Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Đại sương mù? – Trích “Giành lại không khí sạch”

Published

on

“Một kẻ giết người vô hình” sinh ra từ xe cộ và các quy trình công nghiệp mà chúng ta đang không mảy may biết đến. Nhà báo về môi trường Tim Smedley, thông qua quyển sách Giành lại không khí sạch, đã kể một câu chuyện đầy đủ về những gì đã xảy ra với không khí mà chúng ta đang hít thở, bao gồm nó là gì, hóa chất nào có hại, chúng đến từ đâu và quan trọng nhất, chúng ta có thể làm gì với chúng. Giữa những con số thống kê đáng sợ, Tim Smedley hé mở hy vọng vẫn còn cho hành tinh.

Sách lọt vào danh sách rút ngắn của giải thưởng Royal Society Science Book Prize 2019 – giải thưởng tôn vinh các quyển sách hay về khoa học và những tác giả không chỉ là người viết, mà còn là những nhà tiên phong.

*
CHƯƠNG 1
Đại Sương Mù

London 1952
Cả cha và mẹ tôi đều sinh năm 1952. Ông ngoại của tôi, Selwyn Bate, là luật sư địa phương ở Tamworth, thành phố quê hương của tôi, và là giảng viên tại Trường Luật Birmingham. Thỉnh thoảng – mặc dù cố gắng tối đa để tránh điều đó – ngoại tôi vẫn phải đi đến London. Dì Claire của tôi nhớ mỗi khi ngoại đi tàu tới London mang theo Bộ Luật của Elizabeth, được viết trên da cừu, để giải quyết tranh chấp tại Tòa án Tối cao. Ông ngoại ghét thủ đô. Quá đông đúc và quá bẩn. Ông thường tắm rửa ngay mỗi khi trở về nhà từ London. Khi nghe những câu chuyện này, tôi đã từng giả định rằng đó là một kiểu hợm hĩnh nghịch lý. Vì là một người Lancaster, sống tại Tamworth thuộc vùng miền trung, ông chỉ muốn nam tiến đến đó là hết mức bởi không thích miền nam nước Anh. Sau đó, tới khi tôi biết về vụ Đại Sương Mù năm 1952, tôi đột nhiên hiểu được ý nghĩa của việc ông ngoại Bate tránh London như bệnh dịch hạch.

Thời tiết đầu mùa đông ở London vào năm 1952 rất lạnh, với tuyết rơi dày đặc trên toàn miền nam nước Anh. Để giữ ấm, người London phải đốt một lượng lớn than trong nhà của họ. Trong những thời điểm đặc biệt lạnh như thế này, ban đêm hầu hết các hộ gia đình đều “tiếp thêm những lớp than mới” vào lò sưởi để nó có thể cháy đến sáng. Điện được cung cấp bởi các nhà máy điện nội thành tại Battersea và South Bank, các nhà máy này đốt than và xả khói từ các ống khói cao hơn các ngọn tháp của nhà thờ. Vào mùa đông, không chỉ người ta đốt nhiều nhiên liệu hơn và tạo ra nhiều khói hơn, mà còn điều kiện “nghịch nhiệtI ” cũng sẽ xảy ra: nếu không khí gần mặt đất lạnh hơn không khí ở trên cao, nó sẽ bị giữ lại ở tầng thấp. Với bầu trời trong xanh, không có gió và mặt đất ẩm ướt, sương mù cũng hình thành. Và London từ lâu đã nổi tiếng với biệt hiệu “soup đậu” theo kiểu nói tiếng lóng của người vùng cực Đông của London (ý chỉ sương mù ô nhiễm London có màu vàng và đặc như soup đậu) được lãng mạn hóa trong những câu chuyện của Dickens và Conan Doyle và những bức tranh của Turner và Monet (người thích đến thăm vào mùa đông vì bị hút hồn bởi màu vàng u uẩn của sương khói ảo ảnh London).

Vào Thứ sáu ngày 5 tháng 12 năm 1952, làn sương mù dày đặc quen thuộc lại xuất hiện trên khắp London. Đám sương mù ấy cứ trơ ì đó, không bay lên cao được vào ngày hôm sau, hoặc ngày tiếp sau đó. Hiện tượng nghịch nhiệt kéo dài đã cho thấy nồng độ khói bụi tăng cao tới 56 lần so với mức độ bình thường. Các hồ sơ chính thức cho thấy tầm nhìn ở một số nơi giảm chỉ còn một thước Anh, mức thấp nhất từng được ghi nhận trong thành phố. Mọi người thậm chí không thể nhìn thấy đôi chân của mình. Do sương mù mà nhiều hành khách bị hổng chân từ những cây cầu xuống sông Thames băng giá và hụt chân rơi từ những thềm ga xuống đường ray khi tàu đang lao tới. Trong vòng 12 giờ kể từ khi khói bụi xuất hiện, hàng ngàn người bắt đầu gặp vấn đề về hô hấp và số ca nhập viện tăng đáng kể.

Theo hồ sơ ghi nhận của Met OfficeI , dải khói bụi kéo dài 13 dặm và chứa các chất gây ô nhiễm bao gồm: 1.000 tấn hạt khói (mà ngày nay chúng ta gọi là “carbon đen” hoặc PM10), 2.000 tấn carbon dioxide, 140 tấn acid clohydric và 14 tấn fluorine. Điều tồi tệ nhất trong địa ngục đó chính là 370 tấn lưu huỳnh dioxide ngưng tụ bởi các hạt nước trong sương mù đã biến đổi thành 800 tấn acid sulphuric. Nó cứ treo lơ lửng như thế này, dày đặc trong không khí, trong 5 ngày.

Tại Nhà hát Sadler’s Wells, vở opera La Traviata đã phải dừng lại do khán giả không còn có thể nhìn thấy sân khấu. Tại chợ gia súc Smithfield, những người nông dân phải đeo những chiếc mặt nạ làm từ vải bao bố tẩm whisky cho những con bò để cố gắng bảo vệ chúng. Khói bụi dính lên những tấm kính chắn gió như những vết sơn, buộc tài xế phải bỏ mặc phương tiện của mình. Phóng viên Phố Fleet của tờ báo Northern Whig đưa tin vào Thứ bảy ngày 6 tháng 12, “Nó đã len lỏi vào các cửa và văn phòng, nơi đèn đã bật sáng cả ngày… “Làn sương khói dày đặc” không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân, mà các hóa chất độc hại nó mang theo còn ăn sâu vào cấu trúc của các tòa nhà, đốt cháy và “nhuộm đen” cây cối”. Có một sự giễu cợt đầy lo lắng trong những bản tường thuật đầu tiên. Tờ Daily Telegraph đưa tin về thương vong đầu tiên: “Một chú vịt trời, được cho rằng đã bị che khuất bởi màn sương, đã đâm vào ngài John Maclean khi ông đang trên đường về nhà tại đường Ifield, Fulham. Cả hai đều bị thương nhẹ.” Tờ The Times thậm chí còn đưa một dòng tít giễu cợt hơn, tuyên bố rằng “Làn sương mù là những người Briton cổ đại. Họ đã gặp thuyền của tổ tiên bộ tộc Boadicea… họ đi lại xung quanh… một cách tự do trước khi bất cứ ai nghe về vấn đề giảm khói ô nhiễm”. Và có lẽ để dẫn đầu xu thế, phát ngôn chính trị ban đầu từ Đảng Bảo thủ của Churchill rất cao tay. Harold Macmillan, Bộ trưởng Bộ Nhà ở, nói với Hạ viện rằng “những cân nhắc quy mô rộng về kinh tế cần được đưa vào xem xét” – nói theo cách khác, những nhu cầu của công nghiệp được ưu tiên hơn những mối lo ngại về thời tiết.

Roy Parker, một sinh viên năm ba tại Đại học Kinh tế London vào thời điểm đó, hồi tưởng lại tại “Đại Sương Mù: 50 năm sau sự kiện màn sương khói khổng lồ London 1952”, một hội thảo dành cho các nhân chứng của sự kiện được tổ chức tại Trung tâm Lịch sử Sức khỏe Cộng đồng vào ngày 10 tháng 12 năm 2002, khi đó các báo cáo tin tức hầu hết chỉ quan tâm đến việc hủy bỏ các sự kiện thể thao: cả tôi lẫn họ đều không dành nhiều sự chú ý cho những hệ lụy về sức khỏe của con người. Tôi đáng lẽ ra đã phải nhận ra mức độ nghiêm trọng của thảm họa ấy, bởi vì cha của tôi, khi đó là một người điều khiển đầu máy hơi nước, và trước đó bị nhiễm khói độc một phần trong cuộc chiến tranh 1914-1918, đã có rất nhiều triệu chứng của việc hít phải bụi than và lưu huỳnh. Hầu hết thời gian ông đều gặp khó khăn trong việc hô hấp. Lúc đó ông 56 tuổi, và khi chúng tôi gặp nhau vào cuối tuần, ông đang ở trong tình trạng hết sức đau đớn, thở hổn hển để lấy hơi, chật vật, [nhưng] kiên quyết rằng mình sẽ đi làm bằng xe đạp… Thật khó để đánh giá mức độ phổ biến của bệnh viêm phế quản mãn tính đối với tầng lớp lao động công nghiệp ở đất nước này… Trong gia đình tôi, tất cả đàn ông đều có những triệu chứng như vậy.

Đến ngày thứ tư, thái độ của công chúng đã thay đổi. Tờ Hartlepool NorthernDaily Mail gọi nó là “màn sương mù đen đặc… dày đặc đến mức xe tuần tra của cảnh sát cũng bị tê liệt, và họ phải xử lý những cuộc gọi khẩn cấp 999 bằng cách đi bộ”. Số gia súc tại chợ Smithfield khi đó cũng đang chết dần, những con còn lại cũng bị mổ thịt sớm “theo yêu cầu của chủ”. Một phóng viên Phố Fleet viết cho một trong số những bài báo sáng Thứ hai tuyên bố: “Đây không phải là sương mù bình thường: nó chứa mọi thứ hổ lốn – bữa khai vị, cá, món ngọt, món mặn, cà phê đen và vẻ cau có của người bồi bàn. Nó làm cho mắt cay, cho hơi thở trở nên hôi thối… Tại Quảng trường Trafalgar tôi có thể nghe thấy tiếng của những hồ phun nước, nhưng chúng vô hình… [một người đồng nghiệp của tôi] tìm thấy một người đàn ông đang tìm ga tàu điện ngầm trong khi đang ở giữa Cầu Blackfriars.”

Khi sương mù biến mất vào ngày thứ năm – Thứ ba ngày 9 tháng 12, báo cáo về các bệnh viện quá tải bắt đầu tràn về, và sự nghiêm trọng của sự kiện trở nên rõ ràng. Giống như thảm họa tại Donora, Pennsylvania xảy ra 4 năm trước đó, các nhà tang lễ hết sạch quan tài và không còn hoa ở cửa hàng. Do tắc nghẽn giao thông và tầm nhìn gần như bằng không, số người chết tại nhà còn cao hơn số người kịp đi đến bệnh viện. Rosemary Merrit hồi tưởng lại với đài BBC World Service vào năm 2012 rằng cha của cô đi bộ một dặm rưỡi qua làn sương từ nơi làm việc đến nhà. Đêm hôm đó “ông ho nặng đến mức người ông trở nên tái xanh, và mẹ cô phải đánh thức hàng xóm dậy để cứu giúp… họ không thể đưa ông đến bệnh viện bởi lúc đó không hề có xe cứu thương”. Ông qua đời vào ngày hôm sau. Thi thể của ông được đặt ở phòng phía trước trong nhà họ trong suốt 3 tuần cho đến khi một người khâm liệm làm việc quá sức cuối cùng cũng có thể chôn cất ông, ngay trước Giáng sinh. “Tôi không bao giờ còn muốn ở trong căn phòng phía trước đó”, cô nói. “Nó luôn luôn lạnh lẽo.”

Chỉ tính riêng trong tuần đó, 4.703 người đã chết ở London – nhiều hơn 3.000 trường hợp so với bình thường. Một thảm họa môi trường, chính màn sương mù nổi tiếng của thành phố đã gây ra thương vong cho người dân London nhiều hơn bất cứ chiến dịch đánh bom 5 ngày nào của Đức chỉ vài năm trước đó. Không chỉ có người già và những người có sức đề kháng kém bị tổn hại. Một chiếc xe cứu thương chở một thủy thủ 21 tuổi đang phục vụ quân ngũ; vị bác sĩ chữa trị cho anh ấy, Horace Pile, về sau tường thuật lại trong bộ phim tài liệu Killer Fog của UK Channel 4 vào năm 1999 rằng ông “chưa từng thấy điều tương tự ở bất cứ người trẻ nào ở độ tuổi đó, với những khó khăn về hô hấp và tim dần ngừng hoạt động một cách tuyệt vọng”. Khi xe cứu thương đến nơi, bệnh viện đã đầy ắp các bệnh nhân. Và cả bệnh viện thứ hai cũng vậy. Vào lúc xe cứu thương xuất phát đến bệnh viện thứ ba, người thủy thủ đã chết trên đường đi. Con số thương vong cuối cùng được tin rằng có thể đạt mức từ 8.000 đến 12.000, cộng thêm hàng ngàn trường hợp mắc các vấn đề sức khỏe kéo dài cả đời bao gồm các bệnh về phổi và tim.

Vào những năm 1930 và 1940, hệ thống giao thông công cộng trên mặt đất của London chủ yếu là những chiếc xe điện không phát thải, bao gồm cả xe hai tầng. Tuy nhiên, chúng liên tục bị thay thế bởi các phương tiện chạy bằng động cơ đốt trong. Xe buýt chạy diesel thế chỗ chiếc xe điện cuối cùng ở London vào ngày 5 tháng 6 năm 1952, chỉ 5 tháng trước Đại Sương Mù. Tính đến tháng 12, 8.000 chiếc xe buýt chạy diesel mới đã được vận hành, tiếp tục thải thêm khói vào làn sương mù mùa đông. Tiến sĩ Barry Gray, một bác sĩ hô hấp tại Bệnh viện King’s College, người đã được phỏng vấn trong phim tài liệu Killer Fog, miêu tả sự chuyển đổi từ xe điện sang xe buýt chạy diesel trong những năm 1950 như “một thảm họa có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân ở London”.

Sau những trải nghiệm cá nhân với tư cách là một học sinh trong thảm họa Đại Sương Mù, Roy Parker đã cống hiến sự nghiệp của mình cho việc nghiên cứu về ô nhiễm môi trường. Anh đã tính toán rằng có khoảng 12 triệu hộ gia đình đốt lửa bằng than tại Vương Quốc Anh vào năm 1952. Ngoài ra còn có 20.000 tàu lửa chạy hơi nước đốt than chất lượng thấp, trong khi riêng nhà máy năng lượng Battersea đã đốt 10.000 tấn than mỗi tuần. Ý tưởng về việc không có xe hơi chạy bằng xăng hoặc dầu diesel trên đường ngày nay cũng khó để hình dung như việc loại bỏ tàu lửa chạy bằng hơi nước và đốt lửa bằng than đối với một người dân ở London vào những năm 1950. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, trong chỉ hơn một thập kỷ, đó chính xác là điều đã xảy ra. Năm 1952, Ủy ban về Ô nhiễm Không khí báo cáo rằng có một sự liên quan giữa ô nhiễm và các bệnh về đường hô hấp, từ đó đặt nền móng cho Đạo luật Không khí sạch của Vương Quốc Anh (1956). Quá trình hiện đại hóa hoàn toàn hệ thống đường sắt của Anh được công bố vào năm 1955, đánh dấu thời đại của động cơ hơi nước chạy bằng than chấm dứt. Nhà máy năng lượng Battersea sau cùng cũng đóng cửa vào năm 1975. Cho đến cuối thập niên 1970, đặc sản “soup đậu” của London đã trở thành dĩ vãng. Giáo sư Peter Brimblecombe đã chủ trì buổi hội thảo các nhân chứng của sự kiện tại Trung tâm Lịch sử Y tế Công cộng vào năm 2002. Tôi hỏi ông liệu có một cảm xúc chung tại sự kiện, rằng giờ đây vấn đề ấy đã được giải quyết sau 50 năm thảm họa Đại Sương Mù không? “Ôi tất nhiên rồi”, ông trả lời ngay lập tức. “Tôi nghĩ rằng chắc chắn là có cảm giác ấy… họ tin rằng mọi thứ đã thay đổi rất nhiều.”

London: những năm 2010
Vào một buổi sáng tháng 4 lạnh lẽo năm 2016, tại Quảng trường Trafalgar của London, một người biểu tình đã trèo lên công trình biểu tượng của thành phố, Đài tưởng niệm Nelson. Alison Garrigan đã lên kế hoạch cho việc này trong nhiều tháng. Trong ánh bình minh dịu nhẹ, cô cùng một đồng phạm đã đeo chiếc mặt nạ phòng độc trắng bóng loáng lên khuôn mặt màu đen được phủ bởi bồ hóng của Đô đốc Nelson. Là một nhà hoạt động xã hội kỳ cựu của tổ chức Hòa Bình Xanh, cô hy vọng sẽ làm nổi bật lên tình trạng ô nhiễm không khí ở London. Đại học Y Hoàng gia và Đại học Hoàng gia về Nhi khoa và Sức khỏe Trẻ em gần đây đã ước tính rằng mỗi năm có tới 40.000 ca chết sớm do ô nhiễm không khí tại Anh Quốc, 10.000 trong số đó là người London. Trẻ em ở một số Giành lại không khí sạch 27 khu vực bị ô nhiễm của London có dung tích phổi thấp hơn 5 đến 8% so với mức trung bình của độ tuổi. Vào năm 2013, Ella KissiDebrah, chín tuổi, đến từ phía nam London, đã tử vong sau khi nhập viện nhiều lần vì bệnh hen suyễn, dẫn đến một cuộc điều tra về tác hại của ô nhiễm không khí.I Vào tháng 1 năm 2017, nữ Nam tước Jones của Viện Quý tộc đã đưa ra cáo buộc “Tội vô trách nhiệm của một chính phủ không có mong muốn bảo vệ sức khỏe của công dân” trong một bài báo trên tờ The Times “Kêu gọi hạn chế giao thông sau tình trạng khói bụi kéo dài 10 ngày khiến 300 người chết”.

Nếu cho rằng London đã giải quyết được vấn đề này vào những năm 1970, thì điều gì đã trở nên tồi tệ đến vậy? Trong cuốn cẩm nang bảo tồn năm 1972 Trận chiến mới của nước Anh, tác giả H. F. Wallis đưa ra lời cảnh báo từ lịch sử: “Khói bụi kiểu Los Angeles – gây ra bởi tác động của ánh sáng mặt trời lên hơi xăng – có thể xảy ra ở Vương Quốc Anh… những chiếc xe mới trên đường vẫn có thể đầu độc không khí ở mức độ như hiện tại và tất nhiên, chúng sẽ còn xuất hiện nhiều hơn.”

Wallis lưu ý rằng giữa năm 1957 và 1967 “mạng lưới đường sắt của công ty Đường sắt Anh giảm mạnh từ 14.622 dặm xuống chỉ còn dưới 10.000 dặm” trong khi một phần năm các dịch vụ xe buýt biến mất. Mọi người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển sang xe cá nhân. Vào thời điểm viết bài, chỉ có 14 triệu chiếc ô-tô trên đường phố tại Vương Quốc Anh. Vào cuối năm 2017, đã có 37,7 triệu phương tiện được cấp phép tại nơi này, khoảng 31 triệu trong số đó là xe hơi. Và 12,4 triệu trong số đó – gần bằng với tổng số xe ở thời của Wallis – là những chiếc xe động cơ diesel.

Khi Giáo sư David Newby bắt đầu nghiên cứu về ô nhiễm không khí vào đầu những năm 2000, ông cho rằng – giống như những người sống sót qua sự kiện Đại Sương Mù – ô nhiễm không khí tác động lên sức khỏe đã là tin tức của ngày hôm qua. Cho đến những năm 1990 và 2000, những nhà máy điện than nội thành tại Victoria từng làm London ngạt thở đã chuyển đổi thành các trung tâm văn hóa; nhà máy điện Tate Modern và Battersea giờ đây “nhả ra” tiền của du khách, không phải khói. Những nhà máy ấy chính là những di tích cao chót vót cho một thời kỳ khai sáng của chúng ta. Nhưng Newby, hiện là giáo sư tim mạch tại Trung tâm Nghiên cứu Xuất sắc của Quỹ Tim mạch Vương Quốc Anh, khi đó đã chuẩn bị thực hiện một nghiên cứu có thể thay đổi hoàn toàn hiểu biết của ông, và chúng ta, về ô nhiễm không khí. Vào năm 2007, Newby và đội ngũ của ông tuyển những tình nguyện viên khỏe mạnh, đưa họ vào một căn buồng phơi nhiễm, cố định họ trên một chiếc xe đạp và bảo họ bắt đầu đạp. Chiếc buồng sau đó được bơm đầy khí thải động cơ diesel. “Mọi người nghi ngờ chuẩn mực đạo đức của tôi”, ông thừa nhận. “Nhưng tôi chỉ ra rằng mức độ ô nhiễm bên ngoài, trên con đường họ đi đến nơi nghiên cứu có lẽ còn tồi tệ hơn.” Những gì họ phát hiện ra đã thực sự gây sốc. Khi bị phơi nhiễm với mức độ khí thải động cơ thông thường trên đường phố, máu trở nên đặc hơn và có khả năng bị đông. Những dấu hiệu của áp lực lên tim xuất hiện ngay lập tức. Huyết áp tăng và các động mạch bị mỏng đi rõ rệt. Nó rất giống với hút thuốc lá – thứ mà Newby gọi là “ô nhiễm không khí tự gây ra” – ngoại trừ việc, với ô nhiễm trên đường phố, không có lựa chọn từ bỏ. “Mọi người đang hấp hối không phải do hen suyễn mà do bệnh tim và đột quỵ gây ra bởi ô nhiễm không khí… Rất nhiều người cảm thấy ngạc nhiên, trong đó có tôi.”

Chất lượng không khí kém không chỉ là vấn đề quá khứ. Trên thực tế, có nhiều hạt ô nhiễm trong không khí ở thời điểm hiện tại hơn trong khoảng thời gian cuộc Đại Sương Mù xảy ra ở London. Sự khác biệt ở đây đó là hạt vật chất/ bụi (PM) từ các nguồn ô nhiễm hiện đại là quá nhỏ để có thể nhìn thấy.

Gần hai phần ba dân số tại Anh Quốc đang sống ở những khu vực có mức độ ô nhiễm không khí vượt ngưỡng cho phép của Liên minh Châu Âu. Dan Thorpe, ban ngày là giáo viên tiểu học địa phương, thời gian còn lại là một ủy viên hội đồng được bầu của quận Greenwich, nói với tôi: “Trường học của tôi, Tiểu học Windrush, nằm ngay bên cạnh Đập Sông Thames, vì vậy chúng tôi có phà Woolwich và vòng xuyến ở một đầu, khu công nghiệp thì ở phía sau… họ xếp các xe tải chở hàng nặng [lên phà], và khi họ vào vòng xuyến, chỉ cần một sự cố nhỏ là giao thông sẽ bị dồn ứ và bạn có một sự cố [ô nhiễm] nghiêm trọng sau đó… Một khi bạn biết được chuyện gì đang xảy ra thì đó giống như là một tình huống thảm họa rồi.”

Là một người miền nam London, thuộc gia đình lâu đời tại đây, Nick Hussey đã lớn lên với việc đua xe đạp. Trong khi bạn bè hứng thú với bóng đá, thần tượng của anh là nhà vô địch Tour de France Miguel Induráin và Greg LeMond. Kể từ đó, anh đạp xe thường xuyên và giấc mơ đua xe dần nhường chỗ cho một cuộc sống bình thường hơn của một người đạp xe đi làm. Vào tháng 5 năm 2005, ở tuổi 32 và đang sống tại London, cơn “sốt hoa cỏ” hay còn gọi là viêm mũi dị ứng của anh bắt đầu. “Tôi vẫn còn nhớ cảm giác đau nhói, cay xè trong mắt và không thể thở bình thường”, anh nói với tôi. “Không lâu sau đó, tôi bắt đầu gặp vấn đề với việc ăn một số loại thực phẩm. Tôi dường như đang phải vật lộn với một vấn đề histamine lớn. Tôi bắt đầu cảm thấy khó khăn khi đạp xe, đặc biệt là trong những tháng trời nóng. Nhưng những điều này dường như không khớp với sốt hoa cỏ. Tôi đã không thực sự hiểu về điều này.” Sinh sống gần một tuyến đường lớn ở phía tây nam London, việc hô hấp của anh chuyển biến xấu đến mức anh đã hai lần phải vào Khoa Tai nạn và Cấp cứu. “Hệ thống Y tế Quốc gia thực ra đã kiểm tra xem tôi có điều gì không ổn khá nhanh. Họ phát hiện ra rằng thực chất tôi có dung tích phổi lớn hơn nhiều so với dung tích phổi trung bình, vì vậy tôi đáng ra không nên có vấn đề về hô hấp. Họ làm các xét nghiệm và thu hẹp nguyên nhân. Họ loại trừ phấn hoa. Họ loại trừ chế độ ăn.” Cuối cùng, một chuyên gia trong một căn phòng tư vấn xám xịt của bệnh viện đã đưa tin. “Ông ấy chỉ nói: “Phải, đó là ô nhiễm không khí: chào mừng đến London.” Giống như đó là điều bình thường nhất trên đời, như thể ông ta thấy nó xảy ra hàng ngày.” Anh ấy nghe có vẻ khó chịu khi nói với tôi. “Nếu điều đó đơn giản và rõ ràng đến vậy, tại sao chúng ta không biết nhiều hơn về nó? Và tại sao mọi người lại không cảm thấy giận dữ hơn về điều này?”

Theo luật của Liên minh Châu Âu, một thành phố được phép vi phạm giới hạn phát thải nitrogen dioxide (NO2 ) tính theo trung bình giờ tối đa 18 lần trong một năm dương lịch. Năm 2016, London chỉ trong vòng 7 ngày đã vượt qua giới hạn cho phép hàng năm đó. Trong năm 2017, con số giảm xuống còn 5 ngày, số thời gian được phép vi phạm hàng năm được sử dụng hết vào ngày 5 tháng 1. Vào tháng 10 năm 2017, kế hoạch cắt giảm ô nhiễm NO2 của chính phủ mờ nhạt đến nỗi nó bị Tòa án Tối cao coi là bất hợp pháp và không thỏa đáng. Ngay cả Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc cũng vào cuộc, đưa ra một báo cáo dài 22 trang về ô nhiễm không khí tại Anh Quốc, trong đó ước tính rằng tác động của không khí chất lượng kém khiến nước Anh tốn khoảng 18,6 tỷ bảng Anh mỗi năm cho chi phí y tế. Bản báo cáo năm 2017 của tổ chức này đã chỉ trích: “Ô nhiễm không khí tiếp tục hoành hành tại Anh Quốc… Trẻ em, người già và những người có vấn đề về sức khỏe từ trước có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh, tàn tật và tử vong, và rủi ro càng tăng cao đối với người nghèo và dân tộc thiểu số.”

Thay vì học hỏi từ những bài học trong cuộc Đại Sương Mù, vào những năm 2000, London trở thành trung tâm toàn cầu của khói thải diesel, một trong những nguồn NO2 và hạt vật chất gây ô nhiễm lớn nhất.I Vào năm 1950, có khoảng 35 triệu ô-tô trên toàn cầu. Ngày nay, chỉ tính riêng ở Anh Quốc lượng ô-tô đã gần bằng con số trên. Trong khi đó, các lò sưởi đốt than và củi trong hộ gia đình, vốn đã bị nghiêm cấm ở các vùng nội thành bởi Đạo luật Không khí sạch, đang trở lại một cách bất ngờ. Được đổi tên thành “các lò đốt sinh khối” sử dụng “nhiên liệu tái tạo”, chúng được khuyến khích sử dụng một cách tích cực. Một tài liệu tham vấn của chính phủ vào năm 2018 đã thừa nhận rằng sự “gia tăng đốt cháy các loại nhiên liệu rắn trong các hộ gia đình cũng đang có tác động đến chất lượng không khí và hiện là nguồn phát thải PM lớn nhất quốc gia”. Tại trung tâm London, việc đốt gỗ củi là nguồn gây ra 31% PM2.5 có nguồn gốc từ đô thị – có lẽ là lần đầu tiên kể từ những năm 1950.

Báo cáo của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc kết luận, “Qua việc không hành động một cách khẩn trương và hiệu quả nhất có thể, cũng như không thực hiện mọi biện pháp có thể để làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và gia tăng tuổi thọ, chính phủ Anh Quốc đã thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em trong phạm vi quyền hạn của mình”. Trong số 51 thị trấn và thành phố của Anh Quốc được liệt kê trong cơ sở dữ liệu chất lượng không khí năm 2018 của WHO, có 44 thành phố và thị trấn vi phạm các giới hạn PM2.5 theo khuyến cáo của WHO.

Hiện tượng “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” tại Bắc Kinh
Năm 2008, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh đã đưa ra một quyết định gây tranh cãi. Ở một quốc gia không có dữ liệu chính thức nào về ô nhiễm không khí được cung cấp đến người dân, Đại sứ quán Hoa Kỳ đã lắp đặt một cảm biến ô nhiễm không khí trên sân thượng, cụ thể là máy đo MetOne BAM 1020 và Ecotech EC9810. Cũng trong năm đó, họ thiết lập một tài khoản Twitter, @beijingair, để tự động đăng tải nồng độ PM2.5 theo trung bình giờ, cập nhật hàng giờ trong ngày. Mặc dù nhiều lần bị chính quyền Trung Quốc yêu cầu gỡ bỏ, đại sứ quán vẫn tiếp tục đăng tải chỉ số PM2.5. Phó Thủ tướng về Bảo vệ Môi trường Wu Xiaoqing phát biểu trong một cuộc họp báo: “Các nhà ngoại giao có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ các quy định và luật pháp [địa phương]… Chúng tôi mong muốn các đại sứ quán và lãnh sự quán sẽ tôn trọng luật pháp Trung Quốc và ngừng đăng tải dữ liệu về chất lượng không khí.” Mark Toner, thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đáp trả: “Chúng tôi cung cấp cho cộng đồng người Mỹ, cùng với nhân viên đại sứ quán và lãnh sự quán của chúng tôi… thông tin mà họ có thể sử dụng để đưa ra các quyết định thường nhật tốt hơn liên quan đến sự an toàn của các hoạt động ngoài trời.”I

Những lý do đằng sau hành động ấy là rõ ràng. Bầu trời khắp Trung Quốc và đặc biệt là tại phía bắc tỉnh Hà Bắc, đang dần xám xịt theo năm tháng. Năm 2004, nhà báo Trung Quốc Chai Jing đã hỏi một đứa trẻ rằng em đã từng nhìn thấy những ngôi sao bao giờ chưa? Câu trả lời của em là chưa. Em đã bao giờ nhìn thấy bầu trời xanh chưa? “Chỉ xanh nhạt thôi”, đứa bé nói. Vậy còn những đám mây trắng? “Chưa.” Cho đến năm 2009, Cục Bảo vệ Môi trường Trung Quốc đã thực hiện dự án thí điểm tại các thành phố lớn của mình để theo dõi “khói mù” – một cách nói giảm nói tránh cho khói bụi, trước khi khói bụi chính thức được thừa nhận là có tồn tại – và phát hiện ra số ngày có khói mù hàng năm dao động từ mức thấp 51 ngày lên mức cao 211 ngày trong năm.

“Lần đầu tiên tôi để ý đến nó, khi thực sự bắt đầu nhìn thấy là vào cuối những năm 1990”, doanh nhân người Mỹ Manny Menendez nói khi chúng tôi gặp nhau ở Bắc Kinh vào tháng 12 năm 2017. Manny đã làm việc tại Trung Quốc kể từ khi đất nước này mở cửa biên giới cho phép thương mại quốc tế, là người đàm phán cho thỏa thuận liên doanh đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vào năm 1980. “Tôi nhớ vào những ngày đầu tiên… hoạt động công nghiệp diễn ra ở trung tâm thành phố, vì như vậy rất dễ [tiếp cận]. Từ quan điểm bền vững hoặc thiết kế đô thị, điều đó đơn giản là không hiệu quả.” Manny thừa nhận, nhiều thập kỷ làm việc ở Trung Quốc đã gây ra cho anh những vấn đề về sức khỏe. “Tôi bị thở khò khè. Tôi có khẩu trang nhưng lại không sử dụng nhiều. Nếu tình trạng khí thải trở nên tồi tệ và chỉ số PM2.5 thực sự cao…” Anh dừng lại để ho khi nói điều này, như thể bị kích động bởi ý nghĩ đó, “… thì tôi sẽ bị thở khò khè kéo dài ít nhất một tuần đến 10 ngày. Nó không hết hẳn”. Manny có những đối tác kinh doanh đã cùng gia đình chuyển ra khỏi Bắc Kinh vì “không muốn con cái họ lớn lên với các vấn đề về hô hấp”.

Khi Viện Công vụ & Môi trường (IPE), một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Bắc Kinh, công bố Chỉ số Chất lượng Không khí Minh bạch (AQTI) đầu tiên vào năm 2010, không có dữ liệu về chất lượng không khí hàng ngày tại bất kỳ thành phố nào tại Trung Quốc. Bản báo cáo của IPE đã phải sử dụng dữ liệu của ngành công nghiệp và các thông tin ít ỏi có trong “Báo cáo về Tình trạng Môi trường tại Trung Quốc” hàng năm của chính phủ, trong đó không đưa ra mức độ chi tiết nào ngoài tỷ lệ các thành phố (không nêu tên) đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia (không xác định) từ cấp độ 1 cho đến 3. Đáp lại, bản báo cáo đầu tiên của IPE đã không khoan nhượng, gây ngạc nhiên cho nhiều người ở Trung Quốc và giới quan sát phương Tây: “Trong những năm gần đây, ô nhiễm không khí đã trở thành một trong những vấn đề môi trường cấp bách mà các thành phố tại Trung Quốc phải đối mặt”. Với tuyên bố vào năm 2010, IPE trở thành một trong những tổ chức đầu tiên công khai phát biểu về điều này. “Chất lượng không khí kém không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng trăm triệu cư dân đô thị mà còn đe dọa đến sức khỏe và sự an toàn của họ. Trung Quốc đang trải qua giai đoạn phát triển công nghiệp và đô thị nhanh chóng, cũng chính là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm không khí tại nhiều thành phố của nước này… Hiện tại, Trung Quốc chưa xây dựng được một mạng lưới theo dõi sức khỏe và ô nhiễm không khí quốc gia toàn diện.” Không giống như bản báo cáo mơ hồ của chính phủ, IPE liệt kê các “thủ phạm” chính: “Ô nhiễm khói than… các vấn đề về ô nhiễm lưu huỳnh dioxide (SO2 ) và hạt bụi phát tán tại khu vực thành thị… số lượng xe cơ giới làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của ô nhiễm khí thải. Các vấn đề ô nhiễm không khí như khói mù, sương mù quang hóa và mưa acid… đang nghiêm trọng hơn theo từng ngày.”

Trong khi đó, thiết bị giám sát chất lượng không khí của Đại sứ quán Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đăng bài. Bản thân ứng dụng Twitter đã bị chặn bởi Đại Tường lửa của Trung Quốc vào năm 2009, nhưng dù vậy một số ứng dụng trên điện thoại di động và Weibo (ví như bản tiếng Trung của Twitter) vẫn đăng các chỉ số trên @beijingair. Nếu chỉ số PM2.5 vượt quá 200 microgram trên một mét khối không khí (µg/m3), tài khoản @beijingair sẽ tự động đưa ra cảnh báo “rất có hại cho sức khỏe”; trên 400 µg/m3, cảnh báo trở thành “nguy hiểm”. Tuy nhiên, với mức trên 500 µg/m3, được cho là khó có thể xảy ra đến mức tài khoản được lập trình một cách bất cẩn để thông báo rằng không khí “tệ kinh khủng”. Vào ngày 18 tháng 11 năm 2010, điều không thể đã xảy ra. Cảnh báo “tệ kinh khủng” đầu tiên được đưa ra vào lúc 8 giờ tối, khi chỉ số tăng lên 503 µg/m3 (và đạt đỉnh vào ngày hôm sau ở mức 569 µg/m3) – khiến cho cả Đại sứ quán Hoa Kỳ và chính quyền Trung Quốc phải lúng túng. Nó được nhanh chóng sửa đổi thành “vược quá mức hiển thị”, nhưng đã quá muộn. Cảnh báo “tệ kinh khủng” được lan truyền mạnh mẽ. “Mạng xã hội Trung Quốc bắt đầu dành sự quan tâm và đăng tải lại cảnh báo này trên Weibo”, Kate Logan, giám đốc của IPE, hồi tưởng lại khi tôi đến thăm văn phòng IPE tại Bắc Kinh. “Người dân Trung Quốc đã bắt đầu để ý.”

Sau đó, “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” xảy ra vào năm 2013. Nếu như Đại sứ quán Hoa Kỳ từng khiến người dùng Twitter xôn xao về chỉ số 500 µg/m3 vào năm 2010, thì vào ngày 12 tháng 1 năm 2013, nó đã báo cáo chỉ số hơn 800 µg/m3. Ngay cả Cục Bảo vệ Môi trường Bắc Kinh, lúc này đã bắt đầu miễn cưỡng công bố vài chỉ số chính thức, cũng cho thấy mức PM2.5 vượt quá 700 µg/m3. Liam Bates, một người Anh gốc Thuỵ Sĩ đang sinh sống tại Bắc Kinh, hồi tưởng: “Cảm giác như lúc đó đang là 6 giờ chiều, mặt trời đang lặn và mọi thứ bắt đầu tối dần – nhưng thực chất chỉ mới là giờ ăn trưa. Chuyện đó thật điên rồ. Thực sự có cảm giác như ngày tận thế – khi ấy đang là giữa ban ngày, và bầu trời dần chuyển màu đen kịt… mọi người bắt đầu hoảng hốt… Ngay cả những người [trước đây] nghi ngờ cũng nghĩ, “chết rồi, chuyện này thật là kinh khủng”.”

Từ ngày 10 đến 14 tháng 1, chỉ số µg/m3 không bao giờ ở dưới mức ba chữ số; mức trung bình cả tháng ở vào khoảng 200 µg/m3. Để làm rõ hơn về điều này, nó còn dày đặc hơn cả không khí ở bên trong một phòng hút thuốc thông thường tại sân bay (167 µg/m3, theo một nghiên cứu năm 2012 của Hoa Kỳ). Ngưỡng an toàn cho sức khỏe hàng ngày do WHO thiết lập chỉ ở mức 25 µg/m3. Trong khoảng thời gian xảy ra “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí”, tờ South China Morning Post cho biết Bệnh viện Nhi Bắc Kinh đang tiếp nhận hơn 7.000 bệnh nhân mỗi ngày, với số trẻ em đang được điều trị bệnh hô hấp cao nhất trong vòng 5 năm.

Vào năm xảy ra “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí”, Trường Quốc tế Bắc Kinh, một trường tư thục dành cho con cái của người nước ngoài và người dân địa phương giàu có, đã dựng lên một mái vòm áp lực khổng lồ trên sân chơi ngoài trời để tránh bầu không khí giờ đây không thể thở được của thành phố. Cấu trúc mái vòm được nâng đỡ bởi những chiếc quạt áp suất khổng lồ thanh lọc không khí, cho phép những học sinh trả phí được tiếp tục vui chơi “ngoài trời”. Cũng trong năm đó, những lon nước được bơm đầy không khí nén không chứa PM, bao gồm nhiều “hương vị”, trong đó có “Tây Tạng Nguyên chất”, đã được bày bán trên đường phố ở Bắc Kinh. Nó đáng ra đã là một tác phẩm nghệ thuật trình diễn hoàn hảo, nếu không vì thực tế là người làm ra những chiếc lon này, Chen Guangbiao, là một doanh nhân ở đỉnh cao của sự bùng nổ kinh tế Trung Quốc. Anh này sau đó đã bán được 12 triệu lon, thu về 7 triệu đô-la (hơn 5 triệu bảng Anh). Người dân đang cần một bầu không khí sạch hơn và sẵn sàng trả tiền cho nó.

Trên thực tế, “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” không phải là một sự kiện ô nhiễm không khí đơn lẻ. Nó chỉ là điều tồi tệ nhất trong số những điều xảy ra đều đặn vào mỗi mùa đông. Trong vòng 30 năm tính đến 2015, tỷ lệ ung thư phổi ở Trung Quốc đã tăng thêm 465%, trong giai đoạn mà thực chất tỷ lệ hút thuốc lá lại giảm xuống. Vào năm 2013, một bé gái 8 tuổi ở tỉnh Giang Tô trở thành bệnh nhân ung thư phổi trẻ nhất Trung Quốc; bác sĩ điều trị cho cô tin rằng nguyên nhân là do phơi nhiễm với ô nhiễm không khí. Trong Cuộc đua Marathon Bắc Kinh 2015, 6 người lên cơn đau tim do mức độ PM2.5 vào ngày hôm ấy. Một bài báo trong năm đó chỉ ra rằng vào những ngày tồi tệ nhất ở Bắc Kinh, một người dân bình thường hít thở phải không khí bị ô nhiễm sẽ tương đương với việc hút 25 điếu thuốc lá. Ngày tồi tệ nhất được ghi nhận vào năm 2015 tại thành phố Thẩm Dương của Trung Quốc đã chứng kiến mức ô nhiễm PM đạt tới 1.400 µg/m3 (gần bằng 3 ngày “tệ kinh khủng” cộng lại) – tương đương với việc hút 64 điếu thuốc lá. Ngay cả những người khỏe mạnh và hút thuốc thường xuyên nhất cũng sẽ gặp khó khăn với tần suất dày đặc này.I Sự khác biệt đương nhiên là tại thành phố Thẩm Dương, nơi khói thuốc tác động lên trẻ sơ sinh và người ốm yếu liên tục.

Tình trạng khói bụi tại Trung Quốc đã gói gọn những vấn đề trong cả quá khứ lẫn hiện tại của London: than nội địa và khói thải từ nhiên liệu rắn, ô nhiễm do hoạt động công nghiệp và khói thải từ phương tiện giao thông hiện đại. Trung Quốc chỉ có 18 triệu phương tiện giao thông vào năm 2001. Cho đến năm 2015, số lượng phương tiện đã đạt 279 triệu.

Delhi: năm 2017
Vào ngày 6 tháng 11 năm 2017, Vua Philippe và Nữ hoàng Mathilde của nước Bỉ đã tham dự một buổi lễ tại Delhi. Trong khi đang tưởng niệm những người lính Ấn Độ đã chiến đấu tại Flanders trong Thế chiến thứ nhất, một màn sương đã che phủ đội lính danh dự, gợi nhớ lại đám khói từ hỏa lực pháo binh và khí mù tạt của thế kỷ trước. Tuy nhiên, đây không hề là một kế hoạch tái hiện. Vào thời điểm 11 giờ sáng ngày hôm đó, nồng độ PM2.5 tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Delhi đã đạt mức độ gây ngạt thở 986 µg/m3. Khi Thủ tướng Modi cùng cặp đôi hoàng gia Bỉ chuẩn bị chụp ảnh, họ còn không thể nhìn thấy đội lính danh dự. Ngày hôm sau, chỉ số PM đạt đỉnh 1.486 µg/m3 – một trong những mức cao nhất từng được ghi nhận. Chỉ số không giảm xuống dưới mức ba chữ số cho đến ngày 17 tháng 11 (và kể cả đến lúc đó thì cũng chỉ xê dịch một chút).

Theo Trung tâm Khoa học và Môi trường, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Delhi, “những nguyên nhân chính dẫn đến kiểu khói bụi này tại Delhi và vùng lân cận là các phương tiện giao thông; hoạt động xây dựng không được kiểm soát và khói bụi đường phố; việc đốt rác, đốt rơm rạ của nông dân ở các bang Punjab, Haryana… trong điều kiện thời tiết gần như lặng gió; sự khởi đầu của mùa đông; và đương nhiên là, pháo nổ tại lễ hội ánh sáng Diwali”. Trước tình trạng này, Arvind Kejriwal, thủ hiến của thành phố, đã yêu cầu các trường học đóng cửa trong 3 ngày, tạm dừng hoạt động xây dựng và phá dỡ trong 5 ngày và đóng cửa nhà máy than Badarpur tại trung tâm thành phố trong 10 ngày. Báo chí quốc tế đã đăng tải những dòng tiêu đề như “Tôi cảm thấy bất lực”: Cư dân Delhi trong cuộc khủng hoảng khói bụi (tờ Guardian, ngày 8 tháng 11 năm 2017) và “Chất lượng không khí tại New Delhi tệ hơn cả việc hút 50 điếu thuốc mỗi ngày” (tờ Sky News, ngày 11 tháng 11 năm 2017).

Vào ngày 19 tháng 11, kênh truyền hình Ấn Độ NDTV đã khởi phát chương trình tranh luận với phần giới thiệu đầy cảm xúc: “Trong tuần này, nếu bạn sinh sống ở Bắc Ấn Độ, có lẽ bạn đang ước là không phải một màn khói bụi độc hại đã lần lượt bao trùm xuống khắp các thành phố. Dù vậy, cuộc sống dường như vẫn tiếp diễn bình thường. Khi chất lượng không khí chuyển từ nghiêm trọng sang rất kém, chúng ta thực ra lại ăn mừng… Có một sự im lặng đến từ các nhà lãnh đạo khi các bộ trưởng môi trường phát biểu rằng “ít nhất thì nó cũng không tệ như thảm họa Popol”, ngay cả khi hàng loạt nghiên cứu chỉ ra rằng hàng triệu người Ấn Độ đang chết dần chết mòn vì đợt ô nhiễm này. Làm thế nào để chúng ta, với tư cách là các công dân, và các chuyên gia về chăm sóc sức khỏe của chính phủ, có thể cùng nhau tìm cách cứu lấy bản thân khỏi tình trạng khẩn cấp về sức khỏe này?”

Vào ngày 22 tháng 11, tôi đặt chân đến Delhi. Khi chuyến bay của tôi bắt đầu hạ cánh, hai cánh của máy bay cắt qua một dải mây xám xịt đang chờ bên dưới. Tuy nhiên, khi chúng tôi xuống thấp hơn, dải màu xám trông quá phẳng và đều đó có thể là mây. Và nó trong mờ – có thể nhìn xuyên qua để thấy được các tòa nhà, như những viên sỏi dưới đáy của một vũng bùn. Tôi nhận ra rằng hôm đó là một ngày nắng, không có mây: đây là màn khói bụi.

Tại sân bay, tôi tìm một thẻ SIM địa phương cho điện thoại của mình và gọi taxi – hối hận vì không sử dụng phương tiện giao thông công cộng, nhưng chiếc taxi là cần thiết để biết được về câu chuyện lúc bấy giờ của Delhi. Tôi cần phải nhìn tận mắt những con đường. Giao thông di chuyển theo kiểu dừng‑đi gián đoạn, hiếm khi có ít hơn bốn hoặc năm hàng xe, và bất kể có bao nhiêu làn đường đi chăng nữa, mỗi lái xe đều cố gắng lấp đầy những khoảng trống nhỏ nhất vừa xuất hiện, tìm kiếm một lợi thế vô hình. Ở ghế sau của chiếc taxi, máy đo Laser Egg của tôi hiển thị nồng độ PM2.5 trên 300 µg/m3: mức độ mà cá nhân tôi chưa từng trải qua. Tôi tập trung làm mọi thứ chậm nhất có thể để kiểm soát nhịp thở và nhịp tim của mình. Trong những ngày sau đó, tôi dần quen thuộc với một âm thanh xuất hiện liên tục trên đường phố Delhi: tiếng khạc khô khan do viêm xoang. Những người lái xe và đi bộ đều buộc phải loại bỏ dịch nhầy bằng cách nhổ nó xuống đất. Điều đó có vẻ thô lỗ nếu nó không thật sự cần thiết. Tại nhiều thời điểm trong chuyến đi, tôi cũng bất đắc dĩ phải làm vậy.

Tại phòng B&B của tôi, chủ nhà Vandana chào đón tôi bằng bánh mì nướng và trà nóng (cô ấy hẳn là hiểu rất rõ về người Anh). “Thật là một ngày tuyệt vời để đến nơi này”, Vandana kêu lên. “Màn khói bụi đã biến mất!” “Biến mất ư?” Tôi ngạc nhiên trả lời, nghĩ đến màu trắng đục ảm đạm trên bầu trời và chỉ số trên máy đo của tôi. “Ồ phải. Tuần trước nó ở vào khoảng 1.000”, cô nói, ý muốn nhắc đến AQI.I “Nhưng bây giờ chỉ còn 200 hoặc khoảng đó. Màn khói bụi đã biến mất cách đây một vài ngày.” Dù vậy, cô ấy vẫn khuyên tôi nên mua khẩu trang, kể cả khi tôi chỉ đi bộ bên đường. “Cổ họng của cậu có thể sẽ cảm thấy đau rát vào cuối ngày”, Vandana nói, “nhưng nếu chuyện đó xảy ra – chỉ cần đun một ít nước ấm và súc miệng. Giống như đi tắm vậy. Thông thường thì nó sẽ có hiệu quả”. Khi cô ấy rời đi để tôi dỡ đồ, tôi quay sang chiếc máy lọc không khí trong nhà và tăng thêm một nấc. Nhưng như chiếc màn cửa dập dờn bên khung cửa sổ lỏng lẻo, tôi biết rằng nó sẽ không có nhiều tác dụng. Khi tôi đi ngủ, máy đo không bao giờ giảm xuống dưới mức 70 µg/m3. Sáng hôm sau, một số ít công nhân đang dùng tay phá dỡ từng viên gạch một của khối nhà đối diện căn hộ nơi tôi đang ở. Họ thắp lửa để giữ ấm và nấu ăn. Tôi không thể nhìn thấy họ đang đốt thứ gì nhưng nó có mùi ngọt đến khó chịu. Chỉ số trên máy đo vượt mức 200 µg/m3.

Sau đó, tại Viện Công nghệ Ấn Độ [IIT], những bãi cỏ rộng lớn và những con đường riêng ôm lấy những khối nhà vững chắc từ thập niên 1970 của các ban ngành, chỉ một số ít cao hơn ba tầng, trải dài đến tận chân trời; trên tầng hai của dãy nhà dành cho ngành Kỹ thuật Xây dựng Dân dụng, tôi tìm đến cánh cửa màu nâu với bảng tên “Giáo sư Mukesh Khare”.

“Tôi gia nhập IIT Delhi với tư cách là giáo sư vào năm 1991, và làm việc trong lĩnh vực chất lượng không khí kể từ đó”, Giáo sư Khare nói với tôi. “Delhi từng gặp vấn đề với CO [carbon monoxide] vào những năm 1990. Nhưng… vấn đề hiện nay là NO2 và CO, xuất phát từ nhiên liệu nhiệt độ cao, và cả PM2.5. Diesel cũng là một nguyên nhân khác.” Gần đây Delhi đã được xếp hạng là thành phố lớn ô nhiễm nhất thế giới xét về ô nhiễm không khí xung quanh. Nồng độ PM2.5 trung bình hàng năm theo tài liệu chính thức tại Delhi vào năm 2014 là 153 µg/m3, gấp 15 lần so với khuyến nghị của WHO, với nồng độ hàng ngày thường vượt quá 550 µg/m3 (cao hơn mức “tệ kinh khủng” 500 của Bắc Kinh).

Khi tôi đến thăm Viện Nghiên cứu Đường bộ Trung tâm (CRRI), Tiến sĩ Niraj Sharma, nhà khoa học trưởng cấp cao về môi trường, người đã nghiên cứu về khí thải đường bộ trong suốt 25 năm qua, vừa nói vừa thò tay vào ngăn kéo bàn của mình. “Tôi rất thích sưu tầm những mẩu báo được cắt ra”, ông giải thích. “Cậu có thể lướt qua những thứ này.” Ông lôi ra một tập dày những bài báo mà ông ấy đã cẩn thận cắt. Tôi đọc thành tiếng một vài tờ trong số đó: “Chất lượng không khí cải thiện đôi chút tại Delhi, một lần nữa ở mức rất kém”, “Ô nhiễm suy giảm tại Delhi vào dịp lễ hội ánh sáng, nhưng chất lượng không khí vẫn tệ, vượt quá mức độ an toàn”, “Chính phủ thông báo rằng ô nhiễm không khí tăng vọt sau khi bắn pháo hoa”, “Tốc độ gió thấp khiến chất lượng không khí Delhi rất kém”, “Delhi, ngươi đang giết ta”, “Khói bụi làm ngạt thở thành phố, các bác sĩ tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe”. Ông có đồng ý với điều đó không, tôi hỏi – đó có phải là một trường hợp khẩn cấp về sức khỏe? “Đúng. Lần này thì là có. Lần đầu tiên sau 25 năm, khoảng 10 ngày trước, tôi cảm thấy như bị nghẹt thở khi ở ngoài trời… Tôi đã từng cảm thấy khó chịu [trước đây] nhiều lần, nhưng giờ đây tôi cảm thấy như đang bị bóp nghẹt.”

Dân số của Delhi, thành phố lớn thứ hai trên thế giới tại thời điểm viết bài, được Liên Hợp Quốc dự báo sẽ tăng từ 24,9 triệu vào năm 2014 lên 36 triệu vào năm 2030. Khi thành phố mở rộng, số lượng ô-tô và đường sá cũng vậy. Tiến sĩ Sharma nói với tôi rằng trong năm 2010, số lượng phương tiện giao thông ở Delhi là khoảng 6 triệu; “Giờ đây con số là 10 triệu.” Ô nhiễm do phương tiện giao thông được xác định là chiếm khoảng 72% tổng lượng ô nhiễm không khí tại Delhi, so với chỉ 23% vào năm 1970-1971. Các thành phố khác của Ấn Độ đã không chọn cách phát triển tương tự. Greater Mumbai chỉ tăng từ 1 triệu đến 1,7 triệu xe so với cùng kỳ, mặc dù có dân số đông tương tự với 20,7 triệu người.

Shubhani, một nữ doanh nhân ở Delhi, nói với tôi: “Hằng năm bạn thấy rằng những đứa trẻ phải sử dụng máy xông mũi họng, chúng bị ho, ốm yếu – đặc biệt là những bé nhỏ tuổi. Một trong những người bạn của tôi có con phải liên tục sử dụng một loại thuốc nào đó. Và thực sự không còn gì khác [như một nguyên nhân], ngoài không khí mà chúng ta hít thở.” Mong muốn cho tôi xem một số bằng chứng, cô ấy tìm kiếm hình ảnh đã lưu trên điện thoại của mình. Đó là trang nhất của một tờ báo từ vài tháng trước, cho thấy các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Ấn Độ: năm 1990, năm nguyên nhân hàng đầu là tiêu chảy, biến chứng đường hô hấp dưới, biến chứng trước sinh, bệnh lao và sởi. Cho đến năm 2016, bệnh tim đột nhiên đứng đầu danh sách, chiếm 8,7% tổng gánh nặng bệnh tật, so với chỉ 3,7% vào năm 1990. Đứng thứ hai là bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, sau đó lại là tiêu chảy, rồi đến biến chứng đường hô hấp dưới, rồi đến đột quỵ. Mọi nguyên nhân mới xuất hiện trong danh sách đều có sự liên kết mạnh mẽ với ô nhiễm không khí.I Người đứng đầu phòng thí nghiệm không khí trong Ban Kiểm soát Ô nhiễm Trung ương nói với tờ Hindustan Times vào tháng 7 năm 2017 rằng Delhi đã không có một ngày nào trong 535 ngày trước đó có chất lượng không khí được đánh giá là “tốt”.

Jyoti Pande Lavakare là một nhà kinh tế, nhà báo tài chính và tự nhận mình là một “bà mẹ trường trung học tại Delhi”, hỗ trợ điều hành một đội ngũ trong chiến dịch dành cho các bậc cha mẹ đang lo lắng. Tại ngôi nhà của cô trong một khu phố trung lưu nhiều cây cối, các công viên công cộng xuất hiện giữa mọi dãy nhà, được tưới nước quá mức. Bảo vệ ngồi ở bên ngoài mỗi cổng ra vào. Những khu phố như vậy đáng lẽ ra phải không bị ảnh hưởng bởi thứ gì đó phiền phức như ô nhiễm, song máy đo của tôi vẫn hiện chỉ số 280 µg/m3. Những tia nắng vỡ vụn soi rọi không gian ngoài trời trông giống như bụi bặm trong một căn gác mái. Jyoti nói với tôi rằng một số đại sứ quán nước ngoài hiện phân loại Delhi là một “bài toán khó” – họ không gửi các nhà ngoại giao cùng gia đình đến Delhi nữa. United Airlines gần đây đã hủy các chuyến bay đến Delhi trong khoảng thời gian tồi tệ nhất của đợt khói mù tháng 11. “Nó dần được hình thành trong cộng đồng quốc tế như là một bí mật mở”, cô nói. “Nó trở thành thứ mà mọi người đều biết đến nhưng không muốn thảo luận.” Điện thoại của cô ấy reo vang với nhạc chuông là bài Yellow của Coldplay. “Tôi sẽ nhận cuộc gọi nếu đó là từ các bác sĩ”, cô ấy nói một cách hối lỗi. “Ổn rồi, nó không phải… Đó là điều kỳ lạ, Tim. Giờ đây tôi tham gia cuộc chiến đấu này vì lý do cá nhân. Mẹ tôi mới đây được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi. Bà là một công dân Delhi lâu năm. Chúng tôi không có tiền sử mắc bệnh ung thư trong gia đình mình… bà không phải là người hút thuốc. Bà chỉ hít thở bầu không khí của Delhi.”

Chỉ vài ngày sau khi tôi rời Delhi, một trận đấu cricket quốc tế được tổ chức tại thủ đô – trận đấu kinh điển giữa Ấn Độ và Sri Lanka – đã chứng kiến mức khói bụi tệ đến nỗi trọng tài đã tạm dừng trận đấu trong 20 phút để tham khảo ý kiến các bác sĩ của hai đội. Đó là trường hợp đầu tiên được ghi nhận của một trận đấu cricket quốc tế bị tạm dừng do khói bụi. Trận đấu lại tiếp tục nhưng hai cầu thủ giao bóng rời sân và phàn nàn về việc khó thở. “Chúng tôi có những cầu thủ ra sân rồi nôn mửa”, huấn luyện viên của đội Sri Lanka phàn nàn với các phóng viên. “Có cả bình oxy ở trong phòng thay đồ.”

Hiện tượng “sương mù quang hóa” tại LA
Màn khói bụi đầu tiên xuất hiện tại Los Angeles là vào năm 1943. Nhiều người khi ấy lo sợ rằng đó là một cuộc tấn công hóa học của Nhật Bản, khiến cho đường phố trở nên hoảng loạn. Nhưng trên thực tế, hiểm họa ấy lại xuất phát từ chính nơi này và sự xuất hiện của nó là có thể dự đoán được. Los Angeles, giống như Mexico City và Bắc Kinh, là một chiếc bẫy ô nhiễm tự nhiên. Khu vực này có địa hình dạng lòng chảo (với diện tích khoảng 1.630 dặm vuông) bị bao quanh bởi một vành núi cao, chính vành núi này đã giữ không khí lại ở phía dưới. Đầu thế kỷ XX, khói bốc lên từ các nhà máy thép, nhà máy hóa chất và lò đốt chất thải dần dần lấp đầy lòng chảo. Sau màn khói bụi năm 1943, các cơ quan chính phủ đã nhờ đến Tiến sĩ Arie Haagen-Smit, một nhà hóa sinh học tại Viện Công nghệ California, để điều tra những gì đang xảy ra. Nghiên cứu sau đó của ông đã phát hiện ra quá trình gây ô nhiễm ozone và đặt ra cụm từ “sương mù quang hóa”.

Bài viết “Kiểm soát ô nhiễm không khí tại Los Angeles” của Haagen-Smit, được xuất bản trong ấn bản tháng 12 năm 1954 của tờ Engineering and Science, kết luận rằng: “Phân tích hóa học của màn khói bụi cho thấy sự hiện diện của một lượng lớn các chất thành phần, trong đó có lưu huỳnh dioxide và bụi, được biết đến như những “kẻ gây rối” ở các khu công nghiệp khác nhau… Phát hiện về quá trình oxy hóa quang hóa của chất hữu cơ đi kèm với sự hình thành ozone đã [cung cấp] thêm bằng chứng khoa học cho sự cần thiết của việc kiểm soát khí thải hydrocarbon.” Cáo phó của Haagen-Smit trên tờ New York Times, năm 1977, có ghi: “Ông đã đương đầu với ngành công nghiệp dầu mỏ và ô-tô trong một cuộc chiến gần như tay đôi chống lại ô nhiễm từ nhiên liệu bị đốt cháy… thuyết phục ngành công nghiệp lọc sạch khói thải từ các ống khói nhà máy, thúc giục các nhà máy ô-tô phát triển phần cứng làm giảm khí thải và nhấn mạnh sự cần thiết của việc phải có kế hoạch kiểm soát phát triển công nghiệp.” Tuy nhiên, có một điều ông không thể ngăn cản, đó là tình yêu của thành phố dành cho xe hơi. Tiến sĩ Devra Davis ước tính rằng cho đến năm 1955, khoảng một nửa trong số 5 triệu dân của thành phố có một chiếc ô-tô, đốt cháy tổng cộng 58.000 tấn nhiên liệu mỗi năm. Los Angeles trước đó được biết đến với những chiếc xe điện, với 1.500 dặm đường ray, nhưng – giống như ở London – chúng đã bị gỡ bỏ để nhường chỗ cho ô-tô. Davis viết rằng, vào năm 1954, “những ngọn lửa trại khổng lồ được thắp lên khi những chiếc xe và tàu điện từng một thời chạy tại Hollywood bị tẩm dầu hỏa và đốt cháy”. Nếu có một hình ảnh tóm gọn sự sai lầm của việc ủng hộ nhiên liệu hóa thạch thay vì điện khí hóa vào giai đoạn giữa thế kỷ XX, thì đó chắc chắn là hình ảnh này.

Từ năm 1950 đến 1970, dân số miền nam California đã tăng gấp đôi, trong khi số lượng phương tiện giao thông tăng gấp ba. Ronald Reagan đã kêu gọi cư dân vào năm 1974 hạn chế “di chuyển bằng xe hơi ngoại trừ trường hợp thực sự cần thiết” và lái xe chậm hơn để giảm thiểu khí thải, nhưng lời kêu gọi của ông hầu như không có tác dụng. Các nghiên cứu ở California vào những năm 1980 đã bắt đầu kiểm tra các tác động tới sức khỏe của ô nhiễm khí thải phương tiện giao thông và phát hiện ra tỷ lệ chết sớm do bệnh tim mạch cao bất ngờ.

Mary Nichols, chủ tịch Hội đồng Tài nguyên không khí (CARB) từ năm 1979 đến 1983, hồi tưởng, “chỉ riêng việc giảm lượng [các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, hay VOC] trong không khí… đã gây ra rất nhiều tranh cãi, và nó đã vướng phải kiện tụng. Điều đó đồng nghĩa với việc dành hàng giờ tại các phiên điều trần với những công ty như Southern California Edison, những công ty đã chiến đấu quyết liệt cùng rất nhiều các chuyên gia khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thuyết phục rằng chúng ta không nên cố gắng [kiểm soát khí thải]”. Ở tình trạng tồi tệ nhất của nó, màn khói bụi tại LA “thiêu đốt phổi khi bạn hít phải và có mùi rất tệ – nó thực sự có mùi và vị – và không khí thì đáng ra không nên có đặc điểm đó”, Nichols nói. “Nó có vị của hóa chất và công nghiệp. Và nó cũng thật xấu xí – bạn có thể nhìn thấy nó, nó khiến cho mọi thứ trong tầm nhìn trở nên u ám. Và bạn có thể thấy những hậu quả mà nó để lại, trên các tòa nhà, các di tích, nơi nó ăn mòn đá và cẩm thạch. Và theo như cảm nhận của con người lẫn động vật – bởi vì thú nuôi cũng trải qua điều này – hơi thở trở nên đau đớn, khó nhọc và khả năng ở ngoài trời của chúng ta bị giảm thiểu. Mọi người được khuyên không nên đi ra ngoài… họ bị mắc kẹt trong chính ngôi nhà của mình.”

Sam Atwood là một phóng viên nhật báo trong những năm 1980 tại tờ San Bernardino Sun và tờ Santa Fe New Mexican. Năm 1990, ông đã giành một giải thưởng báo chí quốc gia cho một loạt tám bài về ảnh hưởng sức khỏe của khói bụi. “Vào năm 1987, cơ hội để làm việc cho một tờ báo tại Nam California xuất hiện”, ông nhớ lại, “vì vậy tôi đã bay đến để phỏng vấn – và bạn vẫn có thể có trải nghiệm này vào thời nay… bạn biết đấy, bạn đang thực sự bay thẳng vào một màn khói bụi… Dãy núi San Gabriel thật đẹp, nó cách sân bay chưa đến 10 dặm nhưng bạn hoàn toàn không thể nhìn thấy nó… tôi gần như bắt đầu lên cơn hoảng loạn và suy nghĩ, mình đang làm gì ở đây… mình sẽ hít phải những thứ này ư?!”

Máy bay của Sam hạ cánh khi đang có một trong nhiều cảnh báo khói bụi Giai đoạn 1, báo hiệu nồng độ ozone ở mức cao: “Ở mức đó, bất cứ ai cũng sẽ cảm nhận được ảnh hưởng, rất khó để Giành lại không khí sạch 47 hít thở sâu, bạn cảm thấy như có một quả tạ đè nặng trên ngực và không thể phủ nhận thực tế là chất lượng của không khí đang ảnh hưởng đến tất cả ai hít thở nó.” Los Angeles, ông nói, “đã luôn luôn có vấn đề ozone ở mức kinh khủng và nó sẽ tiếp tục là thử thách lớn nhất đối với chúng ta”.

Từ năm 2012 đến 2014, Los Angeles đã có 81 ngày nồng độ ozone ở mức “báo động đỏ”; ngược lại, toàn bộ tiểu bang Florida chỉ có một. Suzanne Paulson, giáo sư tại UCLA (Đại học California, Los Angeles) và giám đốc của Trung tâm Không khí Sạch, giải thích rằng vấn đề ngày nay “vẫn là những chiếc ô-tô sử dụng động cơ đốt trong [cùng với] các nguồn khác như xe địa hình, phương tiện sử dụng cho hoạt động xây dựng, máy bay, tàu hỏa và tàu thủy: chúng tôi có một lượng hàng hóa khổng lồ được vận chuyển đến Los Angeles, khoảng một nửa trong số đó được đưa từ châu Á đến Hoa Kỳ và được nhập vào thông qua các cảng tại Los Angeles và Long Beach”. Tóm lại, Paulson nói, “nếu chúng ta đột nhiên loại bỏ được tất cả việc đốt cháy, thì chúng ta gần như sẽ giải quyết được triệt để [ô nhiễm không khí]”.

Bản báo cáo về Tình trạng Không khí năm 2016 của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ đã phát hiện ra có 12 thành phố tại California ghi nhận sự gia tăng ô nhiễm ozone so với cùng kỳ năm trước, trong đó Los Angeles đứng đầu danh sách “ô nhiễm nhất” của 15 trong số 16 bản báo cáo gần đây. Trong năm 2016, 5 thành phố tại các quốc gia phương Tây đã có những đợt ô nhiễm hàng ngày ngắn hạn tồi tệ nhất kể từ khi tiến hành việc báo cáo, phần lớn là do sự gia tăng của những cơn hạn hán vào mùa hè và những đám cháy rừng, mặc dù đó không phải là những nguồn duy nhất. Những ngày có nồng độ hạt ô nhiễm cao thường là hậu quả của việc sử dụng lò sưởi củi để giữ ấm, bão bụi, cháy rừng và các loại hình thời tiết đã giữ lại khí thải từ các nhà máy điện, xe tải, xe buýt, tàu hỏa, tàu thủy và các nguồn liên quan tới hoạt động công nghiệp. Trên toàn quốc, cứ 10 người Mỹ thì có hơn 4 người (44%) sống ở các hạt có nồng độ ô nhiễm ozone hoặc hạt ở mức không tốt cho sức khỏe, tỷ lệ này cao hơn so với giai đoạn từ năm 2009-2011. Chỉ riêng PM2.5 đã gây ra số ca tử vong hàng năm cao gấp đôi so với tai nạn giao thông ở Mỹ. Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ cũng cảnh báo về những thế lực mạnh mẽ đang tìm cách “làm suy yếu Đạo luật Không khí sạch [Hoa Kỳ]… và suy giảm khả năng của quốc gia trong việc chiến đấu vì một bầu không khí lành mạnh”. Với việc chính quyền Trump lên nắm quyền, họ sẽ sớm chứng minh điều này là đúng.

Paris: khí thải NOx độc hại
Khi tôi đặt chân đến văn phòng của tổ chức Airparif tại bờ nam sông Seine, Amélie Fritz đã xin lỗi vì vẻ ngoài mệt mỏi của mình. Hôm ấy là một ngày sau sự kiện “Journée sans Voiture – Ngày không xe hơi” của thành phố, hiện là một sự kiện diễn ra hàng năm trong đó Paris cố gắng thuyết phục cư dân của mình di chuyển mà không sử dụng xe hơi trong một ngày. Fritz, một nhà sinh học môi trường tại Airparif, tổ chức giám sát chất lượng không khí chính thức của thành phố, đã nói chuyện với các nhà báo cho tới tận đêm khuya. Cô ấy đã thực hiện cuộc phỏng vấn truyền hình cuối cùng tại nhà của mình – “Tôi đã quá mệt mỏi để ở lại làm việc, vì vậy tôi nói: Được rồi, nhưng bạn phải đến nhà tôi ngay bây giờ.”

Cô ấy chỉ cho tôi lên trên tầng để đến văn phòng của cô, ở trong là một cái bàn tràn ngập những bản báo cáo và các bài báo khác nhau. “Paris khá là may mắn nếu xét về điều kiện địa lý”, cô mở đầu. “Vùng đất có địa hình rất bằng phẳng, chúng tôi không bị bao quanh bởi những ngọn núi, không có ngành công nghiệp “đồ sộ” nào, đây cũng không phải là một khu công nghiệp, có nhiều gió và mưa – điều này khá tốt cho chất lượng không khí… Nhưng nếu khi bầu trời xuống thấp, không có gió – thì về cơ bản, không khí giống như khi bạn vẫn để xe chạy trong gara nhà mình vậy.”

Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12 năm 2016, khu vực Paris mở rộng đã trải qua một trong những giai đoạn ô nhiễm kéo dài và dữ dội nhất trong vòng một thập kỷ. Nồng độ PM10 cao do các nguồn phát thải địa phương từ giao thông và lò sưởi tại gia, cộng với việc trời lặng gió, đã khiến cho toàn bộ Paris như bị mắc kẹt trong gara với một chiếc xe vẫn đang chạy. Vào Thứ tư ngày 30 tháng 11, chỉ số PM2.5 hàng giờ tại Saint-Denis, trung tâm Paris, đạt mức cao nhất là 195 µg/m3, trong khi NO2 đạt đỉnh ở mức gây khó thở 283 µg/m3 tại Quảng trường Nhà hát lớn vào ngày hôm sau. Tình hình cải thiện vào cuối tuần, nhưng sau đó chỉ số lại tăng trở lại vào tuần sau. Tất cả các phương tiện giao thông công cộng cùng với các chương trình cho thuê xe đạp và xe điện công cộng của thành phố đã được cung cấp miễn phí để cố gắng ngăn chặn cư dân sử dụng xe hơi của họ. Hơn 2.000 trẻ em bị bệnh hen suyễn đã được điều trị ở các phòng cấp cứu tại bệnh viện của Paris. Đến ngày 8 tháng 12, trang nhất của tờ nhật báo 20 Minutes đã đăng dòng tít “La fumée tue” (Màn khói giết người). Kênh tin tức truyền hình France 24 bình luận rằng “chính quyền địa phương và chính phủ hiện đang bất đồng ý kiến, đổ lỗi cho nhau về mức độ ô nhiễm hiện nay”, trong khi trang web của chiến dịch “Ngăn chặn ô nhiễm” tuyên bố: “Sống ở Paris trong thời kỳ ô nhiễm cao điểm này tương đương với việc hít khói từ 8 điếu thuốc mỗi ngày trong căn phòng rộng 20 mét vuông.”

Theo cơ quan y tế công cộng quốc gia (Santé publique France), ô nhiễm không khí giết chết 48.000 người mỗi năm tại Pháp, 34.000 trong số đó được cho là những cái chết “có thể tránh được”: “Ở các khu vực đô thị có hơn 100.000 dân, kết quả cho thấy, trung bình, có sự suy giảm 15 tháng tuổi thọ mỗi 30 năm do PM2.5; trong những khu vực [có dân số] từ 2.000 đến 100.000, độ suy giảm tuổi thọ trung bình là 10 tháng; ở các vùng nông thôn, trung bình, tuổi thọ được ước tính sẽ giảm đi 9 tháng.” Nhưng điều quan trọng là những phát hiện này không chỉ liên quan đến các đợt cao điểm như vào tháng 12 năm 2016. Một nghiên cứu của cơ quan y tế công cộng quốc gia về 17 thành phố tại Pháp từ năm 2007 đến 2010 khẳng định, “chính sự phơi nhiễm hàng ngày và lâu dài với ô nhiễm đã có ảnh hưởng lớn nhất đến sức khỏe, trong khi các đỉnh điểm ô nhiễm chỉ có ảnh hưởng không đáng kể”.

Nhiều vấn đề trong số đó bắt đầu vào những năm 1970. Chợ Les Halles bị phá hủy để nhường chỗ cho những con đường rộng hơn dọc theo bờ sông Seine và một đường hầm dưới lòng đất được xây dựng để giúp cho trung tâm Paris trở nên dễ tiếp cận hơn bằng ô-tô. Thành phố sau đó được bao quanh bởi một đường vành đai, Boulevard Périphérique, được hoàn thành vào năm 1973. Thay vì làm giảm tắc nghẽn giao thông, con đường này lại thu hút nhiều phương tiện hơn. Trong năm 2010, khoảng 3,6 triệu cư dân vùng Île-de-France (những người sống ở khu vực xung quanh Paris) có khả năng bị phơi nhiễm với NO2 có nguồn gốc từ giao thông vượt quá giá trị giới hạn hàng năm, đồng thời mức độ NO2 ngoài đường cũng đã tăng lên hàng năm kể từ năm 1997. Trong khi vấn đề về PM2.5 tại Paris có vẻ không đáng kể khi so sánh với Delhi hoặc Bắc Kinh, vấn đề NOx (NO2 + NO) tại đây còn tồi tệ hơn ở cả hai thành phố. Báo cáo thường niên của Airparif năm 2010 giải thích, “sự gia tăng của nồng độ nitrogen dioxide, cả trong không khí và trên các tuyến đường có thể liên quan đến nguồn phát thải NO2 chính đến từ các phương tiện giao thông chạy bằng diesel. Mặc dù các bộ lọc hiện đang được trang bị cho hầu hết các loại xe diesel mới có góp phần làm giảm lượng phát thải hạt ô nhiễm, nhưng chúng cũng làm tăng đáng kể lượng khí thải NO2 . Hiện tại, việc tỷ lệ NO2 trong khí thải NOx đang tăng lên đều đặn đã được xác nhận”. Quy trình cảnh báo người dân Paris về mức độ ô nhiễm cao đã được kích hoạt vào 44 ngày đặc biệt trong năm 2012. Cho đến năm 2013, đã có 14,6 triệu chuyến đi bằng ô-tô trong khu vực Île-de-France mỗi ngày, ước tính 65% trong số đó diễn ra tại Paris.8 Bản báo cáo năm 2017 của Airparif phát hiện ra rằng nồng độ NO2 trên các con đường lớn cao gấp đôi so với những con đường ở xa và cũng thường gấp đôi giới hạn hàng năm của EU.

Amélie cho biết, ô nhiễm không khí tại Paris hiện nay là sự kết hợp của “NO2 cùng với PM10 và PM2.5. Vẫn còn một số vấn đề tồn đọng với benzen. Và với nồng độ ozone bên ngoài thành phố, ở cấp độ khu vực… Đồng thời cũng có khá nhiều khói được thải ra từ hoạt động nông nghiệp và đốt củi”. Cô ấy nói với tôi rằng ô nhiễm không khí hiện nay là “một trong những mối quan tâm chính [của công chúng]” – nó thực sự chỉ đứng thứ hai xếp sau việc làm. Vì vậy, về cơ bản đây là một mối quan ngại lớn và người dân đang rất lo lắng về sức khỏe của họ”. Cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện bởi Airparif khẳng định rằng một nửa số cư dân tại Paris lo ngại về việc nồng độ NO2 vượt quá ngưỡng an toàn cho sức khỏe.

Vào năm 2017, Clotilde Nonnez, một cư dân Paris và là một giáo viên yoga 56 tuổi, đã thực hiện một việc chưa từng có tiền lệ khi đưa chính phủ Pháp ra tòa vì không bảo vệ cô khỏi tác động của ô nhiễm không khí. Sinh sống ở Paris đã được 30 năm, cô nhận thấy sức khỏe của mình ngày càng suy giảm mặc dù chế độ ăn uống và tập luyện của cô vô cùng lành mạnh. Khi nó trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết vào đợt khói bụi tháng 12 năm 2016, cô nghi ngờ rằng có một mối liên kết. Bác sĩ của cô xác nhận điều đó.

“Bác sĩ điều trị cho tôi nói rằng không khí tại Paris ô nhiễm đến mức chúng ta như đang hít thở không khí bị thối rữa”, cô nói với France Info. “Cô ấy có những bệnh nhân khác cũng có tình trạng giống như tôi, bao gồm cả trẻ em và em bé sơ sinh nữa. Bác sĩ tim mạch của tôi cũng nói điều tương tự.” Luật sư của Nonnez, François Lafforgue, nói với báo Le Monde rằng cần phải có hành động để ngăn chặn 48.000 cái chết của người Pháp mỗi năm: “Chúng tôi đang chỉ trích chính phủ vì chúng tôi nghĩ rằng những vấn đề y tế mà các nạn nhân của ô nhiễm phải gánh chịu là hậu quả của sự thất bại trong các hành động của chính quyền nhằm giải quyết ô nhiễm không khí.”

Vào ngày 15 tháng 2 năm 2017, Ủy ban Châu Âu đã gửi cảnh cáo cuối cùng tới Pháp vì đã không giải quyết các vi phạm liên tục về ngưỡng giới hạn NO2 ở 19 vùng chất lượng không khí, trong đó có Paris. Lời cảnh cáo tuyên bố: “Luật pháp của EU về chất lượng không khí xung quanh và làm sạch không khí tại châu Âu (Chỉ thị 2008/50/EC) đặt ra các ngưỡng chất lượng không khí không thể bị vượt quá ở bất cứ nơi nào trong Liên minh Châu Âu và buộc các quốc gia thành viên phải hạn chế sự phơi nhiễm của công dân đối với các chất có hại gây ô nhiễm không khí. Bất chấp nghĩa vụ này, chất lượng không khí vẫn còn là một vấn đề [tại Paris]… Trong tổng lượng NOx thải ra từ phương tiện giao thông, khoảng 80% đến từ các phương tiện chạy bằng diesel.”

Ô nhiễm không khí: vấn đề toàn cầu
Năm thành phố được đề cập ở trên chỉ tóm gọn về những gì đã trở thành vấn đề toàn cầu cho đến những năm 2010. Ô nhiễm không khí đã vượt qua hệ thống vệ sinh yếu kém và nguồn nước bẩn để trở thành yếu tố môi trường hàng đầu dẫn đến tử vong sớm trên thế giới. Theo ước tính mới nhất từ WHO thì có khoảng 4,2 triệu người chết vì ô nhiễm không khí ngoài trời hàng năm, lớn hơn nhiều so với con số của HIV/AIDS, bệnh lao và tai nạn xe hơi cộng lại. Theo số liệu của WHO năm 2018, 9 trong 10 người trên toàn thế giới hiện đang hít thở không khí chứa hàm lượng chất gây ô nhiễm cao. Unicef tin rằng hai tỷ trẻ em đang sống ở những khu vực có mức độ ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn chất lượng không khí theo khuyến nghị của WHO, trong khi gần 600.000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong hàng năm do các bệnh mà ô nhiễm không khí gây ra hoặc làm trầm trọng thêm.

Đây rõ ràng là một vấn đề không chỉ giới hạn ở châu Âu, Ấn Độ, Trung Quốc hay Mỹ. Theo cơ sở dữ liệu về ô nhiễm không khí xung quanh của WHO, thành phố ô nhiễm nhất thế giới vào năm 2016 là Zabol ở Iran. Đại diện của châu Phi trong “top 50 thành phố ô nhiễm nhất” là Bamenda ở Cameroon, Kampala ở Uganda và Kaduna ở Nigeria (mặc dù WHO rất muốn chỉ ra rằng “Châu Phi và một số khu vực ở Tây Thái Bình Dương thiếu trầm trọng dữ liệu về ô nhiễm không khí”). Cao độ lớn của các thành phố Nam Mỹ như Bogotá, Colombia cũng đồng nghĩa với việc chúng sẽ bị bóp ngạt bởi ô nhiễm khí thải diesel vốn bị mắc kẹt trong các bồn địa. Trên thực tế, gần như tất cả – 97% – các thành phố ở các nước thu nhập thấp và trung bình không đáp ứng được các hướng dẫn của WHO về chất lượng không khí.

Cả thế giới đều gặp vấn đề về khói bụi gây ô nhiễm không khí. Nếu có thứ gì đó có thể cháy được – và đặc biệt nếu nó là nhiên liệu hóa thạch – thì chúng ta sẽ vui vẻ đốt nó, và rất ít quan tâm đến những gì có trong làn khói hay việc nó sẽ đi về đâu. Vậy thì, có những gì ở trong làn khói đó? Và nó sẽ đi về đâu?

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: Tòa nhà cao tầng ở Sài Gòn bị che mờ bởi lớp bụi sáng ngày 19.11.2019.
Chụp bởi Thanh Nguyen/VnExpress

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Một câu chuyện đầy cảm hứng về nghề tay trái hái ra tiền

Chris Guillebeau, qua giọng kể thu hút và một câu chuyện lôi cuốn pha lẫn hài hước, đã truyền tải thông điệp chính: Cơ hội kiếm tiền ở khắp mọi nơi. Bạn chỉ cần học cách nhìn ra chúng.

Published

on

By

Trích từ: Cây tiền
Tác giả: Chris Guillebeau
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 4.2021

Cây tiền được viết bởi tác giả best-seller của The New York Times – Chris Guillebeau, dùng giọng kể thu hút và một câu chuyện lôi cuốn pha lẫn hài hước để truyền tải thông điệp chính: Cơ hội kiếm tiền ở khắp mọi nơi. Bạn chỉ cần học cách nhìn ra chúng.

Sách kể câu chuyện về Jake Aarons – chàng trai trẻ đang bị khủng hoảng, cả trong đời sống tài chính lẫn tình cảm. Anh sẽ bị tống khỏi căn hộ đang thuê trong 30 ngày tới. Giữa tình cảnh ngặt nghèo, Jake tham gia một nhóm hành động gặp gỡ hàng tuần. Mỗi thành viên nhóm có nhiệm vụ chạy một mô hình kinh doanh ngoài công việc chính để kiếm thêm thu nhập, với điều kiện: chi càng ít vốn càng tốt trước khi mô hình kiếm được tiền.

Trong vòng một tuần, Jake đã vật lộn học cách kiếm 1000 USD, với sự giúp đỡ tận tình của các thành viên khác. Nhờ lòng kiên trì, nhẫn nại và ham học hỏi, Jake đã tích lũy được nhiều kỹ năng quan trọng và kiểm soát thành công cuộc sống của mình.

Mượn câu chuyện của Jake, quyển sách nêu lên những bài học hay, hữu hiệu trong kĩ năng quản lý tài chính thời hiện đại. Trong khi nhiều cuốn sách cùng thể loại gạch ra những đầu dòng “how to”, lời khuyên và các bước hướng dẫn hành động, Cây tiền khéo léo đi theo một hướng khác và không trùng lập với những tác phẩm bàn về tài chính hiện hành.

"Chris Guillebeau luôn là một trong những bộ óc truyền cảm hứng kinh doanh mạnh mẽ nhất - cung cấp cho chúng ta nhiều điều bổ ích, từ cẩm nang du lịch thế giới đến xây dựng cuộc sống thú vị. Giờ đây, với Cây Tiền, anh cho thấy mình cũng là bậc thầy kể chuyện. Nếu bạn đang mong mỏi làm việc để kiếm sống và phát triển sự nghiệp, đây là một cuốn sách đáng đọc."

*

HỒI 1

Này Jake, đang nghĩ đi đâu đấy? Anh còn nghe chứ?” Trong tâm trí, Jake Aarons cảm thấy mình hoàn toàn kiểm soát được cuộc sống. Không những anh đã ngừng lo lắng về các email rất đáng lo ngại nhận được ngay trước cuộc họp khách hàng này, mà cả những vấn đề mà chúng nói đến cũng không tồn tại. Anh còn tưởng tượng ra tương lai tươi sáng cùng bạn gái và một sự nghiệp xán lạn tại công ty truyền thông, tiếp thị, quảng cáo này.

Nhưng trong phòng họp nơi anh đang ngồi đây, đối diện với sếp và cách khách hàng hai ghế, họ lại vừa ký với công ty một hợp đồng lớn, vậy mà anh chẳng để tâm chút nào. Ngay cả khi mộng tưởng về một thực tại khác, anh cũng nhận thức được rằng thực tại đang phải bất ngờ đối mặt đây đáng chán hơn nhiều. Giá mà anh có thể...

“Này, mặt đất gọi Jake, tỉnh lại đi!”

“Sao? Ồ... xin lỗi. Tôi đang tổng hợp các suy nghĩ của mình”.

Anh “tua” lại trong óc vài phút gần nhất của cuộc họp, chuyển khỏi chế độ “lái tự động” để vào trạng thái nhớ các chi tiết chính. Năm con người đang ngồi chằm chằm nhìn anh. Đầu tiên, sếp anh, Jan, người đang dẫn dắt cuộc họp và cố gắng thu hút sự chú ý của anh. Tiếp theo là hai đại diện của Avery Tech, khách hàng đã thuê họ. Cách xa hơn vài ghế là Sloan, người mang danh hiệu “đầy vinh dự” mà Jake gán cho là CAO - Chief Asshole Officer - Giám đốc bỉ ổi. Đương nhiên, Sloan không biết mình được Jake gán cho biệt hiệu đầy cao quý đó. Trong thâm tâm, anh ta tự coi mình là “Cố vấn cao cấp”, dù cho công ty của họ không phân chia nhân viên theo cấp bậc. Cuối cùng, ngồi cạnh Sloan là Preena, một đồng nghiệp dễ mến hơn mà Jake đã coi là bạn trong suốt mười tháng làm việc tại Brightside.

Và sau đó là Jake. Giờ anh phải làm gì ấy nhỉ?

Mãi anh mới nhớ ra. Anh phải trình bày ý tưởng của nhóm mình để giúp Avery Tech thoát khỏi ngõ cụt và kiếm lời trở lại. Việc giúp các doanh nghiệp kiếm lời suy cho cùng chẳng phải là việc của công ty anh đó sao.

Suốt buổi sáng anh đã phân tâm, bị ám ảnh bởi một số tin tức đến không đúng lúc, nhưng giờ là lúc tỉnh táo lại rồi. Anh hắng giọng nhìn căn phòng, nhìn vào mắt Jan và các đại diện bên phía khách hàng.

“À ừ, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xem xét các tài khoản truyền thông xã hội của quý vị. Tôi nghĩ rằng quý vị có thể tận dụng được nhiều điều hơn ở chúng”.

Cả nhóm chờ đợi. Tận dụng điều gì hả Jake? Phải rồi. Trình bày tiếp đi nào.

“Chúng ta sẽ nói chi tiết hơn khi tiến hành, nhưng tôi tự hỏi liệu công ty các vị có nghĩ đến việc tiếp cận một vài khách hàng hiện tại để nhận phản hồi không. Kiểu như, kiểm tra xem họ có đề xuất cải tiến nào hay không”.

Rồi xong, họ hết nghe anh nói rồi. Đó là những gì xảy ra khi bạn đến một cuộc họp trình bày ý tưởng mà không lận lưng theo ý tưởng nào.

Jan chữa cháy: “Không sao, Jake, tôi sẽ lo tiếp từ đây. À mà Sloan, anh có ý tưởng nào muốn trình bày không?”

Sloan, Giám đốc bỉ ổi, thế nào cũng nói được mấy câu xứng đáng điểm mười quảng cáo bản thân.

“Tất nhiên rồi”, Sloan đáp và không quên bắt lấy ánh mắt Jake trước khi nói tiếp. “Tôi đã đi sâu tìm hiểu số liệu phân tích trang web của công ty quý vị và nhận thấy một điều thực sự thú vị. Công ty mình bán chip bộ nhớ và thẻ nhớ cho máy tính, đúng chứ?”

Các đại diện khách hàng liền tươi tắn lại.

“Chà, nhưng có vẻ hầu hết những người truy cập vào trang web của quý vị không thực sự tìm kiếm thứ đó, ít nhất là không trực tiếp tìm kiếm chúng. Họ đang tìm kiếm các cụm từ như ‘lưu trữ dữ liệu’ và ‘bộ xử lý máy tính’. Không chỉ vậy, nếu tách người mua hàng khỏi những người chỉ truy cập website rồi thoát ra, những người vào website để tìm kiếm về ‘lưu trữ dữ liệu’ có khả năng mua cao hơn hai mươi sáu phần trăm”.

“Thật là thú vị”, Đại diện Một bên khách hàng nói, trong khi Đại diện Hai gật đầu và viết xuống điều gì đó.

“Tuy nhiên, cái cần nói là”, Sloan tiếp tục. “Quý vị không thực sự có chiến lược nhắm mục tiêu vào những người tìm kiếm về ‘lưu trữ dữ liệu’. Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu từ điểm này. Rồi từ đó, chúng ta có thể xem lại việc nhắm vào đối tượng khách hàng, đưa ra thêm phương thức bán hàng gia tăng cho họ, hoặc khai thác thêm giá trị từ những khách hàng này”.

“Ừm”, Đại diện Một gật gù. “Quả thật chúng tôi không biết đến điều này”

Phần còn lại của cuộc họp triển khai từ đó. Jake trở lại trạng thái kẻ dự thính, Jan điều khiển cuộc họp, còn Sloan tô vẽ cho bản thân. Chỉ Jake biết rằng toàn bộ chuyện “đi sâu tìm hiểu những số liệu phân tích trang web công ty” này thực ra là ý của Preena. Nếu bóng đến chân, cô ấy sẽ đá nó, sẽ trình bày ý tưởng này, nhưng Sloan đã gạt cô ra để tự tung tự tác

Chính thói hành xử đó đã khiến Jake ưu ái đặt cho Sloan biệt hiệu “cao quý” kia. Anh ta luôn sẵn sàng “làm quá” mọi thứ, nhất là vì lợi ích của chính mình. Sáng ra luôn là người đi làm sớm nhất, còn chiều luôn là người cuối cùng rời khỏi công ty, và không quên để cho mọi người biết mình đi sớm về trễ như thế.

Thật không may, trong cấu trúc một công ty agency, chính hành vi tư lợi này lại được khen thưởng.

Về phần Jake, anh thường xuyên bị phân tâm, nhưng không đến mức đầu óc trên mây thế này. Nhất là trong cuộc họp có khách hàng, sếp và đối thủ của mình, anh đã cố gắng chuẩn bị. Nhưng sự thật là đầu óc anh giờ đang phải lo quá nhiều thứ. Hồi sáng sớm nay xảy ra sự việc khiến anh đứng ngồi không yên: Jake rốt cuộc đã đọc email gửi cho mình từ thứ Ba.

Việc đến thứ Sáu mới đọc email nhận vào thứ Ba với vài người có thể được xem là một hành động ngông cuồng. Có thể đầu óc bạn tin vào kiểu “mới sáng sớm đừng kiểm tra email” và quyết định đi xa thêm bước nữa “mới có vài ngày, vội gì kiểm tra email”. Và cuối cùng, việc đó có thể khiến bạn bị sa thải, hoặc tệ hơn thế.

Email đầu tiên thu hút sự chú ý của anh mang dòng tiêu đề đáng ngại:

Thông báo tình trạng thu nợ

Tin được gửi từ Công ty dịch vụ tài chính Midland, thông báo gần đây họ đã mua lại khoản nợ vay sinh viên của Jake và hiện đang muốn có một lịch trình thanh toán.

Tám năm trước, Jake đã phát hiện ra phép màu của các khoản vay sinh viên. “Đó là tiền miễn phí từ chính phủ!”. Bạn cùng phòng của anh nói như thể trúng xổ số.

“Tuyệt vời!”, Jake nói rồi ký vào các giấy tờ giúp anh nhận được một khoản tiền lớn trong tài khoản ngân hàng, cũng như một máy nướng bánh mì miễn phí mà anh chưa từng bóc hộp. Lúc đó anh nghĩ mình sẽ có đủ khả năng trả nợ... một ngày nào đó. Đấy chẳng phải cách phương thức cho vay này hoạt động sao? Ngoài ra, còn lâu mới đến hạn trả bất kỳ khoản vay nào.

Nhưng bây giờ dường như ngày xa xôi ở vùng đất tương lai đó cũng đã đến. Trong suốt ba năm đầu – năm cuối anh có học bổng lo – Jake đã vay tổng cộng 52.450.38 đô la. Hơn một nửa số tiền đó trả thẳng cho Đại học bang California ở Northridge. Số còn lại thì đã tiêu tán... đâu đó. Quy định cho vay nói rằng tiền vay chỉ có thể được dùng cho các chi phí học tập, mà theo cách lý giải của Jake thì nó đã được tiêu vào tiền thuê nhà, ăn uống, xăng xe, và một chuyến đi tới Ireland với anh trai Zach, và cả bia nữa.

Công ty Midland đang muốn anh trả nợ, kèm lãi suất, với lịch thanh toán bắt đầu từ tháng tới, yêu cầu anh trả khoản vay đầu tiên là 805.14 đô la. Thư thông báo còn hân hoan nói rằng nếu anh trả một khoản lớn hơn thì sẽ được chiết khấu.

Kế đến, Jake mở một email khác. Là từ Roland, người quản lý bất động sản đã cho anh thuê căn hộ hiện tại. Căn hộ này là nơi tuyệt nhất trong số những nơi anh từng ở, giá lại rẻ nữa. Kể cả anh Zach, người đang làm việc cho một công ty khởi nghiệp lớn ở San Francisco, cũng thấy ấn tượng với căn hộ này.

Thư Roland gửi có tiêu đề:

Thông báo pháp lý: thay đổi đơn vị thuê

Jake nhấp vào đường link liên kết.

Chào Jake,
Hy vọng cậu vẫn khỏe. Xin lỗi đã mang tin xấu đến cho cậu, nhưng người chủ căn hộ cậu thuê đang lên kế hoạch bán nó. Họ cần trả tiền dưỡng lão cho mẹ già, và họ muốn cậu rời đi ngay.
Theo luật, họ phải thông báo trước cho cậu hai mươi mốt ngày, và không may là họ không thể chờ lâu hơn thế. Họ cũng cần vào căn hộ để chụp ảnh, và một khi đã đăng bán, sẽ có khách đến xem nhà. Như thế chúng tôi cần hẹn trước một số lần để cậu ra khỏi nhà khi khách đến.
Một lần nữa, xin lỗi về tin tức này. Tôi biết căn hộ này là nơi tuyệt vời với cậu!
Roland Myers
Tập đoàn cho thuê

Nợ vay khó trả đã khổ rồi, không có nhà để ở còn tồi tệ hơn. Tin nhắn với thông báo hai mươi mốt ngày kia được gửi vào thứ Ba. Bây giờ là chiều thứ Sáu, nghĩa là... chỉ còn mười tám ngày nữa thôi sao?

Trước khi có màn phát biểu “xuất sắc” trước khách hàng lúc nãy, anh đã vắt óc nghĩ xem phải làm gì. Chẳng có giải pháp rõ ràng nào hiện ra. Anh gần như chỉ cảm thấy ngợp.

Sau cuộc họp, Jake ra ngoài nói chuyện với bạn mình. “Preena! Sao cô lại để Sloan làm điều đó với mình?”

“Sao nào, để hắn ăn cắp ý tưởng của tôi hả?”

“Đúng thế! Tôi thấy tất cả những giấy tờ được in ra để trên bàn của cô. Toàn bộ chuyện đi sâu vào các số liệu phân tích đều là ý của cô”.

“Chà, đúng vậy”, cô nhún vai. “Cách hắn làm chả hay ho gì. Nhưng tôi phải phản ứng thế nào? Cãi nhau trước mặt khách hàng? Hắn biết tôi sẽ không dám thách thức hắn. Mà nhân tiện, anh sao rồi? Anh có vẻ hơi phân tâm trong cuộc họp”.

Jake nói với cô về những email mà anh rốt cuộc cũng chịu đọc.

“Khó khăn rồi đấy, Jake. Tôi phải hoàn thành một số công việc cho khách hàng trước khi đến cuộc họp tiếp theo nên không thể chia sẻ thêm, nhưng hãy lên kế hoạch để nói về vấn đề này kỹ lưỡng hơn vào thứ Hai nhé”.

“Tất nhiên là được”. Trên đường trở về bàn làm việc của mình, anh đi ngang qua văn phòng của Sloan. Anh tưởng tượng hắn ngồi bên trong, đang đọc Binh pháp Tôn Tử và viết email cho quản lý để tóm tắt cuộc họp khách hàng mà hắn là diễn viên chính.

***

Làm việc đến tối muộn để xây dựng một chiến lược tốt hơn cho khách hàng mà anh đã làm thất vọng, Jake không để ý điện thoại của mình nhấp nháy lời nhắc nhở đến cuộc hẹn quan trọng nhất trong ngày: cuộc hẹn ăn tối với bạn gái Maya. Chỉ đến khi nghe tiếng chuông báo hiệu tin nhắn từ cô, anh mới nhìn xuống điện thoại.

“Này, Jake, nơi này dễ thương lắm! Em đến sớm vài phút và chộp được một bàn cạnh cửa sổ. Gặp anh sớm nhé!”

Sớm là một dự đoán lạc quan quá mức, nhưng Maya đâu có biết.

“Anh đến ngay đây!”. Jake vừa nhắn tin, vừa cầm lấy cái túi đeo chéo và chạy ra cửa, trong đầu nhẩm lượng giao thông sẽ phải vượt qua: phải mất ít nhất mười lăm phút, mà giờ này có khi mất đến hai mươi phút. Chết thật.

Có gì to tát chứ. Chỉ là kỷ niệm sáu tháng của hai đứa thôi.

Có gì to tát đâu, như 50.000 đô la anh nợ, như tài khoản tiết kiệm có chưa đầy 3.000 đô. Và việc anh cần làm chỉ là tìm cách bắt đầu trả nợ, đồng thời tìm nơi ở mới là được chứ gì.

Trên đường ra, Jan ra hiệu anh xuống gặp cô. “Này Jake, chúng ta gặp nói chuyện chút được không?”

“À được chứ, tôi sẽ chỉ trễ hẹn với Maya thôi...”

“Tôi nói nhanh thôi. Tôi có chút lo lắng về cậu. Với việc sáp nhập đang diễn ra, ban lãnh đạo sẽ phải đưa ra một số quyết định khó khăn”.

Dù mọi người gọi nó là vậy thì nó không hẳn là một sự sáp nhập. Brightside gần đây đã đạt được thỏa thuận để cho một công ty ở Bờ Đông lớn hơn nhiều mua lại như một phần trong mối quan hệ “đối tác chiến lược” với công ty này.

Cho đến nay, nhóm chuyển giao từ Philadelphia đã đến thăm trụ sở Nam California của Brightside hai lần, mỗi lần lại đưa ra những nhận xét vô thưởng vô phạt trong khi “ý tứ” đánh giá phong cách ăn mặc và trò chuyện suồng sã hơn ở khu Bờ Tây. Họ đã hứa sẽ “tôn trọng văn hóa nơi này”, mà theo Preena lý giải, điều đó đồng nghĩa với việc họ dự định thay đổi mọi thứ trong đó.

“Hãy nỗ lực thêm nếu được nhé”, Jan nói khi cô ra dấu rằng anh có thể đi. “Vài tuần tới đây sẽ ảnh hưởng rất lớn về mặt đánh giá”.

Jake cảm ơn sếp mình rồi bước ra ngoài, miệng hứa sẽ cải thiện. Anh gần như đã nghĩ lúc ra bãi đậu xe là Sloan đã cắt lốp xe của mình.

Nhưng lốp xe chẳng hề gì, chỉ hơi mòn một chút trên chiếc Mazda mười hai tuổi mà anh đã lái những sáu năm. Điều tốt nhất anh có thể nói về ngày hôm nay là anh không bị cảnh sát phạt chạy quá tốc độ trong khi lái vun vút đến nhà hàng. Tuy nhiên, khi đã đến nơi, anh cũng chưa nghĩ ra được cách nào để trả những khoản vay hoặc để tìm một nơi ở mới.

Biết đâu Maya sẽ nghĩ ra được cách nào đó. Anh sẽ hỏi cô – tất nhiên là sau khi xin lỗi vì đến muộn hơn ba mươi phút bữa ăn tối kỷ niệm của hai người họ.

Còn tiếp.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

“Mia và Isabelle yêu dấu…”

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó.

Published

on

By

Trích từ: Tháo gỡ phép màu
Tác giả: Julie-Yip Williams
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 3.2021

Julie-Yip Williams (1976 - 2018) là một phụ nữ Việt Nam gốc Hoa, theo gia đình sang Mỹ từ nhỏ. Cô bị khiếm thị bẩm sinh nhưng đã vượt khó, tốt nghiệp luật sư tại Harvard Law School, làm việc ở một văn phòng luật danh tiếng và có một gia đình nhỏ hạnh phúc. Cô sống cùng chồng và hai con gái tại Brooklyn. Ở tuổi ba mươi bảy, cô bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại tràng, khiến cuộc sống của cô hoàn toàn thay đổi. Julie qua đời vào tháng Ba năm 2018 sau một thời gian chống chọi với căn bệnh.

Quyển sách Tháo gỡ phép màu là cách Julie ghi lại hành trình cuộc đời mình.

“Một biên niên ký cảm động, tuyệt đẹp, đáng đọc và đáng được nhiều người say mê.” (Siddhartha Mukherjee, tác giả đoạt giải Pulitzer với The Emperor of All Maladies)

Tháo gỡ phép màu - Julie-Yip Williams

*

Xin chào, hoan nghênh. Tên tôi là Julie Yip-Williams. Tôi biết ơn và rất vinh dự khi các bạn có mặt ở đây. Câu chuyện này bắt đầu ở điểm cuối. Nghĩa là nếu bạn đang đọc những dòng này, thì tôi đã không còn nữa. Nhưng không sao cả.

Cuộc sống tôi tốt đẹp và cuộc đời tôi trọn vẹn. Biết bao điều xuất hiện nhiều hơn hẳn những gì mà tôi có thể tưởng đến, hoặc nhiều hơn hẳn những gì mà xuất thân vô cùng tầm thường của tôi cho phép tôi mong đợi. Tôi là một người vợ, một người mẹ, một người con, một người em, một người bạn, một người di cư, một bệnh nhân ung thư, một luật sư, và giờ là một nhà văn. Tôi luôn gắng sống một cách có thiện ý và thiện tâm, dù tôi chắc chắn mình cũng từng làm tổn thương người khác trên bước đường đời. Tôi nỗ lực hết mình để sống một cuộc đời mãn nguyện và đáng sống, để đương đầu một cách uyển chuyển với những thử thách tất yếu, và để nổi bật với sự hài hước của mình cùng tình yêu cho cuộc sống vẹn nguyên. Thế thôi. Tuy tôi đang hấp hối ở độ tuổi đầu bốn mươi, và sắp phải bỏ lại các con yêu quý của mình, tôi vẫn thấy hạnh phúc.

Cuộc đời tôi chẳng dễ dàng. Tôi sống sót qua thời thơ dại cứ như một phép màu, và tôi đến được nước Mỹ cứ như một điều kỳ diệu. Sinh ra trong cảnh mù lòa và nghèo đói ở Việt Nam, lại trong 8 | JULIE YIP-WILLIAMS thời chiến tranh, điều này lẽ ra đã định sẵn số phận cuộc đời và đóng kín vận mệnh của tôi. Tuy những điều đó đã lưu lại dấu vết nơi tôi, song chúng đã không ngăn được tôi. Cái chết kề cận dạy tôi rất nhiều về cách sống – về cách chủ động đối mặt với những sự thật phũ phàng, về cách đón nhận cả đau khổ lẫn vui sướng. Vòng tay ôm lấy những phần khắc nghiệt của cuộc đời có lẽ là trải nghiệm tự do lớn lao trong cuộc đời tôi.

Dù trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta đều nếm trải những phần khắc nghiệt ấy. Những sự kiện mà chúng ta nghe được trên tin tức hay từ bạn bè, những bi kịch kết thúc với cái chết xảy ra cho những người khác ở các nơi khác, những điều ấy khiến chúng ta thấy buồn nhưng cũng thấy nhẹ nhõm và biết ơn vì chúng ta nghĩ, cảm ơn Chúa đã phù hộ con không bị như thế… – bão tố và động đất tàn khốc, đánh bom và xả súng bạo lực, tai nạn xe cộ, và tất nhiên, bệnh nan y. Những thứ ấy khiến tâm can ta rúng động vì chúng làm ta nhớ rằng ta cũng sẽ chết, rằng ta thật sự bất lực như thế nào trước những sức mạnh vô hình có thể khiến Trái đất phải run rẩy, hoặc khiến tế bào bị đột biến và đẩy cơ thể vào cảnh nổi loạn chống lại chính nó.

Ở đây, tôi bắt đầu viết ra trải nghiệm của mình về điều đó, cả về cuộc đời tôi đã sống và những gian nan tôi đã chịu – cả hai đều không toàn diện, bạn hiểu mà, song cũng đủ để bạn thấy rõ quãng đường mà tôi đã đi và thế giới mà tôi đã tạo dựng suốt đời mình. Và thứ vốn ban đầu chỉ là ghi lại cái chết yểu chực chờ đã trở thành – nếu như tôi không quá tự tin – thứ gì đó có ý nghĩa hơn nhiều: lời cổ vũ cho các bạn, những người vẫn đang sống. Hãy sống khi bạn còn đang sống, bạn nhé. Từ lúc phép màu khởi đầu, đến khi phép màu tháo gỡ.

Julie Yip-Williams
Tháng Hai năm 2018

CÁI CHẾT, PHẦN MỘT
Tháng Ba năm 1976, Tam Kỳ, miền Nam Việt Nam

Lúc tôi hai tháng tuổi, ba mẹ tôi, theo lệnh của bà nội, mang tôi đến chỗ ông thầy thuốc ở Đà Nẵng và đề nghị trả ông ấy vàng thỏi để bốc cho tôi thang thuốc đưa tôi vào giấc ngủ vĩnh hằng. Vì tôi mù bẩm sinh, nên đối với người bà gốc Hoa, tôi là thứ “hư hại”. Tôi sẽ là gánh nặng và nỗi xấu hổ của gia đình. Khó mà kiếm được tấm chồng. Ngoài ra, bà nội viện lý do rằng bà làm thế vì thương tôi – tôi sẽ thoát khỏi kiếp sống khốn khổ.

Sáng hôm đó, mẹ mặc cho tôi bộ đồ em bé cũ kỹ bám đầy những vết ố nâu vàng do phân của anh chị tôi để lại mà mẹ không thể giặt sạch được, dù đã vò vô số lần. Sau khi lệnh cho mẹ mặc cho tôi bộ quần áo này, bà nội đứng trước lối vào phòng ngủ của ba mẹ tôi, xem mẹ mặc đồ cho tôi. “Cho nó mặc thứ khác chỉ tổ lãng phí”, bà nói khi mẹ tôi mặc xong, như thể khẳng định sự đúng đắn trong lời chỉ dạy của bà.

Đó là bộ quần áo tôi sẽ mặc khi chết. Trong thời kỳ cùng quẫn như thế, chẳng ích lợi gì khi phí phạm một bộ đồ trẻ em còn tốt cho một đứa bé sắp sửa trở thành một thi hài.

Bi kịch gia đình tôi bắt đầu từ tâm điểm nóng bỏng của cuộc Chiến tranh lạnh. Miền Nam Việt Nam đã được trả tự do từ mười một tháng trước đó, nhưng chuỗi domino địa chính trị vẫn đổ ập vào cuộc đời của những người nhà Yip.

Vào năm 1972, chiến tranh rõ ràng đã chuyển sang hướng bất lợi cho miền Nam, và ba tôi rất sợ mất đi những thứ ít ỏi ông đang có khi liều mạng sống của mình cho một quốc gia mà ông – một người đàn ông dân tộc Hoa – cảm thấy chẳng có chút lòng tự hào dân tộc nào. Trong bốn năm phục vụ quân đội, vào những chuyến thăm nhà ngắn ngủi, ba tôi không bao giờ nói với bất cứ ai trong gia đình về những điều kinh khủng mà ông đã thấy hoặc đã làm. Những nỗ lực của bà nội hòng giúp ông tránh đi sự tồi tệ của chiến tranh bằng cách hối lộ để ông được nhận vào làm tài xế cho một vị đội trưởng quân đội đã không thành công như mẹ con ông hằng hy vọng. Ông thấy mình lái xe vào lãnh thổ của họ, chẳng rõ các tay bắn tỉa cùng mìn giấu ở đâu, ngủ trong rừng vào buổi tối, lo sợ bị cắt cổ khi ông đang ngủ trên nền rừng, và rồi giật mình thon thót bởi những tiếng nổ xé toạc sự im lặng của một khắc yên bình mong manh. Cuối cùng, nỗi sợ hãi thường trực về cái chết – hoặc tệ hơn, về việc mất tay chân, như đã xảy ra với một số người bạn của ông – đã lấn át hết mọi khái niệm về danh dự mà ông có cùng nỗi sợ về việc bị coi là thằng hèn. Một ngày nọ, ông đi khỏi trại lính với lý do lấy tiếp liệu cho chiếc xe jeep của ông và không quay đầu lại. Trong một tuần, ông đi bộ và đi nhờ xe đến Sài Gòn, rồi trốn trong Chợ Lớn (một quận cũ vốn là nơi cư trú của ít nhất một triệu người Hoa). Chợ Lớn là một nơi thật náo nhiệt với số dân cư không mặn mà với nỗ lực tham chiến nhiều đến mức ông có thể ẩn náu trong khi vẫn có thể đi lại tự do trong cộng đồng.

Bà nội tôi (sau khi được ba tôi nhắn cho biết ông đang ở đâu, người chẳng tin vào khả năng chung thủy của bất kỳ người đàn ông nào, kể cả con trai bà) đã đề nghị mẹ tôi vào Sài Gòn với ba. Vậy nên mẹ tôi, tay này xách chị Lyna mới được hai tuổi, tay kia bế anh Mau mới sinh, tiến vào Sài Gòn, và ở đó họ sống trong phấp phổng cùng ba tôi cho đến khi cuộc chiến kết thúc, chờ đến khi ông có thể an toàn quay về Tam Kỳ mà không sợ bị bắt bỏ tù, hoặc thậm chí tệ hơn, bị bắt tiếp tục phục vụ quân đội trong lúc tình hình đang tồi tệ đi nhanh chóng. Đó không phải lúc để có thêm một đứa con nữa.

Khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, ba mẹ tôi cùng với những người khác ở Sài Gòn vỡ òa vui sướng, vì chiến tranh cuối cùng đã kết thúc. Khi Sài Gòn giao thời, họ ăn mừng bằng cách tham gia vào đám đông cuồng nhiệt cướp phá những cửa hàng và nhà kho bị bỏ lại, lấy các thùng chứa gas cùng các bao gạo và bất cứ thứ gì khác mà đôi tay họ có thể khuân đi được. Họ ăn mừng bằng cách chào đón tin tôi sắp tới với thế giới này, và sau khi Sài Gòn thất thủ, họ cuối cùng đã về nhà ở Tam Kỳ, nơi tôi mở mắt chào đời vào một đêm tháng Một bình thường tám tháng sau đó. Tôi nặng hơn ba ký một chút, lớn theo chuẩn Việt Nam, nhưng không lớn đến mức khiến mẹ con tôi gặp nguy hiểm tính mạng trong quá trình sinh nở. Bệnh viện bẩn thỉu, và việc mổ lấy thai không phải là một lựa chọn hay trong những ngày ấy; chẳng ai biết cách thực hiện thủ thuật, có lẽ trừ khi ở Sài Gòn. Ba đặt tên 莉菁 cho tôi, phát âm là “Lijing” theo tiếng Quan Thoại và “Lising” theo tiếng Hải Nam, hiểu theo nghĩa đen là “tinh túy của hoa nhài”. Tên tôi có ý thể hiện sự hoạt bát, sức sống và vẻ đẹp. Mẹ tôi, người đã chờ đợi từ rất lâu, rất hồi hộp. Và bà nội tôi cũng vậy – lúc mới đầu thôi. Hai tháng sau, được quấn trong quần áo cũ của anh chị, tôi nằm trong vòng tay của ba, trên một chuyến xe đò, đi hai tiếng đồng hồ lên phía bắc đến Đà Nẵng theo quốc lộ 1, để nhận án tử.

CUỘC ĐỜI
Ngày 14 tháng Bảy năm 2017, Brooklyn, New York

Mia và Isabelle yêu dấu,

Mẹ đã lo hết tất cả chuyện hậu sự sau khi mẹ chết mà mẹ có thể nghĩ tới: mẹ đang thuê một đầu bếp với mức lương rất hợp lý cho các con và ba; mẹ đã để lại một danh sách hướng dẫn ai là nha sĩ của các con và lúc nào cần đóng học phí và lúc nào cần gia hạn hợp đồng thuê đàn violin và danh tính của người chỉnh âm đàn piano. Trong những ngày sắp tới, mẹ sẽ làm video về tất tần tật các chi tiết trong nhà để mọi người biết bộ lọc không khí nằm ở đâu và loại thức ăn cho chó của Chipper. Song mẹ đã nhận ra rằng mấy chuyện này chỉ là chuyện nhỏ, những vấn đề dễ giải quyết và tương đối không quan trọng trên cõi đời này.

Mẹ đã nhận ra mẹ sẽ làm các con vô cùng thất vọng, nếu chính người mẹ của các con lại không cố gắng giảm bớt nỗi đau mất mẹ, nếu mẹ không cố gắng nỗ lực giải quyết thứ có thể sẽ là câu hỏi lớn nhất trong cuộc đời non trẻ của các con. Các con sẽ mãi mãi là những đứa bé có mẹ chết vì ung thư, bị người khác nhìn với con mắt thông cảm xen lẫn thương hại (điều mà các con hiển nhiên sẽ oán ghét, dù cho mọi người có ý tốt). Việc mẹ các con qua đời sẽ dệt nên một mảnh trong cuộc đời các con như một vết nhơ rành rành trên một khung cảnh nguyên sơ. Các con sẽ thắc mắc khi các con thấy xung quanh tất cả mọi người khác đều còn đủ cha mẹ, Tại sao mẹ tôi lại phải bệnh rồi chết chứ? Thật không công bằng, các con sẽ khóc. Và các con sẽ tha thiết muốn có mẹ ở bên cạnh để ôm con khi bị bạn bè cư xử tệ, để nhìn các con bấm lỗ tai, để ngồi ở hàng ghế đầu vỗ tay thật lớn trong những buổi biểu diễn âm nhạc của các con, để làm vị phụ huynh phiền phức khăng khăng đòi chụp thêm tấm hình nữa với cô sinh viên mới tốt nghiệp, để giúp con mặc đồ trong ngày cưới của con, để bế đứa trẻ mới sinh từ tay con lúc con chợp mắt. Và mỗi lần các con khao khát có mẹ, lòng sẽ lại lần nữa đau đớn và các con sẽ tự hỏi tại sao.

Mẹ không biết liệu lời của mẹ có thể xoa dịu nỗi đau của các con hay không. Nhưng sẽ thật tắc trách nếu mẹ không làm thử.

Giáo viên dạy Sử năm lớp Bảy của mẹ, cô Olson – một người lập dị gàn dở nhưng cũng là một giáo viên tuyệt vời – từng bác bỏ lời phản đối “Thật không công bằng!” của đám thiếu niên (ví dụ, khi cô cho bọn mẹ làm kiểm tra đột xuất, hay khi bọn mẹ chơi trò được gọi là đố vui “Bất công”) với câu “Đời không công bằng đâu. Tập làm quen đi!”. Đâu đó trên đường đời, chúng ta lớn lên với suy nghĩ rằng nên có sự công bằng, rằng mọi người nên được đối đãi bình đẳng, rằng nên có sự ngang bằng trong đối xử cũng như cơ hội. Sự mong đợi đó chắc hẳn xuất phát từ việc được lớn lên ở một quốc gia giàu có, nơi luật pháp được thiết lập một cách chặt chẽ. Thậm chí lúc mới ở cái tuổi lên năm non nớt, cả hai con đều kêu gào đòi công bằng như thể đó là một quyền căn bản (chẳng hạn như, thật không công bằng khi Belle được xem phim còn Mia thì không). Nên có lẽ những mong muốn có được sự công bằng và bình đẳng đó đã hằn sâu vào tâm trí loài người và tinh thần đạo đức của chúng ta. Mẹ không chắc nữa.

Điều mẹ biết chắc là cô Olson đã đúng. Đời không công bằng. Các con sẽ ngốc nghếch mong đợi sự công bằng, ít nhất đối với vấn đề liên quan đến sự sống và cái chết, vấn đề ngoài phạm vi luật pháp, vấn đề không thể được bố trí hay bị nỗ lực của con người thao túng, vấn đề rõ ràng thuộc về Chúa hay may mắn hay số phận hay những thế lực khó hiểu, chưa được biết đến nào đó.

Dù lúc lớn lên không mồ côi mẹ, mẹ vẫn chịu tổn thương theo cách khác và ở cái tuổi non nớt hơn tuổi các con bây giờ mẹ đã hiểu được đời chẳng công bằng. Nhìn tất cả những đứa trẻ khác, những đứa có thể lái xe và chơi quần vợt và những đứa không phải dùng kính lúp để đọc, mẹ thấy đau y như kiểu mà có lẽ giờ các con có thể hiểu. Người ta cũng nhìn mẹ với sự thương hại, điều mà mẹ căm ghét. Mẹ cũng bị tước đi các cơ hội; mẹ luôn là người ghi lại tỷ số và không bao giờ được tham gia các trận đấu trong lớp thể dục. Bà ngoại không nghĩ mẹ đáng được đi học tiếng Hoa sau giờ học tiếng Anh tại trường như anh chị em của mẹ, vì bà cho rằng mẹ sẽ không thể nhìn thấy được các ký tự. (Dĩ nhiên, sau đó, mẹ học tiếng Hoa suốt thời gian học đại học rồi đi du học và tiếng Hoa của mẹ đã vượt qua anh chị em của mẹ). Đối với một đứa trẻ, chẳng có gì tệ hơn là khác biệt, theo kiểu tiêu cực, đáng thương như thế. Mẹ đã rất buồn. Mẹ khóc trong sự giận dữ cô độc. Giống như các con, mẹ có mất mát riêng của mẹ, sự mất mát thị lực, điều khiến mẹ gặp thêm nhiều mất mát khác. Mẹ đau khổ. Mẹ tự hỏi tại sao. Mẹ ghét sự bất công trong tất cả mọi thứ.

Các con bé bỏng của mẹ, mẹ không có câu trả lời cho câu hỏi tại sao này, ít nhất không phải bây giờ và không phải ở kiếp này. Nhưng mẹ biết rằng nỗi đau và sự chịu đựng có một giá trị phi thường. Nếu các con cho phép bản thân được trải nghiệm nó, được khóc, được cảm thấy ưu sầu và đau khổ, được tổn thương. Bước qua lửa đỏ và con sẽ xuất hiện ở phía bên kia, nguyên vẹn và mạnh mẽ hơn. Mẹ hứa đấy. Các con sau cùng sẽ tìm thấy sự thật, vẻ đẹp, trí tuệ và bình yên. Các con sẽ hiểu rằng chẳng có gì tồn tại mãi mãi, dù là nỗi đau hay hạnh phúc. Các con sẽ hiểu rằng niềm vui chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi buồn. Sự khuây khỏa chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi đau. Tình thương chẳng thể tồn tại nếu không có sự tàn nhẫn. Dũng cảm chẳng thể tồn tại nếu không có sự sợ hãi. Hy vọng chẳng thể tồn tại nếu không có thất vọng. Trí tuệ chẳng thể tồn tại nếu không có sự chịu đựng. Lòng biết ơn chẳng thể tồn tại nếu không có sự túng thiếu. Những nghịch lý đầy rẫy trên cõi đời này. Sống là một bài tập lèo lái đi giữa chúng.

Mẹ bị tước mất thị lực. Thế nhưng, tình trạng thể chất không may cá biệt ấy đã thay đổi mẹ theo hướng tốt hơn. Thay vì làm mẹ chìm đắm trong tủi thân, nó đã khiến mẹ thêm nhiều hoài bão. Nó khiến mẹ thêm tháo vát. Nó khiến mẹ thêm khôn khéo. Nó dạy mẹ nhờ người khác giúp đỡ, không xấu hổ với khiếm khuyết thân thể của mình. Nó buộc mẹ thành thật với chính mình và các giới hạn của bản thân, và cuối cùng, thành thật với những người khác. Nó dạy mẹ mạnh mẽ và kiên trì.

Các con bị tước mất người mẹ. Là mẹ các con, mẹ ước mình có thể bảo vệ các con khỏi đau khổ. Nhưng cũng chính vì là mẹ các con, mẹ muốn các con cảm nhận được nỗi đau, sống với nó, ôm ấp nó, và rồi học từ nó. Hãy trở thành những người mạnh mẽ hơn vì nó, bởi các con sẽ biết rằng các con mang trong mình sức mạnh của mẹ. Hãy trở thành người giàu tình thương hơn vì nó; thông cảm với những người đang chịu đựng những niềm đau riêng. Hãy tận hưởng cuộc đời cùng mọi vẻ đẹp cuộc sống vì nó; hãy sống với sự hăng say và lòng nhiệt huyết đặc biệt vì mẹ. Hãy biết ơn theo cách mà chỉ những ai đã mất mẹ từ rất sớm mới có thể biết, theo cách mà các con hiểu về sự vô thường và quý giá của cuộc đời. Đây là thử thách đối với các con bé bỏng của mẹ để tiếp nhận một bi kịch tồi tệ và biến nó thành cội nguồn vẻ đẹp, tình yêu, sức mạnh, lòng dũng cảm và trí tuệ.

Rất nhiều người có thể không đồng tình, nhưng mẹ luôn tin tưởng, luôn luôn, thậm chí khi mẹ còn là một cô nhóc hiểu chuyện sớm thường khóc một mình trên giường, rằng mục đích của chúng ta trên cuộc đời này là trải nghiệm tất cả những thứ mà chúng ta có thể trải nghiệm, để hiểu nhiều nhất có thể về thân phận con người mà chúng ta đúc kết được từ một kiếp sống, dù kiếp sống đó dài hay ngắn bao nhiêu. Chúng ta ở đây để cảm nhận nhiều loại cảm xúc phức tạp nảy sinh khi làm người. Và từ những trải nghiệm đó, linh hồn của chúng ta mở mang, trưởng thành, học hỏi, thay đổi, và chúng ta hiểu thêm một chút về ý nghĩa thật sự khi được làm người. Mẹ gọi đó là sự tiến hóa của linh hồn. Hãy biết rằng mẹ các con đã sống một cuộc đời phi thường, đầy nỗi khổ, niềm đau nhiều hơn mong đợi, đầu tiên là mù lòa và rồi thì ung thư. Và mẹ cho phép những nỗi khổ, niềm đau ấy định nghĩa mẹ, thay đổi mẹ, nhưng theo chiều hướng tích cực.

Trong những năm kể từ khi mẹ nhận được chẩn đoán, mẹ đã biết đến tình yêu và tình thương mà mẹ chưa bao giờ nghĩ là có thể xảy ra; mẹ đã tự mình chứng kiến và trải nghiệm mức độ sâu sắc nhất của sự quan tâm nơi con người, nó khiến mẹ trở nên vô cùng khiêm nhường và thôi thúc mẹ trở thành một người tốt hơn. Mẹ từng có một nỗi sợ khủng khiếp muốn đè bẹp mẹ, nhưng mẹ đã vượt qua nỗi sợ đó và tìm được lòng dũng cảm. Những bài học mà mù lòa và rồi ung thư dạy mẹ nhiều đến nỗi mẹ không kể ra đây hết được, nhưng mẹ hy vọng, khi các con đọc điều kế tiếp, các con sẽ hiểu làm cách nào có thể thay đổi theo cách tích cực từ bi kịch và các con sẽ học được giá trị thật sự của sự chịu đựng. Giá trị cuộc đời của một người không nằm trong số năm sống được, mà nằm trong cách người đó thấm nhuần những bài học từ cuộc đời ấy nhiều ra sao, trong cách mà người đó hiểu được và đúc kết những khía cạnh phức tạp, lộn xộn của trải nghiệm làm người nhiều thế nào. Mặc dù mẹ sẽ chọn ở với các con lâu hơn, giả như mẹ được lựa chọn, nếu các con có thể học hỏi từ cái chết của mẹ, nếu các con chấp nhận thử thách trở thành một người tốt hơn vì sự ra đi của mẹ, thì điều đó sẽ khiến linh hồn mẹ ngập tràn hạnh phúc và bình yên.

Các con sẽ cảm thấy cô đơn và bơ vơ, nhưng hãy hiểu rằng các con không chỉ có một mình. Đúng là chúng ta bước đi đơn độc trên cuộc đời này, vì chúng ta cảm nhận điều mà chúng ta cảm nhận một mình và mỗi chúng ta đều có lựa chọn của riêng bản thân. Nhưng việc tiếp cận và tìm được những người giống các con là hoàn toàn có thể, và khi làm vậy các con sẽ cảm thấy không quá cô đơn nữa. Đây là một điều khác trong số những nghịch lý cuộc sống mà các con sẽ học cách định hướng. Đầu tiên và trước hết, các con có thể nương tựa lẫn nhau. Các con là chị em, điều đó tạo ra gắn kết huyết thống và những trải nghiệm chung không giống bất cứ ai. Hãy tìm kiếm sự an ủi ở nhau. Hãy luôn tha thứ và yêu thương nhau. Tiếp đó, còn có ba mà. Rồi còn có Titi, cậu Mau, dì Nancy, dì Caroline, dì Sue và rất nhiều bạn bè thân thiết, tất cả họ đều biết và yêu mẹ rất nhiều – những người nghĩ đến các con, cầu nguyện cho các con và lo lắng cho các con. Tất cả năng lượng tình yêu từ những người này bao bọc các con, để rồi các con sẽ không thấy quá cô đơn nữa.

Và cuối cùng, dù mẹ đi bất cứ nơi đâu, một phần của mẹ sẽ luôn ở cạnh các con. Máu của mẹ chảy trong các con. Các con thừa hưởng những phần tốt nhất của mẹ. Mặc dù thân thể mẹ sẽ không còn ở đây, nhưng mẹ sẽ luôn dõi theo các con.

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó. Mẹ sẽ ngồi ngay đó, thúc giục con chơi lần nữa, lần nữa rồi lần nữa, thúc giục con đếm, chỉnh khuỷu tay, ngồi đúng tư thế. Và rồi mẹ sẽ ôm các con và nói cho các con biết các con đã làm tốt thế nào và mẹ tự hào về các con ra sao. Mẹ hứa đấy. Thậm chí sau khi các con đã chọn ngừng chơi từ lâu, mẹ vẫn sẽ đến bên các con vào những khoảnh khắc đặc biệt lẫn bình thường trong cuộc đời lúc các con sống với niềm đam mê và sự tận tâm trọn vẹn.

Đó có thể là khi các con đang đứng trên chóp núi, kinh ngạc trước vẻ đẹp phi thường và tràn đầy kiêu hãnh với khả năng của bản thân vì đã trèo lên đến đỉnh, hoặc khi lần đầu tiên các con ôm con mình trong vòng tay, hoặc khi các con đang khóc vì ai đó hay điều gì đó đã làm tan vỡ trái tim mềm yếu của mình, hoặc có lẽ là khi các con khổ sở thức suốt đêm để học bài hay làm việc. Hãy biết rằng mẹ các con từng cảm thấy những gì mà các con đang cảm thấy và mẹ luôn ở đó để ôm các con và thúc giục các con tiếp tục. Mẹ hứa đấy.

Mẹ thường mơ thấy khi mẹ qua đời, mẹ rốt cục sẽ biết cảm giác ra sao khi nhìn thế giới bằng đôi mắt không suy giảm thị lực, nhìn được tận ở phía đằng xa, thấy được những đặc điểm bé xíu trên một chú chim, được cầm lái một chiếc xe. Ôi, mẹ thật mong mỏi có thị lực hoàn hảo, dù tất cả những năm qua mẹ vẫn sống mà không có được nó. Mẹ mong mỏi cái chết sẽ giúp mẹ trở nên toàn vẹn, cho mẹ thứ mà mẹ bị tước mất trong kiếp này. Mẹ tin rằng giấc mơ ấy sẽ trở thành hiện thực. Tương tự, khi thời gian của các con đã đến, mẹ sẽ ở đó chờ các con, để các con cũng được trao cho thứ mà các con đã bị mất. Mẹ hứa đấy. Nhưng trong khi chờ đợi, hãy sống, các con yêu quý của mẹ. Hãy sống một cuộc đời đáng sống. Sống hết mình và trọn vẹn, một cách chín chắn, biết ơn, can đảm và thông thái. Hãy sống!

Mẹ yêu hai con mãi mãi và mãi mãi, đến vô cùng vô tận, vượt cả không gian và thời gian. Đừng bao giờ quên điều đó.

TỶ LỆ

Đáng lý đó là lễ cưới trong gia đình. Giữa mùa hè năm 2013, tất cả mọi người tụ tập ở Los Angeles để ăn mừng ngày hạnh phúc nhất đời người em họ tuyệt đẹp của tôi. Tôi đã không đến được. Josh và tôi cùng Mia và Belle từ New York bay đến, định ở lại cỡ một tuần. Khoảng một tháng trước đó tôi đã thấy khó chịu trong bụng – không quá rõ ràng, ngoại trừ cảm giác nó không được bình thường. Buồn nôn, quặn thắt và táo bón khiến tôi phải đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa khám, nhưng dường như chẳng có gì thật sự không ổn cả. Thế rồi tại Los Angeles, tôi bắt đầu ói mửa dữ dội, vì thế tôi nằm phòng cấp cứu khi lễ cưới diễn ra.

Nội soi đại tràng cho thấy một khối u ở giữa đại tràng ngang; đại tràng gần như hoàn toàn tắt nghẽn. Trong thuật ngữ chẩn đoán, “khối u” là thứ bạn hoàn toàn không muốn bác sĩ phát hiện bên trong bạn. Thậm chí trước khi làm sinh thiết, các bác sĩ đã khá chắc chắn đó là ung thư. Nhưng họ không biết đích xác cho đến khi bắt tay điều trị.

Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc mình tỉnh dậy sau ca phẫu thuật cắt bỏ nửa đại tràng trong phòng hồi sức. Josh đang được y tá Tim và bác sĩ D.C. – bác sĩ phẫu thuật của tôi – an ủi. Họ bảo anh phải tự chăm sóc bản thân để còn chăm sóc cho tôi. Tim hỏi anh ấy đã ăn tối chưa và, trước khi Josh kịp trả lời, đưa cho anh ấy miếng pizza trong phần ăn tối của mình. Thậm chí lúc còn đang mê man vì thuốc, tôi đã biết có chuyện gì đó thật sự tồi tệ khi tất cả mọi người đều quá quan tâm săn sóc Josh mà không phải tôi, người mới vừa phẫu thuật xong.

Nên lúc khuôn mặt trẻ trung của bác sĩ D.C. xuất hiện trước mắt tôi, tôi khàn khàn thốt lên, “Nguy kịch lắm sao?”. Dựa vào bầu không khí trong phòng, tôi hoàn toàn chắc chắn câu trả lời là phải.

Trái lại, bác sĩ D.C. nói, “Không, không nguy kịch lắm. Rất nghiêm trọng, nhưng không nguy kịch”. Ông giải thích cho tôi rằng ông đã cắt bỏ khối u thành công, nhưng ông tìm thấy một “khối di căn cỡ bằng hạt đậu” ở màng bụng gần khu vực bàng quang, đúng là phần di căn từ khối u chính. Tôi tự nhủ, Ừ, nghe cũng không đến nỗi nào – một khối di căn bằng hạt đậu cũng đã được cắt bỏ – vậy sao Josh lại suy sụp đến thế?

Tôi nằm đó trong trạng thái mơ màng vì thuốc, để những lời trò chuyện của mọi người cuốn qua tai khi cố gắng tỉnh táo hơn. Bác sĩ D.C. bảo tôi sẽ không nhớ nổi bất kỳ lời nào được nói ra trong tối hôm đó. Josh nói ông đừng quá đoan chắc như vậy. Tôi mỉm cười một mình. Nhiều năm bên cạnh tôi đã dạy Josh rằng tinh thần tôi giống như một chiếc bẫy thép, và dù đang lơ mơ vì thuốc hay không, tôi cũng chẳng quên bất cứ thứ gì (đặc biệt khi đó là thứ mà tôi có thể dùng để quật lại anh).

Thật ra, tôi nhớ được rất nhiều thứ trong buổi tối hôm đó. Bên cạnh việc cơ thể khó chịu vì mới vừa phẫu thuật xong, tôi nhớ mình đã nghĩ rằng phẫu thuật chắc hẳn diễn ra lâu hơn dự kiến hai tiếng rưỡi đồng hồ, vì bên ngoài trời đã nhá nhem tối. Tôi nhớ được anh và em họ tôi đã đến thăm tôi trong phòng bệnh. Tuy nhiên, trên hết, tôi nhớ mọi người cứ nói tới nói lui các con số. Một khối di căn. Giai đoạn IV. Sáu phần trăm, 8 phần trăm, 10 phần trăm, 15 phần trăm. Con số ba mươi.

Vì tôi có một khối di căn lan từ khối u chính sang phần khác trong cơ thể, bất chấp kích thước lây lan, tôi đã bị quẳng vào nhóm giai đoạn IV. Ung thư đại tràng giai đoạn IV gắn với tỷ lệ sống sót rất thấp, đâu đó trong tầm từ 6 đến 15 phần trăm. Bác sĩ D.C. lặp đi lặp lại với Josh trong tối đó rằng thống kê tỷ lệ sống sót vốn dựa trên một nghiên cứu cách đó ba mươi năm rồi, vì vậy không nên tin vào con số đó quá. Một khi tôi nắm được việc mọi người lo lắng về các con số, tôi hiểu ra tại sao Josh lại quá rối trí. Josh thích các con số. Anh ấy có thể thực hiện các phép tính phức tạp trong đầu. Lúc còn trong giai đoạn tìm hiểu nhau, vài lần anh ấy từng hỏi tôi rằng, “Em nghĩ tỷ lệ chúng ta lấy nhau là bao nhiêu?”. Anh ấy nhớ số điểm của từng trận Siêu cúp Bóng bầu dục Mỹ kể từ thời mới bắt đầu giải đấu. Anh ấy có thể nhớ được Roger Federer thua 5-3 trong hiệp hai vòng ba giải Wimbledon 2009. Đối với anh, cũng như đối với nhiều người khác, những con số tạo nên thứ tự trong một thế giới đầy hỗn loạn của sự ngẫu nhiên. Nên khi biết được vợ mình mắc ung thư đại tràng giai đoạn IV và thành thử khả năng sống có thể chỉ còn là con số lẻ năm năm, điều đó hiển nhiên thật quá tàn khốc.

Josh khóc nức nở đêm đó và sáng sớm hôm sau, khi anh tìm kiếm trên mạng hết lần này đến lần khác tỷ lệ sống sót của ung thư đại tràng giai đoạn IV trên chiếc ghế bố làm giường ngủ của anh. Màn hình iPad hắt lên mặt anh thứ ánh sáng ma quái trong bóng tối phòng bệnh. Anh không muốn thảo luận về các con số thống kê vì sợ chúng sẽ làm tôi buồn khổ, nhưng Josh không bao giờ có thể giấu tôi bất cứ điều gì – đó là một trong số các lý do mà tôi yêu anh nhiều đến vậy.

Và rồi anh cứ bán tín bán nghi khi thấy những con số thật sự không làm tôi khổ sở. “Thì sao nào?”, tôi nói. “Em không hiểu à?”, anh gặng hỏi, mong tôi hiểu được sự nghiêm trọng của tình hình.

Dù Josh yêu tôi nhiều như vậy, anh vẫn không thể thấu hiểu sự thật cơ bản về tôi, đơn giản vì anh không sống cuộc đời của tôi.

Anh không hiểu được sự tồn tại của tôi trên hành tinh này là bằng chứng cho thấy các con số ít ảnh hưởng đến tôi ra sao. Con số chẳng là cái đinh gì hết. Đêm đó tôi bảo anh thử quay về năm 1976, quay về cảnh hoang tàn và tuyệt vọng ngày đó, và thử tính tỷ lệ một bé gái mù may mắn sống sót qua cảnh nghèo đói không tưởng nổi, tỷ lệ cô bé ấy thoát khỏi vết nhơ vì mang trên mình một dị dạng cơ thể – thứ sẽ khiến cô bé không được bất kỳ người đàn ông nào yêu thương và không xứng đáng được làm mẹ của bất kỳ đứa trẻ nào, và tỷ lệ cô bé ấy chịu đựng được nỗi hổ thẹn khi biết rằng mình sẽ vĩnh viễn là gánh nặng của một gia đình đầy kiêu hãnh – những người sẽ phải chăm sóc cho cô như một kẻ tàn tật cả đời.

Tôi yêu cầu Josh thử tính tỷ lệ một cô bé sống sót trên biển rộng khi rất nhiều đàn ông trưởng thành đều bỏ mạng, tỷ lệ cô bé ấy giành được chút thị lực dù bị tổn thương thần kinh thị giác đã nhiều năm, tỷ lệ cô bé ấy đạt được thành công trong học vấn bất chấp kỳ vọng ít ỏi của gia đình bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết kiểu dân nhập cư, tỷ lệ cô bé ấy tốt nghiệp Trường Luật Harvard, tỷ lệ cô bé ấy gây dựng được sự nghiệp ngành luật của mình tại một trong những hãng luật đa quốc gia nổi tiếng nhất trên thế giới, và cuối cùng, tỷ lệ cô bé ấy cưới được một người đàn ông đẹp trai, tài giỏi đến từ miền Nam nước Mỹ và rồi có với anh ấy hai đứa con gái xinh đẹp. Đương nhiên, Josh không thể tính được những tỷ lệ này.

Josh bỏ ra hàng giờ để đọc các nghiên cứu y khoa, cố gắng tăng khả năng sống của tôi. Chỉ một chỗ di căn thay vì nhiều chỗ di căn sẽ tăng thêm phần trăm sống, cũng như tuổi tác và mức độ cân đối cơ thể, cũng như việc tôi được tiếp cận với hệ thống y tế tốt nhất trên thế giới, cũng như việc tôi có một hệ thống hỗ trợ tuyệt vời. Theo Josh, những yếu tố này tăng tỷ lệ sống vốn chỉ có năm năm của tôi lên đâu đó gần 60 phần trăm, mà đối với anh thế tốt hơn 6 phần trăm rất nhiều.

Thật lòng, với tôi 60 phần trăm nghe cũng chẳng to tát gì. Sự thật là bất cứ thứ gì thấp hơn 100 phần trăm đều chưa đầy đủ.

Song tất cả chúng ta đều biết, chẳng có gì trong cuộc sống là 100 phần trăm cả. Cơ hội một người phụ nữ dưới bốn mươi mắc phải ung thư trực tràng là 0,08 phần trăm theo công bố của tổ chức Mayo Clinic – Josh nói cho tôi biết chuyện này vì cá nhân tôi không tìm kiếm bất kỳ thứ gì trên mạng liên quan đến các con số thống kê. Con số này xem xét những phụ nữ mắc bệnh bởi cả hai nguyên nhân – do di truyền và không do di truyền. Khối u của tôi cho thấy không có dấu hiệu di truyền, nghĩa là khả năng tôi mắc phải ung thư đại tràng thậm chí còn thấp hơn 0,08 phần trăm. Vị bác sĩ nội khoa xuất chúng của tôi nói với tôi rằng trong ba mươi bảy năm hành nghề, ông chưa bao giờ gặp trường hợp người nào trẻ như tôi mắc ung thư đại tràng không do di truyền. Sao tôi không thấy rất đặc biệt nhỉ? Tôi có ít nhất 99,92 phần trăm cơ hội không mắc ung thư đại tràng tại giai đoạn này trong đời, song tôi lại dính phải.

Thế nên các con số chẳng có ý nghĩa gì. Chúng không đem đến sự bảo đảm, cũng không là nguồn cơn làm trầm trọng thêm vấn đề. Dĩ nhiên, sẽ tốt hơn nếu tôi ung thư giai đoạn I và không có di căn lây lan, song thậm chí khi tỷ lệ có lợi cho bạn, bạn vẫn có thể thua cuộc. Dù Josh vô cùng ám ảnh với tỷ lệ thống kê, anh ấy luôn kể tôi nghe khi đội đang lép vế thắng trận đấu bóng bầu dục hay bóng rổ và thách thức các tỷ lệ, “Đó là lý do chúng ta phải tiến hành trận đấu”.

Ờ thì, tôi ở đây để tiến hành trận đấu, và tôi chọn không sống và chết theo những gì mà những người lập nên tỷ lệ nói. Tôi chọn không đặt niềm tin vào số phần trăm của một số nhà nghiên cứu ẩn danh khi họ nhìn vào một đám số liệu khách quan. Thay vào đó, tôi chọn đặt niềm tin vào mình, vào cơ thể, trí tuệ và tinh thần của mình, vào những phần vốn đã nhuần nhuyễn trong nghệ thuật thách thức tỷ lệ của bản thân. Huấn luyện viên Taylor luôn nói với đội bóng bầu dục nghèo Panther trường Trung học Dillon của ông trong phim Ánh sáng đêm thứ Sáu (Friday Night Lights) rằng, “Mắt sáng, tâm đầy, không thể thua cuộc!”.

Tôi có mắt sáng và tâm đầy.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: cupofjo

Đọc bài viết

Trích đăng

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Published

on

By

Trích từ: Eight - 8 cách làm chủ trí thông minh nhân tạo
Tác giả: Lee Ji-sung
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 12.2020

-  Vì sao Khoa Y Đại học Harvard bãi bỏ việc giảng dạy truyền thống?
-  Vì sao tập đoàn tài chính Goldman Sachs sa thải 598 nhân viên tài giỏi nhất?
-  Lý do Google và NASA thành lập Đại học Singularity?
-  Lý do IBM tuyển chọn nhân viên có trải nghiệm văn hóa nhân loại học?

Từ năm 2030 đến cuối thế kỷ 21, hàng tỷ người trên thế giới sẽ bị Trí thông minh nhân tạo (AI) “cướp” công ăn việc làm. Những ngành nghề lâu nay được xã hội kính trọng và đánh giá cao như nghề bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo viên, nhân viên văn phòng... sẽ là những nạn nhân đầu tiên.

Lúc đó, thế giới lao dộng sẽ gồm một nhóm nhỏ những người điều khiển AI và số còn lại sẽ bị AI điều khiển với tên gọi “vô sản bấp bênh”. Vũ khí nào giúp bạn làm chủ Trí thông minh nhân tạo? Bí mật nằm ở những năng lực chỉ riêng con người mới có.

Chúng là gì? Làm sao đánh thức và phát triển vượt bậc những năng lực đó thông qua giáo dục và tự đào tạo? Cuốn sách này là cẩm nang không thể thiếu nếu bạn muốn LÀM-CHỦ-TRÍ-THÔNG-MINH-NHÂN-TẠO.

Eight - Lee Ji-sung

*

Xin hỏi quý vị

Hiện nay các trường đại học hàng đầu thế giới như Harvard, Stanford, MIT và các doanh nghiệp hàng đầu thế giới như Google, IBM đang ra sức đào tạo nhân tài làm chủ AI theo phương pháp “EIGHT”. Còn quý vị? Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng trên boong một con tàu đang bốc cháy dữ dội. Độ cao từ boong tàu tới mực nước biển là 50 mét, tương ứng với độ cao tầng 17 chung cư, nước biển phía dưới thì tối đen, lạnh lẽo, chuyển động dữ dội.

Quý vị sẽ làm gì?

Chạy lòng vòng trên boong tàu bốc cháy, bị lửa táp vào người rồi tử nạn? Hay can đảm nhảy từ boong tàu xuống biển?

Có lẽ quý vị sẽ trả lời thế này.

“Nếu là tôi, tôi sẽ nhảy xuống biển. Tôi sẽ không mắc sai lầm ngu ngốc vì sợ biển mà ở lại boong tàu đâu.”

Tháng 7 năm 1988, Andy Mochan có mặt trên boong tàu khoan dầu xảy ra tai nạn cháy nổ. Từ nơi ban đầu xảy ra vụ nổ, lửa nhanh chóng lan ra toàn bộ con tàu. Trên boong, lửa và khói đen cũng bắt đầu bốc lên. Không chần chừ, Andy Mochan lao xuống biển Bắc, nơi có những ngọn sóng lạnh lẽo. Việc nhảy từ độ cao tương ứng với tầng 17 của chung cư xuống biển chẳng khác gì đánh cược tính mạng, nhưng Mochan cho rằng so với việc tiếp tục ở lại trên boong tàu đang bốc cháy thì tỉ lệ sống sót sẽ cao hơn. May thay anh ấy đã sống, được cứu hộ không lâu sau khi nhảy xuống biển.

Chuyện vẫn chưa hết. Trên boong con tàu khoan dầu không ngừng bốc cháy còn có hơn 168 người khác. Tuy nhiên, họ cứ chạy tứ tán trên boong đến giây phút cuối cùng của cuộc đời một cách đầy tiếc nuối.

Tôi xin hỏi lại.

Nếu có mặt trên boong tàu đang bốc cháy đó, quý vị sẽ hành động như thế nào? Đánh cược mạng sống, một mình nhảy xuống biển? Hay ở lại cùng với 168 con người kia?

Ngay lúc này đây, con tàu khổng lồ mang tên Đại Hàn Dân Quốc đang cháy và chìm dần xuống biển. Người dân chạy tứ tán trên boong tàu, thậm chí trên tàu đang xảy ra chuyện gì họ cũng không biết và cũng không buồn tìm hiểu.

Quý vị sẽ làm gì? Quý vị sẽ giống như những người làm ngơ không biết thế giới đã thay đổi như thế nào, để cuối cùng đón nhận cái kết đáng tiếc? Hay sẽ lao xuống biển là cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đại diện cho Trí thông minh nhân tạo?

Vì sao đến chết Steve Jobs vẫn không rời Trí thông minh nhân tạo?

Tôi cũng không nhớ rõ hôm ấy là khi nào. Hôm ấy, khi bước ra ngoài, tôi cảm thấy dường như xung quanh đã thay đổi. Tất cả mọi người đều cầm thứ gì đó bóng bẩy trên tay, nhưng lúc đó tôi không để tâm quan sát kỹ. Đó là lần đầu tiên tôi tiếp cận với Iphone. Và tôi bắt đầu tò mò về Steve Jobs.

Dĩ nhiên, tôi đã biết rõ về Jobs từ lâu. Tôi từng bị thu hút bởi câu nói của Jobs “Nếu được dùng bữa trưa cùng với Socrates, tôi sẽ kể cho ông ấy nghe hết mọi công nghệ mà Apple có được”. Tôi không ngừng đọc, suy ngẫm và hiểu ra câu nói trên chỉ là lối diễn đạt theo phong cách riêng của Jobs cho cái gọi là “Phương pháp kinh doanh kiểu Socrates” mà các đại diện tiêu biểu là Peter Drucker của Mỹ và Charles Handy của châu Âu. Ngoài ra, tôi cũng biết thêm rằng bảng phả hệ trong ngành Kinh doanh hiện đại được nối tiếp theo thứ tự “các triết gia trước Socrates ®Socrates®Platon®Aristole®Vua Alexander®trường Cao học Luật Harvard®trường Cao học Kinh doanh Harvard®George Marshall®Peter Drucker, Charles Handy”. Ở đây tôi cũng tìm ra lời đáp cho câu hỏi “Làm sao ứng dụng phương pháp đối thoại của Socrates vào kinh doanh?”. Tôi đã mang tất cả sự thật cùng với câu trả lời tìm được vào bản thảo đang viết dở. Về sau, bản thảo đó được xuất bản thành sách với tựa đề Hãy lãnh đạo bằng cách đọc.

Trở lại câu chuyện về Iphone. Sau khi nhìn thấy Iphone, đúng hơn là nhìn thấy những người tôn thờ Jobs như giáo chủ và nâng niu chiếc Iphone như một quyển kinh thánh, tôi thật sự tò mò về Jobs. Tò mò mọi thứ về ông ấy, như suy nghĩ, triết lý, cảm xúc... Tôi đến hiệu sách mua tất cả các sách liên quan đến Jobs và Apple. Tôi còn đến ba thư viện mượn tất cả sách về Jobs và Apple. Nhưng tôi không mua Iphone. Lee Kun Hee – nhà sáng lập và đưa Samsung từ một doanh nghiệp hạng 3 trở thành tập đoàn Samsung hùng mạnh của hiện tại – từng nói thế này:

“Nếu quý vị đi xe buýt mà không biết nó được chế tạo như thế nào thì đó không phải là quý vị đi xe buýt mà là bị chất lên xe.”

Tôi muốn biết suy nghĩ, triết lý và cảm giác của người đã tạo ra chiếc Iphone, rồi sau đó sở hữu nó cũng không muộn.

Tôi của thời điểm đó là người như vậy. Một người vô cùng kiểu cách trong tất cả mọi việc, một người luôn luôn đập vỡ một phần chiếc cầu, và sau khi xác nhận được nó là cầu đá thì mới đi qua. Dĩ nhiên tôi của hiện tại đã khác sau khi sinh được hai đứa con. Tôi cố gắng sống như một dòng nước chảy.

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Hãy lãnh đạo bằng cách đọc được xuất bản vào tháng 11 năm 2010 và tái bản năm 2016, dài 432 trang. Vào thời điểm đó, thuật ngữ “nhân văn học” ở Hàn Quốc đã được giới học thuật sử dụng. Nhưng tất cả mọi người đều thốt lên: “Một quyển sách dài 368 trang với chủ đề ‘phải nhân văn’ ư? Thật là điên rồ”. Họ đều tin rằng sách của tôi sẽ thất bại. Thế nhưng thật bất ngờ, ngay lần xuất bản đầu tiên nó đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất với số lượng bản in cực lớn. Mượn lời diễn đạt của truyền thông lúc đó (chính miệng tôi nói thì đâm ra gượng gạo): quyển sách này đã thắp lên ngọn đuốc dẫn đường cho nhân văn học ở Hàn Quốc.

Khoảng bốn tháng sau khi quyển sách được xuất bản, tháng 3 năm 2011, ngọn đuốc ấy được châm thêm dầu. Tại sân khấu công bố Ipad 2, Steve Jobs tuyên bố: “Apple sinh ra từ điểm giao thoa giữa nhân văn học với khoa học và công nghệ.” Ngay lập tức, tuyên bố này gây xôn xao trong giới doanh nghiệp. Họ rỉ tai nhau rằng, “Yếu tố dẫn tới thành công của Jobs là nhân văn học”, “Bây giờ chúng ta phải theo nhân văn học thôi”. Con đường phát triển của doanh nghiệp hướng đến giới học thuật, các học giả nhạy bén bắt đầu sản xuất ra các bài giảng nhân văn học phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Trường đại học, Chính phủ, Quốc hội, chính quyền địa phương, tổ chức xã hội... đều thay đổi theo sự thay đổi của doanh nghiệp, cuối cùng cả nước bắt đầu nhộn nhịp theo đuổi nhân văn học.

Bản thân tôi cũng rơi vào vòng xoáy của trào lưu đó. Tới lúc định thần lại, tôi phát hiện mình đang đứng lớp giảng về nhân văn học trước các nhà tài phiệt, CEO và chính trị gia. Nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy bất an. Chẳng phải tôi đã từng gánh món nợ bảo lãnh 2 tỷ won và sống trong căn phòng gác mái vốn là kho chứa đồ nhưng được sửa chữa trái phép sao? Lúc đó, tôi đã cầu nguyện rất nhiều để xin Chúa cứu giúp. Chỉ cần Chúa cho tôi thành công trong mảng viết lách thì tôi sẽ dành cả đời, cho đến chết, để sống vì những người gặp khó khăn như tôi lúc này.

Tôi rất thích được mời đến nơi nào đó sang trọng nhưng cũng rất đắn đo khi nghĩ đến lời cầu xin với Chúa lúc còn là một tác giả vô danh. Cũng may là sự rối rắm đó của tôi kéo dài không lâu. Một ngày nọ, tôi đoạn tuyệt mối quan hệ với xã hội thượng lưu. Dĩ nhiên, hiện tại tôi đã kết nối lại với một số người, nhưng nếu nghĩ lại tôi cũng không hiểu rốt cuộc tại sao mình lại đột ngột đưa ra phán quyết và hành động như thế.

Từ lúc đó, cùng với các thành viên trong hội Polle Polle (Fan Café), tôi bắt đầu công việc phổ cập giáo dục nhân văn học ở trung tâm thiếu nhi địa phương trong nước, giúp đỡ trẻ em nghèo cùng những người thoát ly khỏi Triều Tiên. Bên cạnh đó, tôi cũng bắt tay vào việc xây dựng trường học ở những nơi nghèo khó bên ngoài Hàn Quốc.

Tôi đặc biệt say mê dự án làng tị nạn ở nước ngoài. Từ Đông Nam Á, Ấn Độ qua Pakistan, Nga, Nam Mỹ đến những trại tị nạn ở Trung Đông, châu Phi và Syria đều thiếu trường học nên chúng tôi trực tiếp đến thăm và lưu lại khá lâu ở những nơi đó.

Cùng sinh hoạt với những người dân vốn khác nhau về ngôn ngữ, một ngày nọ tôi bắt đầu đọc sách và suy ngẫm.

Cả ngày ở một làng tị nạn tràn lan người bệnh vô gia cư và người ăn xin như Kolkata (Ấn Độ), tôi vừa đọc Kant vừa suy ngẫm về vấn đề “Làm triết học là gì?”.

Ở ngôi làng của tộc người Maasai châu Phi, nơi có độ cao 1.800 mét so với mực nước biển, không có điện cũng không có nước, tôi đọc Tham luận triết học luân lý của Ludwig Josef Johann Wittgenstein và nghĩ về “điều không thể nói”.

Khi qua đêm trong công-ten-nơ ở trại tị nạn Jordan Syria, nơi có đầy bom của IS, tôi đọc Tân Ước và suy ngẫm về ý nghĩa của hoang mạc mà Thánh Gioan Baotixita và Chúa Jesus từng trú ngụ. Ban ngày, tôi đã quan sát nơi này khi ngồi trên ô tô.

Chuyện xảy ra khi tôi hoạt động tình nguyện ở Tondo, Philippine, một trong ba thành phố nghèo nhất trên thế giới. Sau khi kết thúc lịch trình một ngày làm việc, tôi đi vào thành phố và ghé qua hiệu sách. Khắp nơi trong hiệu sách đều trưng bày quyển Steve Jobs (bản tiếng Anh) của Walter Isaacson, cuốn tiểu sử duy nhất được Steve Jobs công nhận. Tôi lật qua vài trang rồi rời khỏi hiệu sách trở về Tondo. Tuy nhiên, kỳ lạ là gương mặt của Steve Jobs được in lớn trên bìa sách cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi đã bối rối trong chốc lát, nhưng ngay lập tức đưa ra quyết định:

“Tốt thôi! Mình sẽ chỉ nghĩ về Jobs cho đến khi ông ấy không còn xuất hiện trong tâm trí bất bình thường này nữa!”

Tôi bắt đầu cuộc chạm trán lạ lùng với Jobs. Khi đó bất chợt trong đầu tôi nảy ra câu hỏi.

“Mọi người đang nói về Jobs và nhân văn học, vậy nhân văn học mà Jobs nhắc đến là gì? Nhân văn học vốn dĩ được chia thành triết học – lịch sử – văn chương, trong đó riêng triết học đã bao gồm Triết học phương Tây, Triết học phương Đông, Triết học Ấn Độ,... Triết học phương Tây lại gồm Triết học cổ đại, Triết học trung đại, Triết học cận đại... Đâu chỉ có thế. Riêng Triết học cổ đại phương Tây thôi đã có nhiều triết gia rồi. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là triết học, lịch sử, văn chương của những ai, ở thời đại nào? Liệu có phải Socrates từng được nhắc tới ở đầu chương sách này? Không. Lúc đó Jobs có nói là ông dựa trên phương pháp kinh doanh của bản thân. Nhân văn học kết hợp với khoa học công nghệ của Apple có lẽ bắt nguồn cội rễ từ Socrates nhưng đó không phải là Socrates. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là gì?”

Vài ngày sau tôi trở về Hàn Quốc. Để có được lời đáp cho câu hỏi này, tôi đã tìm kiếm gần như tất cả các sách và bài giảng ở Hàn Quốc có nhắc tới Jobs, Apple và nhân văn học. Tôi còn gặp gỡ các học giả và chuyên gia ngành nhân văn có tiếng để thăm hỏi. Nhưng dù ở đâu, với ai, tôi cũng không tìm được câu trả lời. Tất cả đều hỏi tại sao tôi lại thắc mắc điều đó. Do vậy, tôi nghiên cứu về Jobs lại từ đầu. Tôi đọc và nghiền ngẫm lại toàn bộ các sách liên quan đến Jobs và Apple, chụp màn hình lưu lại các bài báo trong nước nói về Jobs. Những video nói về Jobs hay có Jobs xuất hiện tôi cũng tua đi tua lại để xem. Ví dụ như chương trình “Steve Jobs: Cuộc phỏng vấn bị đánh mất”, tôi tự tay bê toàn bộ phụ đề lưu vào laptop, đọc đi đọc lại hơn mười lần, hay mẩu quảng cáo “Think Different” huyền thoại của Apple phản ánh triết lý của Jobs tôi cũng xem đi xem lại hơn ba mươi lần.

Và cuối cùng tôi biết được sự thật: Nhân văn học của Jobs là triết học công cụ xuất hiện trong cuốn Tồn tại và Thời gian của triết gia Martin Heidegger; sự kết hợp giữa nhân văn học và khoa học công nghệ có nghĩa là tác nghiệp của Mark Weiser, người đứng đầu PARC (Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto); “Simple” (mẫu) là triết lý thiết kế của Trường dạy nghệ thuật Bauhaus ở Đức và triết lý thiết kế kiến trúc Mỹ được phát triển và kế thừa từ Louis Henry Sullivan ® Frank Lloyd Wright ® Joseph Eichler. Sau này, tôi nói rõ hơn về những điều này trong quyển Nhân văn học trong tôi.

Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Steve Jobs qua đời. Nhiều người trên thế giới tiếc thương cho sự ra đi của Jobs. Làn sóng này cũng xảy ra ở Hàn Quốc. Bất chợt, tôi tò mò về sự ra đi của ông.

“Jobs đã làm gì trước khi chết? Lẽ nào ông lại không đóng góp một khoản tiền khổng lồ cho nơi nào đó, như bệnh viện ung bướu chẳng hạn? Và hẳn là ông đã dành trọn khoảng thời gian quý báu cuối cùng bên những người thân yêu?”

Khác với phỏng đoán của tôi, Jobs vẫn miệt mài nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo.

Năm 2003, Cơ quan Chỉ đạo Dự án Nghiên cứu Quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng Mỹ, cùng với Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford (SRI International), xúc tiến dự án Trí thông minh nhân tạo CALO (Trợ lí nhận thức học và tổ chức) với mục đích nghiên cứu và phát triển Trí thông minh nhân tạo có khả năng học tập và suy luận đến có thể đối thoại với con người. Dự án huy động khoảng 300 chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo và được tiến hành trong 5 năm. Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford đã tách riêng một phần của dự án này và cho khởi nghiệp. Tháng 4 năm 2010, Jobs chi khoảng 2.260 tỷ won mua lại doanh nghiệp này. Jobs trực tiếp chỉ đạo dự án Trí thông minh nhân tạo Iphone, phát triển phần mềm Siri. Jobs qua đời sau hôm công bố Iphone 4S có tích hợp trợ lí nhận dạng giọng nói Siri.

Chính vì vậy, trong một năm rưỡi trước khi qua đời, Jobs bỏ ra một số tiền khổng lồ mua lại doanh nghiệp start-up về Trí thông minh nhân tạo, trực tiếp chỉ huy dự án Trí thông minh nhân tạo và ngừng thở vào hôm sau ngày dự án đó được hoàn thành. Nói đơn giản, Jobs đã dồn hết sức sống còn lại của mình cho Trí thông minh nhân tạo. Sẽ thế nào nếu Jobs không dồn hết tâm huyết vào Trí thông minh nhân tạo cho đến lúc cuối đời? Biết đâu ông ấy sẽ sống thêm được một thời gian. Không chừng bây giờ ông ấy vẫn còn sống.

Thông qua nhiều cách, tôi biết việc quan trọng nhất mà Jobs đã làm được trước khi chết, tôi bị sốc nặng, mặt nghệch ra. Tôi không hiểu “Jobs bị gì vậy?”, “rốt cuộc Trí thông minh nhân tạo là cái quái gì?”. Đương nhiên, từ năm 2004, tôi đã biết các doanh nghiệp IT lẫy lừng của Mỹ đều tập trung vào Trí thông minh nhân tạo, dựa vào câu nói của Bill Gates “Tôi sẽ dẹp hết mọi việc sang một bên và chạy ngay tới nếu nơi đó có thông tin liên quan đến Trí thông minh nhân tạo” trong quyển Buffett & Gates on Success (tạm dịch Buffett và Bill Gates nói về thành công) được dịch và xuất bản bằng tiếng Hàn. Thế nhưng, khi đó với tôi, Trí thông minh nhân tạo là thứ nằm giữa ranh giới của khoa học viễn tưởng và khoa học. Không, nó gần với khoa học viễn tưởng hơn. Tuy nhiên khi lần theo hành tung của Jobs trước khi mất, tôi nhận ra Trí thông minh nhân tạo hoàn toàn không phải là khoa học viễn tưởng. Từ lúc này tôi nghiêm túc đón nhận Trí thông minh nhân tạo, chính thức bắt đầu nghiên cứu về nó. Tháng 3 năm 2015, tôi mang một phần nội dung nghiên cứu được vào Nhân văn học trong tôi.

Không ai quan tâm

Nhân văn học trong tôi leo lên vị trí số 1 của thể loại sách tổng hợp bán chạy nhất sau khoảng 2 tháng xuất bản. Quỹ tin tức về Nhân văn học trong tôi mà tôi thực hiện cùng với Daum (trang thông tin điện tử) đạt hơn 100 triệu won và tạo ra một đề tài lớn. Trong thâm tâm, tôi đã kỳ vọng rằng “mối quan tâm về Trí thông minh nhân tạo sẽ bùng nổ ở Hàn Quốc ngay thôi”. Nhưng rốt cục, chỉ mình tôi đơn thương độc mã nghĩ như thế trên đất nước Kim Chi này. Thật đó, không ai quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo cả. Chán nản, tôi chọn cách quên nó đi.

Rồi một ngày nọ, theo tôi nhớ có thể là do AlphaGo, cả nước đã náo loạn. Tôi nhận được liên lạc từ nhà xuất bản. Họ bảo rằng một doanh nghiệp đề nghị tôi đến giảng cho họ về chủ đề “Trí thông minh nhân tạo và nhân văn học”. Thật thú vị. Và tôi đã đồng ý ngay.

Doanh nghiệp đó có khá nhiều nhân viên nên buổi thuyết giảng được chia thành hai lượt, sáng và chiều. Trong giờ ăn trưa hôm đó đã xảy ra một sự việc khiến tôi thay đổi ý nghĩ về Trí thông minh nhân tạo. Ngồi dùng cơm cùng Tổng giám đốc và ban lãnh đạo nhưng thật tình tôi không thể nuốt nổi cơm.

Lý do là vì sau lời mào đầu lê thê, ẩn ý sâu xa của ông Tổng: “Chắc nhà văn cũng quan sát thấy, công ty chúng tôi được nhiều người từ Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Đông và dĩ nhiên cả Mỹ và châu Âu thường xuyên lui tới. Thế nhưng, không biết từ bao giờ mọi người bắt đầu nói với nhau về Trí thông minh nhân tạo. Tôi tìm hiểu và biết rằng thế giới đang được tái cấu trúc, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm. Vì vậy, công ty chúng tôi đã mời nhiều chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo để nghe họ thuyết giảng. Nhưng tất cả đều chỉ trình bày đại loại như công nghệ Trí thông minh nhân tạo phát triển như thế này; trong tương lai do Trí thông minh nhân tạo mà thế giới sẽ thay đổi như thế này; Trí thông minh nhân tạo giống như SkyNet trong phim Kẻ hủy diệt, nó xuất hiện và biến nhân loại thành nô lệ của nó. Anh thử nghĩ xem, những chuyện đó liên quan gì đến chúng tôi? Việc quan trọng không phải là đưa ra đáp án cho câu hỏi “Chúng tôi cần chuẩn bị gì cho tương lai?” hay sao? Giờ đây chắc chắn sẽ sớm đến thời đại mà Trí thông minh nhân tạo vượt qua được con người. Vậy tóm lại lúc đó là khi nào, chúng tôi phải đào tạo, biến hóa bản thân như thế nào, nhân viên và con cái của nhân viên chúng tôi cũng phải học và chuẩn bị ra sao, họ phải cho chúng tôi biết những thứ đó chứ. May mắn là trong quyển Nhân văn học trong tôi của anh có thể hiện đôi chút nội dung như thế nên lần này chúng tôi đã mời anh. Cảm ơn nhà văn, dù bận rộn nhưng đã nhận lời đến đây”.

Từng thành viên ban lãnh đạo luân phiên đưa ra lời thắc mắc, người thì hỏi đứng trước thời đại Trí thông minh nhân tạo thì bản thân tôi phải chuẩn bị gì, người thì kể chi tiết con cái họ đang được cha mẹ chuẩn bị cho như thế nào và hỏi vậy định hướng và phương pháp của họ có đúng không, người khác lại hỏi tôi có thể cho họ lời khuyên không.

Tôi nhớ đó là bữa trưa khá mệt mỏi như cả ngày hôm đó, nhưng tôi nhận ra điều này:

“Ừ nhỉ, việc quan trọng là trả lời câu hỏi “Trong thời đại Trí thông minh nhân tạo thì tôi cần phải chuẩn bị gì?”. Đúng thế, việc cần thiết với tất cả mọi người chính là điều đó. Sau này mình phải nghiên cứu sâu hơn về nó.”

40.000 người đối đầu với 49.960.000 người

Buổi thuyết giảng ở doanh nghiệp đó có phải là bước ngoặt với tôi? Đột nhiên các lời đề nghị thuyết giảng về Trí thông minh nhân tạo bắt đầu ập tới xối xả. Ban đầu tôi từ chối “Ôi trời, tôi không phải là người nghiên cứu hay phát triển Trí thông minh nhân tạo gì cả, tôi chỉ là nhà văn thôi”. Trí thông minh nhân tạo không phải là chuyên môn của tôi nên tôi đã bối rối khi nhận được đề nghị thuyết giảng từ khắp cả nước chứ không phải một hai nơi.

Sự thực ở thời điểm đó tôi không hề có ý định sẽ viết quyển sách này. Bỗng một hôm khi đang đọc sách liên quan đến Trí thông minh nhân tạo ở thư viện, tôi vô tình biết được xã hội nhân loại tương lai sẽ chia thành “giai cấp ra chỉ thị cho Trí thông minh nhân tạo” và “giai cấp nhận chỉ thị của Trí thông minh nhân tạo”. Và cũng được biết chuyện các nước tiên tiến đã nỗ lực từ lâu để sản xuất ra nhiều nhất có thể các công dân phụ thuộc vào điện tử. Tôi đã sốc. Càng sốc hơn khi biết được sự thật tiếp theo. Hàn Quốc gần như không có người hiểu biết về lĩnh vực này. Truyền thông cũng không đả động đến.

Hỏng rồi. Tôi cảm thấy bất an, nếu cứ tiếp tục thế này thì sẽ lặp lại lịch sử của thời kỳ Đại Hàn Đế Quốc. Tôi bắt đầu tích lũy tài liệu để viết sách. Tôi gần như đã đọc hết các sách về Trí thông minh nhân tạo được xuất bản cũng như tất cả các tin tức liên quan mà truyền thông đã đăng. Bằng cách đó tôi đã thu thập tài liệu trong hơn một năm, và mất khoảng ba tháng để phân tích tài liệu.

Thế nhưng, thật khó để đặt bút viết. Trong suốt hai năm, tôi bận bịu với các bài giảng ở khắp nơi trên cả nước, đồng thời phải giải quyết nhiều công việc khác nên trong một tháng nhiều lắm chỉ viết được khoảng năm hay sáu lần. Tính bình quân mỗi lần giảng có khoảng 300 người nghe thì tất cả tôi đã giảng cho khoảng 40.000 người. Ngược lại, số người không được nghe giảng về Trí thông minh nhân tạo, số người được cho là không hề quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo chiếm khoảng 49.960.000 người.

Hơn nữa, môi trường chung của Hàn Quốc thì sao? Hãy nhìn vào nhóm 8 trường hàng đầu Gangnam gần như giữ vai trò dẫn đường cho giáo dục Hàn Quốc. Ngay lúc này, mọi người không thấp thỏm lo lắng là do giáo dục đã bớt chạy theo hướng nhồi nhét chăng? Tất cả các nước tiên tiến đều tuyên bố rằng trong tương lai chỉ số thông minh (IQ) của Trí thông minh nhân tạo sẽ vượt qua mức 10.000 nên kiểu giáo dục học thuộc lòng hoàn toàn không có ý nghĩa, họ đang nỗ lực để giúp trẻ em phát triển năng lực mà Trí thông minh nhân tạo tuyệt đối không thể có. Minh họa cho điều này, không khác gì việc súng đã được phát minh và tất cả mọi người đều trang bị súng, chỉ riêng chúng ta vẫn còn dạy cho trẻ con cách chế tạo mũi tên tốt hơn một chút. Hay chuyện con người đã phát minh ra điện và mọi người đang tạo ra nền văn minh từ điện nhưng chỉ mỗi chúng ta lại đang dạy cho trẻ con cách làm nến có thể cháy lâu hơn một chút.

Còn Chính phủ và Quốc hội thì sao? Trong khi các cơ quan nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước đang tranh nhau công bố các báo cáo về việc trong tương lai khoảng 10 năm tới thế giới sẽ thay đổi, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm, các nghề nghiệp mang tính chuyên môn và dĩ nhiên bao gồm cả nghề lao động đơn giản, thậm chí các công việc kỹ thuật sẽ bị thay thế bởi Trí thông minh nhân tạo thì ở Hàn Quốc, Chính phủ và Quốc hội lại không đưa ra được đối sách nào cả. Khoan nói tới chuyện ra đối sách thiết thực, ngay cả việc hướng dẫn người dân như Chính phủ và Quốc hội Nhật đã làm: “Khi xin việc hãy lựa chọn công việc mà về sau không bị Trí thông minh nhân tạo thay thế”, họ còn không thể làm được.

Thế còn vấn đề Triều Tiên? Không riêng Yuval Noah Harari, các nhà khoa học hàng đầu của thế giới cũng khuyến cáo Hàn Quốc có thể trở thành quốc gia phải đương đầu với mối nguy hiểm lớn nhất trong thời đại của Trí thông minh nhân tạo. Một người như Kim Jong-un sau này có thể xây dựng đội quân robot bằng Trí thông minh nhân tạo. Thực tế, hiện nay điều khiến binh lính khiếp sợ nhất trong lúc giao chiến không phải là lính con người mà là lính robot được chế tạo từ Trí thông minh nhân tạo. Tóm lại, chúng ta phải nhìn vấn đề Triều Tiên trên quan điểm của thời đại Trí thông minh nhân tạo. Sự uy hiếp từ đội quân robot Trí thông minh nhân tạo sẽ không biến mất cho dù chế độ Kim Jong-un sẽ chấm dứt ở Triều Tiên, 200.000 tù nhân chính trị bị bắt giam được trả tự do và nhân quyền được khôi phục, từ Bắc chí Nam được thống nhất theo chủ nghĩa tự do dân chủ với vai trò chủ đạo của Đại Hàn Dân Quốc.

Ngoài ra, xung quanh Hàn Quốc còn có Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, những quốc gia có tiềm năng quân sự hùng mạnh, có thể xây dựng quân đội robot Trí thông minh nhân tạo mạnh mẽ hơn, đáng sợ hơn cả Triều Tiên. Ba quốc gia này có bốn điểm chung như sau.

Thứ nhất, đã từng giao tranh với Hàn Quốc.

Thứ hai, giữa họ cũng từng xảy ra giao tranh.

Thứ ba, các nước láng giềng đều có kế hoạch triển khai quân đội đến bán đảo Triều Tiên trong tình huống khẩn cấp. Trung Quốc đã bố trí khoảng từ 500 đến 1.200 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân hướng về bán đảo Triều Tiên; chưa hết, họ còn có đội quân chuyên biệt phụ trách bán đảo Triều Tiên từ trước; Nga cũng cho quân đội tập trận cùng với đội quân này của Trung Quốc; Nhật thì tuyên bố nếu nguy cấp họ bắt buộc phải triển khai quân tự vệ lên bán đảo Triều Tiên.

Thứ tư, ngay thời điểm hiện tại họ đang đầu tư chi phí quân sự rất lớn để xây dựng quân đội vững mạnh.

Tóm lại Trung Quốc, Nga, Nhật Bản đều là những nước mạnh về kinh tế và quân sự. Ba quốc gia này liệu có ngồi yên trong thời đại Trí thông minh nhân tạo? Tuyệt đối là không rồi. Họ sẽ sản xuất ra đội quân robot Trí thông minh nhân tạo theo tiêu chuẩn hiện đại nhất của thế giới và đưa vào thực tiễn. Chúng ta phải nhìn thấy tương lai này và chuẩn bị đối phó với nó. Nếu không, chúng ta sẽ không bảo vệ được mình trong thời đại Trí thông minh nhân tạo.

Quốc gia đứng đầu thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người”

Toàn bộ tai ương về Trí thông minh nhân tạo do sự vô tri, vô năng của Chính phủ và Quốc hội gây ra sẽ trở thành gánh nặng cho người dân. Quý vị có biết quốc gia số 1 thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người” nằm ở đâu không? Chính là Hàn Quốc. Theo báo cáo do tổ chức Liên minh Robot thế giới (IFR) công bố, ở Hàn Quốc, cứ 10.000 người lao động thì có khoảng 462 đến 531 người bị robot thay thế, nhiều hơn mức trung bình 69 người của thế giới (số liệu năm 2016).

Sau này, nếu thời kỳ Trí thông minh nhân tạo chính thức bắt đầu thì Hàn Quốc có khả năng rất cao sẽ trở thành quốc gia số 1 trên thế giới tính theo tỷ lệ người bị Trí thông minh nhân tạo thay thế. Điều này có ý nghĩa gì? Có nghĩa là quý vị, người hiện đang đọc bài viết này có nhiều khả năng sẽ bị mất việc do Trí thông minh nhân tạo gây ra. Lỡ như tình huống đó xảy ra, quý vị và gia đình quý vị sẽ thế nào? Mới nghĩ thôi đã thấy kinh khủng. Có một việc còn kinh khủng hơn nữa. Quý vị hoàn toàn không biết về việc này, cũng như không hề có sự chuẩn bị nào để đối phó với nó.

Nhóm đặc quyền ở Hàn Quốc, cả cánh tả lẫn cánh hữu đều kém năng lực, nhưng dù sao ở Hàn Quốc họ vẫn là tập thể chuẩn bị tốt nhất cho tương lai. Từ sau sự kiện AlphaGo, họ đều đặn tham dự các diễn đàn hay các buổi diễn thuyết, buổi thảo luận về vấn đề Trí thông minh nhân tạo, chăm chỉ cóp nhặt kiến thức liên quan. Nếu không tin, quý vị hãy thử gõ từ khóa đại loại như “diễn đàn Trí thông minh nhân tạo” hay “diễn thuyết Trí thông minh nhân tạo”, “thảo luận Trí thông minh nhân tạo” vào mục tìm kiếm tin tức trên mạng mà xem.

Dĩ nhiên việc học tập, nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo của nhóm đặc quyền chỉ dừng lại ở kiểu nhồi nhét. Thế nhưng thực tế họ là những người có nhiều hiểu biết nhất về Trí thông minh nhân tạo, có sự chuẩn bị tốt nhất cho thời đại Trí thông minh nhân tạo ở Hàn Quốc. Hơn nữa, ngoài tài sản và quyền lực, họ còn có cả mối quan hệ. Vì thế, dù thời đại Trí thông minh nhân tạo có xảy ra thì khả năng cao họ vẫn có thể sống tốt.

Nhưng đại đa số những người không có đặc quyền nào cả sẽ ra sao? Ở đây tôi sẽ nói cụ thể, đó là chuyện chúng ta sẽ mất việc làm, gia cảnh rơi vào khốn khó chỉ trong một buổi sáng và phải sống cuộc sống của kẻ nghèo khổ trong suốt phần đời còn lại.

Quý vị sẽ làm gì?

Cứ sống như hiện tại rồi một ngày nọ bị loại bỏ bởi Trí thông minh nhân tạo có tài năng vượt trội hơn quý vị?

Hay là ngay từ bây giờ quý vị sẽ biến mình thành người “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, tức là trở thành chủ nhân của Trí thông minh nhân tạo?

Tôi hy vọng quý vị sẽ lựa chọn ý thứ hai. Tôi hy vọng quý vị sẽ là một cá thể mạnh mẽ có thể bảo vệ cho những người thật sự quan trọng với quý vị và cả bản thân quý vị trong tương lai.

Nếu quý vị bắt đầu bước đi trên con đường trở thành “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, những người xung quanh quý vị cũng sẽ quan tâm đến con đường này. Và họ sẽ bắt đầu sánh bước cùng quý vị.

Chỉ khi người dân Hàn Quốc chuẩn bị cho tương lai theo cách như thế thì mới mở rộng được cánh cửa cường quốc Trí thông minh nhân tạo phía trước.

Tôi tin chắc là vậy.

Đây là lý do khiến tôi cầm bút sau hồi lâu lưỡng lự.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng