Chuyện người cầm bút

7 câu hỏi với tác giả Nguyễn Hoàng Mai

Tôi tự hỏi, tại sao cô gái này lại sử dụng một lối viết mềm mại, chênh vênh, hư ảo để miêu tả những câu chuyện buồn và u uất đến nhường ấy?

Published

on

Nguyễn Hoàng Mai

Tác phẩm đã in: Đung đưa trên những đám mây, Bây giờ mình đi đâu

Trong profile của Nguyễn Hoàng Mai, chẳng có điểm nào quá nổi bật. Một cô gái sinh năm 1991, tốt nghiệp khoa Báo chí truyền thông Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP.HCM. Mai say mê văn học Nhật Bản, hiện đang học tập và làm việc ở Tokyo. Muốn hiểu về con người Hoàng Mai, nhất định phải đọc văn Hoàng Mai. Bạn sẽ nhận ra đằng sau đôi mắt tròn là những suy nghĩ phức tạp, là những giãy giụa trong vòng cuốn sâu mang tên “tuổi trẻ”.

Tác phẩm đầu tay của Mai, Đung đưa trên những đám mây, xoay quanh những giấc mơ vụn vỡ. Nhân vật của cô lột tả nỗi đau của xã hội hiện nay: những hi vọng và thất vọng tồn tại song song trong lòng những người trẻ tham vọng, sự rạn nứt của gia đình, tình yêu đồng giới và khác giới, những cô gái đáng thương bị lạm dụng từ khi còn nhỏ và mang theo nỗi cô độc câm lặng để lớn lên. Cuốn sách được hoàn thành năm Mai 21 tuổi, khi cô vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường.

Tập truyện ngắn Bây giờ mình đi đâu, đúng như tựa đề, tiếp tục khai thác sự phức tạp của người trẻ: những hối tiếc về giấc mơ đã qua, sự lạc lối trong hiện tại và sợ hãi cho tương lai. Nhà văn Nhật Chiêu bình luận, “Đọc Nguyễn Hoàng Mai, ta lạc”. Đọc văn cô viết như lao vào một đường hầm xoáy sâu, kéo dài rồi bung tràn ra một mảnh đất hỗn loạn những cảm xúc. Trong không gian trắng xóa ấy, vang lên những câu hỏi nghẹn thở: “Hạnh phúc là gì? Tình yêu là gì? Ta có quay ngược thời gian về quá khứ được không? Ta có vượt không gian nhảy xuyên vào một thế giới khác được không?” Văn của Mai không phải để khám phá thế giới mà để đào sâu nội tâm con người. Hơn hết, đọc văn Mai, tôi hi vọng bạn có thể nhận ra mình, hoặc tìm thấy một mình đã mất.

Với những tâm tư như thế, Bookish đã có cuộc hẹn gặp Mai, dường như để tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao cô gái này có lại sử dụng một lối viết mềm mại, chênh vênh, hư ảo để miêu tả những câu chuyện buồn và u uất đến nhường ấy?

BTV Khánh Nguyên (K.N): Cả hai tác phẩm đã xuất bản của Mai, tiểu thuyết Đung đưa trên những đám mây (phát hành tháng 4.2018) và tập truyện ngắn ra mắt đúng một năm sau Bây giờ mình đi đâu (phát hành tháng 4.2019), đều nói về sự lạc lối, chông chênh, nỗi cô đơn, sự phù du trong cuộc đời, tình yêu của những người trẻ. Bạn viết từ những suy nghĩ, trải nghiệm của riêng mình, hay từ việc quan sát những bạn bè đồng trang lứa hay tìm cảm hứng từ những nguồn nào khác?

Nguyễn Hoàng Mai (N.H.M): Thật ra mình thích học văn từ nhỏ, say mê với những cuốn sách, để rồi tìm thấy sự bình yên trên những trang viết, thoải mái và là chính mình nhất khi được viết. Hai tác phẩm được xuất bản của mình đều xuất phát từ nhu cầu nội tại, rồi mình cũng đã tìm kiếm một cái “tứ”, để truyền tải được điều cốt lõi nhất muốn gửi gắm. Viết lách có lẽ là sự khai phá từ sâu trong, chính ngòi bút và trí tưởng tượng sẽ làm rõ ràng hơn, mang lại sự sống cho câu chuyện vốn chỉ từ những chấm phá, ý tưởng ban đầu. Văn chương đối với mình như một con đường dài, có thể không hề êm ả, lại đòi hỏi nhiều kiên nhẫn, và để tìm kiếm những đồng cảm, đồng điệu từ trái tim, tâm hồn của bạn đọc phải chăng nên bắt đầu từ hành trình nội tâm của chính người viết, đôi khi mình đã nghĩ như vậy.

K.N: Một số bài báo đã đề cập đến chủ đề “Càng trưởng thành, càng cô đơn” hay “Sự kiệt quệ của tuổi trẻ” – một thực trạng mà giới trẻ hiện đại đối diện mỗi ngày, bản thân cũng là một tác giả và là một người trẻ, Mai có suy nghĩ gì về vấn đề này?

N.H.M: Bản thân chúng ta, dường như sớm hay muộn đều phải đối mặt với cô đơn. Có lẽ không hẳn càng trưởng thành càng cô đơn mà, càng lớn lên ta càng cảm nhận rõ ràng hơn sự hiện hữu từ những hình bóng của nỗi cô đơn xung quanh mình. Vấn đề ở đây, tại sao chúng ta lại sợ cô đơn? Phải chăng vì thấy bất an hơn khi chỉ có một mình, ta sợ ngay cả khi chỉ mới cảm giác rằng mình bị bỏ lại, khi phải nhìn thẳng vào những vấn đề tưởng như không bao giờ kết thúc của bản thân. Mình cũng từng trải qua những thời khắc hoang mang, liêu xiêu như vậy. Và dường như đó là điều bình thường nhất của tuổi trẻ.

Vì sợ cô đơn nên đôi khi ta phụ thuộc vào nhiều thứ bên ngoài như mạng xã hội, điện thoại di động… Nếu một lần thử dừng lại, nhìn thẳng vào sự cô đơn, bất an trong trái tim – sớm muộn cũng xảy đến – đó là cơ hội khiến ta hiểu rõ bản thân hơn. Từ hiểu rõ sẽ chấp nhận được những khuyết điểm của chính mình, qua đó biết mình thực sự muốn gì, cần gì. Việc trưởng thành thông qua đối diện với nỗi cô đơn luôn đau đớn nhưng sẽ khiến nội tâm trở nên vững chãi hơn.

K.N: Viết là một kĩ năng rất cần trong cuộc sống, đặc biệt là để bày tỏ suy nghĩ của bản thân. Nhưng hiện nay khá nhiều bạn trẻ lười và ngại viết. Bạn có kinh nghiệm gì để chia sẻ cùng bạn đọc để việc viết không còn quá khó khăn?

N.H.M: Mình tin rằng mỗi chúng ta đều có những câu chuyện độc đáo từ những trải nghiệm cá nhân. Mỗi chúng ta đều những nỗi niềm mà bằng việc viết ra trên giấy sẽ khiến mọi thứ có hình hài, câu chuyện của bản thân trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu có nặng gánh tâm tư chỉ bằng việc viết ra, sẽ khiến lòng mình dịu bớt. Viết, dường như cũng là một cách tìm hiểu, thăm dò bản ngã của mỗi người.

Viết lách có nhiều cái lợi là thế nhưng tuổi trẻ ngày nay ngại viết có lẽ vì… thiếu thời gian, vì cho rằng có nhiều thứ hay ho hơn việc ở một mình và cắm cúi vào những trang văn. Riêng mình, có một trò chơi nhỏ đã học từ một lớp dạy viết truyện ngắn tham gia hồi học Đại học. Đó là, khi rảnh rỗi, chỉ cần ngồi xuống viết ngẫu hứng, tự do bất kỳ thứ gì trong trí óc, đến khi trống rỗng những suy nghĩ hoặc tự mình muốn dừng lại. Có thể không cần đọc ngay nhưng khi nhìn lại những trang viết tuy rất vội vã đó, ta có thể nhận ra một điều gì. Dần dà khi viết nhiều, có thể hình thành thói quen khiến viết lách không phải là công việc quá gò bó, khuôn mẫu. Những gì bản thân suy nghĩ, cảm nhận sẽ tự nhiên tuôn trào trên những con chữ.

K.N: Top 3 tác giả Mai yêu thích nhất? Họ có ảnh hưởng như thế nào đến cách viết của bạn?

N.H.M: Ba tác giả mà mình yêu thích đó là Dostoevsky, Kawabata Yasunari và Murakami Haruki. Ngoài ra mình còn thích những truyện ngắn của Raymond Carver, Ivan Bunin. Mình thích tính thiền thuần Nhật trong những trang viết của Kawabata Yasunari, kỹ năng phân tích tâm lý nhân vật sắc bén của Dostoevsky, sự tinh tế trong từng chi tiết tưởng nhỏ nhất của Ivan Bunin, sức sáng tạo, xen lẫn màu sắc thời đại trong văn chương Murakami Haruki. Thích đọc truyện của họ là vậy, nên có lẽ chính bản thân đã bị ảnh hưởng trong chất văn từ trong vô thức, nhưng để học tập cụ thể về bút pháp từ những bậc thầy này với mình vẫn còn một chặng đường khá xa.

K.N: Nếu tất cả những cuốn sách đều biến mất và bạn chỉ có quyền giữ lại duy nhất một cuốn, bạn sẽ chọn cuốn nào?

N.H.M: Mình sẽ hiểu câu hỏi theo hướng là, không phải tất cả các cuốn sách đều biến mất trên thế giới này mà một giả sử có khả năng xảy ra hơn, mình chỉ được phép giữ một cuốn sách cho bản thân. Nếu phải sống trên hoang đảo chẳng hạn, mình sẽ phân vân giữa hai cuốn đó là “Anh em nhà Karamazov” của Dostoevsky và “Ruồi trâu” của Ethel Lilian Voynich. Có lẽ mình sẽ giữ những cuốn sách khác trong tâm trí, và viết ra những tác phẩm cho bản thân đỡ buồn khi không còn sách để đọc.

K.N: Theo Mai, điều gì làm nên một quyển sách hay? Quyển sách nào khiến bạn xúc động nhất?

N.H.M: Theo kinh nghiệm, mình sẽ không bị xúc động bởi một cuốn sách đồ sộ hoặc vĩ đại – vì điều này không quyết định đến cảm xúc – mà thường rung cảm nhiều hơn bởi cuốn sách chạm đến một phần nào trong chính mình, mà bản thân cũng không thấy, vô tình phong lại hay đã giấu kín quá lâu. Cũng như vậy, cuốn sách hay, có lẽ có khả năng chạm đến những cảm giác sâu trong nội tại như một người tri kỷ, có thể là cung bậc buồn, rất buồn, nhưng những cảm giác đó đôi khi khiến mình vỡ òa hạnh phúc vì được cảm giác kết nối. Hơn nữa, cuốn sách hay sẽ có khả năng làm thay đổi chính bản thân mãi mãi.

Mình nghĩ, sách không phải là những dòng chữ cụ thể nằm trên giấy, mà lửng lơ đâu đó giữa những ý nghĩ, tư tưởng sách mang lại. Cuốn sách vô hình này sẽ theo người đọc đến suốt cuộc đời.

K.N: Sống ở Nhật, điều gì ở người Nhật khiến Mai cảm thấy đồng cảm nhất? Điều gì khiến bạn cảm thấy khó hiểu nhất?

N.H.M: Điều mình đồng cảm, hay nói đúng hơn là nể phục đó là sự bình tĩnh trước thiên tai của người Nhật. Mình nhớ hình ảnh sau ngày xảy ra động đất lớn năm 2016, người người vẫn xếp hàng trên những chuyến tàu điện một cách trật tự im lặng, không hề hỗn loạn. Chữ “hòa” có thể bắt gặp thường ngày trong cảnh quan ở Nhật Bản, mình thích cách người Nhật tôn trọng thiên nhiên, giữa thành phố lớn, vẫn còn những hàng cây, những con kênh trong vắt, trước nhà người dân thường trồng nhiều cây hoa, cho mình cảm giác họ sống rất an nhiên hài hòa với tự nhiên.

Ngược lại, mình cảm thấy khó hiểu về sự cứng nhắc từ các quy tắc tồn tại khá nhiều trong cuộc sống ở Nhật. Ví dụ, khi bước vào cuộc phỏng vấn tất cả mọi người đều mặc cùng kiểu vest, được khuyên nên để một kiểu tóc, cách gõ cửa, cúi chào đều được quy định cụ thể. Người Nhật dường như ít tôn trọng sự khác biệt của cá nhân, thậm chí có câu thành ngữ nổi tiếng, 出る杭は打たれる (tạm dịch, cái cọc nhô lên sẽ bị đóng cho bằng những cây cọc khác). Dường như người Nhật có xu hướng làm những việc giống nhau, cá tính và sự nổi bật sẽ dễ bị gạt bỏ để duy trì sự hài hòa chung. Thêm nữa ở Nhật tồn tại những vấn đề xã hội đặc thù như những cái chết trong cô độc của người già, Karoshi (những cái chết vì làm việc quá sức), Hikikomori (hiện tượng những người giam mình trong căn phòng, khước từ việc tham gia vào đời sống xã hội trong thời gian dài)… Thậm chí gần gũi nhất với mình như những chuyến tàu điện vào giờ đi làm hoặc giờ tan tầm ở Nhật vẫn là những trải nghiệm không hề dễ chịu.

Tác giả của Phương Nam Book

Hết.


Tác phẩm & tác giả được Nguyễn Hoàng Mai đề cập

Chuyện người cầm bút

Một cuộc chuyện trò với Wu Ming-yi, tác giả Người mắt kép

Published

on

By

Về Người mắt kép:

Trong cuốn tiểu thuyết Người mắt kép vừa được giới thiệu, chuyển ngữ và ra mắt gần đây; có một quy luật trên đảo Wayo Wayo rằng: người con trai thứ trong mỗi gia đình vào ngày tròn mười lăm tuổi phải dong talawaka (một kiểu thuyền độc mộc tự làm) ra biển như vật hiến tế cho Kabang - Thần Biển. Atile'i là một cậu bé như thế, với thiên tư bơi lội và tài đi biển, đã quyết tâm bất chấp vận mệnh để trở thành người đầu tiên sống sót trở về.

Cũng trong lúc đó, Alice Shih – một người phụ nữ vừa mất chồng và con trai trong một tai nạn leo núi, đang âm thầm chuẩn bị tự sát trong ngôi nhà bên bờ biển của mình. Nhưng kế hoạch ấy sẽ mãi gián đoạn, khi vòng xoáy rác ập vào bờ biển Đài Loan, cuốn theo Atile'i.

Sau sự kiện ấy, Alice nhờ sự hợp sức của Atile’i lần theo dấu vết người chồng quá cố lên núi, với hy vọng giải đáp được sự bí ẩn về việc mất tích của cậu con trai. Trong cuộc hành trình của họ, ký ức là những chướng ngại; các mối liên kết bắt đầu thành hình; trong khi những bí ẩn đen tối dần được hé lộ sẽ buộc Alice phải đặt câu hỏi về tất cả những gì cô nghĩ mình biết.

Câu chuyện hài hước và đầy đau buồn này gợi lên rất nhiều những cung bậc cảm xúc khác nhau. Nó nhắc tôi nhớ trí tưởng tượng trong các tiểu thuyết đôi khi cũng có quyền năng mang đến góc nhìn rộng mở và “vượt trội” hơn những sự thật vẫn đang diễn ra trước mắt, về biến đổi khí hậu, về môi trường… mà ta vẫn còn mù mờ. Phép ẩn dụ về đôi mắt kép cũng đồng thời ám chỉ những góc nhìn đa dạng của thiên nhiên xung quanh. Wu Ming-Yi là một trong nhiều tiểu thuyết gia mà tôi từng trò chuyện hoàn toàn không có chủ ý viết về biến đổi khí hậu ngay lúc ban đầu, nhưng những vấn đề này đã đến với anh và câu chuyện của mình vô cùng tự nhiên.

“Chúng ta chưa từng đọc thứ gì như cuốn tiểu thuyết này. Chưa bao giờ. Nam Mỹ đã trao cho chúng ta chủ nghĩa hiện thực huyền ảo – còn Đài Loan thì trao cho chúng ta gì đây? Một cách kể mới về hiện thực mới của chúng ta, đẹp đẽ, thú vị, đáng sợ, phi lý, chân thật. Hoàn toàn không ủy mị nhưng cũng chưa bao giờ tàn bạo, Wu Ming-Yi đối xử với sự yếu ớt của con người và của thế giới bằng sự dịu dàng đầy can đảm.”- Ursula K. Le Guin, tác giả của Mê cung xứ hải địa, Bến bờ xa nhất…

Đài Loan đang có nhiệt độ ấm hơn, và cũng tương tự nhiều nơi trên thế giới, được dự báo sẽ phải đối mặt với nước biển dâng cao và những cơn bão cực mạnh. Nằm trong làn sóng các nhà hoạt động vì khí hậu trẻ, Kaisanan Ahuan đến từ Thị trấn Puli, Đài Loan - một thành viên của những sắc dân thiểu số, từng chia sẻ thế này trên tờ The Guardian:

Là người dân bản địa Đài Loan, chúng tôi đặc biệt dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Truyền thống của chúng tôi bắt nguồn sâu xa từ sự hài hòa vốn có với tinh thần tự nhiên. Chúng tôi phải đối mặt với mất mát đau thương do các hiện tượng thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt.

Trò chuyện với Wu Ming-Yi:

Mary: Người mắt kép kể về hai câu chuyện: một thần thoại và một đương đại, về những cá thể bị ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu và những vấn đề cá nhân của bản thân họ. Đó là sự tưởng tượng mới mẻ trong cách kể chuyện đầy độc đáo. Điều gì khiến anh lựa chọn viết nó?

Wu Ming-Yi: Nhiều năm trước tôi đã nghe đến thông tin về các xoáy rác ở biển Bắc Thái Bình Dương. Ngay cả khi không có những tấm ảnh chụp, một chuỗi những cảnh tượng cứ thế vẫn ám ảnh tôi hết đêm đến ngày. Khi thời gian trôi qua, chúng trở nên gắn kết và thành một khối thống nhất trong tâm trí tôi. Nó làm tôi nhớ đến nơi mình đang sống, Hualian. Hualian là một thành phố nhỏ hướng ra bờ Thái Bình Dương. Tôi hay đứng đó ngắm nhìn những cánh chim bay. Lúc đó ý tưởng về việc rất có thể một ngày nào đó tất cả rác thải sẽ bay ngược về để gặp người đã tạo ra chúng – chính chúng ta. Ngoài ra, với sự hiểu biết về biến đổi khí hậu và sự đam mê với biển, tôi bắt đầu chương đầu tiên của Người mắt kép.

Mary: Tôi thích câu chuyện về Atile'i và hòn đảo Wayo Wayo. Điều này có điểm chung nào với các truyền thuyết có thật của Đài Loan không?

Wu Ming-Yi: Về mạch truyện này, tôi đã nghiên cứu rất nhiều cuốn sách trong lĩnh vực dân tộc học, và dĩ nhiên, có tồn tại một hòn đảo xinh đẹp mang tên Lanyu và những cư dân của nó là người bản địa Tao. Do đó, Wayo Wayo được tôi phôi thai như là một nhóm dân cư sống đời tập trung vào biển, có một khả năng nào đó sẽ giao tiếp được với các nền văn minh khác dựa trên đất liền. Tôi cũng tham vọng mô tả sự phức tạp của các chủng tộc và sắc tộc Đài Loan bản địa. Do đó, tôi đã thêm bộ tộc Bunun vào câu chuyện của mình.

Mary: Câu chuyện về Alice cũng thú vị không kém. Ngôi nhà của cô ấy thực sự đang chìm trong nước biển dâng, và đồng thời cũng phải đối mặt với sự mất mát và đau buồn tột độ. Điều gì đã khiến anh nghĩ mình phải tạo nên được nhân vật này?

Wu Ming-Yi: Tôi sống giữa Đài Bắc và Hualian. Đài Bắc là thành phố lớn mà mọi người đang cố quên đi bản thân vẫn được che chở dưới bàn tay của tự nhiên; trong khi Hualian là một vùng đất khá nhỏ nằm ở khúc giao giữa một ngọn núi cao 3.000 foot và biển Thái Bình Dương. Những người sống gần tự nhiên có thể cảm nhận được ​​những thay đổi và xúc động hơn trước thực tế môi trường ngày càng xấu đi. Sự tuyệt vọng trong đời sống cá nhân đan xen với nỗi thất vọng gấp bội khi nhận thức về môi trường. Tôi đã xây dựng Alice vì muốn bày tỏ cảm giác này.

Mary: Người mắt kép đề cập đến một số tác động môi trường như biến đổi khí hậu, xoáy rác, săn bắt cá voi, xây dựng – quy hoạch và săn hải cẩu. Thật ngạc nhiên khi anh xây dựng những vấn đề này thành một cuốn tiểu thuyết trong khi chỉ như đang kể về một câu chuyện tuyệt vời. Anh có nghĩ tiểu thuyết có thể trở thành công cụ để khám phá các vấn đề về môi trường không?

Wu Ming-Yi: Những vấn đề này đến với câu chuyện một cách tự nhiên. Trên thực tế, tôi không chủ ý cho thêm chúng vào. Trong quá trình tạo ra các nhân vật, những sự kiện trên chỉ đơn giản là có xuất hiện trong cuộc sống của họ, vì vậy tôi buộc mình xem xét sự thật ẩn sâu trong những vấn đề mà bạn đề cập. Bản thân tôi cũng từng tham gia một số nhóm hoạt động về môi trường, và mặc dù có vài chủ đề vẫn còn lạ lẫm với độc giả đại chúng, nhưng tôi hiểu rõ và muốn được giới thiệu đến đông đảo độc giả hơn.

Mary: Anh thấy Đài Loan thay đổi thế nào trong thời kỳ môi trường ô nhiễm, trái đất nóng lên...?

Wu Ming-Yi: Đài Loan đang trở thành nạn nhân của biến đổi môi trường do các doanh nghiệp phương Tây thiết lập các ngành công nghiệp ô nhiễm cao ở đây. Tất nhiên, Đài Loan phải tự trách mình vì chính phủ không chú ý đến việc bảo vệ môi trường. Hiện tại, Đài Loan đang đứng trước một sự lựa chọn: đó là trở thành điển hình về môi trường cho Đông Nam Á; hoặc, bị bỏ rơi trên con đường tăng trưởng kinh tế. Một số người cho rằng mục tiêu kép này có thể đạt được đồng thời, nhưng là một quốc gia có nguồn lực hạn chế, với thực tế là dân số đang giảm nhanh chóng, cũng như sức ép từ phía Trung Quốc hiện tại; thì có thể nói ý tưởng này như đang mơ hảo. Đài Loan phải tìm bằng được giá trị của mình như một phần của nền văn minh nhân loại, đồng thời phải quan tâm hơn đến những vẻ đẹp tự nhiên. Đài Loan do đó rất nên quyết tâm chống ô nhiễm để tạo ra tác động tích cực chống lại sự nóng lên toàn cầu.

*

Wu Ming-Yi sinh năm 1971 tại Đài Loan, và cũng là nơi anh hiện sinh sống. Là một nhà văn, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia, giáo sư văn chương, nhà sưu tầm bướm và nhà hoạt động về môi trường; anh giảng dạy môn viết sáng tạo tại Đại học Quốc gia Dong Hwa từ năm 2000 và hiện là giáo sư Khoa tiếng Trung. Wu Ming-Yi là tác giả của nhiều cuốn sách viết về thiên nhiên, trong đó Người Mắt KépChiếc xe đạp mất cắp đã được dịch và giới thiệu tại Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết thứ hai, The Way of Butterflies (tạm dịch: Đường bay của những con bướm) đã được trao Giải Sách mở rộng của Thời báo Trung Hoa (China Times Open Book Award) vào năm 2003. Cuốn tiểu thuyết đầu tay, Routes in the Dream (Tạm dịch: Đường về trong những giấc mơ) cũng được vinh danh là một trong mười cuốn sách viết bằng tiếng Trung hay nhất do tạp chí Asian Weekly bình chọn. Trong khi đó Chiếc xe đạp mất cắp đã đưa anh trở thành người Đài Loan đầu tiên lọt vào danh sách để cử Man Booker Quốc tế. Người Mắt Kép là cuốn sách đầu tiên của anh được dịch sang tiếng Anh.

Hết.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Mary Woodbury cho tờ dragonfly.eco.
minh dịch.
Đọc bài viết

Bookish Best 2021

Lê Khải Việt và những cảm hứng mong được kể lại

“Trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.”

Published

on

By

Tôi đọc Chuyến bay tháng ba tình cờ vào đúng những ngày cuối tháng Tư đỏ lửa, nhưng không phải của hơn 45 năm trước mà là ở thời, ngày và giờ hiện tại. Thật trùng hợp khi mà đây cũng là một cuốn sách (phần nhiều) nói về chiến tranh, và hơn hết, còn về những điều đến nay ta vẫn không thể biết ai đúng, ai sai, ai phải, ai trái. Những dòng đầu của Lê Khải Việt làm tôi nhớ nhiều tới The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen. Đơn cử cả hai đều viết về chiến tranh, đều là hành trình lội ngược về ký ức; nhưng còn hơn thế, đó là nỗ lực nhằm lộn trái cái tôi, đi sâu vào trong câu hỏi muôn đời của cái căn bản nhất và cốt tủy nhất khi sinh ra dưới nhân dáng con người.

Tôi cũng rất thích Austerlitz của W. G. Sebald vì những dòng hồi tưởng dài ngoằng, về những nhà ga và những con người nay đã chìm vào dĩ vãng. Càng thích hơn nữa những tấm ảnh trong cuốn sách ấy, vì đó là những hiện-thực-hóa câu văn để cho tâm trí bớt phần mỏi mệt vì những tưởng tượng phải vắt kiệt ra để tiêu hóa chúng. Và trong cuốn sách này, ngôi miếu cũ với ký hiệu EE vòng ngoài chữ C, tấm ảnh về chiếc trực thăng trên nóc chuồng cu vào ngày 29 tháng Tư hay cảnh chạy loạn của một gia đình đông đúc từ An Lộc chạy ra Sài Gòn… thực sự khiến tôi thích thú. Tôi hỏi anh về cảm hứng viết nên cuốn sách này, bởi nhẽ, những tấm ảnh, tư liệu hay những tưởng tượng khơi nguồn ngòi bút là một ấn tượng vô cùng sâu xa mà ta không thể chối cãi, dẫu ở vị thế nào hay chịu ảnh hưởng ra sao.

*

Dễ thấy một vài câu chuyện trong Chuyến bay tháng ba được khơi nguồn dựa trên những tư liệu lịch sử. Vậy quá trình sáng tạo nên cuốn sách này diễn ra thế nào, thưa anh?

Tôi khởi viết những truyện ngắn trong tập này từ cảm hứng của người viết, chứ không phải từ tư liệu lịch sử. Đương nhiên, khi viết tôi dựa trên những tư liệu lịch sử nhất định chứ không hoàn toàn hư cấu. Ví dụ như chi tiết về người đội trưởng toán biệt kích là dựa theo chuyện có thật của một vị cựu binh Mỹ ở Việt Nam mà vài năm trước người ta bàn tán khá sôi nổi. Ngoài cuốn sách của tác giả Vistica (The Education of Lieutenant Kerrey – Người viết) về chuyện này, tôi còn đọc một vài cuốn hồi ký khác của những biệt kích Navy SEAL để hy vọng miêu tả chân thực hơn.

Những chi tiết trong những truyện khác đều dựa vào những gì tôi đã đọc được trong sách lịch sử. Đó là phần tư liệu. Quay trở lại câu hỏi chính. Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được. Về chuyện sáng tạo, thông thường trước khi viết tôi hay đọc lại vài trang của những tác giả ưa thích. Điều đó đem lại một chút kích thích để tay mình đỡ ngại ngùng hơn trên bàn phím.

*

Và cũng phải khẳng định rằng, đối với tôi, đây dường như không phải là một tuyển tập truyện ngắn dẫu cho dung lượng vừa phải của những kết cấu cấu thành nên nó. Mà cách gọi khác (có vẻ toàn diện và đầy đủ hơn) rằng chính nhưng văn bản này của Lê Khải Việt đã xây nên một bức tranh khớp nối hoàn hảo giữa ba thành tố - ký ức, thời gian và sự chuyển dời, để làm nên một cõi nhân tình thế thái mênh mông và đầy chuyển động. Trong đây ẩn chứa những câu chuyện tình của anh bộ đội và cô học sinh, những mưu mô tiếm quyền tự sâu bản chất hay những mối quan hệ đời sống đã đến hồi kết… mà anh gọi rằng là những “đoản văn vô thưởng vô phạt”. Nhưng rốt cuộc rồi liệu có hay không cũng không quan trọng, bởi lẽ, cái lững thững, lơ lửng; cái mất kết nối hay vô căn cước này đã xuất hiện tràn khắp một vùng không gian – có thể là những đặc trưng chiến tranh, mà cũng có thể rất là con người; không chút ngơi nghỉ hay khi vắng bóng.

*

Nói về thể loại của Chuyến bay tháng ba, liệu có thể cho rằng đây là một “tập truyện ngắn” bởi những sợi dây liên kết dẫu cho mong manh nhưng có tồn tại giữa các văn bản?

Nếu có một liên kết chung nào, như một chất liệu nền, thì đó là chiến tranh. Thật ra cũng có một hai truyện trong tập này chỉ là những đoản văn vô thưởng vô phạt, không dính dáng gì đến chiến tranh.

Nhân vật trong các câu chuyện của anh thường không có một căn cước xác định. Liệu đó là đặc tính của ký ức – sự bất định, hay ngầm ý rằng ai rồi cũng sẽ trở thành “nạn nhân” trong chính “trang sử” riêng bản thân mình?

Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.

*

Là tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, thế nhưng Chuyến bay tháng ba đưa tôi đi vào nhiều vùng từ trường khác nhau của các cách viết mới lạ. Tôi phát hiện một chút Kafka trong Đấu tranh, một chút George Saunders trong Căn phòng, và sau này, cả một chút lửng lơ của Sâm Thương hay Phan Triều Hải (như anh trả lời trong cuộc phỏng vấn) ở Ăn tối hay Ba điều ước. Nếu một người ngủ dậy bỗng chốc biến thành gián, thì ở đây bạn sẽ thấy loài rồng trên nóc miếu thờ trở về trong mơ. Nếu cặp đôi bị đưa vào phòng thí nghiệm thử loại Verbaluce ™ của một nhà khoa học dở hơi nào đó; thì căn phòng và một chỗ trũng trong cuốn sách này sẽ là điểm tụ phối cảnh làm trầm trọng hơn não trạng đã phân hai cực bởi do chiến tranh.

*

Một vài khoảnh khắc anh viết dễ gợi nhớ tới màu sắc của Franz Kafka hay George Saunders. Những nhà văn nào đã có tác động rất lớn lên anh?

Chắc chắn là Franz Kafka rồi. George Saunders cũng rất hay nhưng tôi chỉ mới đọc một cuốn của ông. Gần đây thì có Ray Bradbury. Tác giả Việt Nam thì Phạm Công Thiện, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Triều Hải.

*

Và như đã nói, bởi những ý tưởng vượt thoát ra khỏi chiến tranh, tiếm quyền, tội ác… – bỗng chốc tôi nhận ra anh chỉ đang mượn ký ức như lớp vỏ ngoài của loài tôm sông. Cái lớp nhờ nhờ, sệt sệt mà ta đem đun hay đi nướng lên thành ra đỏ tươi vô cùng bắt mắt ấy thật ra vô nghĩa. Những điều xấu xa ẩn giấu trong đây qua lớp từ ngữ nay được mài khảm thành những cổ vật chìm giấu nghìn năm, nhưng có điểm chung là dù cho chúng được xử lý theo cách nào thì, rồi cũng sẽ vô dụng như lớp vỏ ấy, không một chút lợi cho vật bị ăn và người muốn ăn. Tôi hỏi anh vì sự vô nghĩa lý của chiến tranh, nhưng ngay cả khi chiến tranh xong rồi; niềm tỵ hiềm của người Việt hải ngoại với chính sách nhập cư của Trump, việc rút ra khỏi các chương trình bảo vệ khí hậu, việc xâm chiếm của đô thị hóa… thế sao vẫn còn? Anh không trải lời nhưng tôi biết một mặt nào đó, thinh lặng là câu trả lời tốt nhất.

*

Dễ thấy anh mượn chiến tranh chỉ như bộ mặt cho những “trò con trẻ” ẩn giấu đằng sau nhân tình thế thái. Dưới góc nhìn của một tác giả văn chương, anh nghĩ chất liệu đời sống có ảnh hưởng thế nào đến một cây viết?

Rõ ràng là cuộc sống chung quanh ảnh hưởng rất lớn đến một người viết. Ví dụ gần và rõ nhất là sự khác biệt trong văn chương của hai miền đất nước khi cuộc chiến diễn ra. Ở nước ngoài, ví dụ trường hợp Raymond Carver, ta có thể thấy sự thay đổi trong văn phong những tập truyện khi đời sống của ông thay đổi xoay quanh chứng nghiện rượu và cuộc hôn nhân trễ.   

Định hình nên cách viết riêng với cuốn sách đầu tay này, tôi hỏi anh thêm về những suy nghĩ rất riêng đối với nền văn chương hiện nay. Một thời đã qua của những tài năng sáng rực như Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp; một thời tiếp nối của Thuận, Nguyễn Bình Phương; hay vươn ra nước ngoài ở phía bên kia địa cầu với Ocean Vương và Linda Lê. Những nhà văn Việt Nam ở ngay tại đây và thời điểm này đối với văn học trong nước dường như đang đi xa quá. Họ không đủ sâu cũng chẳng đủ sát, họ nhợt nhạt, phai mờ và chìm nghỉm trong sự chọn lựa của độc giả. Họ ca ngợi những niềm ngây ngô tưởng như khó bề gọi thành văn chương. Họ già nua, cũ kỹ, hay nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, rằng họ “tự phát thành danh” để “tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa”.

*

Văn chương phương Đông hầu như luôn hướng về những bi kịch từ trong quá khứ. Liệu anh có nghĩ đã đến lúc những cây viết trẻ nên chuyển dịch sang những vấn đề mới hơn, sát sao hơn, ngay-bây-giờ và ở-tại-đây?

Tôi không nghĩ mình đọc đủ nhiều để nhận định về chuyện này. Tuy nhiên, đề tài mà tác giả lựa chọn để viết không nên bị bó buộc trong bất cứ giới hạn hay thành kiến. Quan trọng là tác giả đó viết hay hay dở, có chạm đến người đọc được không. Ngoài ra, những tác phẩm về quá khứ cũng có thể đang nói về hiện tại.

*

Từ quá khứ xa xưa hiện về trong ký ức đến cái hiện đại ào vào đời sống hiện nay, từ những xung đột ngoại quan đến những đối lập đời sống nội vi, từ vấn đề di dân đến người Việt hải ngoại ủng hộ các chính sách hạn chế nhập cư, từ biến đổi khí hậu đến đô thị hóa... Chuyến bay tháng ba là một nỗ lực tìm về những con người chung đã kịp chuyển hóa và bị đặt vào trong cảnh huống lưỡng nan của tình thế làm người. Sau rốt, những hệ giá trị đạo đức nào còn lại? Hay thậm chí, thực chất còn không hiện diện chính khái niệm ấy? Tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, nhưng gợi mở và đầy dấu ấn.

Hết.

minh. (thực hiện)

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Trần Vân Anh: Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la

Published

on

By

Tran Van Anh Hom nay me co vui khong

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm: Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion…

Nhưng bên cạnh những chức danh đó, chị còn là một người mẹ.

Tác giả từng trải qua trầm cảm khi một mình nuôi dạy hai đứa con khiếm khuyết, rồi tự chữa lành, vượt mặc cảm khi nhận ra: bản thân phải hạnh phúc thì mới trở thành một người mẹ tốt của hai con.

Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? không là một cuốn sách nuôi dạy con khuôn mẫu. Nó mang dáng dấp của một cuốn nhật ký của bản thân tác giả hơn, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, và vì cả chính mình.

*

Chị có nhiều năm làm viết về mảng làm đẹp, sở hữu một website về làm đẹp vì sao chị lại viết cuốn sách đầu tay về chủ đề tâm lý giáo dục cho phụ nữ chứ không phải về chủ đề làm đẹp?

Tôi coi làm mẹ là sự nghiệp lớn nhất cuộc đời mình. Cho dù tôi rất yêu nghề nhưng phải thú thật là tôi luôn cố gắng cân bằng và dành ưu tiên cho việc làm mẹ nhiều hơn. Thế nên tôi luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá bản thân cũng như từ những người xung quanh sao cho sự nghiệp làm mẹ của mình dễ chịu nhất, các con lớn lên hồn nhiên vui vẻ nhất. Cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? chính là những đúc kết khởi đầu chân thật nhất của tôi về sự nghiệp làm mẹ.

Là một người mẹ đơn thân, lại có công việc bận rộn, làm thế nào chị hoàn thành tốt vai trò làm mẹ đồng thời có một cuộc sống cá nhân vui vẻ?

Thời gian và lòng can đảm là hai thứ cần thiết nhất để một người mẹ đơn thân vừa có thể làm mẹ tốt vừa có thể tận hưởng cuộc sống cá nhân.

Vì thời gian là hạn hẹp trong một ngày nên tôi phải sắp xếp mọi thứ sao cho hợp lý nhất. Sai lầm lớn nhất của phụ nữ chúng ta là ôm đồm mọi thứ một mình trong khoảng thời gian hạn hẹp ấy. Tôi không như vậy, tôi sắp xếp và cùng thực hiện nó việc với các con. Có thể mọi thứ sẽ không hoàn hảo nhất, nhưng không sao, mẹ con tôi tự xoay sở và vui với những gì đang có.

Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la. Vậy nên tôi không sợ bất cứ khó khăn, vất vả nào. 

Theo chị, điều gì là khó khăn nhất với phụ nữ hậu ly hôn?

Cảm giác chông chênh là không thể tránh khỏi. Cho dù bạn chủ động ly hôn thì cũng phải mất một thời gian để cuộc sống quay trở lại bình thường. Ngoài ra, nếu có con cái, người phụ nữ còn phải chăm sóc phần tinh thần - cảm xúc cho những đứa con của mình khi ba mẹ chúng không còn sống chung nữa.

Vậy nên, vực lại tinh thần là điều khó khăn nhất đối với phụ nữ.

Tháng 3 là tháng người ta nói về nữ quyền, chị nghĩ nữ quyền là gì?

Nữ quyền chắc chắn không phải là làm sao đẩy đàn ông vào bếp nấu nướng hoặc bắt chồng làm việc nhà. Theo tôi nữ quyền là quyền được đẹp, được độc lập tự do nhất là trong tư tưởng và cái quyền này đã có, chỉ là phụ nữ có dám dành lấy hay không thôi. Tôi cũng nghĩ rằng, nữ quyền chính là nữ tính - một đặc quyền rất riêng của phụ nữ. Ta vẫn hạnh phúc mà không phải trở thành "như đàn ông" đó mới là hay! 

Theo chị điều người đàn ông cần làm để khiến người phụ nữ hạnh phúc?

Cũng còn tuỳ xem người phụ nữ đó coi trọng điều gì nhất trong cuộc sống. Vậy nên trong cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? tôi có đề cập đến ngôn ngữ tình yêu. Một cô gái chỉ cảm nhận tình yêu thông qua sự chăm sóc mà người đàn ông lại chỉ biết nói lời hay thì không được. Hoặc cô vợ thích quà mà anh chồng không biết tặng quà cũng không xong.

Với riêng cá nhân tôi thì một người đàn ông cho tôi tự nhiên được là chính mình sẽ khiến tôi hạnh phúc nhất.

Đó có phải là lý do chị chọn lấy người nước ngoài sau ly hôn? Phải chăng đàn ông Việt Nam không cho chị điều ấy?

Trai tây trai ta cũng đều có ưu và nhược điểm cả. Tôi thấy xung quanh bạn bè nhiều người chồng người cha tốt, có lẽ tôi không may mắn gặp được (cười).

Nhưng phải thú nhận một điều rằng phụ nữ hiện đại thật sự sẽ có xu hướng thích đàn ông phương Tây hơn. Có thể là nền văn hoá của họ coi trọng phụ nữ hơn chúng ta, họ được sinh ra trong bầu không khí tự do phóng khoáng và bình đẳng giới. Những người đàn ông chứng kiến bà, mẹ, chị em gái của mình tự do, độc lập, không phán xét nhau, không khắc nghiệt với bản thân và người khác. Lối sống của chính những phụ nữ đó là nền tảng văn hoá để đàn ông phương Tây có cách hành xử văn minh hơn.

Chị có cho con trai đọc sách của mình không? Cảm xúc con chị như thế nào

Tôi "bắt" các con đọc sách của mẹ (cười). Tôi bảo chúng rằng các con nên biết là mẹ viết gì về các con trong sách chứ, lỡ nói xấu thì sao. Gấu Tôm đều bất ngờ về cuộc sống thời thơ ấu của mẹ. Các con tự hào vì mẹ ra sách, hai đứa còn xin mẹ kí để đem tặng cô giáo.

Dự định trong tương lai của chị sau quyển sách này?

Tôi có nhiều đam mê và dự định lắm, nhưng năm nay bên cạnh viết sách, tôi ưu tiên các cho các hoạt động cộng đồng. Đầu năm 2021 tôi vừa hoàn thành công trình thư viện cho bà con ở thôn 2, Hoà Ninh, Di Linh Lâm Đồng với 1521 quyển sách chọn lọc. Tôi tin rằng con cái học thông qua việc làm của ba mẹ. Tôi lao động chăm chỉ, tận hưởng thành quả lao động của mình và chia sẻ với những người xung quanh, các con tôi luôn đồng hành cùng mẹ trong tất cả các hoạt động ấy!

*

Kết thúc bài phỏng vấn, xin được trích cảm nhận của nhà thơ, nhà báo Khánh Chi về tác giả Trần Vân Anh cũng như về quyển sách Hôm nay mẹ có vui không:

---
“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi.”
---

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng