Tim mạch Vương Quốc Anh, khi đó đã chuẩn bị thực hiện một nghiên cứu có thể thay đổi hoàn toàn hiểu biết của ông, và chúng ta, về ô nhiễm không khí. Vào năm 2007, Newby và đội ngũ của ông tuyển những tình nguyện viên khỏe mạnh, đưa họ vào một căn buồng phơi nhiễm, cố định họ trên một chiếc xe đạp và bảo họ bắt đầu đạp. Chiếc buồng sau đó được bơm đầy khí thải động cơ diesel. “Mọi người nghi ngờ chuẩn mực đạo đức của tôi”, ông thừa nhận. “Nhưng tôi chỉ ra rằng mức độ ô nhiễm bên ngoài, trên con đường họ đi đến nơi nghiên cứu có lẽ còn tồi tệ hơn.” Những gì họ phát hiện ra đã thực sự gây sốc. Khi bị phơi nhiễm với mức độ khí thải động cơ thông thường trên đường phố, máu trở nên đặc hơn và có khả năng bị đông. Những dấu hiệu của áp lực lên tim xuất hiện ngay lập tức. Huyết áp tăng và các động mạch bị mỏng đi rõ rệt. Nó rất giống với hút thuốc lá – thứ mà Newby gọi là “ô nhiễm không khí tự gây ra” – ngoại trừ việc, với ô nhiễm trên đường phố, không có lựa chọn từ bỏ. “Mọi người đang hấp hối không phải do hen suyễn mà do bệnh tim và đột quỵ gây ra bởi ô nhiễm không khí… Rất nhiều người cảm thấy ngạc nhiên, trong đó có tôi.”

Chất lượng không khí kém không chỉ là vấn đề quá khứ. Trên thực tế, có nhiều hạt ô nhiễm trong không khí ở thời điểm hiện tại hơn trong khoảng thời gian cuộc Đại Sương Mù xảy ra ở London. Sự khác biệt ở đây đó là hạt vật chất/ bụi (PM) từ các nguồn ô nhiễm hiện đại là quá nhỏ để có thể nhìn thấy.

Gần hai phần ba dân số tại Anh Quốc đang sống ở những khu vực có mức độ ô nhiễm không khí vượt ngưỡng cho phép của Liên minh Châu Âu. Dan Thorpe, ban ngày là giáo viên tiểu học địa phương, thời gian còn lại là một ủy viên hội đồng được bầu của quận Greenwich, nói với tôi: “Trường học của tôi, Tiểu học Windrush, nằm ngay bên cạnh Đập Sông Thames, vì vậy chúng tôi có phà Woolwich và vòng xuyến ở một đầu, khu công nghiệp thì ở phía sau… họ xếp các xe tải chở hàng nặng [lên phà], và khi họ vào vòng xuyến, chỉ cần một sự cố nhỏ là giao thông sẽ bị dồn ứ và bạn có một sự cố [ô nhiễm] nghiêm trọng sau đó… Một khi bạn biết được chuyện gì đang xảy ra thì đó giống như là một tình huống thảm họa rồi.”

Là một người miền nam London, thuộc gia đình lâu đời tại đây, Nick Hussey đã lớn lên với việc đua xe đạp. Trong khi bạn bè hứng thú với bóng đá, thần tượng của anh là nhà vô địch Tour de France Miguel Induráin và Greg LeMond. Kể từ đó, anh đạp xe thường xuyên và giấc mơ đua xe dần nhường chỗ cho một cuộc sống bình thường hơn của một người đạp xe đi làm. Vào tháng 5 năm 2005, ở tuổi 32 và đang sống tại London, cơn “sốt hoa cỏ” hay còn gọi là viêm mũi dị ứng của anh bắt đầu. “Tôi vẫn còn nhớ cảm giác đau nhói, cay xè trong mắt và không thể thở bình thường”, anh nói với tôi. “Không lâu sau đó, tôi bắt đầu gặp vấn đề với việc ăn một số loại thực phẩm. Tôi dường như đang phải vật lộn với một vấn đề histamine lớn. Tôi bắt đầu cảm thấy khó khăn khi đạp xe, đặc biệt là trong những tháng trời nóng. Nhưng những điều này dường như không khớp với sốt hoa cỏ. Tôi đã không thực sự hiểu về điều này.” Sinh sống gần một tuyến đường lớn ở phía tây nam London, việc hô hấp của anh chuyển biến xấu đến mức anh đã hai lần phải vào Khoa Tai nạn và Cấp cứu. “Hệ thống Y tế Quốc gia thực ra đã kiểm tra xem tôi có điều gì không ổn khá nhanh. Họ phát hiện ra rằng thực chất tôi có dung tích phổi lớn hơn nhiều so với dung tích phổi trung bình, vì vậy tôi đáng ra không nên có vấn đề về hô hấp. Họ làm các xét nghiệm và thu hẹp nguyên nhân. Họ loại trừ phấn hoa. Họ loại trừ chế độ ăn.” Cuối cùng, một chuyên gia trong một căn phòng tư vấn xám xịt của bệnh viện đã đưa tin. “Ông ấy chỉ nói: “Phải, đó là ô nhiễm không khí: chào mừng đến London.” Giống như đó là điều bình thường nhất trên đời, như thể ông ta thấy nó xảy ra hàng ngày.” Anh ấy nghe có vẻ khó chịu khi nói với tôi. “Nếu điều đó đơn giản và rõ ràng đến vậy, tại sao chúng ta không biết nhiều hơn về nó? Và tại sao mọi người lại không cảm thấy giận dữ hơn về điều này?”

Theo luật của Liên minh Châu Âu, một thành phố được phép vi phạm giới hạn phát thải nitrogen dioxide (NO2 ) tính theo trung bình giờ tối đa 18 lần trong một năm dương lịch. Năm 2016, London chỉ trong vòng 7 ngày đã vượt qua giới hạn cho phép hàng năm đó. Trong năm 2017, con số giảm xuống còn 5 ngày, số thời gian được phép vi phạm hàng năm được sử dụng hết vào ngày 5 tháng 1. Vào tháng 10 năm 2017, kế hoạch cắt giảm ô nhiễm NO2 của chính phủ mờ nhạt đến nỗi nó bị Tòa án Tối cao coi là bất hợp pháp và không thỏa đáng. Ngay cả Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc cũng vào cuộc, đưa ra một báo cáo dài 22 trang về ô nhiễm không khí tại Anh Quốc, trong đó ước tính rằng tác động của không khí chất lượng kém khiến nước Anh tốn khoảng 18,6 tỷ bảng Anh mỗi năm cho chi phí y tế. Bản báo cáo năm 2017 của tổ chức này đã chỉ trích: “Ô nhiễm không khí tiếp tục hoành hành tại Anh Quốc… Trẻ em, người già và những người có vấn đề về sức khỏe từ trước có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh, tàn tật và tử vong, và rủi ro càng tăng cao đối với người nghèo và dân tộc thiểu số.”

Thay vì học hỏi từ những bài học trong cuộc Đại Sương Mù, vào những năm 2000, London trở thành trung tâm toàn cầu của khói thải diesel, một trong những nguồn NO2 và hạt vật chất gây ô nhiễm lớn nhất.I Vào năm 1950, có khoảng 35 triệu ô-tô trên toàn cầu. Ngày nay, chỉ tính riêng ở Anh Quốc lượng ô-tô đã gần bằng con số trên. Trong khi đó, các lò sưởi đốt than và củi trong hộ gia đình, vốn đã bị nghiêm cấm ở các vùng nội thành bởi Đạo luật Không khí sạch, đang trở lại một cách bất ngờ. Được đổi tên thành “các lò đốt sinh khối” sử dụng “nhiên liệu tái tạo”, chúng được khuyến khích sử dụng một cách tích cực. Một tài liệu tham vấn của chính phủ vào năm 2018 đã thừa nhận rằng sự “gia tăng đốt cháy các loại nhiên liệu rắn trong các hộ gia đình cũng đang có tác động đến chất lượng không khí và hiện là nguồn phát thải PM lớn nhất quốc gia”. Tại trung tâm London, việc đốt gỗ củi là nguồn gây ra 31% PM2.5 có nguồn gốc từ đô thị – có lẽ là lần đầu tiên kể từ những năm 1950.

Báo cáo của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc kết luận, “Qua việc không hành động một cách khẩn trương và hiệu quả nhất có thể, cũng như không thực hiện mọi biện pháp có thể để làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và gia tăng tuổi thọ, chính phủ Anh Quốc đã thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em trong phạm vi quyền hạn của mình”. Trong số 51 thị trấn và thành phố của Anh Quốc được liệt kê trong cơ sở dữ liệu chất lượng không khí năm 2018 của WHO, có 44 thành phố và thị trấn vi phạm các giới hạn PM2.5 theo khuyến cáo của WHO.

Hiện tượng “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” tại Bắc Kinh
Năm 2008, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh đã đưa ra một quyết định gây tranh cãi. Ở một quốc gia không có dữ liệu chính thức nào về ô nhiễm không khí được cung cấp đến người dân, Đại sứ quán Hoa Kỳ đã lắp đặt một cảm biến ô nhiễm không khí trên sân thượng, cụ thể là máy đo MetOne BAM 1020 và Ecotech EC9810. Cũng trong năm đó, họ thiết lập một tài khoản Twitter, @beijingair, để tự động đăng tải nồng độ PM2.5 theo trung bình giờ, cập nhật hàng giờ trong ngày. Mặc dù nhiều lần bị chính quyền Trung Quốc yêu cầu gỡ bỏ, đại sứ quán vẫn tiếp tục đăng tải chỉ số PM2.5. Phó Thủ tướng về Bảo vệ Môi trường Wu Xiaoqing phát biểu trong một cuộc họp báo: “Các nhà ngoại giao có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ các quy định và luật pháp [địa phương]… Chúng tôi mong muốn các đại sứ quán và lãnh sự quán sẽ tôn trọng luật pháp Trung Quốc và ngừng đăng tải dữ liệu về chất lượng không khí.” Mark Toner, thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đáp trả: “Chúng tôi cung cấp cho cộng đồng người Mỹ, cùng với nhân viên đại sứ quán và lãnh sự quán của chúng tôi… thông tin mà họ có thể sử dụng để đưa ra các quyết định thường nhật tốt hơn liên quan đến sự an toàn của các hoạt động ngoài trời.”I

Những lý do đằng sau hành động ấy là rõ ràng. Bầu trời khắp Trung Quốc và đặc biệt là tại phía bắc tỉnh Hà Bắc, đang dần xám xịt theo năm tháng. Năm 2004, nhà báo Trung Quốc Chai Jing đã hỏi một đứa trẻ rằng em đã từng nhìn thấy những ngôi sao bao giờ chưa? Câu trả lời của em là chưa. Em đã bao giờ nhìn thấy bầu trời xanh chưa? “Chỉ xanh nhạt thôi”, đứa bé nói. Vậy còn những đám mây trắng? “Chưa.” Cho đến năm 2009, Cục Bảo vệ Môi trường Trung Quốc đã thực hiện dự án thí điểm tại các thành phố lớn của mình để theo dõi “khói mù” – một cách nói giảm nói tránh cho khói bụi, trước khi khói bụi chính thức được thừa nhận là có tồn tại – và phát hiện ra số ngày có khói mù hàng năm dao động từ mức thấp 51 ngày lên mức cao 211 ngày trong năm.

“Lần đầu tiên tôi để ý đến nó, khi thực sự bắt đầu nhìn thấy là vào cuối những năm 1990”, doanh nhân người Mỹ Manny Menendez nói khi chúng tôi gặp nhau ở Bắc Kinh vào tháng 12 năm 2017. Manny đã làm việc tại Trung Quốc kể từ khi đất nước này mở cửa biên giới cho phép thương mại quốc tế, là người đàm phán cho thỏa thuận liên doanh đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vào năm 1980. “Tôi nhớ vào những ngày đầu tiên… hoạt động công nghiệp diễn ra ở trung tâm thành phố, vì như vậy rất dễ [tiếp cận]. Từ quan điểm bền vững hoặc thiết kế đô thị, điều đó đơn giản là không hiệu quả.” Manny thừa nhận, nhiều thập kỷ làm việc ở Trung Quốc đã gây ra cho anh những vấn đề về sức khỏe. “Tôi bị thở khò khè. Tôi có khẩu trang nhưng lại không sử dụng nhiều. Nếu tình trạng khí thải trở nên tồi tệ và chỉ số PM2.5 thực sự cao…” Anh dừng lại để ho khi nói điều này, như thể bị kích động bởi ý nghĩ đó, “… thì tôi sẽ bị thở khò khè kéo dài ít nhất một tuần đến 10 ngày. Nó không hết hẳn”. Manny có những đối tác kinh doanh đã cùng gia đình chuyển ra khỏi Bắc Kinh vì “không muốn con cái họ lớn lên với các vấn đề về hô hấp”.

Khi Viện Công vụ & Môi trường (IPE), một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Bắc Kinh, công bố Chỉ số Chất lượng Không khí Minh bạch (AQTI) đầu tiên vào năm 2010, không có dữ liệu về chất lượng không khí hàng ngày tại bất kỳ thành phố nào tại Trung Quốc. Bản báo cáo của IPE đã phải sử dụng dữ liệu của ngành công nghiệp và các thông tin ít ỏi có trong “Báo cáo về Tình trạng Môi trường tại Trung Quốc” hàng năm của chính phủ, trong đó không đưa ra mức độ chi tiết nào ngoài tỷ lệ các thành phố (không nêu tên) đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia (không xác định) từ cấp độ 1 cho đến 3. Đáp lại, bản báo cáo đầu tiên của IPE đã không khoan nhượng, gây ngạc nhiên cho nhiều người ở Trung Quốc và giới quan sát phương Tây: “Trong những năm gần đây, ô nhiễm không khí đã trở thành một trong những vấn đề môi trường cấp bách mà các thành phố tại Trung Quốc phải đối mặt”. Với tuyên bố vào năm 2010, IPE trở thành một trong những tổ chức đầu tiên công khai phát biểu về điều này. “Chất lượng không khí kém không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng trăm triệu cư dân đô thị mà còn đe dọa đến sức khỏe và sự an toàn của họ. Trung Quốc đang trải qua giai đoạn phát triển công nghiệp và đô thị nhanh chóng, cũng chính là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm không khí tại nhiều thành phố của nước này… Hiện tại, Trung Quốc chưa xây dựng được một mạng lưới theo dõi sức khỏe và ô nhiễm không khí quốc gia toàn diện.” Không giống như bản báo cáo mơ hồ của chính phủ, IPE liệt kê các “thủ phạm” chính: “Ô nhiễm khói than… các vấn đề về ô nhiễm lưu huỳnh dioxide (SO2 ) và hạt bụi phát tán tại khu vực thành thị… số lượng xe cơ giới làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của ô nhiễm khí thải. Các vấn đề ô nhiễm không khí như khói mù, sương mù quang hóa và mưa acid… đang nghiêm trọng hơn theo từng ngày.”

Trong khi đó, thiết bị giám sát chất lượng không khí của Đại sứ quán Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đăng bài. Bản thân ứng dụng Twitter đã bị chặn bởi Đại Tường lửa của Trung Quốc vào năm 2009, nhưng dù vậy một số ứng dụng trên điện thoại di động và Weibo (ví như bản tiếng Trung của Twitter) vẫn đăng các chỉ số trên @beijingair. Nếu chỉ số PM2.5 vượt quá 200 microgram trên một mét khối không khí (µg/m3), tài khoản @beijingair sẽ tự động đưa ra cảnh báo “rất có hại cho sức khỏe”; trên 400 µg/m3, cảnh báo trở thành “nguy hiểm”. Tuy nhiên, với mức trên 500 µg/m3, được cho là khó có thể xảy ra đến mức tài khoản được lập trình một cách bất cẩn để thông báo rằng không khí “tệ kinh khủng”. Vào ngày 18 tháng 11 năm 2010, điều không thể đã xảy ra. Cảnh báo “tệ kinh khủng” đầu tiên được đưa ra vào lúc 8 giờ tối, khi chỉ số tăng lên 503 µg/m3 (và đạt đỉnh vào ngày hôm sau ở mức 569 µg/m3) – khiến cho cả Đại sứ quán Hoa Kỳ và chính quyền Trung Quốc phải lúng túng. Nó được nhanh chóng sửa đổi thành “vược quá mức hiển thị”, nhưng đã quá muộn. Cảnh báo “tệ kinh khủng” được lan truyền mạnh mẽ. “Mạng xã hội Trung Quốc bắt đầu dành sự quan tâm và đăng tải lại cảnh báo này trên Weibo”, Kate Logan, giám đốc của IPE, hồi tưởng lại khi tôi đến thăm văn phòng IPE tại Bắc Kinh. “Người dân Trung Quốc đã bắt đầu để ý.”

Sau đó, “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” xảy ra vào năm 2013. Nếu như Đại sứ quán Hoa Kỳ từng khiến người dùng Twitter xôn xao về chỉ số 500 µg/m3 vào năm 2010, thì vào ngày 12 tháng 1 năm 2013, nó đã báo cáo chỉ số hơn 800 µg/m3. Ngay cả Cục Bảo vệ Môi trường Bắc Kinh, lúc này đã bắt đầu miễn cưỡng công bố vài chỉ số chính thức, cũng cho thấy mức PM2.5 vượt quá 700 µg/m3. Liam Bates, một người Anh gốc Thuỵ Sĩ đang sinh sống tại Bắc Kinh, hồi tưởng: “Cảm giác như lúc đó đang là 6 giờ chiều, mặt trời đang lặn và mọi thứ bắt đầu tối dần – nhưng thực chất chỉ mới là giờ ăn trưa. Chuyện đó thật điên rồ. Thực sự có cảm giác như ngày tận thế – khi ấy đang là giữa ban ngày, và bầu trời dần chuyển màu đen kịt… mọi người bắt đầu hoảng hốt… Ngay cả những người [trước đây] nghi ngờ cũng nghĩ, “chết rồi, chuyện này thật là kinh khủng”.”

Từ ngày 10 đến 14 tháng 1, chỉ số µg/m3 không bao giờ ở dưới mức ba chữ số; mức trung bình cả tháng ở vào khoảng 200 µg/m3. Để làm rõ hơn về điều này, nó còn dày đặc hơn cả không khí ở bên trong một phòng hút thuốc thông thường tại sân bay (167 µg/m3, theo một nghiên cứu năm 2012 của Hoa Kỳ). Ngưỡng an toàn cho sức khỏe hàng ngày do WHO thiết lập chỉ ở mức 25 µg/m3. Trong khoảng thời gian xảy ra “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí”, tờ South China Morning Post cho biết Bệnh viện Nhi Bắc Kinh đang tiếp nhận hơn 7.000 bệnh nhân mỗi ngày, với số trẻ em đang được điều trị bệnh hô hấp cao nhất trong vòng 5 năm.

Vào năm xảy ra “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí”, Trường Quốc tế Bắc Kinh, một trường tư thục dành cho con cái của người nước ngoài và người dân địa phương giàu có, đã dựng lên một mái vòm áp lực khổng lồ trên sân chơi ngoài trời để tránh bầu không khí giờ đây không thể thở được của thành phố. Cấu trúc mái vòm được nâng đỡ bởi những chiếc quạt áp suất khổng lồ thanh lọc không khí, cho phép những học sinh trả phí được tiếp tục vui chơi “ngoài trời”. Cũng trong năm đó, những lon nước được bơm đầy không khí nén không chứa PM, bao gồm nhiều “hương vị”, trong đó có “Tây Tạng Nguyên chất”, đã được bày bán trên đường phố ở Bắc Kinh. Nó đáng ra đã là một tác phẩm nghệ thuật trình diễn hoàn hảo, nếu không vì thực tế là người làm ra những chiếc lon này, Chen Guangbiao, là một doanh nhân ở đỉnh cao của sự bùng nổ kinh tế Trung Quốc. Anh này sau đó đã bán được 12 triệu lon, thu về 7 triệu đô-la (hơn 5 triệu bảng Anh). Người dân đang cần một bầu không khí sạch hơn và sẵn sàng trả tiền cho nó.

Trên thực tế, “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” không phải là một sự kiện ô nhiễm không khí đơn lẻ. Nó chỉ là điều tồi tệ nhất trong số những điều xảy ra đều đặn vào mỗi mùa đông. Trong vòng 30 năm tính đến 2015, tỷ lệ ung thư phổi ở Trung Quốc đã tăng thêm 465%, trong giai đoạn mà thực chất tỷ lệ hút thuốc lá lại giảm xuống. Vào năm 2013, một bé gái 8 tuổi ở tỉnh Giang Tô trở thành bệnh nhân ung thư phổi trẻ nhất Trung Quốc; bác sĩ điều trị cho cô tin rằng nguyên nhân là do phơi nhiễm với ô nhiễm không khí. Trong Cuộc đua Marathon Bắc Kinh 2015, 6 người lên cơn đau tim do mức độ PM2.5 vào ngày hôm ấy. Một bài báo trong năm đó chỉ ra rằng vào những ngày tồi tệ nhất ở Bắc Kinh, một người dân bình thường hít thở phải không khí bị ô nhiễm sẽ tương đương với việc hút 25 điếu thuốc lá. Ngày tồi tệ nhất được ghi nhận vào năm 2015 tại thành phố Thẩm Dương của Trung Quốc đã chứng kiến mức ô nhiễm PM đạt tới 1.400 µg/m3 (gần bằng 3 ngày “tệ kinh khủng” cộng lại) – tương đương với việc hút 64 điếu thuốc lá. Ngay cả những người khỏe mạnh và hút thuốc thường xuyên nhất cũng sẽ gặp khó khăn với tần suất dày đặc này.I Sự khác biệt đương nhiên là tại thành phố Thẩm Dương, nơi khói thuốc tác động lên trẻ sơ sinh và người ốm yếu liên tục.

Tình trạng khói bụi tại Trung Quốc đã gói gọn những vấn đề trong cả quá khứ lẫn hiện tại của London: than nội địa và khói thải từ nhiên liệu rắn, ô nhiễm do hoạt động công nghiệp và khói thải từ phương tiện giao thông hiện đại. Trung Quốc chỉ có 18 triệu phương tiện giao thông vào năm 2001. Cho đến năm 2015, số lượng phương tiện đã đạt 279 triệu.

Delhi: năm 2017
Vào ngày 6 tháng 11 năm 2017, Vua Philippe và Nữ hoàng Mathilde của nước Bỉ đã tham dự một buổi lễ tại Delhi. Trong khi đang tưởng niệm những người lính Ấn Độ đã chiến đấu tại Flanders trong Thế chiến thứ nhất, một màn sương đã che phủ đội lính danh dự, gợi nhớ lại đám khói từ hỏa lực pháo binh và khí mù tạt của thế kỷ trước. Tuy nhiên, đây không hề là một kế hoạch tái hiện. Vào thời điểm 11 giờ sáng ngày hôm đó, nồng độ PM2.5 tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Delhi đã đạt mức độ gây ngạt thở 986 µg/m3. Khi Thủ tướng Modi cùng cặp đôi hoàng gia Bỉ chuẩn bị chụp ảnh, họ còn không thể nhìn thấy đội lính danh dự. Ngày hôm sau, chỉ số PM đạt đỉnh 1.486 µg/m3 – một trong những mức cao nhất từng được ghi nhận. Chỉ số không giảm xuống dưới mức ba chữ số cho đến ngày 17 tháng 11 (và kể cả đến lúc đó thì cũng chỉ xê dịch một chút).

Theo Trung tâm Khoa học và Môi trường, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Delhi, “những nguyên nhân chính dẫn đến kiểu khói bụi này tại Delhi và vùng lân cận là các phương tiện giao thông; hoạt động xây dựng không được kiểm soát và khói bụi đường phố; việc đốt rác, đốt rơm rạ của nông dân ở các bang Punjab, Haryana… trong điều kiện thời tiết gần như lặng gió; sự khởi đầu của mùa đông; và đương nhiên là, pháo nổ tại lễ hội ánh sáng Diwali”. Trước tình trạng này, Arvind Kejriwal, thủ hiến của thành phố, đã yêu cầu các trường học đóng cửa trong 3 ngày, tạm dừng hoạt động xây dựng và phá dỡ trong 5 ngày và đóng cửa nhà máy than Badarpur tại trung tâm thành phố trong 10 ngày. Báo chí quốc tế đã đăng tải những dòng tiêu đề như “Tôi cảm thấy bất lực”: Cư dân Delhi trong cuộc khủng hoảng khói bụi (tờ Guardian, ngày 8 tháng 11 năm 2017) và “Chất lượng không khí tại New Delhi tệ hơn cả việc hút 50 điếu thuốc mỗi ngày” (tờ Sky News, ngày 11 tháng 11 năm 2017).

Vào ngày 19 tháng 11, kênh truyền hình Ấn Độ NDTV đã khởi phát chương trình tranh luận với phần giới thiệu đầy cảm xúc: “Trong tuần này, nếu bạn sinh sống ở Bắc Ấn Độ, có lẽ bạn đang ước là không phải một màn khói bụi độc hại đã lần lượt bao trùm xuống khắp các thành phố. Dù vậy, cuộc sống dường như vẫn tiếp diễn bình thường. Khi chất lượng không khí chuyển từ nghiêm trọng sang rất kém, chúng ta thực ra lại ăn mừng… Có một sự im lặng đến từ các nhà lãnh đạo khi các bộ trưởng môi trường phát biểu rằng “ít nhất thì nó cũng không tệ như thảm họa Popol”, ngay cả khi hàng loạt nghiên cứu chỉ ra rằng hàng triệu người Ấn Độ đang chết dần chết mòn vì đợt ô nhiễm này. Làm thế nào để chúng ta, với tư cách là các công dân, và các chuyên gia về chăm sóc sức khỏe của chính phủ, có thể cùng nhau tìm cách cứu lấy bản thân khỏi tình trạng khẩn cấp về sức khỏe này?”

Vào ngày 22 tháng 11, tôi đặt chân đến Delhi. Khi chuyến bay của tôi bắt đầu hạ cánh, hai cánh của máy bay cắt qua một dải mây xám xịt đang chờ bên dưới. Tuy nhiên, khi chúng tôi xuống thấp hơn, dải màu xám trông quá phẳng và đều đó có thể là mây. Và nó trong mờ – có thể nhìn xuyên qua để thấy được các tòa nhà, như những viên sỏi dưới đáy của một vũng bùn. Tôi nhận ra rằng hôm đó là một ngày nắng, không có mây: đây là màn khói bụi.

Tại sân bay, tôi tìm một thẻ SIM địa phương cho điện thoại của mình và gọi taxi – hối hận vì không sử dụng phương tiện giao thông công cộng, nhưng chiếc taxi là cần thiết để biết được về câu chuyện lúc bấy giờ của Delhi. Tôi cần phải nhìn tận mắt những con đường. Giao thông di chuyển theo kiểu dừng‑đi gián đoạn, hiếm khi có ít hơn bốn hoặc năm hàng xe, và bất kể có bao nhiêu làn đường đi chăng nữa, mỗi lái xe đều cố gắng lấp đầy những khoảng trống nhỏ nhất vừa xuất hiện, tìm kiếm một lợi thế vô hình. Ở ghế sau của chiếc taxi, máy đo Laser Egg của tôi hiển thị nồng độ PM2.5 trên 300 µg/m3: mức độ mà cá nhân tôi chưa từng trải qua. Tôi tập trung làm mọi thứ chậm nhất có thể để kiểm soát nhịp thở và nhịp tim của mình. Trong những ngày sau đó, tôi dần quen thuộc với một âm thanh xuất hiện liên tục trên đường phố Delhi: tiếng khạc khô khan do viêm xoang. Những người lái xe và đi bộ đều buộc phải loại bỏ dịch nhầy bằng cách nhổ nó xuống đất. Điều đó có vẻ thô lỗ nếu nó không thật sự cần thiết. Tại nhiều thời điểm trong chuyến đi, tôi cũng bất đắc dĩ phải làm vậy.

Tại phòng B&B của tôi, chủ nhà Vandana chào đón tôi bằng bánh mì nướng và trà nóng (cô ấy hẳn là hiểu rất rõ về người Anh). “Thật là một ngày tuyệt vời để đến nơi này”, Vandana kêu lên. “Màn khói bụi đã biến mất!” “Biến mất ư?” Tôi ngạc nhiên trả lời, nghĩ đến màu trắng đục ảm đạm trên bầu trời và chỉ số trên máy đo của tôi. “Ồ phải. Tuần trước nó ở vào khoảng 1.000”, cô nói, ý muốn nhắc đến AQI.I “Nhưng bây giờ chỉ còn 200 hoặc khoảng đó. Màn khói bụi đã biến mất cách đây một vài ngày.” Dù vậy, cô ấy vẫn khuyên tôi nên mua khẩu trang, kể cả khi tôi chỉ đi bộ bên đường. “Cổ họng của cậu có thể sẽ cảm thấy đau rát vào cuối ngày”, Vandana nói, “nhưng nếu chuyện đó xảy ra – chỉ cần đun một ít nước ấm và súc miệng. Giống như đi tắm vậy. Thông thường thì nó sẽ có hiệu quả”. Khi cô ấy rời đi để tôi dỡ đồ, tôi quay sang chiếc máy lọc không khí trong nhà và tăng thêm một nấc. Nhưng như chiếc màn cửa dập dờn bên khung cửa sổ lỏng lẻo, tôi biết rằng nó sẽ không có nhiều tác dụng. Khi tôi đi ngủ, máy đo không bao giờ giảm xuống dưới mức 70 µg/m3. Sáng hôm sau, một số ít công nhân đang dùng tay phá dỡ từng viên gạch một của khối nhà đối diện căn hộ nơi tôi đang ở. Họ thắp lửa để giữ ấm và nấu ăn. Tôi không thể nhìn thấy họ đang đốt thứ gì nhưng nó có mùi ngọt đến khó chịu. Chỉ số trên máy đo vượt mức 200 µg/m3.

Sau đó, tại Viện Công nghệ Ấn Độ [IIT], những bãi cỏ rộng lớn và những con đường riêng ôm lấy những khối nhà vững chắc từ thập niên 1970 của các ban ngành, chỉ một số ít cao hơn ba tầng, trải dài đến tận chân trời; trên tầng hai của dãy nhà dành cho ngành Kỹ thuật Xây dựng Dân dụng, tôi tìm đến cánh cửa màu nâu với bảng tên “Giáo sư Mukesh Khare”.

“Tôi gia nhập IIT Delhi với tư cách là giáo sư vào năm 1991, và làm việc trong lĩnh vực chất lượng không khí kể từ đó”, Giáo sư Khare nói với tôi. “Delhi từng gặp vấn đề với CO [carbon monoxide] vào những năm 1990. Nhưng… vấn đề hiện nay là NO2 và CO, xuất phát từ nhiên liệu nhiệt độ cao, và cả PM2.5. Diesel cũng là một nguyên nhân khác.” Gần đây Delhi đã được xếp hạng là thành phố lớn ô nhiễm nhất thế giới xét về ô nhiễm không khí xung quanh. Nồng độ PM2.5 trung bình hàng năm theo tài liệu chính thức tại Delhi vào năm 2014 là 153 µg/m3, gấp 15 lần so với khuyến nghị của WHO, với nồng độ hàng ngày thường vượt quá 550 µg/m3 (cao hơn mức “tệ kinh khủng” 500 của Bắc Kinh).

Khi tôi đến thăm Viện Nghiên cứu Đường bộ Trung tâm (CRRI), Tiến sĩ Niraj Sharma, nhà khoa học trưởng cấp cao về môi trường, người đã nghiên cứu về khí thải đường bộ trong suốt 25 năm qua, vừa nói vừa thò tay vào ngăn kéo bàn của mình. “Tôi rất thích sưu tầm những mẩu báo được cắt ra”, ông giải thích. “Cậu có thể lướt qua những thứ này.” Ông lôi ra một tập dày những bài báo mà ông ấy đã cẩn thận cắt. Tôi đọc thành tiếng một vài tờ trong số đó: “Chất lượng không khí cải thiện đôi chút tại Delhi, một lần nữa ở mức rất kém”, “Ô nhiễm suy giảm tại Delhi vào dịp lễ hội ánh sáng, nhưng chất lượng không khí vẫn tệ, vượt quá mức độ an toàn”, “Chính phủ thông báo rằng ô nhiễm không khí tăng vọt sau khi bắn pháo hoa”, “Tốc độ gió thấp khiến chất lượng không khí Delhi rất kém”, “Delhi, ngươi đang giết ta”, “Khói bụi làm ngạt thở thành phố, các bác sĩ tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe”. Ông có đồng ý với điều đó không, tôi hỏi – đó có phải là một trường hợp khẩn cấp về sức khỏe? “Đúng. Lần này thì là có. Lần đầu tiên sau 25 năm, khoảng 10 ngày trước, tôi cảm thấy như bị nghẹt thở khi ở ngoài trời… Tôi đã từng cảm thấy khó chịu [trước đây] nhiều lần, nhưng giờ đây tôi cảm thấy như đang bị bóp nghẹt.”

Dân số của Delhi, thành phố lớn thứ hai trên thế giới tại thời điểm viết bài, được Liên Hợp Quốc dự báo sẽ tăng từ 24,9 triệu vào năm 2014 lên 36 triệu vào năm 2030. Khi thành phố mở rộng, số lượng ô-tô và đường sá cũng vậy. Tiến sĩ Sharma nói với tôi rằng trong năm 2010, số lượng phương tiện giao thông ở Delhi là khoảng 6 triệu; “Giờ đây con số là 10 triệu.” Ô nhiễm do phương tiện giao thông được xác định là chiếm khoảng 72% tổng lượng ô nhiễm không khí tại Delhi, so với chỉ 23% vào năm 1970-1971. Các thành phố khác của Ấn Độ đã không chọn cách phát triển tương tự. Greater Mumbai chỉ tăng từ 1 triệu đến 1,7 triệu xe so với cùng kỳ, mặc dù có dân số đông tương tự với 20,7 triệu người.

Shubhani, một nữ doanh nhân ở Delhi, nói với tôi: “Hằng năm bạn thấy rằng những đứa trẻ phải sử dụng máy xông mũi họng, chúng bị ho, ốm yếu – đặc biệt là những bé nhỏ tuổi. Một trong những người bạn của tôi có con phải liên tục sử dụng một loại thuốc nào đó. Và thực sự không còn gì khác [như một nguyên nhân], ngoài không khí mà chúng ta hít thở.” Mong muốn cho tôi xem một số bằng chứng, cô ấy tìm kiếm hình ảnh đã lưu trên điện thoại của mình. Đó là trang nhất của một tờ báo từ vài tháng trước, cho thấy các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Ấn Độ: năm 1990, năm nguyên nhân hàng đầu là tiêu chảy, biến chứng đường hô hấp dưới, biến chứng trước sinh, bệnh lao và sởi. Cho đến năm 2016, bệnh tim đột nhiên đứng đầu danh sách, chiếm 8,7% tổng gánh nặng bệnh tật, so với chỉ 3,7% vào năm 1990. Đứng thứ hai là bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, sau đó lại là tiêu chảy, rồi đến biến chứng đường hô hấp dưới, rồi đến đột quỵ. Mọi nguyên nhân mới xuất hiện trong danh sách đều có sự liên kết mạnh mẽ với ô nhiễm không khí.I Người đứng đầu phòng thí nghiệm không khí trong Ban Kiểm soát Ô nhiễm Trung ương nói với tờ Hindustan Times vào tháng 7 năm 2017 rằng Delhi đã không có một ngày nào trong 535 ngày trước đó có chất lượng không khí được đánh giá là “tốt”.

Jyoti Pande Lavakare là một nhà kinh tế, nhà báo tài chính và tự nhận mình là một “bà mẹ trường trung học tại Delhi”, hỗ trợ điều hành một đội ngũ trong chiến dịch dành cho các bậc cha mẹ đang lo lắng. Tại ngôi nhà của cô trong một khu phố trung lưu nhiều cây cối, các công viên công cộng xuất hiện giữa mọi dãy nhà, được tưới nước quá mức. Bảo vệ ngồi ở bên ngoài mỗi cổng ra vào. Những khu phố như vậy đáng lẽ ra phải không bị ảnh hưởng bởi thứ gì đó phiền phức như ô nhiễm, song máy đo của tôi vẫn hiện chỉ số 280 µg/m3. Những tia nắng vỡ vụn soi rọi không gian ngoài trời trông giống như bụi bặm trong một căn gác mái. Jyoti nói với tôi rằng một số đại sứ quán nước ngoài hiện phân loại Delhi là một “bài toán khó” – họ không gửi các nhà ngoại giao cùng gia đình đến Delhi nữa. United Airlines gần đây đã hủy các chuyến bay đến Delhi trong khoảng thời gian tồi tệ nhất của đợt khói mù tháng 11. “Nó dần được hình thành trong cộng đồng quốc tế như là một bí mật mở”, cô nói. “Nó trở thành thứ mà mọi người đều biết đến nhưng không muốn thảo luận.” Điện thoại của cô ấy reo vang với nhạc chuông là bài Yellow của Coldplay. “Tôi sẽ nhận cuộc gọi nếu đó là từ các bác sĩ”, cô ấy nói một cách hối lỗi. “Ổn rồi, nó không phải… Đó là điều kỳ lạ, Tim. Giờ đây tôi tham gia cuộc chiến đấu này vì lý do cá nhân. Mẹ tôi mới đây được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi. Bà là một công dân Delhi lâu năm. Chúng tôi không có tiền sử mắc bệnh ung thư trong gia đình mình… bà không phải là người hút thuốc. Bà chỉ hít thở bầu không khí của Delhi.”

Chỉ vài ngày sau khi tôi rời Delhi, một trận đấu cricket quốc tế được tổ chức tại thủ đô – trận đấu kinh điển giữa Ấn Độ và Sri Lanka – đã chứng kiến mức khói bụi tệ đến nỗi trọng tài đã tạm dừng trận đấu trong 20 phút để tham khảo ý kiến các bác sĩ của hai đội. Đó là trường hợp đầu tiên được ghi nhận của một trận đấu cricket quốc tế bị tạm dừng do khói bụi. Trận đấu lại tiếp tục nhưng hai cầu thủ giao bóng rời sân và phàn nàn về việc khó thở. “Chúng tôi có những cầu thủ ra sân rồi nôn mửa”, huấn luyện viên của đội Sri Lanka phàn nàn với các phóng viên. “Có cả bình oxy ở trong phòng thay đồ.”

Hiện tượng “sương mù quang hóa” tại LA
Màn khói bụi đầu tiên xuất hiện tại Los Angeles là vào năm 1943. Nhiều người khi ấy lo sợ rằng đó là một cuộc tấn công hóa học của Nhật Bản, khiến cho đường phố trở nên hoảng loạn. Nhưng trên thực tế, hiểm họa ấy lại xuất phát từ chính nơi này và sự xuất hiện của nó là có thể dự đoán được. Los Angeles, giống như Mexico City và Bắc Kinh, là một chiếc bẫy ô nhiễm tự nhiên. Khu vực này có địa hình dạng lòng chảo (với diện tích khoảng 1.630 dặm vuông) bị bao quanh bởi một vành núi cao, chính vành núi này đã giữ không khí lại ở phía dưới. Đầu thế kỷ XX, khói bốc lên từ các nhà máy thép, nhà máy hóa chất và lò đốt chất thải dần dần lấp đầy lòng chảo. Sau màn khói bụi năm 1943, các cơ quan chính phủ đã nhờ đến Tiến sĩ Arie Haagen-Smit, một nhà hóa sinh học tại Viện Công nghệ California, để điều tra những gì đang xảy ra. Nghiên cứu sau đó của ông đã phát hiện ra quá trình gây ô nhiễm ozone và đặt ra cụm từ “sương mù quang hóa”.

Bài viết “Kiểm soát ô nhiễm không khí tại Los Angeles” của Haagen-Smit, được xuất bản trong ấn bản tháng 12 năm 1954 của tờ Engineering and Science, kết luận rằng: “Phân tích hóa học của màn khói bụi cho thấy sự hiện diện của một lượng lớn các chất thành phần, trong đó có lưu huỳnh dioxide và bụi, được biết đến như những “kẻ gây rối” ở các khu công nghiệp khác nhau… Phát hiện về quá trình oxy hóa quang hóa của chất hữu cơ đi kèm với sự hình thành ozone đã [cung cấp] thêm bằng chứng khoa học cho sự cần thiết của việc kiểm soát khí thải hydrocarbon.” Cáo phó của Haagen-Smit trên tờ New York Times, năm 1977, có ghi: “Ông đã đương đầu với ngành công nghiệp dầu mỏ và ô-tô trong một cuộc chiến gần như tay đôi chống lại ô nhiễm từ nhiên liệu bị đốt cháy… thuyết phục ngành công nghiệp lọc sạch khói thải từ các ống khói nhà máy, thúc giục các nhà máy ô-tô phát triển phần cứng làm giảm khí thải và nhấn mạnh sự cần thiết của việc phải có kế hoạch kiểm soát phát triển công nghiệp.” Tuy nhiên, có một điều ông không thể ngăn cản, đó là tình yêu của thành phố dành cho xe hơi. Tiến sĩ Devra Davis ước tính rằng cho đến năm 1955, khoảng một nửa trong số 5 triệu dân của thành phố có một chiếc ô-tô, đốt cháy tổng cộng 58.000 tấn nhiên liệu mỗi năm. Los Angeles trước đó được biết đến với những chiếc xe điện, với 1.500 dặm đường ray, nhưng – giống như ở London – chúng đã bị gỡ bỏ để nhường chỗ cho ô-tô. Davis viết rằng, vào năm 1954, “những ngọn lửa trại khổng lồ được thắp lên khi những chiếc xe và tàu điện từng một thời chạy tại Hollywood bị tẩm dầu hỏa và đốt cháy”. Nếu có một hình ảnh tóm gọn sự sai lầm của việc ủng hộ nhiên liệu hóa thạch thay vì điện khí hóa vào giai đoạn giữa thế kỷ XX, thì đó chắc chắn là hình ảnh này.

Từ năm 1950 đến 1970, dân số miền nam California đã tăng gấp đôi, trong khi số lượng phương tiện giao thông tăng gấp ba. Ronald Reagan đã kêu gọi cư dân vào năm 1974 hạn chế “di chuyển bằng xe hơi ngoại trừ trường hợp thực sự cần thiết” và lái xe chậm hơn để giảm thiểu khí thải, nhưng lời kêu gọi của ông hầu như không có tác dụng. Các nghiên cứu ở California vào những năm 1980 đã bắt đầu kiểm tra các tác động tới sức khỏe của ô nhiễm khí thải phương tiện giao thông và phát hiện ra tỷ lệ chết sớm do bệnh tim mạch cao bất ngờ.

Mary Nichols, chủ tịch Hội đồng Tài nguyên không khí (CARB) từ năm 1979 đến 1983, hồi tưởng, “chỉ riêng việc giảm lượng [các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, hay VOC] trong không khí… đã gây ra rất nhiều tranh cãi, và nó đã vướng phải kiện tụng. Điều đó đồng nghĩa với việc dành hàng giờ tại các phiên điều trần với những công ty như Southern California Edison, những công ty đã chiến đấu quyết liệt cùng rất nhiều các chuyên gia khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thuyết phục rằng chúng ta không nên cố gắng [kiểm soát khí thải]”. Ở tình trạng tồi tệ nhất của nó, màn khói bụi tại LA “thiêu đốt phổi khi bạn hít phải và có mùi rất tệ – nó thực sự có mùi và vị – và không khí thì đáng ra không nên có đặc điểm đó”, Nichols nói. “Nó có vị của hóa chất và công nghiệp. Và nó cũng thật xấu xí – bạn có thể nhìn thấy nó, nó khiến cho mọi thứ trong tầm nhìn trở nên u ám. Và bạn có thể thấy những hậu quả mà nó để lại, trên các tòa nhà, các di tích, nơi nó ăn mòn đá và cẩm thạch. Và theo như cảm nhận của con người lẫn động vật – bởi vì thú nuôi cũng trải qua điều này – hơi thở trở nên đau đớn, khó nhọc và khả năng ở ngoài trời của chúng ta bị giảm thiểu. Mọi người được khuyên không nên đi ra ngoài… họ bị mắc kẹt trong chính ngôi nhà của mình.”

Sam Atwood là một phóng viên nhật báo trong những năm 1980 tại tờ San Bernardino Sun và tờ Santa Fe New Mexican. Năm 1990, ông đã giành một giải thưởng báo chí quốc gia cho một loạt tám bài về ảnh hưởng sức khỏe của khói bụi. “Vào năm 1987, cơ hội để làm việc cho một tờ báo tại Nam California xuất hiện”, ông nhớ lại, “vì vậy tôi đã bay đến để phỏng vấn – và bạn vẫn có thể có trải nghiệm này vào thời nay… bạn biết đấy, bạn đang thực sự bay thẳng vào một màn khói bụi… Dãy núi San Gabriel thật đẹp, nó cách sân bay chưa đến 10 dặm nhưng bạn hoàn toàn không thể nhìn thấy nó… tôi gần như bắt đầu lên cơn hoảng loạn và suy nghĩ, mình đang làm gì ở đây… mình sẽ hít phải những thứ này ư?!”

Máy bay của Sam hạ cánh khi đang có một trong nhiều cảnh báo khói bụi Giai đoạn 1, báo hiệu nồng độ ozone ở mức cao: “Ở mức đó, bất cứ ai cũng sẽ cảm nhận được ảnh hưởng, rất khó để Giành lại không khí sạch 47 hít thở sâu, bạn cảm thấy như có một quả tạ đè nặng trên ngực và không thể phủ nhận thực tế là chất lượng của không khí đang ảnh hưởng đến tất cả ai hít thở nó.” Los Angeles, ông nói, “đã luôn luôn có vấn đề ozone ở mức kinh khủng và nó sẽ tiếp tục là thử thách lớn nhất đối với chúng ta”.

Từ năm 2012 đến 2014, Los Angeles đã có 81 ngày nồng độ ozone ở mức “báo động đỏ”; ngược lại, toàn bộ tiểu bang Florida chỉ có một. Suzanne Paulson, giáo sư tại UCLA (Đại học California, Los Angeles) và giám đốc của Trung tâm Không khí Sạch, giải thích rằng vấn đề ngày nay “vẫn là những chiếc ô-tô sử dụng động cơ đốt trong [cùng với] các nguồn khác như xe địa hình, phương tiện sử dụng cho hoạt động xây dựng, máy bay, tàu hỏa và tàu thủy: chúng tôi có một lượng hàng hóa khổng lồ được vận chuyển đến Los Angeles, khoảng một nửa trong số đó được đưa từ châu Á đến Hoa Kỳ và được nhập vào thông qua các cảng tại Los Angeles và Long Beach”. Tóm lại, Paulson nói, “nếu chúng ta đột nhiên loại bỏ được tất cả việc đốt cháy, thì chúng ta gần như sẽ giải quyết được triệt để [ô nhiễm không khí]”.

Bản báo cáo về Tình trạng Không khí năm 2016 của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ đã phát hiện ra có 12 thành phố tại California ghi nhận sự gia tăng ô nhiễm ozone so với cùng kỳ năm trước, trong đó Los Angeles đứng đầu danh sách “ô nhiễm nhất” của 15 trong số 16 bản báo cáo gần đây. Trong năm 2016, 5 thành phố tại các quốc gia phương Tây đã có những đợt ô nhiễm hàng ngày ngắn hạn tồi tệ nhất kể từ khi tiến hành việc báo cáo, phần lớn là do sự gia tăng của những cơn hạn hán vào mùa hè và những đám cháy rừng, mặc dù đó không phải là những nguồn duy nhất. Những ngày có nồng độ hạt ô nhiễm cao thường là hậu quả của việc sử dụng lò sưởi củi để giữ ấm, bão bụi, cháy rừng và các loại hình thời tiết đã giữ lại khí thải từ các nhà máy điện, xe tải, xe buýt, tàu hỏa, tàu thủy và các nguồn liên quan tới hoạt động công nghiệp. Trên toàn quốc, cứ 10 người Mỹ thì có hơn 4 người (44%) sống ở các hạt có nồng độ ô nhiễm ozone hoặc hạt ở mức không tốt cho sức khỏe, tỷ lệ này cao hơn so với giai đoạn từ năm 2009-2011. Chỉ riêng PM2.5 đã gây ra số ca tử vong hàng năm cao gấp đôi so với tai nạn giao thông ở Mỹ. Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ cũng cảnh báo về những thế lực mạnh mẽ đang tìm cách “làm suy yếu Đạo luật Không khí sạch [Hoa Kỳ]… và suy giảm khả năng của quốc gia trong việc chiến đấu vì một bầu không khí lành mạnh”. Với việc chính quyền Trump lên nắm quyền, họ sẽ sớm chứng minh điều này là đúng.

Paris: khí thải NOx độc hại
Khi tôi đặt chân đến văn phòng của tổ chức Airparif tại bờ nam sông Seine, Amélie Fritz đã xin lỗi vì vẻ ngoài mệt mỏi của mình. Hôm ấy là một ngày sau sự kiện “Journée sans Voiture – Ngày không xe hơi” của thành phố, hiện là một sự kiện diễn ra hàng năm trong đó Paris cố gắng thuyết phục cư dân của mình di chuyển mà không sử dụng xe hơi trong một ngày. Fritz, một nhà sinh học môi trường tại Airparif, tổ chức giám sát chất lượng không khí chính thức của thành phố, đã nói chuyện với các nhà báo cho tới tận đêm khuya. Cô ấy đã thực hiện cuộc phỏng vấn truyền hình cuối cùng tại nhà của mình – “Tôi đã quá mệt mỏi để ở lại làm việc, vì vậy tôi nói: Được rồi, nhưng bạn phải đến nhà tôi ngay bây giờ.”

Cô ấy chỉ cho tôi lên trên tầng để đến văn phòng của cô, ở trong là một cái bàn tràn ngập những bản báo cáo và các bài báo khác nhau. “Paris khá là may mắn nếu xét về điều kiện địa lý”, cô mở đầu. “Vùng đất có địa hình rất bằng phẳng, chúng tôi không bị bao quanh bởi những ngọn núi, không có ngành công nghiệp “đồ sộ” nào, đây cũng không phải là một khu công nghiệp, có nhiều gió và mưa – điều này khá tốt cho chất lượng không khí… Nhưng nếu khi bầu trời xuống thấp, không có gió – thì về cơ bản, không khí giống như khi bạn vẫn để xe chạy trong gara nhà mình vậy.”

Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12 năm 2016, khu vực Paris mở rộng đã trải qua một trong những giai đoạn ô nhiễm kéo dài và dữ dội nhất trong vòng một thập kỷ. Nồng độ PM10 cao do các nguồn phát thải địa phương từ giao thông và lò sưởi tại gia, cộng với việc trời lặng gió, đã khiến cho toàn bộ Paris như bị mắc kẹt trong gara với một chiếc xe vẫn đang chạy. Vào Thứ tư ngày 30 tháng 11, chỉ số PM2.5 hàng giờ tại Saint-Denis, trung tâm Paris, đạt mức cao nhất là 195 µg/m3, trong khi NO2 đạt đỉnh ở mức gây khó thở 283 µg/m3 tại Quảng trường Nhà hát lớn vào ngày hôm sau. Tình hình cải thiện vào cuối tuần, nhưng sau đó chỉ số lại tăng trở lại vào tuần sau. Tất cả các phương tiện giao thông công cộng cùng với các chương trình cho thuê xe đạp và xe điện công cộng của thành phố đã được cung cấp miễn phí để cố gắng ngăn chặn cư dân sử dụng xe hơi của họ. Hơn 2.000 trẻ em bị bệnh hen suyễn đã được điều trị ở các phòng cấp cứu tại bệnh viện của Paris. Đến ngày 8 tháng 12, trang nhất của tờ nhật báo 20 Minutes đã đăng dòng tít “La fumée tue” (Màn khói giết người). Kênh tin tức truyền hình France 24 bình luận rằng “chính quyền địa phương và chính phủ hiện đang bất đồng ý kiến, đổ lỗi cho nhau về mức độ ô nhiễm hiện nay”, trong khi trang web của chiến dịch “Ngăn chặn ô nhiễm” tuyên bố: “Sống ở Paris trong thời kỳ ô nhiễm cao điểm này tương đương với việc hít khói từ 8 điếu thuốc mỗi ngày trong căn phòng rộng 20 mét vuông.”

Theo cơ quan y tế công cộng quốc gia (Santé publique France), ô nhiễm không khí giết chết 48.000 người mỗi năm tại Pháp, 34.000 trong số đó được cho là những cái chết “có thể tránh được”: “Ở các khu vực đô thị có hơn 100.000 dân, kết quả cho thấy, trung bình, có sự suy giảm 15 tháng tuổi thọ mỗi 30 năm do PM2.5; trong những khu vực [có dân số] từ 2.000 đến 100.000, độ suy giảm tuổi thọ trung bình là 10 tháng; ở các vùng nông thôn, trung bình, tuổi thọ được ước tính sẽ giảm đi 9 tháng.” Nhưng điều quan trọng là những phát hiện này không chỉ liên quan đến các đợt cao điểm như vào tháng 12 năm 2016. Một nghiên cứu của cơ quan y tế công cộng quốc gia về 17 thành phố tại Pháp từ năm 2007 đến 2010 khẳng định, “chính sự phơi nhiễm hàng ngày và lâu dài với ô nhiễm đã có ảnh hưởng lớn nhất đến sức khỏe, trong khi các đỉnh điểm ô nhiễm chỉ có ảnh hưởng không đáng kể”.

Nhiều vấn đề trong số đó bắt đầu vào những năm 1970. Chợ Les Halles bị phá hủy để nhường chỗ cho những con đường rộng hơn dọc theo bờ sông Seine và một đường hầm dưới lòng đất được xây dựng để giúp cho trung tâm Paris trở nên dễ tiếp cận hơn bằng ô-tô. Thành phố sau đó được bao quanh bởi một đường vành đai, Boulevard Périphérique, được hoàn thành vào năm 1973. Thay vì làm giảm tắc nghẽn giao thông, con đường này lại thu hút nhiều phương tiện hơn. Trong năm 2010, khoảng 3,6 triệu cư dân vùng Île-de-France (những người sống ở khu vực xung quanh Paris) có khả năng bị phơi nhiễm với NO2 có nguồn gốc từ giao thông vượt quá giá trị giới hạn hàng năm, đồng thời mức độ NO2 ngoài đường cũng đã tăng lên hàng năm kể từ năm 1997. Trong khi vấn đề về PM2.5 tại Paris có vẻ không đáng kể khi so sánh với Delhi hoặc Bắc Kinh, vấn đề NOx (NO2 + NO) tại đây còn tồi tệ hơn ở cả hai thành phố. Báo cáo thường niên của Airparif năm 2010 giải thích, “sự gia tăng của nồng độ nitrogen dioxide, cả trong không khí và trên các tuyến đường có thể liên quan đến nguồn phát thải NO2 chính đến từ các phương tiện giao thông chạy bằng diesel. Mặc dù các bộ lọc hiện đang được trang bị cho hầu hết các loại xe diesel mới có góp phần làm giảm lượng phát thải hạt ô nhiễm, nhưng chúng cũng làm tăng đáng kể lượng khí thải NO2 . Hiện tại, việc tỷ lệ NO2 trong khí thải NOx đang tăng lên đều đặn đã được xác nhận”. Quy trình cảnh báo người dân Paris về mức độ ô nhiễm cao đã được kích hoạt vào 44 ngày đặc biệt trong năm 2012. Cho đến năm 2013, đã có 14,6 triệu chuyến đi bằng ô-tô trong khu vực Île-de-France mỗi ngày, ước tính 65% trong số đó diễn ra tại Paris.8 Bản báo cáo năm 2017 của Airparif phát hiện ra rằng nồng độ NO2 trên các con đường lớn cao gấp đôi so với những con đường ở xa và cũng thường gấp đôi giới hạn hàng năm của EU.

Amélie cho biết, ô nhiễm không khí tại Paris hiện nay là sự kết hợp của “NO2 cùng với PM10 và PM2.5. Vẫn còn một số vấn đề tồn đọng với benzen. Và với nồng độ ozone bên ngoài thành phố, ở cấp độ khu vực… Đồng thời cũng có khá nhiều khói được thải ra từ hoạt động nông nghiệp và đốt củi”. Cô ấy nói với tôi rằng ô nhiễm không khí hiện nay là “một trong những mối quan tâm chính [của công chúng]” – nó thực sự chỉ đứng thứ hai xếp sau việc làm. Vì vậy, về cơ bản đây là một mối quan ngại lớn và người dân đang rất lo lắng về sức khỏe của họ”. Cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện bởi Airparif khẳng định rằng một nửa số cư dân tại Paris lo ngại về việc nồng độ NO2 vượt quá ngưỡng an toàn cho sức khỏe.

Vào năm 2017, Clotilde Nonnez, một cư dân Paris và là một giáo viên yoga 56 tuổi, đã thực hiện một việc chưa từng có tiền lệ khi đưa chính phủ Pháp ra tòa vì không bảo vệ cô khỏi tác động của ô nhiễm không khí. Sinh sống ở Paris đã được 30 năm, cô nhận thấy sức khỏe của mình ngày càng suy giảm mặc dù chế độ ăn uống và tập luyện của cô vô cùng lành mạnh. Khi nó trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết vào đợt khói bụi tháng 12 năm 2016, cô nghi ngờ rằng có một mối liên kết. Bác sĩ của cô xác nhận điều đó.

“Bác sĩ điều trị cho tôi nói rằng không khí tại Paris ô nhiễm đến mức chúng ta như đang hít thở không khí bị thối rữa”, cô nói với France Info. “Cô ấy có những bệnh nhân khác cũng có tình trạng giống như tôi, bao gồm cả trẻ em và em bé sơ sinh nữa. Bác sĩ tim mạch của tôi cũng nói điều tương tự.” Luật sư của Nonnez, François Lafforgue, nói với báo Le Monde rằng cần phải có hành động để ngăn chặn 48.000 cái chết của người Pháp mỗi năm: “Chúng tôi đang chỉ trích chính phủ vì chúng tôi nghĩ rằng những vấn đề y tế mà các nạn nhân của ô nhiễm phải gánh chịu là hậu quả của sự thất bại trong các hành động của chính quyền nhằm giải quyết ô nhiễm không khí.”

Vào ngày 15 tháng 2 năm 2017, Ủy ban Châu Âu đã gửi cảnh cáo cuối cùng tới Pháp vì đã không giải quyết các vi phạm liên tục về ngưỡng giới hạn NO2 ở 19 vùng chất lượng không khí, trong đó có Paris. Lời cảnh cáo tuyên bố: “Luật pháp của EU về chất lượng không khí xung quanh và làm sạch không khí tại châu Âu (Chỉ thị 2008/50/EC) đặt ra các ngưỡng chất lượng không khí không thể bị vượt quá ở bất cứ nơi nào trong Liên minh Châu Âu và buộc các quốc gia thành viên phải hạn chế sự phơi nhiễm của công dân đối với các chất có hại gây ô nhiễm không khí. Bất chấp nghĩa vụ này, chất lượng không khí vẫn còn là một vấn đề [tại Paris]… Trong tổng lượng NOx thải ra từ phương tiện giao thông, khoảng 80% đến từ các phương tiện chạy bằng diesel.”

Ô nhiễm không khí: vấn đề toàn cầu
Năm thành phố được đề cập ở trên chỉ tóm gọn về những gì đã trở thành vấn đề toàn cầu cho đến những năm 2010. Ô nhiễm không khí đã vượt qua hệ thống vệ sinh yếu kém và nguồn nước bẩn để trở thành yếu tố môi trường hàng đầu dẫn đến tử vong sớm trên thế giới. Theo ước tính mới nhất từ WHO thì có khoảng 4,2 triệu người chết vì ô nhiễm không khí ngoài trời hàng năm, lớn hơn nhiều so với con số của HIV/AIDS, bệnh lao và tai nạn xe hơi cộng lại. Theo số liệu của WHO năm 2018, 9 trong 10 người trên toàn thế giới hiện đang hít thở không khí chứa hàm lượng chất gây ô nhiễm cao. Unicef tin rằng hai tỷ trẻ em đang sống ở những khu vực có mức độ ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn chất lượng không khí theo khuyến nghị của WHO, trong khi gần 600.000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong hàng năm do các bệnh mà ô nhiễm không khí gây ra hoặc làm trầm trọng thêm.

Đây rõ ràng là một vấn đề không chỉ giới hạn ở châu Âu, Ấn Độ, Trung Quốc hay Mỹ. Theo cơ sở dữ liệu về ô nhiễm không khí xung quanh của WHO, thành phố ô nhiễm nhất thế giới vào năm 2016 là Zabol ở Iran. Đại diện của châu Phi trong “top 50 thành phố ô nhiễm nhất” là Bamenda ở Cameroon, Kampala ở Uganda và Kaduna ở Nigeria (mặc dù WHO rất muốn chỉ ra rằng “Châu Phi và một số khu vực ở Tây Thái Bình Dương thiếu trầm trọng dữ liệu về ô nhiễm không khí”). Cao độ lớn của các thành phố Nam Mỹ như Bogotá, Colombia cũng đồng nghĩa với việc chúng sẽ bị bóp ngạt bởi ô nhiễm khí thải diesel vốn bị mắc kẹt trong các bồn địa. Trên thực tế, gần như tất cả – 97% – các thành phố ở các nước thu nhập thấp và trung bình không đáp ứng được các hướng dẫn của WHO về chất lượng không khí.

Cả thế giới đều gặp vấn đề về khói bụi gây ô nhiễm không khí. Nếu có thứ gì đó có thể cháy được – và đặc biệt nếu nó là nhiên liệu hóa thạch – thì chúng ta sẽ vui vẻ đốt nó, và rất ít quan tâm đến những gì có trong làn khói hay việc nó sẽ đi về đâu. Vậy thì, có những gì ở trong làn khói đó? Và nó sẽ đi về đâu?

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: Tòa nhà cao tầng ở Sài Gòn bị che mờ bởi lớp bụi sáng ngày 19.11.2019.
Chụp bởi Thanh Nguyen/VnExpress

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Chương 1 “Đôi mắt trũng sâu” (Dean Koontz)

Published

on

By

Trích từ: Đôi mắt trũng sâu
Tác giả: Dean Koontz
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

Sáu phút đầu tiên của buổi sáng thứ Ba, trên đường về nhà sau buổi tập muộn cho chương trình biểu diễn mới, Tina Evans nhìn thấy con trai mình là Danny đang trong một chiếc xe của người lạ. Nhưng Danny chết đến nay hơn cả năm rồi.

Dự định mua một quart sữa và ổ bánh mì nguyên cám nên Tina dừng lại ở một cửa hàng mở cửa hai mươi bốn giờ cách nhà cô hai dãy phố và đậu xe trong màn bụi mờ vàng vọt của ánh sáng đèn hơi natri, bên cạnh một chiếc station wagon hiệu Chevrolet màu kem bóng loáng. Đứa bé trai ngồi ghế phía trước, đang chờ ai đó trong cửa hàng. Tina chỉ có thể nhìn thấy một bên mặt của cậu bé, đủ để cô há hốc nhận ra trong đau đớn.

Danny.

Cậu bé khoảng độ mười hai tuổi, bằng tuổi với Danny. Mái tóc đen dày như của Danny, cái mũi y hệt Danny, và một khuôn cằm khá thanh mảnh cũng giống Danny.

Tina thầm gọi tên con trai mình, như thể lo sợ nếu gọi to hơn sẽ làm dáng hình yêu dấu này tan biến.

Không biết cô đang chăm chú nhìn mình, cậu bé đưa một tay lên miệng và cắn nhẹ vào khớp đốt ngón tay cái, giống như Danny đã bắt đầu làm khoảng một năm trước khi chết. Tina đã cố gắng phá bỏ thói quen xấu đó của con nhưng không thành công.

Giờ đây khi quan sát đứa bé này, dường như sự giống nhau giữa nó và Danny còn hơn cả sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đột nhiên Tina nghe thấy từng tiếng thình thịch của tim mình, còn miệng thì trở nên khô khốc và chua chát. Cô vẫn chưa thích nghi được với nỗi mất mát đứa con độc nhất của mình, bởi vì bản thân không bao giờ muốn – hay thử – làm quen với nó. Việc chấp nhận sự giống nhau giữa cậu bé này với Danny rất dễ khiến Tina lầm tưởng rằng nỗi mất mát từ đầu đã không tồn tại.

Có thể… có thể cậu bé này chính là Danny. Tại sao lại không nhỉ? Càng suy xét thì câu chuyện càng có vẻ ít điên rồ hơn. Xét cho cùng, cô chưa bao giờ nhìn thấy thi thể của con. Cảnh sát và những người mai táng đã khuyên rằng không nên nhìn vì cơ thể Danny đã bị rách toạc và giập nát một cách khủng khiếp. Rợn người và kiệt sức vì đau buồn nên cô đã làm theo lời khuyên của họ, tang lễ của Danny đã được cử hành với quan tài đóng kín nên những người đưa tiễn không thể nhìn mặt cậu lần cuối. Biết đâu họ đã nhầm khi nhận diện thi thể. Danny có thể đã không chết trong vụ tai nạn. Có lẽ cậu chỉ bị một chấn thương nhẹ ở đầu nhưng nghiêm trọng vừa đủ để bị… mất đi ký ức. Đúng rồi. Mất trí nhớ. Có lẽ trong vô thức Danny đã rời khỏi chiếc xe buýt vỡ nát và được tìm thấy cách xa hiện trường vụ tai nạn hàng dặm đường, không có giấy tờ tùy thân, không thể nói cho ai biết mình là ai hay từ đâu đến. Hoàn toàn có thể, đúng không? Cô đã từng xem những câu chuyện tương tự trong các bộ phim. Chắc chắn rồi. Mất trí nhớ. Và nếu quả đúng như vậy thì có thể người ta đã đưa cậu bé đến một trung tâm cứu trợ trẻ em để bắt đầu cuộc sống mới. Và rồi bây giờ Danny ngồi trong một chiếc wagon hiệu Chevrolet màu kem, đang được mang đến trước mặt cô nhờ định mệnh và nhờ…

Ý thức được cái nhìn chằm chằm nên cậu bé quay mặt về phía Tina. Cô nín thở khi khuôn mặt ấy chầm chậm hướng về phía mình. Khi nhìn nhau qua hai lớp kính cửa sổ và ánh sáng kỳ lạ của đèn huỳnh quang, Tina có cảm giác như thể họ đang giao tiếp xuyên qua một vực thẳm mênh mông của không gian, thời gian và định mệnh. Nhưng rồi sự thật không thể khác, ảo ảnh của cô tan vỡ vì cậu bé không phải là Danny.

Rời mắt khỏi cậu bé và tập trung vào đôi tay, Tina nhận ra mình đang ghì chặt vô-lăng đến mức khiến tay tê nhức.
“Chết tiệt.”

Cô giận dữ với chính mình. Thường tự cho mình là người phụ nữ có trình độ, luôn điềm tĩnh, cứng cỏi và có thể đương đầu với bất kỳ thử thách nào trong đời, thế mà cuộc sống của Tina đã bị xáo động vì vẫn mãi không thể chấp nhận cái chết của Danny.

Theo sau cú sốc ban đầu, cô đã phải bắt đầu đối phó với sang chấn tâm lý hậu tang lễ. Dần dần, ngày qua ngày, tuần nối tiếp tuần, cô đã để Danny lại phía sau với nỗi tiếc thương, với cảm giác tội lỗi, với nước mắt pha lẫn nhiều cay đắng, nhưng cũng có lòng quyết tâm và kiên định. Trong năm vừa qua cô đã đạt được nhiều bước tiến trong sự nghiệp, và nhờ cậy guồng quay công việc tất bật như một loại thuốc morphine1 để làm vơi bớt nỗi đau cho đến khi vết thương lành hẳn.

Thế rồi một vài tuần mới đây thôi, cô lại bắt đầu rơi vào lại tình trạng khủng khiếp đã từng nhấn chìm mình ngay khi vừa nhận hung tin. Sự cự tuyệt của cô cương quyết đến mức phi lý. Một lần nữa, cô lại bị chấp niệm ám ảnh rằng con mình còn sống. Thời gian đúng ra phải làm vơi bớt nỗi thống khổ của cô, nay lại kéo cô quay về với sự đau thương. Cậu bé trong chiếc station wagon này không phải người đầu tiên cô lầm tưởng là Danny; trong những tuần gần đây, Tina đã nhìn thấy đứa con trai đã mất của mình trong nhiều chiếc xe khác, ở những sân trường mà cô lái xe ngang qua, trên tuyến đường dãy phố, hay giữa một rạp chiếu phim.

Ngoài ra, gần đây một giấc mơ về chuyện Danny vẫn còn sống cứ lặp đi lặp lại làm cho cô phiền muộn. Mỗi lần như vậy, Tina không thể đối mặt với thực tại suốt vài giờ sau khi thức giấc. Cô cứ ngờ ngợ giấc mơ là điềm báo trước rằng rồi một ngày Danny sẽ trở lại với mình, bằng cách nào đó mà cậu bé đã sống sót và sẽ sớm quay về trong vòng tay của cô.

Đó là một hình ảnh tưởng tượng ấm áp tuyệt vời, nhưng cô không thể duy trì nó được lâu. Mặc dù Tina luôn chống cự, nhưng sự thật nghiệt ngã vẫn dần dần len lỏi, liên tục hạ gục cô không thương xót, buộc cô phải thừa nhận rằng giấc mơ không phải là điềm báo. Tuy nhiên, Tina biết rằng khi giấc mơ lại đến với mình, cô sẽ tìm thấy nguồn hy vọng mới như đã từng có rất nhiều lần trước đây.

Nhưng chuyện đó không ổn chút nào.

Bệnh thật, cô tự mắng mình.

Cô liếc nhìn chiếc station wagon và thấy cậu bé vẫn đang nhìn mình chòng chọc. Rồi cô trừng trừng nhìn hai bàn tay đang ghì chặt của mình và cố buông tay khỏi vô-lăng.

Đau buồn có thể khiến con người ta phát điên. Cô đã nghe nói vậy và tin điều đó, nhưng không cho phép nó xảy đến với mình. Cô sẽ đủ cứng rắn để giữ kết nối với thực tại – cho dù thực tại có phũ phàng thế nào đi nữa. Cô không thể tự cho phép mình nuôi dưỡng hy vọng.

Cô yêu Danny bằng cả tâm can, nhưng cậu đã bỏ cô mà đi. Bị rách toạc và giập nát trong một tai nạn xe buýt với mười bốn cậu bé khác, chỉ là một nạn nhân của một thảm kịch lớn hơn. Biến dạng đến mức không thể nhận ra. Chết.

Lạnh lẽo.

Thối rữa.

Trong quan tài.

Dưới mộ sâu.

Mãi mãi.

Môi run rẩy. Cô muốn khóc, cần được khóc, nhưng đã kìm được.

Đứa bé trai trong chiếc Chevy đã mất hứng thú với cô. Cậu bé lại đang chăm chú nhìn vào mặt tiền của cửa hiệu tạp hóa và chờ đợi.

Tina rời chiếc Honda của mình. Trời đêm mát mẻ một cách dễ chịu, khí hậu khô-sa-mạc. Cô hít một hơi thật sâu và bước vào cửa hàng. Không khí trong đó làm cô lạnh đến thấu xương, cộng thêm ánh đèn huỳnh quang sáng chói và không gian quá trống trải nên khó có thể khơi gợi trí tưởng tượng.

Cô mua một quart sữa không béo và ổ bánh mì còn nguyên cám cắt mỏng sẵn cho người ăn kiêng, vì mỗi lát chỉ chứa nửa lượng calorie1 của một lát bánh mì thông thường. Tuy không còn là vũ công nữa mà làm việc ở khâu sản xuất chương trình trong hậu trường, nhưng cô vẫn cảm thấy thể chất và tâm lý mình tốt nhất khi cân nặng không vượt quá thời còn là một nghệ sĩ biểu diễn.

Năm phút sau cô đã về đến nhà. Đó là căn nhà trệt nằm khiêm tốn trong một khu phố yên tĩnh. Những cây ô-liu và tràm gió uể oải lay động trong làn gió nhẹ phảng phất của hoang mạc Mojave.

Tina vào bếp nướng hai lát bánh mì, phết lên đó một lớp mỏng bơ đậu phộng, rót một ly sữa không béo và ngồi vào bàn.

Dù đặc biệt kén ăn nhưng bánh mì nướng bơ đậu phộng là một trong những món ưa thích của Danny từ khi mới chập chững biết đi. Khi còn rất nhỏ cậu đã gọi nó là “pơ dậu phọng”.

Giờ đây vừa nhắm mắt vừa nhai bánh mì nướng, Tina vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của Danny – mới ba tuổi đầu, miệng và cằm lấm lem bơ đậu phộng – cười toe toét bập bẹ, Bánh mì nướng pơ dậu phọng nữa, nữa đi mà.

Giật mình mở mắt vì hình ảnh của con trai trong tâm trí cô quá sống động, nó giống ảo ảnh hơn là ký ức. Ngay lúc này cô không muốn nhớ rõ ràng đến vậy.

Nhưng đã quá muộn. Trái tim se thắt lại trong lồng ngực, môi bắt đầu run rẩy, và Tina gục đầu xuống bàn. Cô khóc.

*

Đêm hôm đó Tina lại mơ thấy Danny còn sống. Bằng cách nào đó. Ở một nơi nào đó. Còn sống. Và cậu cần cô.

Trong giấc mơ, Danny đang đứng ở rìa một hẻm núi sâu không đáy, còn Tina thì ở phía bên kia, đối diện với cậu, nhìn qua vực thẳm mênh mông. Danny đang gọi cô. Cậu bé cô đơn và sợ hãi. Tina đau khổ vì không thể nghĩ ra cách nào để đến với con mình. Trong khi đó, bầu trời ngày càng tối sầm lại; những đám mây dông to lớn như nắm tay siết chặt của những người khổng lồ trên trời đã vắt cạn tia sáng cuối ngày. Tiếng khóc của Danny hòa cùng giọng của cô càng lúc càng trở nên chói tai và tuyệt vọng, vì biết rằng nếu không gặp được nhau trước khi màn đêm buông xuống thì họ sẽ chia xa mãi mãi; trong màn đêm đang đến, một cái gì đó đang rình rập Danny, một thứ đáng sợ sẽ tóm chầm lấy nếu cậu chỉ có một mình giữa đêm tối. Đột nhiên, chớp giật đảo lộn bầu trời, rồi đến một tiếng sấm nổ kinh hoàng và màn đêm bất thình lình sập xuống tối đen, bóng tối mịt mù và vô tận.

Tina Evans ngồi thẳng dậy trên giường, cô tin chắc đã nghe thấy một tiếng động trong nhà. Nó không đơn thuần là tiếng sấm đến từ giấc mơ. Âm thanh mà cô nghe thấy phát ra khi cô đã tỉnh thức, một tiếng động thật sự chứ không phải do tưởng tượng.

Cô chăm chú lắng nghe, sẵn sàng tung chăn và bước khỏi giường. Im lặng ngự trị không gian.

Dần dần sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Thời gian gần đây cô vẫn hay bị giật mình. Đêm nay không phải là đêm đầu tiên cô bị huyễn hoặc về một kẻ đột nhập đang rình rập ngôi nhà của mình. Bốn hoặc năm lần trong suốt hai tuần qua, cô đã lấy khẩu súng lục ở tủ đầu giường và lục soát căn nhà, từng phòng một, nhưng không tìm thấy ai cả. Gần đây cô đã phải chịu rất nhiều áp lực cả về đời sống riêng tư lẫn nghề nghiệp. Có lẽ những gì nghe thấy đêm nay chỉ là tiếng sấm nổ ra trong giấc mơ.

Tina vẫn cảnh giác trong vài phút, nhưng đêm thật yên bình nên cuối cùng phải thừa nhận là trong nhà chỉ có mình cô. Khi nhịp tim chậm dần, cô lại nằm xuống gối.

Những lúc như vậy cô lại ước mình và Michael vẫn còn bên nhau. Cô nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nằm bên cạnh rồi xích lại gần anh trong bóng tối, đụng chạm, vuốt ve, áp người vào và nằm trong vòng tay che chở của anh. Michael sẽ dỗ dành và trấn an cho đến khi giấc ngủ của cô quay trở lại.

Dĩ nhiên, nếu cô và Michael đang ở trên giường ngay lúc này thì tình thế lại khác hoàn toàn. Họ sẽ không làm tình. Họ sẽ cãi nhau. Anh ta sẽ cưỡng lại tình cảm của cô, xua đuổi cô bằng cách gây sự. Anh ta sẽ khơi mào từ một chuyện không đâu rồi trêu tức cô cho đến khi chuyện cãi nhau vặt vãnh leo thang thành cuộc chiến hôn nhân. Đó là những gì đã diễn ra trong mấy tháng cuối cùng họ ở bên nhau. Anh ta luôn sôi sục tâm lý thù địch và kiếm cớ trút giận lên cô.

Tình yêu sâu đậm khiến Tina tổn thương và đau buồn khi mối quan hệ của họ đổ vỡ. Nhưng phải thừa nhận là cô có phần cảm thấy nhẹ nhõm vì cuối cùng nó cũng chấm dứt.

Cô đã mất cả con lẫn chồng trong cùng một năm, người đàn ông rồi đến thằng bé, đứa con trai nằm dưới mộ sâu và người chồng đổi dạ thay lòng. Trong mười hai năm hôn nhân, Tina đã trở thành một con người khác và phức tạp hơn chính cô trong ngày cưới của họ, nhưng Michael thì chẳng hề thay đổi chút nào – và lại không thích con người mới của cô. Họ bắt đầu như những người tình, chia sẻ mọi chuyện trong cuộc sống thường nhật – thành công và thất bại, niềm vui và sự thất vọng – nhưng khi ly hôn xong, họ đã trở thành hai người xa lạ. Mặc dù Michael vẫn đang sống trong thành phố, chỉ cách cô không đầy một dặm (1,6km), nhưng ở một khía cạnh nào đó, anh ta cũng xa cách và không thể chạm tới giống như Danny.

Cô thở dài cam chịu và mở to đôi mắt.

Bây giờ tuy không còn buồn ngủ nữa, nhưng Tina biết mình cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Cô cần phải tươi tắn và tỉnh táo vào sáng mai.

Ngày mai là một trong những ngày trọng đại nhất đời cô: 30 tháng Mười hai. Bình thường ngày đó chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Nhưng ngày 30 tháng Mười hai này chính là dấu mốc cho toàn bộ tương lai của cô dù thế nào chăng nữa.

Trong mười lăm năm, kể từ khi cô vừa tròn mười tám tuổi, hai năm trước khi kết hôn với Michael, Tina Evans đã sống và làm việc ở Las Vegas. Cô khởi nghiệp với vai trò vũ công – không phải showgirl1 mà là một vũ công thực thụ cho Lido de Paris, một chương trình biểu diễn trên sân khấu hoành tráng tại Khách sạn Stardust. Lido là một trong những chương trình biểu diễn xa hoa và lãng phí khó tin đến mức không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới ngoài Vegas, vì chỉ ở Vegas mới có một chương trình trị giá hàng triệu đô-la có thể được tổ chức từ năm này qua năm nọ mà chẳng quan tâm mấy đến lợi nhuận; những khoản tiền kếch xù như vậy đã được chi cho các màn dàn dựng công phu và những bộ trang phục trau chuốt, cũng như cho dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất đông đảo, miễn là doanh thu từ bán vé và đồ uống đủ bù cho chi phí sản xuất thì khách sạn thường vẫn hài lòng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì kỳ lạ vì chương trình chỉ là sự quyến rũ, chèo kéo với mục đích duy nhất là đưa vài ngàn người vào khách sạn mỗi đêm. Khi đến cũng như khi rời khỏi khán phòng, đám đông phải băng qua tất cả các bàn xí ngầu, bàn xì dách và cò quay roulette cũng như những dãy máy đánh bạc lấp lánh, và đó mới chính là nơi tạo ra lợi nhuận. Tina yêu thích công việc nhảy múa với Lido, và cô đã gắn bó hai năm rưỡi cho đến khi biết mình có thai. Cô đã xin nghỉ để dưỡng thai, sinh Danny và dành toàn bộ thời gian ở bên con trong những tháng đầu đời. Khi Danny được sáu tháng tuổi, Tina bắt đầu tập luyện để lấy lại vóc dáng và giành được vị trí trong dàn hợp xướng của một chương trình biểu diễn mới ở Vegas sau ba tháng miệt mài luyện tập. Cô đã xoay xở để vừa là một vũ công giỏi vừa là một người mẹ tốt, mặc dù điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng; thương yêu Danny và đam mê công việc của mình, cô đã chu toàn cả hai nhiệm vụ.

Tuy nhiên, cách đây năm năm, vào dịp sinh nhật lần thứ hai mươi tám của mình, cô bắt đầu nhận ra là mình chỉ còn, nếu may mắn, mười năm để làm một vũ công biểu diễn, nên cô đã quyết định lập nghiệp trong vai trò khác để tránh bị đào thải ở tuổi ba mươi tám. Cô nhận được vị trí biên đạo múa cho một chương trình kịch thời sự bèo bọt, một kiểu bắt chước rẻ tiền đầy ảm đạm so với Lido trị giá hàng triệu đô-la, và cuối cùng kiêm luôn cả phần việc của người lo trang phục. Rồi cô chuyển qua một loạt vị trí tương tự trong các rạp lớn hơn, sau đó là trong các khán phòng nhỏ với bốn hoặc năm trăm chỗ ngồi ở các khách sạn hạng hai với ngân sách chương trình hạn hẹp. Có lúc cô chỉ đạo kịch thời sự, rồi lại xoay qua sản xuất cái này chỉ đạo cái kia. Cô ngày càng được nể trọng trong thế giới giải trí dây mơ rễ má của Vegas, và tin rằng mình đang gần kề với thành công hơn bao giờ hết.

Gần một năm trước, ngay sau cái chết của Danny, Tina đã được mời chào công việc chỉ đạo và hợp tác sản xuất một chương trình khổng lồ trị giá mười triệu đô-la sẽ được dàn dựng trong khán phòng chính hai-ngàn-chỗ-ngồi của Golden Pyramid, một trong những khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất ở Dải1. Lúc đầu, quả thật trái ngang vì một cơ hội tuyệt vời như thế lại đến trước khi cô có đủ thời gian để khâu vá vết thương của mình, như thể định mệnh thật quá hời hợt và vô cảm khi cho rằng có thể an bài và bù đắp cho cái chết của Danny chỉ bằng cách trao tặng cho cô cơ hội việc làm trong mơ. Thế nhưng, dù đang cay đắng và chán nản – hoặc cũng có thể là vì – cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và vô dụng, cô đã nhận lời.

Chương trình mới có tên gọi là Magyck! bởi vì các tiết mục tạp kỹ xen lẫn những tiết mục nhảy múa đều là các màn ảo thuật, vả lại bản thân những tiết mục đồng diễn này tập trung vào các hiệu ứng đặc biệt công phu và được xây dựng xung quanh chủ đề siêu nhiên. Lắt léo chữ nghĩa trong tên gọi không phải là ý tưởng của Tina, nhưng hầu hết phần còn lại của chương trình là sáng tạo của riêng cô, và cô vẫn luôn hài lòng với thành quả của mình. Cũng kiệt sức nữa. Cả năm nay vụt trôi với mười hai đến mười bốn giờ làm việc mỗi ngày, chẳng có kỳ nghỉ mà cũng hiếm khi được nghỉ cuối tuần. Tuy nhiên, dù bận tâm cho Magyck! nhiều như thế, cô vẫn hết sức khó khăn trong việc chấp nhận cái chết của Danny. Cách đây một tháng, lần đầu tiên cô nghĩ rằng cuối cùng mình cũng đã bắt đầu vượt qua được nỗi đau buồn. Cô có thể nhớ đến con mà không tuôn nước mắt, đến thăm mộ con mà không còn bị mất tự chủ vì tiếc thương. Sau khi cân nhắc mọi chuyện, cô cảm thấy khá hơn, thậm chí có phần nào đó phấn khởi. Cô sẽ không bao giờ quên Danny, đứa trẻ ngọt ngào đó là một phần to lớn của cô, nhưng cô không còn phải sống cuộc đời quanh quẩn với khoảng trống mà cậu để lại. Vết thương lòng đã lành lặn tuy vẫn còn nhạy cảm với nỗi đau.

Đó là suy nghĩ của Tina một tháng trước đây. Trong một hoặc hai tuần qua cô ngày càng tiến bộ và dần học cách chấp nhận sự thật. Thế nhưng những giấc mơ mới lại bắt đầu, hơn nữa chúng còn tồi tệ hơn hàng loạt cơn ác mộng đã đến với cô ngay sau khi Danny chết.

Có lẽ những trăn trở về phản ứng của công chúng với Magyck! khiến cô nhớ lại mối lo âu lớn hơn về Danny.

Trong chưa đầy mười bảy giờ nữa – vào lúc tám giờ đêm ngày 30 tháng Mười hai – Khách sạn Golden Pyramid sẽ trình diễn một buổi ra mắt đặc biệt dành cho khách mời VIP1 xem Magyck!, và ngay đêm sau, đêm Giao thừa, chương trình sẽ mở cửa đón công chúng. Nếu phản ứng của khán giả nhiệt tình và tích cực như Tina hy vọng, tương lai tài chính của cô sẽ được đảm bảo, vì theo hợp đồng cô sẽ nhận được hai chấm năm phần trăm trên tổng doanh thu, trừ doanh số bán rượu, sau năm triệu đầu tiên. Nếu Magyck! thành công và chiếm lĩnh sân khấu trong bốn hoặc năm năm, như đôi khi xảy ra với các chương trình thành công khác ở Vegas, cuối cùng cô sẽ lên hàng triệu phú. Tất nhiên, nếu sản phẩm là một thất bại, nếu nó không làm thỏa mãn khán giả, sự nghiệp của cô có thể sẽ xuống dốc và trở lại làm việc trong các rạp nhỏ một lần nữa. Ngành nghề biểu diễn, dù dưới bất kỳ hình thức nào, là một công việc tàn nhẫn.

Rõ ràng cô có lý do xác đáng để mà lo lắng. Nỗi sợ hãi đến ám ảnh của cô về những kẻ đột nhập vào nhà, những giấc mơ đầy bất an về Danny, sự đau buồn trở lại của cô – tất cả những điều này có thể nảy sinh từ nỗi trăn trở về Magyck!. Nếu quả đúng như vậy thì các triệu chứng đó sẽ biến mất ngay sau khi số phận của chương trình được định đoạt. Chỉ cần cố gắng vượt qua trong vài ngày tới, với tâm trạng phần nào thanh thản sau đó, cô có thể tự chữa lành vết thương cho mình.

Trước tiên cô buộc phải ngủ đôi chút. Vào lúc mười giờ sáng mai, cô có lịch hẹn gặp hai đại lý điều hành tour đang có ý định đặt trước tám ngàn vé cho Magyck! trong ba tháng đầu biểu diễn. Sau đó vào lúc một giờ, toàn bộ dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất sẽ tập hợp lại để tổng duyệt lần cuối.

Cô giũ gối, trải lại khăn giường và tròng vào chiếc áo ngủ ngắn của mình. Cô cố gắng thư giãn bằng cách nhắm mắt lại và hình dung một cơn thủy triều đêm đang dịu dàng vỗ về bờ biển ánh màu bàng bạc.

Cạch!

Cô ngồi phắt dậy trên giường.

Có một thứ gì đã bị ngã đổ đâu đó trong nhà. Hẳn nó phải là một vật thể hình dạng to lớn bởi vì âm thanh phát ra đủ lớn để đánh thức cô dậy mặc dù đã bị các bức tường ngăn cách bao bọc.

Dù có là gì đi nữa… nó cũng không đơn giản tự ngã đổ. Nó đã bị va đụng. Những vật thể to nặng không thể tự ngã đổ trong căn phòng vắng.

Cô nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe. Một âm thanh khác nhẹ hơn theo sau tiếng động trước. Tuy kéo dài không đủ lâu để Tina xác định được nguồn gốc nhưng nó có vẻ gì đó lén lút. Lần này mối đe dọa không phải do cô tưởng tượng ra nữa. Ai đó thực sự đang ở trong nhà.

Cô bật đèn ngay khi ngồi bật dậy trên giường. Mở ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường. Khẩu súng lục đã được lắp đạn sẵn. Cô mở hai chốt an toàn.

Dừng lại nghe ngóng một lát.

Trong sự tĩnh mịch của đêm sa mạc, Tina tưởng như mình có thể cảm nhận được kẻ xâm nhập cũng đang lắng nghe, lắng nghe cô.

Cô bước xuống khỏi giường và xỏ chân vào đôi dép lê.

Cầm súng bằng tay phải, cô lặng lẽ đến bên cửa phòng ngủ.

Cô có cân nhắc việc gọi cảnh sát, nhưng sợ sẽ tự biến mình thành một kẻ ngốc. Mọi chuyện sẽ ra sao nếu họ đến, với đèn chớp nháy và còi hụ inh ỏi – và rồi chẳng tìm thấy ai? Suốt hai tuần qua nếu cô cứ viện đến cảnh sát mỗi khi nghĩ rằng mình nghe thấy một kẻ rình mò trong nhà, có lẽ họ chẳng mất nhiều thời gian để kết luận cô là một kẻ thần kinh có vấn đề. Vì kiêu hãnh nên Tina không thể chịu đựng nổi suy nghĩ mình xuất hiện với vẻ hoảng hốt trước mặt hai gã cớm có nụ cười nhăn nhở, để rồi sau đó trong khi nhâm nhi bánh rán và cà phê, họ sẽ đem cô ra làm trò cười. Cô phải tự mình lục soát ngôi nhà, chỉ mình cô mà thôi.

Hướng khẩu súng lên trần nhà, cô lên đạn.

Hít một hơi thật sâu, cô mở khóa cửa phòng ngủ và bước nhẹ ra hành lang.

(Còn tiếp)

Đọc bài viết

Trích đăng

Truyện ngắn: Thằng Lùn – trích Xứ tháng Mười

Trích truyện ngắn “Thằng lùn” trong tuyển tập “Xứ tháng Mười” của Ray Bradbury.

Published

on

By

Trích từ: Xứ tháng Mười
Tác giả: Ray Bradbury
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

THẰNG LÙN

Aimee ngắm bầu trời, lặng lẽ.

Đêm nay là một trong những đêm hè oi ả im lìm. Sân bến  tàu  bê-tông  vắng  bóng  người,  những  bóng  đèn  vàng, trắng, đỏ giăng mắc cháy sáng như bầy côn trùng lơ lửng bên trên khoảng không đông đặc. Những người quản lý đủ loại gian hàng trò chơi hội chợ đứng bất động, những xác ướp bằng sáp đang tan chảy, không nói năng, mắt nhìn đờ đẫn, không trừ một ai.

Hai khách đã đi qua đây từ một giờ trước. Hai kẻ lẻ loi ấy giờ đang ngồi trên tàu lượn cao tốc, la hét như điên khi đoàn tàu xé màn đêm chói lóa lao thẳng xuống, quay tròn, quay tròn những vòng vô nghĩa.

Aimee chầm chậm đi băng qua bãi biển, mấy vòng gỗ ném cọc bám nhớp nháp trong hai bàn tay. Cô dừng lại sau quầy bán vé trước cửa MÊ CUNG NHÀ KÍNH. Cô thấy bóng mình biến dạng  gớm  guốc  trong  ba  tấm  gương  dợn  sóng bên ngoài Mê Cung. Một ngàn bản sao mệt mỏi của bóng cô tan biến vào lối đi phía bên kia, những ảnh hình nóng hổi giữa vùng gương lạnh trong veo.

Cô bước vào trong quầy vé đứng nhìn hồi lâu cần cổ gầy guộc của Ralph Banghart. Hắn cắn giữa hai hàm răng dài ố vàng lởm chởm một điếu xì-gà chưa châm lửa trong khi bày bộ bài tơi tả ra chơi một mình trên kệ quầy.

Lúc  chiếc  tàu  lượn  quay  rú  lên  rồi  lại  lao  xuống  kinh động như núi lở, cô sực nhớ ra và lên tiếng.

“Loại người nào thích lên tàu lượn cao tốc?”

Ralph Banghart nhấm nhá điếu xì-gà cả ba mươi giây. “Những kẻ muốn chết. Tàu lượn là dễ chết nhất.” Hắn ngồi lắng nghe tiếng súng trường nổ mơ hồ vọng ra từ gian trò chơi bắn súng. “Cái nghề làm hội chợ chó chết này đúng là điên rồ. Chẳng hạn như thằng lùn kia. Cô gặp nó chưa? Tối nào cũng vậy, bỏ một đồng xu, chạy vào Mê Cung Nhà Kính ra tít đằng sau, tới buồng Khổng Lồ. Rồi cô sẽ thấy thằng lùn tịt này chạy thẳng tới đó cho coi. Thiệt tình!”

“Ờ, đúng,” Aimee thốt lên, cô đã nhớ ra. “Em luôn thắc mắc không biết làm người lùn thì cảm giác ra sao. Gặp người lùn nào em cũng thấy thương hại.”

“Tôi cứ muốn tóm lấy nó mà co kéo thun giãn chơi.” “Đừng nói thế chứ!”

“Trời đất,” Ralph đưa bàn tay rảnh rỗi vỗ đùi cô. “Lúc nào cô cũng có thái độ kỳ cục như vậy với những thằng cha thậm chí cô còn chưa gặp.” Hắn lắc đầu cười khúc khích.

“Nó với bí mật của nó. Chỉ có điều nó không biết là tôi biết đó nghe? Thế mới hay chứ!”

“Tối nay nóng.” Cô bồn chồn xóc xóc mấy vòng gỗ lớn trong những ngón tay ướt mồ hôi.

“Đừng  lái  qua  chuyện  khác.  Nó  sẽ  tới  đây,  dù  nắng hay mưa.”

Aimee dợm bước đi.

Ralph nắm lấy khuỷu tay cô. “Này! Cô khùng sao chứ? Không muốn thấy thằng lùn đó à? Suỵt!” Ralph quay lại. “Nó đến rồi kìa!”

Chỉ có mỗi bàn tay Thằng Lùn, đen đúa và lông lá, hiện ra với một đồng xu bạc khi cố với lên ô cửa quầy vé. “Một vé!” Một tiếng nói lanh lảnh như giọng trẻ con.

Bất giác, Aimee chồm tới.

Thằng Lùn ngước nhìn cô, rành rành một gã xấu xí, tóc đen, mắt đen bị lèn chặt trong máy ép, bị vắt nặn và nhồi nhét cho nhỏ choắt thêm, từng chút một, bẻ quặp lui tới, oằn oại ngược xuôi, cho đến khi chỉ còn một đống phẫn nộ nhợt nhạt, bộ mặt sưng húp không hình thù, bộ mặt mà ta phải mở căng mắt tỉnh thức lúc hai và ba và bốn giờ sáng, nằm bẹp trên giường, chỉ có cơ thể say ngủ.

Ralph xé chiếc vé màu vàng làm đôi. “Một vé!”

Dường như hoảng sợ vì cơn dông sắp đến, Thằng Lùn kéo chặt ve áo choàng đen quanh cổ rồi lắc lư hấp tấp bước đi. Một thoáng sau, mười ngàn thằng lùn lang thang lạc loài bò quằn quại giữa những mặt gương, như một đàn bọ hung đen cuống quýt, rồi biến mất.

“Mau!”

Ralph ôm cứng Aimee rồi lôi cô theo hành lang âm u đằng sau những tấm gương. Cô thấy tay hắn vỗ về cô suốt quãng đường đi ngược xuyên qua đường hầm dẫn tới một vách ngăn mỏng có lỗ nhỏ quan sát.

“Chuyện này hay,” hắn cười khúc khích. “Đó… nhìn đi.” Aimee ngần ngừ, rồi úp mặt vào vách ngăn.

“Cô… thấy… nó… không?” Ralph thì thào.

Aimee nghe tim mình đập dồn. Trọn một phút trôi qua. Trong  đó  Thằng  Lùn  đứng  giữa  căn  buồng  nhỏ  màu xanh. Mắt gã nhắm nghiền. Gã chưa sẵn sàng mở mắt nhìn. Giờ thì gã mở hai mi mắt lên rồi ngắm tấm gương lớn trước mặt. Và điều nhìn thấy được trong gương khiến gã mỉm cười. Gã nháy mắt, gã xoay tròn, gã đứng quay sang một bên, gã vẫy tay, gã cúi chào, gã lóng ngóng nhún nhảy khẽ khàng.

Và tấm gương lặp lại từng chuyển động với đôi cánh tay dài ngoằng, với một thân hình cao thêm, cao thêm, với cái nháy mắt to lớn và bóng hồi vọng khổng lồ của điệu múa, kết thúc bằng cái cúi chào vĩ đại!

“Tối nào cũng một trò đó,” Ralph thầm thì vào tai Aimee. “Hay thật đấy chứ?”

Aimee  quay  lại,  hướng  gương  mặt  bất  động  về  phía Ralph nhìn chăm chăm một hồi lâu, không nói năng gì. Rồi cứ như không tự kiềm chế được, cô từ từ quay đầu rất chậm, rất chậm trở lại lỗ quan sát căng mắt nhìn lần nữa. Cô nín thở. Cô thấy đôi mắt mình bắt đầu rướm lệ.

Ralph vừa huých nhẹ cô vừa thì thào.

“Này, thằng oắt lùn đó đang làm gì lúc này?

Nửa giờ sau, hai người cứ uống cà phê trong quầy vé mà chẳng ai nhìn ai khi Thằng Lùn từ trong những tấm gương đi ra. Gã bỏ mũ xuống và dợm bước tới quầy vé nhưng thấy Aimee lại hấp tấp bỏ đi.

“Anh ta muốn cái gì đó,” Aimee nói.

“Đúng.” Ralph dí nát điếu thuốc, vẻ bâng quơ. “Tôi còn biết nó muốn cái gì nữa kìa. Nhưng nó không dám hỏi. Có một đêm nó nói léo nhéo lí nhí, ‘Tôi chắc là mấy tấm gương đó đắt tiền lắm.’ Ôi, tôi giả ngu. Tôi nói, Ờ, đắt lắm. Coi bộ nó nhìn tôi như chờ đợi, rồi thấy tôi không nói gì nữa thì nó đi về, nhưng đêm sau nó lại hỏi. ‘Tôi chắc mấy tấm gương đó cũng phải đến cả năm chục, cả trăm đô?’ Chắc là thế, tôi nói vậy. Rồi tôi chia bài ra chơi một mình.”

“Ralph,” cô gọi.

Hắn ngước lên. “Sao cô nhìn tôi kỳ vậy?”

“Ralph,”  cô  nói,  “sao  không  bán  cho  anh  ta  một  tấm gương nào dư thừa của anh đi?”

“Này, Aimee, tôi có xía vào chuyện quản lý gian hàng ném vòng của cô không?”

“Mấy tấm gương đó bao nhiêu tiền?”

“Tôi có thể mua hàng xài rồi với giá ba mươi lăm đô.” “Thế sao anh không chỉ cho anh ta biết chỗ mua một tấm?”

“Aimee, cô khờ lắm.” Hắn đặt tay trên đầu gối cô. Cô nhích đầu gối ra. “Cho dù tôi chỉ nó chỗ mua thì cô tưởng nó sẽ mua sao? Không đời nào. Lý do? Nó mắc cỡ. Đấy, nó mà biết tôi thấy nó rửng mỡ trước tấm gương trong buồng Khổng Lồ thì nó sẽ không bao giờ quay lại đây đâu. Nó cứ làm bộ như đi vào Mê Cung cho lạc chơi, giống như mọi người. Vờ như nó chẳng quan tâm đến cái buồng đặc biệt ấy. Lúc nào cũng chờ dịp gian hàng này vắng khách, lúc tối khuya, để nó độc chiếm cái buồng cuối cùng đó. Những lúc gian hàng này đắt khách thì có trời mới biết đêm đêm nó giải khuây bằng cái trò gì. Không đâu, xin thưa, nó không dám mua gương ở bất kỳ đâu. Nó không hề có bạn bè, mà có đi chăng nữa nó cũng chẳng dám nhờ họ mua giúp một thứ như vậy. Sĩ diện mà, xin thề, sĩ diện. Lý do duy nhất khiến nó nói chuyện đó với tôi là vì tôi thực tế là người độc nhất mà nó quen biết. Hơn nữa, nhìn nó coi…, làm sao nó có đủ tiền mua tấm gương như vậy được. Nó có thể để dành, nhưng một thằng lùn thì làm đếch gì ra tiền mà để dành? Không ở trong gánh xiếc thì thứ như nó cả đống ngoài kia, đầy đường đầy chợ.

“Em thấy kỳ lạ. Em thấy buồn.” Aimee nhìn đăm đăm ra lối đi lót ván vắng ngắt. “Anh ta ở đâu vậy?”

“Dưới  khu  Flytrap  ngay  bờ  biển.  Ở  Ganghes  Arms. Mà sao?”

“Em si tình anh chàng đó mất rồi, nếu anh muốn biết.” Hắn ngoác miệng cười, răng vẫn cắn điếu xì-gà. “Aimee,”

Hắn nói. “Cô đúng là tiếu lâm hết sức.”

***

Một đêm ấm, một sáng nóng, rồi một trưa cháy bỏng. Mặt biển chói lóa kim tuyến và thủy tinh.

Aimee tản bộ tới, từ các lối đi chật hẹp trong hội chợ ra ngoài biển nóng, men theo bóng râm, tay ôm năm sáu tờ tạp chí bạc màu vì nắng. Cô mở cánh cửa bong tróc, gọi vọng vào vũng tối hầm hập. “Ralph?” Cô lần bước qua hành lang thâm u sau những tấm gương, gót giày nhấn xuống sàn gỗ. “Ralph?” Có người uể oải trở mình trên chiếc giường xếp vải bố.

“Aimee hả?”

Hắn ngồi dậy rồi vặn một bóng đèn tù mù vào đui đèn trên chiếc bàn có gương soi. Mắt nhắm mắt mở, hắn nheo nheo nhìn cô. “Kìa, trông cô hệt như con mèo vừa nuốt được con chim.”

“Ralph, em tới về chuyện gã tí hon!”

“Thằng lùn, Aimee, thằng lùn, cưng ơi. Tí hon là do tế bào, bẩm sinh đã vậy. Còn lùn dị dạng là do tuyến nội tiết…” “Ralph!  Em vừa biết được một chuyện tuyệt hay về anh ta!”

“Trời ơi là trời,” hắn nói với hai bàn tay đang chìa ra như làm chứng cho điều hắn không tin. “Cái cô này! Ai quan tâm cóc khô gì tới một thằng lùn xấu xí…”

“Ralph!” Cô chìa mấy tờ tạp chí ra, mắt sáng lên. “Anh ta là nhà văn! Ai mà nghĩ ra chứ!”

“Hôm nay nóng bức quá rồi, nghĩ ngợi làm chi.” Hắn lại ngả lưng ra rồi quan sát cô, miệng thoáng cười.

“Em tình cờ đi ngang qua Ganghes Arms, và gặp ông Greeley, ông quản lý. Ông ta bảo máy chữ gõ rào rào cả đêm trong phòng ông Lớn!”

“Thằng lùn đó mà tên là Lớn?” Ralph buột miệng cười rống lên.

“Viết truyện trinh thám đăng báo để sống qua ngày. Em tìm được một truyện của anh ta ở chỗ bán tạp chí cũ, và rồi, Ralph, biết gì không?

“Tôi đang mệt đây, Aimee.”

“Anh chàng nhỏ bé này có tâm hồn bao la như trời đất; anh ta có tất cả trong đầu!”

“Thế sao nó không viết cho các tạp chí lớn đi, cô nói tôi nghe coi?”

“Chắc là vì anh ta e ngại… Chắc anh ta không tự biết là có thể làm như thế. Chuyện thường tình. Người ta thường không tự tin vào bản thân. Nhưng nếu anh ta chỉ cần thử thôi, em dám cá anh ta có thể bán truyện ngắn cho bất kỳ đâu trên đời.”

“Thế sao nó không giàu có, tôi hỏi cô đấy?”

“Chắc là vì anh ta chưa nghĩ tới do cuộc sống khổ sở. Ai mà chẳng thế? Thân phận nhỏ nhoi thế kia? Em cho là khó lòng nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài chuyện quá nhỏ nhoi và chuyện sống trong căn hộ một buồng rẻ tiền.”

“Xì!” Ralph cười nhạo. “Cô nói cứ như là bà trùm từ thiện.” Aimee  đưa  tờ  tạp  chí  lên.  “Để  em  đọc  anh  nghe  một đoạn truyện trinh thám của anh ta. Truyện có đủ súng ống và du côn, nhưng do một người lùn thuật lại. Em dám cá là mấy tay biên tập chẳng bao giờ đoán được tác giả này biết rõ mình đang viết cái gì. Ồ, xin anh đừng ngồi ì ra đó, Ralph! Nghe này.”

Và cô bắt đầu đọc to.

Tôi là một thằng lùn và tôi là kẻ giết người. Hai chuyện này không thể tách rời. Cái này là nguyên nhân của cái kia.

Kẻ  bị  tôi  giết  thường  chặn  tôi  giữa  đường  khi  tôi  hai mươi mốt tuổi, đưa hai tay nhấc bổng tôi lên, hôn trán tôi, hát ư ử loạn xạ những bài ru con, lôi tôi vào chợ, ném tôi lên mấy chiếc cân và quát tháo với ông hàng thịt “Cân cho đàng hoàng! Đừng có lấy ngón cái mà đè đĩa cân nghe chưa!”

Bạn có hiểu cuộc đời cả hai đã đi tới kết cục giết người ra sao không? Thằng ngu đó, kẻ hành hạ thân xác và tâm hồn tôi đó!

Còn thời thơ ấu của tôi: cha mẹ tôi đều nhỏ con, không hẳn là lùn, không hẳn. Của thừa kế của cha tôi đã cho cả gia đình sống trong một ngôi nhà búp bê, một thứ kỳ lạ giống như chiếc bánh cưới phủ kem xoắn ốc trắng tinh – những căn phòng nhỏ xíu, bàn ghế nhỏ xíu, tranh ảnh nhỏ xíu, cả đồ trang sức chạm đá, cả những miếng hổ phách có côn trùng mắc kẹt bên trong, tất cả đều tí tẹo, tí tẹo, tí tẹo! Thế giới Khổng Lồ xa vời quá, một tin đồn xấu xa bên kia bức tường vườn nhà. Tội nghiệp mẹ cha! Họ chỉ muốn những gì tốt đẹp nhất cho tôi. Họ giữ riết tôi như chiếc lọ sứ, nhỏ bé và quý báu, trong thế giới của kiến, trong những căn phòng tổ ong, trong thư viện li ti, trong mảnh đất có những cửa cái to bằng con bọ hung và cửa sổ to bằng con bướm mối. Mãi tới bây giờ tôi mới thấy được tầm vóc loạn tâm thần kỳ vĩ của cha mẹ tôi! Họ hẳn đã mơ tưởng sẽ sống đời đời, luôn giữ gìn tôi như con bướm khô trong hộp kính. Nhưng cha tôi chết trước, rồi một đám cháy nuốt chửng ngôi nhà tí hon, cái tổ ong bầu ấy, cùng mọi tấm gương soi bé bằng con tem và căn phòng bằng lọ muối bên trong. Mẹ cũng chết luôn! Và còn lại tôi một mình, nhìn tàn lửa rơi, bị quẳng ra ngoài thế giới của Quái Vật và Người Khổng Lồ, bị thực tế như trận đất lở cuốn phăng, quăng quật, lăn lóc, và nát bấy dưới chân vách núi!

Tôi phải mất một năm mới thích ứng được. Không thể nào nghĩ tới một nghề với chút công việc phụ thêm. Dường như đời này không có chỗ nào dành cho tôi. Và rồi, một tháng trước, Kẻ Khủng Bố đó bước vào đời tôi, ấn một cái mũ đàn bà lên mái đầu khờ khạo của tôi, và hét với đám bạn: “Tao muốn tụi bay xem con lùn này!”

Aimee ngừng đọc. Ánh mắt cô bồn chồn và tờ tạp chí run rẩy khi cô đưa cho Ralph. “Anh đọc hết đi. Phần còn lại là câu chuyện giết người. Viết được lắm. Anh thấy vậy không? Lùn mà hay! Lùn mà hay!”

Ralph quẳng tờ tạp chí qua một bên rồi uể oải châm điếu thuốc. “Tôi thích đọc truyện cao bồi hơn.”

“Ralph, anh phải đọc truyện này. Cần có người nói cho ông Lớn biết là anh ta viết tốt lắm và khuyến khích anh ta viết tiếp.”

Ralph nhìn cô, đầu nghiêng một bên. “Thế ai sẽ nói cho nó biết? Chà chà, chúng ta là cánh tay mặt của Đấng Cứu Thế đấy à?”

“Đừng nói cái giọng đó chứ!”

“Tỉnh lại đi, đồ khùng! Nếu tự nhiên cô ào ào nói ra điều đó, nó sẽ nghĩ cô đang bố thí lòng thương hại. Nó sẽ gào rống xua đuổi cô cút khỏi nhà nó.”

Aimee ngồi xuống, ngẫm nghĩ từ tốn lại, cố xoay trở vấn đề xem xét mọi góc cạnh. “Em không biết. Có lẽ anh đúng. Ồ, không phải lòng thương hại đâu, Ralph, thật đó. Nhưng có thể đối với anh ta thì giống như thế. Em phải cẩn thận hết sức.”

Hắn nắm vai cô lắc tới lắc lui, mấy ngón tay bấu nhẹ. “Trời, trời, mặc kệ nó đi, tôi chỉ yêu cầu cô điều đó; cô sẽ hao tâm tốn sức mà chỉ thêm rắc rối chứ chẳng được gì. Trời, Aimee, chưa hề thấy cô sốt sắng chuyện gì như chuyện này. Thôi, hôm nay nghỉ làm đi chơi, tôi với cô, đi ăn trưa, đổ ít xăng, rồi phóng xe dọc bờ biển đi xa hết cỡ, bơi lội, ăn chiều, xem phim gì hay hay ở thị trấn nhỏ đâu đó… bỏ mẹ cái hội chợ này đi, được không? Một ngày vui đã đời không lo toan. Tôi đã để dành được ít tiền đây rồi.”

“Đó là vì em thấy anh ta khác biệt,” cô nói, mắt nhìn sâu vào bóng tối. “Đó là vì anh ta là người đáng nể mà tụi mình không thể nào bằng được…, anh và em và tất cả lũ chúng ta ở bến tàu này. Ngộ thật, ngộ thật đó. Cuộc đời đã định cho anh ta chẳng được tích sự gì ngoài những gánh xiếc rong, thế mà anh ta lại ở cái xứ này. Và cuộc đời đã định cho tụi mình không phải làm trong gánh xiếc rong, nhưng tụi mình cũng lại ở đây, thế đấy, ở tít tận đây trên cái cầu tàu ngoài biển này. Nhiều lúc tưởng chừng xa bờ đến cả triệu dặm. Ralph, làm sao tụi mình có thân xác này nhưng anh ta lại có được trí óc và có thể nghĩ ra nhiều điều mà tụi mình thậm chí không bao giờ ngờ tới?”

“Nãy giờ tôi nói gì cô đâu có nghe!” Ralph nói.

Cô ngồi còn hắn đứng bên trên, tiếng nói xa vắng. Mắt cô khép hờ và hai bàn tay cô đặt trên đùi, run rẩy.

“Tôi không thích vẻ mặt tinh ranh của cô lúc này,” cuối cùng hắn lên tiếng.

Aimee từ từ mở ví lấy ra một cuộn giấy bạc rồi bắt đầu đếm. “Ba mươi lăm, bốn mươi đô la. Đủ. Em sẽ điện thoại cho Billie Fine nhờ ông ta gửi một tấm gương biến dạng loại cao tới nhà ông Lớn nhỏ con ở Ganghes Arms. Đấy, em sẽ làm thế!”

“Cái gì?”

“Thử nghĩ xem, Ralph, anh ta sẽ sung sướng biết bao khi có tấm gương đó trong phòng riêng bất cứ khi nào anh ta cần tới. Em mượn điện thoại anh nhé?”

“Cứ việc, đúng là khùng.”

Ralph quay lưng thật nhanh rồi bỏ đi về cuối đường hầm. Tiếng cửa đóng sầm.

Aimee chờ một lúc rồi đưa tay nhấc điện thoại, bắt đầu quay số, chậm chạp đến đau khổ. Cô ngừng lại giữa những con số, nín thở, nhắm mắt, tự hỏi thầm nếu trót mang phận nhỏ nhoi trên đời này, và nếu một ngày có người gửi cho một tấm gương đặc biệt thì sẽ như thế nào. Một tấm gương trong phòng riêng nơi ta có thể ẩn náu cùng chiếc bóng phản chiếu to lớn của bản thân, chói sáng, và viết hết truyện này đến truyện khác, không cần phải bước ra thế gian nếu không cần thiết. Khi đó, một mình, cùng ảo ảnh tuyệt diệu toàn vẹn hình hài trong căn phòng ấy thì sẽ như thế nào. Điều này sẽ khiến ta buồn hay vui, nó sẽ giúp ích hay là phá hoại chuyện văn chương? Cô hết ngẩng lại cúi đầu, suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Ít ra thì như thế sẽ chẳng có ai khinh thường ta. Đêm đêm, có thể lén thức giấc lúc ba giờ sáng lạnh lẽo, ta có thể nháy mắt rồi nhảy múa vòng quanh rồi mỉm cười rồi vẫy tay với chính mình, vụt lớn, vụt lớn, cao đẹp ngời ngời trong tấm gương rực rỡ.

Tiếng nói vang trong điện thoại, “Billie Fine đây.” “Ôi, Billie!” cô thổn thức.

Đêm tràn lấp cầu tàu. Biển đen gầm gừ dưới những tấm ván. Ralph ngồi lạnh tái trong chiếc quan tài bằng kính của mình,  tay  chia  bài,  mắt  nhìn  đăm  đăm,  môi  mím  chặt.  Ở khuỷu tay hắn, một kim tự tháp tàn thuốc cứ cao dần. Khi Aimee đi men dưới hàng bóng đèn màu xanh và đỏ rực, tươi cười, vẫy chào, hắn vẫn cứ từ từ, chầm chậm đặt từng quân bài xuống. “Chào Ralph!” cô gọi.

“Chuyện tình ra sao rồi?” – Hắn vừa hỏi vừa uống nước đá lạnh trong chiếc cốc bẩn. “Các chàng minh tinh, tài tử thế nào?”

“Em vừa đi mua chiếc mũ mới,” cô mỉm cười đáp. “Ôi, em thấy sướng quá! Anh biết tại sao không? Ngày mai Billie Fine sẽ cho gửi một tấm gương đi! Ta mà thấy được nét mặt của anh chàng nhỏ bé đó thì hay phải biết!”

“Tôi không giỏi tưởng tượng đâu.”

“Ối trời, bộ anh tưởng em sẽ lấy anh ta làm chồng hay sao.”

“Sao lại không? Bỏ nó vào va-li xách đi khắp nơi. Thiên hạ sẽ hỏi, Chồng cô đâu? Cô chỉ cần mở nắp ra, la lên, Nó đây này! Giống cái kèn bằng bạc. Lôi nó ra khỏi hộp bất cứ lúc nào, thổi một bài, cất vô hộp trở lại. Kiếm cái xô đựng cát nhỏ đặt sau hiên nhà cho nó đứng.”

“Em đang thấy sướng quá,” cô nói.

“Phải nói là nhân đức mới đúng.” Ralph không nhìn cô, miệng hắn căng ra. “N-h-â-n-đức. Tôi chắc mọi chuyện đều do tôi theo dõi thằng đó qua lỗ ván nẻ để làm trò vui chứ gì? Đó là lý do cô mua cho nó tấm gương đó chớ gì? Những người như cô rảnh quá mà, toàn phá hoại niềm vui của kẻ khác.”

“Anh nói thế thì em sẽ không đến chỗ anh uống nước nữa. Em thà không chơi với ai còn hơn chơi với người hèn hạ.” Ralph thở hắt một hơi thật dài. “Aimee, Aimee. Cô không

hiểu là cô chẳng thể giúp ích gì cho thằng cha đó sao? Nó là thằng khùng. Và cái trò điên rồ của cô cũng chẳng khác gì cô nói với nó: Cứ khùng nữa đi, tôi sẽ giúp anh, anh bạn”.

“Dù gì cũng là chuyện ngàn năm một thuở, có sai lầm cũng tốt nếu mình nghĩ việc làm này sẽ giúp người khác vui sướng,” cô nói.

“Cầu  Chúa  cứu  vớt  tôi  thoát  khỏi  những  kẻ  thiện tâm, Aimee.”

“Im đi! Im đi!” cô la lên, rồi không nói thêm gì nữa.

Hắn để cho im lặng đọng lại hồi lâu, rồi đứng dậy, đặt chiếc cốc dính đầy dấu tay qua một bên.

“Trông quầy vé cho tôi được chớ?”

“Được. Nhưng sao vậy?”

Cô thấy mười ngàn bóng hình trắng lạnh của hắn khệnh khạng  đi  theo  các  hành  lang  thủy  tinh,  giữa  những  mặt gương, môi hắn mím chặt và những ngón tay múa máy.

Cô ngồi trong quầy vé cả phút rồi bất chợt rùng mình. Một chiếc đồng hồ nhỏ kêu tích tắc trong quầy và cô lật bộ bài ra, từng lá một, đợi chờ. Cô nghe tiếng búa, gõ, nện, gõ, nện, văng vẳng trong Mê Cung; một lúc im lìm, một lúc chờ đợi thêm, rồi mười ngàn bóng hình gấp lại, mở ra, và tan rã, Ralph vừa sải bước vừa nhìn mười ngàn bóng hình cô ngồi trong quầy vé hồi vọng hai bên lối ra. Cô nghe tiếng cười khẽ khi hắn đi xuống đường dốc.

“Này, có gì mà anh cao hứng thế?” Cô ngờ vực hỏi. “Aimee,” hắn nói thản nhiên, “tụi mình không nên cãi nhau. Cô bảo ngày mai Billie sẽ gửi tấm gương đó tới cho ông Lớn à?”

“Anh không định làm trò quái quỷ gì đấy chứ?”

“Tôi ấy à?” Hắn thế chỗ cô trong quầy vé và vớ lấy bộ bài, miệng ậm ừ, mắt bừng sáng. “Không đời nào, ối trời, không đời nào.” Hắn không nhìn cô mà liền chia bài phành phạch. Cô đứng sau lưng hắn. Mi mắt phải của cô hơi máy. Cô hết khoanh tay rồi lại buông thõng xuống. Một phút trôi qua. Âm thanh duy nhất là tiếng sóng biển dưới gầm cầu ván tăm tối, tiếng Ralph hít thở trong bầu khí nóng, tiếng sột soạt khe khẽ của những lá bài. Bầu trời trên cầu tàu oi bức, dày đặc mây. Ngoài khơi xa, những ánh chớp lờ mờ vụt lóe lên.

“Ralph,” cuối cùng cô lên tiếng. “Thoải mái đi, Aimee,” hắn nói.

“Về chuyện anh muốn đi chơi biển ở miệt dưới…” “Ngày mai,” hắn nói. “Có thể tháng sau. Có thể năm sau.

Thằng Ralph Banghart này là người kiên nhẫn. Tôi không lo đâu, Aimee. Hiểu chưa?” Hắn giơ một bàn tay lên. “Tôi bình thản lắm.”

Cô chờ cho một đợt sóng ngoài biển tan biến.

“Em không muốn làm anh nổi khùng đâu, vậy thôi. Em không muốn chuyện gì xấu xảy ra, hứa với em đi.”

Gió  lúc  nóng  lúc  lạnh  thổi  qua  cầu  tàu.  Có  mùi  mưa trong gió. Đồng hồ kêu tích tắc. Aimee bắt đầu toát mồ hôi khi nhìn những lá bài xê dịch, xê dịch. Xa xa vọng về tiếng những tấm bia trúng đạn và tiếng nổ ở gian hàng trò chơi bắn súng.

Và rồi, gã ta kìa.

Đang lắc lư đi qua cổng chính vắng tanh của khu hội chợ, dưới những bóng đèn như côn trùng, gương mặt méo mó  và  u  ám,  mỗi  chuyển  động  là  một  gắng  gượng.  Gã  đi suốt đoạn đường dài ra cầu tàu trong lúc Aimee quan sát. Cô muốn nói với gã, Đây là đêm cuối cùng của anh, lần cuối cùng anh sẽ tự làm mình xấu hổ vì phải tới đây, lần cuối cùng anh phải chịu đựng con mắt theo dõi của Ralph, dù là lén lút. Cô ước gì mình có thể la lên và cười to và nói điều đó ngay trước mặt Ralph. Nhưng cô lặng thinh.

“Xin chào, xin chào!” Ralph rống lên. “Tối nay miễn phí, gian hàng mời! Đặc biệt dành cho khách quen!”

Thằng Lùn ngước lên, giật mình, đôi mắt đen bắn ra một khối bối rối bềnh bồng. Miệng gã nặn không nên lời cám ơn rồi gã quay lưng, một tay đưa lên cổ kéo chặt hai ve áo nhỏ tí quanh cuống họng co thắt, tay kia thầm ghì xiết đồng xu bạc. Ngoái lại, gã khẽ gật đầu, và rồi hàng trăm gương mặt thống khổ, giày vò, ám màu âm u kỳ lạ dưới ánh đèn, bước lang thang qua những hành lang thủy tinh.

“Ralph,” Aimee kéo khuỷu tay hắn. “Có chuyện gì thế?” Hắn ngoác miệng cười. “Tôi cũng đang nhân đức đây,

Aimee, nhân đức.” “Ralph,” cô kêu lên.

“Suỵt,” hắn nói. “Nghe đi.”

Trong quầy vé, họ chờ đợi giữa im lặng oi bức lê thê. Rồi, từ rất xa, văng vẳng, một tiếng rú.

“Raph!” Aimee kêu lên.

“Nghe đi, nghe đi!” Hắn nói.

Một tiếng rú nữa, lại rú và lại rú, rồi tiếng va đập rồi tiếng  quăng  quật  rồi  tiếng  đổ  vỡ,  âm  thanh  cuống  cuồng vọng khắp mê cung. Kìa, kìa, dội ngược và đối chọi loạn xạ, từ mặt gương này sang mặt gương khác, vừa la thét điên loạn vừa nức nở khóc, mặt đẫm lệ, miệng há hốc, ông Lớn xuất hiện. Gã nhào ra bầu trời đêm hầm hập, cuống cuồng nhìn quanh, rên rỉ, rồi chạy mất hút xuống bến tàu.

“Ralph, có chuyện gì thế?”

Ralph ngồi vừa cười ầm vừa vỗ đùi. Cô tát vào mặt hắn. “Anh đã làm gì?”

Hắn cố nín cười nhưng không được. “Theo tôi. Tôi sẽ cho cô thấy!”

Và  rồi  cô  vào  mê  cung,  hấp  tấp  chạy  qua  những  tấm gương trắng lóa, vết son môi đỏ rực như lửa phản chiếu cả ngàn lần trong cái hang động sáng bạc hừng hực nơi những người đàn bà điên loạn dị kỳ như cô đuổi theo một tên đàn ông tươi cười, đang chạy phăng phăng.

“Theo tôi!” hắn la to. Và họ lao tới căn buồng tí xíu sặc mùi bụi bặm.

“Ralph!”

Họ đứng ở ngưỡng cửa căn buồng nhỏ nơi Thằng Lùn đêm nào cũng đến cả năm nay. Cả hai đứng ở nơi Thằng Lùn đứng đêm đêm, trước khi gã mở mắt nhìn hình tượng thần kỳ trước mặt.

Aimee chầm chậm lê chân, một bàn tay đưa ra trước, bước vào căn buồng lờ mờ tối.

Tấm gương đã bị đổi.

Tấm  gương  mới  khiến  ngay  cả  những  người  bình thường cũng bé, bé, bé thêm; nó khiến ngay cả những kẻ cao lớn cũng thành nhỏ nhoi, tối tăm, dị dạng thấp kém hơn khi lại gần.

Aimee đứng trước tấm gương ấy, một ý nghĩ phản chiếu, nếu gương này biến người lớn thành nhỏ, khi đứng đây, trời ơi, thì sẽ như thế nào với một gã lùn, gã lùn tí hon, gã lùn u ám, gã lùn cô đơn và kinh hoảng?

Cô quay lưng và suýt vấp ngã. Ralph đang đứng nhìn cô. “Ralph,” cô thốt lên. “Trời ơi, sao anh lại làm thế?”

“Aimee, trở lại đây!”

Cô  băng  qua  những  tấm  gương,  vừa  chạy  vừa  khóc. Căng mắt nhìn qua màn lệ thật khó tìm đường, nhưng cô đã lần được lối ra. Cô đứng chớp mắt nhìn cầu tàu vắng lặng, rồi dợm chạy theo một hướng, đổi hướng khác, không biết về đâu, rồi thôi. Ralph chạy tới sau lưng cô, nói gì đó, một giọng nói xa xăm và khác lạ, như đang loáng thoáng sau một bức tường đêm khuya.

“Tôi không muốn nghe nữa,” cô nói.

Có ai đang chạy lên cầu tàu. Đó là Kelly, chủ gian hàng bắn súng. “Này, mấy người có thấy một thằng lùn mới chạy qua không? Thằng lùn đó giật một khẩu súng ở chỗ tôi, đã nạp đạn, rồi chạy mất tiêu, tôi không kịp bắt lại. Mấy người giúp tôi tìm nó với?”

Rồi Kelly đi luôn, vừa chạy hết tốc lực vừa quay đầu qua lại tìm kiếm giữa các căn lều bạt, khuất xa dần dưới những hàng bóng đèn giăng mắc rực đỏ rực vàng rực xanh.

Aimee ngần ngừ một lúc rồi cất bước. “Aimee, cô đi đâu?”

Cô nhìn Ralph như thể hai kẻ vừa rẽ qua một góc đường, hai người xa lạ, tình cờ chạm mặt và lướt qua nhau. “Chắc là…,” cô nói, “Tôi sẽ giúp mọi người đi tìm.”

“Cô chẳng làm gì được đâu.”

“Dù sao cũng phải thử. Ôi, Ralph, lỗi tại tôi cả! Lẽ ra tôi đừng điện thoại cho Billie Fine! Lẽ ra tôi đừng đặt mua tấm gương và khiến anh nổi khùng tới mức làm như thế! Lẽ ra chính tôi phải đi gặp ông Lớn, chứ không phải mua cái thứ điên khùng đó gửi tới! Tôi phải đi tìm người đó, dù có chết cũng phải đi tìm.”

Chầm  chập  xoay  người  lại,  hai  má  ướt  đẫm,  cô  nhìn những tấm gương dựng trước Mê Cung, trên một tấm gương là bóng phản chiếu của Ralph. Cô không thể rời mắt khỏi hình ảnh ấy; nó thu hút cô đứng sững, miệng há hốc, toàn thân run lẩy bẩy buốt lạnh.

“Aimee, sao vậy? Cô làm sao…?”

Hắn nhận ra hướng cô đang nhìn và quay ngoắt lại xem chuyện gì. Hắn sửng sốt.

Hắn quắc mắt nhìn tấm gương sáng rực đó.

Một con người kinh tởm, xấu xa, nhỏ mọn, cao chỉ chừng sáu tấc, bộ mặt bị bóp dẹp dưới vành mũ rơm kiểu xưa, đang

quắc mắt nhìn đáp trả. Ralph đứng đó trừng trừng nhìn bóng mình, hai bàn tay chống nạnh.

Aimee từ từ bước đi rồi bắt đầu nhanh chân và bắt đầu chạy. Cô chạy xuống bến tàu vắng lặng và cơn gió nóng phun những hạt mưa lớn bỏng rát trên trời dội xuống đầu trong lúc cô chạy thật xa.

Ảnh: Joseph Mugnaini

Hết.

Đọc bài viết

Trích đăng

Hoài niệm mùi hương Sài Gòn – trích đoạn “Với ngày như lá tháng như mây”

Tập tản văn tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành.

Published

on

By

Trích từ: Với ngày như lá tháng như mây
Tác giả: Phạm Công Luận
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 01.2022

Bạn đọc Việt Nam đã quen thuộc với nhà báo, tác giả Phạm Công Luận qua những tựa sách gây tiếng vang và được tái bản nhiều lần như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Chú bé Thất Sơn. Không chỉ nổi bật trong thể loại tản văn, ông còn là một cây bút gạo cội sở hữu sức viết dồi dào, mang đến cho độc giả nhiều tập sách chuyên khảo, hồi ký về Sài Gòn giàu giá trị như Sài Gòn – Chuyện đời của phố (5 tập), Phong vị báo xuân xưa, Sài Gòn – Ngoảnh lại trăm năm

Tập tản văn Với ngày như lá tháng như mây tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ như nguồn nước không bao giờ cạn mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành. Trải dài qua 30 bài viết, tập tản văn chứa đựng một cuộc du hành trong tâm tưởng của tác giả, đưa người đọc trôi về thời xa vắng của đất Sài Gòn – Gia Định trên dưới nửa thế kỷ trước.

MÙI HƯƠNG CŨ

Chuyện giữa những người trung niên từng học chung lớp ở trường phổ thông hồi mới lớn, quanh đi quẩn lại cũng quay về bạn cũ, thầy cô xưa. Một người nhắc lại hồi năm lớp Tám, ở góc bàn của cô bạn trong lớp luôn tỏa ra mùi thơm nhẹ. Ai đến gần mới cảm thấy nhưng không rõ từ đâu. Sau có người kể là mỗi buổi sáng đi học, bạn ấy luôn mang theo một nhánh bông dạ lý hương ngắt từ vườn nhà và bỏ vào hộc bàn.

Câu chuyện dễ thương ấy bỗng dưng kéo cả đám sồn sồn gần tuổi sáu mươi về lại hơn bốn mươi năm trước. Từ câu chuyện trên, những hồi tưởng về mùi hương mở rộng ra. Họ nhắc lại mùi nước hoa thoảng nhẹ của cô giáo dạy Anh văn, mùi ban mai tinh khiết ở khu lớp phía sau sân trường, bên cạnh mấy cây cổ thụ. Một anh bảo có ai nhớ mùi sâm đại hành hồi học trường Nguyễn Thượng Hiền không, nó the the cay cay, nhất là khi lén bứt đọt non đưa lên mũi ngửi. Một anh bảo: Tao nhớ mùi tóc… mấy đứa con gái. Đi tập văn nghệ, mình ôm đàn đánh cho mấy nhỏ đó hát, tóc đứa nào cũng thơm. Tóc con gái miệt Bà Quẹo thơm mùi bồ kết, tóc con gái khu Ông Tạ xài xà bông Trầm, Lux thơm nức.

Những mùi hương cũ, sao có thể buộc ta nhớ nhiều đến vậy! Chúng đánh thức ký ức và những mộng tưởng đã mất, kéo ta về thời tuổi trẻ thần thánh không bao giờ quay lại.

Người ta cho rằng khứu giác cũng quan trọng như tất cả các giác quan nhìn, nghe, nếm và chạm. Nhưng đối với nhiều người, khứu giác quan trọng hơn cả, vì nó dựa vào tiềm thức để tồn tại, có thể dẫn chúng ta đến những điều từng không hiểu rõ, thậm chí được cho là không đáng quan tâm. Nó có thể mang lại niềm hạnh phúc, cũng có thể mang đến ký ức về một điều nguy hiểm đã từng xảy ra.

Trong tâm trí tôi, có một mùi clo trong nước hồ bơi công cộng tỏa ra vào những ngày hè ở hồ bơi Nhà văn hóa Lao động thập niên 1990. Nắng thời tuổi trẻ lung linh vàng lóa dưới mặt nước và những cô gái mặc áo tắm đi qua gợi cảm giác vui thú và nhàn tản của một mùa hè rong chơi. Cảm giác về mùi clo ấy tưởng chừng như không hề có trong tiềm thức, chợt đến đột ngột khi tôi quay lại chính hồ bơi ngày xưa lúc vừa thay nước.

Mùi nước hoa Pháp là mùi hương sâu đậm nhất về má tôi trong những ngày Tết, không phải từ mùi nhang trầm thắp đêm Giao thừa. Những sáng mùng Một, má diện áo dài màu ruốc nhạt hay nhung đen, xức chút nước hoa sau gáy, trên cườm tay… đi chùa cùng bà bạn hàng xóm, sau đó là đi chúc Tết. Tôi thường trông lúc má đứng trước gương chải lại mái tóc trước khi đi, để được ôm bà, cảm nhận mùi nước hoa với mùi vải áo dài.

Sau này, khi nhớ về người mẹ đã khuất, tôi nhớ thêm mùi hương khác, không dễ chịu cho lắm, là mùi dấm chua ngai ngái thấm vào cục bột nhão mà má nắm lấy để lăn trên lưng cho tôi khi đang trong cơn sốt. Trong cơn mệt mỏi của đứa trẻ bảy tuổi, tôi biết có giọt nước mắt má nhỏ xuống lưng mình.

Lần đầu tiên ra nước ngoài hơn hai mươi năm trước, tôi ở Nhật cả tháng trời và mùi hương tôi nhớ nhất là mùi… khoai tây chiên tỏa ra từ các trung tâm thương mại. Sau này, món khoai tây chiên ở đâu cũng có, nhưng khi trở lại Nhật, tôi nhận ra đó là một mùi rất riêng biệt. Đó là mùi thành phố của nước Nhật, có khi chỉ mình tôi nghĩ vậy. Chắc chắn mỗi thành phố, mỗi khu phố đều có một mùi riêng. Mùi của vài con phố ở Hà Nội là mùi dấm tỏi trong món phở và mùi chả cá. Mùi của Chợ Lớn là mùi thuốc Bắc khi quẹo khúc cua trên đường Hải Thượng Lãn Ông. Mùi của xóm tôi một thời là mùi bông nguyệt quế ban đêm. Mùi của ngôi nhà thời ấu thơ là mùi thuốc tẩu của ba và mùi sơn dầu của ông anh trước cái giá vẽ. Mùi của khu đường rầy xe lửa cổng số 8 cắt ngang đường Nguyễn Minh Chiếu là mùi bò nhúng dấm cộng với mùi bia tỏa ra từ quán Ánh Hồng của ông bà Tư Khá. Mùi của nhà hàng xóm sát bên là mùi chuối nếp nướng chuẩn bị cho buổi bán chiều.

Khi nhớ đến những mùi hương thoảng qua đời mình như vậy, tôi nhận lại nhiều ký ức lung linh. Những ký ức đó đẹp vì diễn ra trong thời thơ ấu, lúc không vướng bận những trách nhiệm và lo toan của tuổi trưởng thành. Có thể khi nhớ lại, chúng ta lý tưởng hóa chúng dù trải nghiệm thật sự không dễ chịu. Dầu biết vậy, tôi cảm thấy điều đó thật tốt cho một “người lớn” sau này, khi luôn trong trạng thái đối diện với cuộc sống trần trụi.

Tôi đọc được đâu đó là ở nước Mỹ, những người sinh trước năm 1930 có xu hướng nhớ lại những mùi liên quan đến thiên nhiên nhiều hơn những người sinh ra trong những thập kỷ sau đó. Điều này có thể phản ánh sự đô thị hóa ngày càng tăng sau những năm 1930 ở nước Mỹ. Ở Việt Nam, thế hệ nào còn nhớ nhiều nhất những mùi hương của thiên nhiên?

“Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình”, “Để tưởng nhớmùihương”, “Mùi của ký ức”,… những câu thơ, tên sách, tên truyện đậm cảm xúc về một mùi hương xa xưa. Những mùi hương một thuở ấy, có thể vô can vô cớ đến với ta lúc bất ngờ nhất, có thể khiến một người chai sạn mùi đời ngẩn ngơ và thả nỗi nhung nhớ đi rất xa. Tôi đọc một đoạn văn trong cuốn sách Sống và viết với, có bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Hiến Lê của tác giả Nguyễn Ngu Í.

Ông Nguyễn Hiến Lê giữa thập niên 1960 sống trên đường Huỳnh Tịnh Của. Một lần đi bộ đến cuối đường Pasteur gần đó, ông bắt gặp một mùi hương nhẹ khiến ông cảm thấy như “lạc vào một thế giới khác”. Đó là mùi hương của cây sao. Khi nhắc đến câu chuyện đó với nhà báo, ông kể chuyện làng Ngọc Hà ngoài Hà Nội khi ông còn nhỏ và cảnh phố Hàng Đường gần chợ Đồng Xuân những ngày rằm và mồng Một. Ngày đó người ta quý bông ngọc lan hay hoàng lan, chỉ ngắt từng đóa chứ ít khi bẻ trọn cành để chưng hay để bán. Một xu được năm sáu bông quế hay hồng, lan, sói, móng rồng,… Tất cả gói trong lá chuối, mang về chưng trong đĩa sứ. Khi vào sống ở Sài Gòn, ông trồng hoàng lan trong góc sân. Khi ngồi viết, hương hoa thoang thoảng khiến ông có cảm tưởng mùi hương đến thăm ông, an ủi hay nhắc nhở, cười cợt,… tùy lúc. Ông nói: “Sắc thì ta phải đi tìm nó để thưởng nó, hương thì nó tìm ta để làm dịu hồn ta. Nó âm thầm, kín đáo, tế nhị, chỉ cho thôi chứ không cần đáp. Nó bỗng tới rồi bỗng đi, nó phảng phất, nó phiêu diêu…”. Nguyễn Hiến Lê tự nhận mình là người không lãng mạn, nhưng khi nói lên điều này, ông thể hiện tâm hồn lãng mạn và yêu thiên nhiên sâu sắc.

Nhớ mấy chục năm trước, sau hai tháng đi công tác xa, tôi về tới nhà vào buổi tối và chìm ngay vào giấc ngủ. Sáng sớm, thoang thoảng hương cà phê lan tỏa từ cái phòng nhỏ bên cạnh bếp, nơi ba tôi ngồi pha cà phê uống mỗi sáng sớm. Lúc đó, cảm giác bình yên ập tới khiến tôi thấy yêu gia đình biết bao nhiêu. Mùi cà phê quen thuộc giúp tôi định vị được cái ổ an toàn và thân thuộc từ hồi tấm bé của mình. Sau này, khi lập gia đình, loại mùi hương quan trọng với tôi đó là mùi thịt nướng dưới bếp, mùi xoài chín từ Cam Ranh gửi vào, mùi nắng trên sân thượng ấm nồng trên chồng quần áo vừa khô… và mùi hương tóc, hương da thân thuộc của những người thân yêu trong gia đình nhỏ.

- Còn tiếp -

Đọc bài viết

Cafe sáng