Book trailer

Góc nhìn độc đáo về cuộc đời qua tác phẩm mới của nhà văn Nguyễn Quang Thân

Published

on

Chân dung – tập truyện ngắn song ngữ Việt-Anh của nhà văn Nguyễn Quang Thân vừa được Phương Nam Book phát hành – gồm có năm truyện ngắn đặc sắc, thể hiện rõ nét bút pháp điêu luyện của nhà văn.

Nguyễn Quang Thân được xem là một trong những nhà văn tiêu biểu của thời “tiền Đổi Mới” những năm 1980. Năm truyện ngắn trong Chân dung cũng đều là những truyện ông sáng tác ở giai đoạn từ thập niên 80 đến thập niên 90: Chân dung (1985), Gió heo may (1997), Người đàn bà đợi ở bến xe, Thanh minh (1991), Vũ điệu của cái bô (1991). Mỗi truyện ngắn như một lát cắt giúp người đọc nhìn thấy được nhiều khía cạnh khác nhau trong thế giới văn chương phong phú của Nguyễn Quang Thân.

Góc nhìn độc đáo về sự thật và cuộc đời

Truyện Chân dung mở đầu bằng cách tả lại cảnh mộng mị khiến họa sĩ Phát – nhân vật chính – bị đau đầu khi vừa thức dậy; nối tiếp sau đó là một loạt những câu văn có nhịp điệu dồn dập, chứa đựng nhiều thông tin khi thuật lại lịch trình hoạt động trong một ngày của ông Phát. Nhịp điệu dồn dập đó chỉ tạm lắng dịu khi tác giả đề cập đến một sự kiện diễn ra vào buổi chiều – cũng là nguyên cớ chính cho truyện ngắn này: họa sĩ Phát sẽ vẽ chân dung cho Huấn – một người bạn của ông.

Chân dung xây dựng Phát là một họa sĩ bậc thầy nhưng ít khi vẽ tranh chân dung cho người khác vì một sự kiện đau lòng trong quá khứ đã ám ảnh suốt cuộc đời ông. Thông qua tác phẩm này, tác giả đưa ra một quan điểm đáng chú ý về sự thật từ góc nhìn của ông Phát đối với việc vẽ tranh chân dung:

“Đối với ông, vẽ là dùng ánh sáng của trái tim mình soi sáng người được vẽ. Ngược lại, ánh sáng của tâm hồn người mẫu đã giao thoa cùng cái nhìn của họa sĩ mà làm nên bức tranh. Sự thật hiện ra, màu và vải bỗng có linh hồn, những đường nét ước lệ bề ngoài giả dối, cái hình thể vẫn dùng để ăn, để uống, để nói những lời ngon ngọt hay cay độc rơi xuống. Sự thật của đám mây chính là cơn mưa.”

Từ đó, độc giả hiểu được rằng sự thật không nằm trong chính bản thân sự vật mà nằm trong thứ phái sinh từ nó. Vào những ngày nắng, ta không thể nào biết được sự thật của những đám mây vì chúng dường như quá xa vời khi ở trên cao, riêng một cõi trời, tách biệt hẳn với người quan sát bằng mắt trần ở dưới mặt đất, chỉ biết ngước nhìn lên mà ngưỡng vọng. Thế rồi, một cơn mưa đến và khoảng cách ấy bỗng chốc xóa mờ như một điều kì diệu; bởi lẽ, mưa chính là những giọt nước mắt từ mây – và do đó, mưa mang những sự thật đau buồn, tăm tối của mây. Con người cũng giống như thế.

Trong những hoàn cảnh thuận lợi như một ngày nắng đẹp, ta sẽ khó lòng biết được tâm tư của người đối diện; và ngược lại, những ngày tăm tối thực chất lại là điều kiện lí tưởng để ta hiểu rõ hơn về một người. Đó cũng chính là cách Nguyễn Quang Thân đã dùng ngòi bút của mình để những nhân vật trong tập truyện ngắn này được cất lên tiếng nói từ nơi vực sâu tăm tối của linh hồn, từ những điều tưởng chừng chỉ là thứ phái sinh của sự thật – nhưng thực chất, lại chính là sự thật.

Nghệ thuật dẫn dắt và xây dựng tình tiết đặc sắc của Nguyễn Quang Thân

Người đàn bà đợi ở bến xe là một truyện ngắn gợi nhiều tò mò, cảm giác hiếu kỳ nơi người đọc ngay từ phần mở đầu. Trái ngược hẳn với tiêu đề – vốn có đàn bà hiện hữu – câu chuyện lại mở đầu bằng một tình huống không có/ không còn đàn bà: “Sau khi li dị, Toản quyết định không lấy vợ nữa.” Không mào đầu vòng vo, câu văn ngắn gọn này như một cú đấm trực diện vào bức tường hiện thực đông cứng những đau buồn, tẻ nhạt của nhân vật. Tuy vậy, Toản không muốn phá vỡ bức tường đó, anh lựa chọn cách trang hoàng lại cho dẫu quyết định đó có khiến anh trở nên túng thiếu:

“Anh không thổ lộ ý tưởng ấy với ai, gom tiền mua một căn hộ trong khu chung cư ‘hác lem’. Sắm sửa các thứ tối thiểu trong nhà xong, anh thành tay trắng. Nhưng Toản tự thấy được an ủi là từ nay trong nhà anh không có đàn bà.”

Dù là như thế, anh vẫn “mừng là căn hộ mới của anh không có đàn bà.” Nguyên nhân Toản trở nên ghét đàn bà như thế là vì những tổn thương trong cuộc hôn nhân với vợ cũ: sau những ngày đầu ngọt ngào ngắn ngủi là cả một quãng thời gian dài chị luôn khinh miệt anh vì việc anh làm chỉ có vài đồng lương còm cõi, chị dần lạnh nhạt khi quan hệ với anh; và đỉnh điểm sau cùng là chị ngoại tình, có con với người khác. Đó là quá khứ của Toản.

Nhưng câu chuyện Người đàn bà đợi ở bến xe chỉ thực sự bắt đầu khi nhân vật trong tiêu đề xuất hiện vào một ngày mưa, ôm một đứa con nhỏ ngồi co ro ở bến xe – lúc bấy giờ chỉ có Toản và người đàn bà đó đang đợi chuyến xe cuối. Trong phân đoạn này, Nguyễn Quang Thân đã xây dựng được một tình huống oái oăm rất thú vị cho nhân vật: một người ghét cay ghét đắng đàn bà nay lại bị mắc kẹt với người đàn bà ôm con nhỏ khi trời lạnh mưa rơi ở bến xe. Cũng từ đây, một loạt những tình huống bất ngờ liên tiếp diễn ra khiến Toản buộc phải di chuyển khỏi bức tường mà anh đã cố gắng trang hoàng để có một góc nhìn khác về hiện thực.

Thông qua truyện ngắn Người đàn bà đợi ở bến xe, Nguyễn Quang Thân đã thể hiện bút pháp điêu luyện trong việc lựa chọn cách khởi đầu cũng như sự tài tình, khéo léo khi dẫn dắt câu chuyện một cách điềm đạm, mực thước mà vẫn khiến người đọc cảm thấy hấp dẫn, lôi cuốn.

Tiếng cười không khoan nhượng trước những thói hư, tật xấu của con người

Vũ điệu của cái bô có lẽ là truyện ngắn có tiêu đề gợi cảm giác khôi hài và tò mò nhất cho độc giả trong tập truyện Chân dung. Nhưng không chỉ dừng lại ở tiêu đề, cách mở đầu của truyện ngắn này cũng độc đáo không kém.

Bô là vật dụng biểu trưng cho việc tiếp nhận những thứ ắt phải xuất hiện sau một quãng thời gian cố định từ lúc con người thực hiện hành vi ăn uống. Nhưng truyện ngắn này lại mở đầu theo cách vừa chua xót vừa khôi hài khi miếng ăn – vốn là tiền đề của bô – lại có nguy cơ bị tước khỏi hoặc phải giảm thiểu đáng kể trong đời sống của Hảo – nhân vật chính trong Vũ điệu của cái bô.

Hảo là một phó tiến sĩ nhưng anh vừa bị mất việc do nhà máy đóng giày phá sản và có nguy cơ không thể tìm việc làm mới trong vòng một năm. Điều đầu tiên anh nghĩ đến khi phải đối mặt với chuyện này là việc ăn uống, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng:

“Vậy mà cũng phải ăn, phải gửi tiền cho con gái lên Hà Nội học thêm, phải nuôi cái xe đạp tàng, hễ mó đến là ăn vạ tiền nghìn. Rồi chén cà phê đen buổi sáng, quên nó một bữa là Hảo thấy mình đang mọc đuôi ra.”

Bạn đồng cảnh tương lân với Hảo là Tứ – người họa sĩ sống ở tầng dưới. Tứ cũng bị cái đói vây khốn: “Tứ thường không biết ngày mai mình ăn gì, ăn ở đâu. Tứ nói: ‘Đói là con hổ, đừng nhìn nó, nhìn là nó về ngay’.”

Tuy nhiên, chính Tứ là người đã mở ra cho Hảo cơ hội công việc mới: chăm trẻ ba tuổi với mức lương khá cao, vừa chăm vừa dạy tiếng Anh.

Khi Hảo đến gặp chị chủ nhà, Nguyễn Quang Thân đã có một câu văn miêu tả cực kì xuất sắc khi ông trình hiện trước mắt người đọc bức chân dung sống động về cả vẻ ngoài lẫn đời sống tinh thần của chị chủ nhà chỉ trong vài chữ ngắn gọn: “Chị đẹp, sang trọng và thừa thãi áo quần, mỡ phần, không gian và thời gian.”

Và đúng như cảm giác hài hước mà tên truyện đã gợi ra, Vũ điệu của cái bô là một khúc nhạc trào lộng với những từ ngữ sắc bén, được đặt đúng nơi đúng lúc tạo ra nhiều câu chốt hạ gãi đúng chỗ ngứa khiến người đọc bật cười giòn giã. Với truyện ngắn đóng vai trò kết thúc tập truyện Chân dung, Nguyễn Quang Thân đã cho người đọc có cơ hội chiêm ngưỡng một khía cạnh khác trong văn chương của ông: ẩn sâu dưới sự hài hước, ý nhị là một con người có tinh thần trách nhiệm với xã hội, luôn quyết liệt phơi bày và phê phán những thói đời xấu xa, mục ruỗng.

Trích đoạn

Cô đi lấy chồng đột ngột. Người họa sĩ thì biết trước điều bất hạnh của mình, bởi vì, cô gái bằng xương bằng thịt của ông đã chết, chỉ còn bức chân dung là đang sống, bây giờ ông chỉ còn run rẩy trước bức vẽ ấy nữa mà thôi: “Tôi vẽ chân dung lên miếng da lừa của đời tôi”.

(trích Chân dung)

Những ngày đầu tiên tuyệt vời, anh đi làm về đã thấy một mâm cơm trên bàn còn trên tấm trải giường màu hoa lựu là chị nằm đọc cái gì đó, khi mặc một bộ váy ngủ, khi không mặc gì cả để đón anh và anh bỏ mặc mâm cơm, đổ xuống chị như một cây chuối bị đốn bởi niềm đam mê.

(trích Người đàn bà đợi ở bến xe)

Chị đặt cái bô vào góc nhà như người nhạc trưởng cất gậy lên giá. Điệu vũ chấm dứt.

(trích Vũ điệu của cái bô)

Đánh giá về sách

“Từ truyện đầu tiên in năm 1957 đến nay, ngoài thế mạnh chính là tiểu thuyết và truyện dài, Nguyễn Quang Thân đã có hàng trăm truyện ngắn, phần nhiều trong số đó chưa bị bụi thời gian che mờ mà năm truyện trong tuyển tập này là một minh chứng. Năm hạt cát tiềm ẩn long lanh!

Năm truyện, năm cảnh huống và lát cắt nhưng hiện thực dữ dội đã được phơi bày bởi ngòi bút tài hoa, nhân ái và uy-mua hiếm quý. Dù với giọng điệu nào, trữ tình, cay đắng hay giễu nhại, nhà văn đều đi đến tận cùng của tâm trạng mà không sống trong chăn, không trải nghiệm bi kịch xã hội đương thời, người ta không viết nổi những trang văn này.

Cảm ơn Nguyễn Quang Thân, Rosemary Nguyễn, Mạnh Chương. Rằng, dòng văn chương Việt đích thực vẫn đang chảy, nhất là những dòng chảy ngầm!”

– Mai Quỳnh

Chân dung – khắc họa sắc sảo về một lớp người không thể cứu rỗi khỏi tha hóa, thối rữa.

Gió heo may – được chắt ra từ một tâm hồn mẫn cảm quá mức bỗng trở nên đặc sánh khác thường trong những ngày hiếm hoi của mùa thu, truyện ngắn mà nhà văn Bùi Ngọc Tấn ước “muốn đánh đổi tất cả để có được nó”.

Người đàn bà đợi ở bến xe – sâu sắc và cổ điển như mọi thứ thuộc về nhân văn cổ điển ngậm ngùi.

Thanh minh – một tiếng thở dài miên man chua xót.

Vũ điệu của cái bộ – như chiếc lò xo phản kháng với tất cả sự giễu nhại độc đáo và dữ dội ở mọi khía cạnh của ngòi bút đã trở nên lão luyện, bậc thầy.”

– Nhà văn Dạ Ngân

Về tác giả

Ngoài năm tiểu thuyết, sáu truyện dài cho thiếu nhi và hai kịch bản phim nhựa, Nguyễn Quang Thân còn là tác giả của nhiều truyện ngắn và vừa xuất sắc. Có thể kể đến:

• Nước về (1957)

• Cô gái Triều Dương (1967)

• Chân dung (1985)

• Người không đi cùng chuyến tàu (1989)

• Vũ điệu của cái bô (1991)

• Thanh minh (1991)

• Hoa cho một đời (1996)

• Giao thừa trắng (1996)

• Gió heo may (1997)

• Người đàn bà đợi ở bến xe.

Book trailer

Niên lịch miền gió cát bàn cách sống hòa hợp thiên nhiên

Published

on

Sách Niên lịch miền gió cát là ghi chép của Aldo Leopold - nhà sinh thái học hoang dã - về các con người tôn trọng thiên nhiên.

Aldo Leopold là nhà địa chất học, nhà môi trường học. Năm 1935, gia đình ông mua một trang trại cũ gần sông Wisconsin (Mỹ), trồng cây và cứu sống cánh đồng đã chết. Ông ghi nhận những thay đổi của sinh, thực vật trong quá trình phục hồi. Các bản thảo sau đó được tập hợp thành quyển Niên lịch miền gió cátxuất bản tháng 4/1948, một tuần sau khi tác giả mất do đau tim.

Niên lịch miền gió cát do Dương Mạnh Hùng chuyển ngữ. Sách Phương Nam phát hành. Ảnh: Phương Nam Book.

Sách gồm ba phần. Phần một là quan sát sinh vật thay đổi theo từng tháng tại trang trại ở Wisconsin. Phần hai là ghi chép hành trình khám phá đời sống hoang dã của ông trong 40 năm. Phần cuối là nhận định về việc bảo tồn thiên nhiên. Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold truyền tải ý nghĩa về mối liên hệ giữa con người với môi trường, hy vọng độc giả yêu, tôn trọng thiên nhiên.

Ông đề ra đạo đức môi trường tự nhiên (land ethic): "Một hành động là đúng đắn là khi hướng tới bảo tồn tính toàn vẹn, ổn định của cộng đồng sinh vật". Leopold viết: "Con người sẽ có ý thức bảo tồn khi tiếp xúc, hiểu, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên". Khi sống gần các sinh, thực vật, mỗi người sẽ hình thành đạo đức - cơ chế tự kiểm duyệt trước khi hành động tổn hại môi trường. Con người cần khám phá, kết nối với tự nhiên để có lòng yêu thương, quan tâm thế giới tạo hóa ban tặng.

Theo Buddy Huffaker, chủ tịch của Aldo Leopold Foundation (tổ chức nâng cao ý thức bảo vệ môi trường dựa trên lý luận của Leopold): "Nhờ lập luận về đạo đức môi trường tự nhiên nên Niên lịch miền gió cát được săn đón vào năm 1970 - lần đầu tiên tổ chức Ngày Trái đất. Các ghi chép về đạo đức của tác giả được áp dụng rộng rãi và vô tình trở thành chuẩn mực ứng xử với thiên nhiên". The Boston Globe nhận định sách là "một trong những tác phẩm có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường".

Aldo Leopold là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ. Ảnh: aldoleopold.

Aldo Leopold (1887-1948) trải qua thời thơ ấu tại Burlington, gần dòng sông Mississippi - nơi dấu chân của ông trải khắp các khu rừng, đồng cỏ. Leopold học lâm nghiệp tại trường dạy về rừng của Yale. Sau khi tốt nghiêp năm 1909, ông làm việc tại Cục Kiểm lâm Mỹ, đồng thời nghiên cứu sinh thái học, đề ra đạo đức môi trường tự nhiên. Năm 1933, tập sách về quản lý động vật hoang dã Game Management được xuất bản. Năm 1982, vợ và năm người con thành lập The Aldo Leopold Foundation nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường hoang dã dựa trên di sản trí tuệ tác giả để lại.

Theo VNexpress

Đọc bài viết

Book trailer

Người đẹp ngủ mê – tiểu thuyết kinh điển về nỗi buồn

Published

on

Người đẹp ngủ mê của nhà văn Nhật Kawabata Yasunari khắc họa nỗi buồn qua những suy nghĩ về sự sống và hoài niệm.

Người đẹp ngủ mê do dịch giả Quế Sơn chuyển ngữ, tái bản trong nước cuối tháng 11. Tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1961, dựa trên kịch bản sân khấu kabuki Những mỹ nữ, công diễn vào khoảng thế kỷ 17 ở Nhật Bản.

Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước cuối tháng 11. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa sách Người đẹp ngủ mê. Tác phẩm dày 160 trang, tái bản trong nước. Ảnh: Phương Nam Book

Tác phẩm xoay quanh năm lần ông lão Eguchi ghé thăm ngôi nhà của những trinh nữ xinh đẹp tuổi chưa đầy 20. Họ bị gây mê bằng thuốc ngủ liều cao, khỏa thân trong tình trạng ngủ say. "Nếu chỉ cần lay nhẹ mà cô gái đã thức dậy thì ngôi nhà này đâu còn gì bí ẩn nữa. Các vị khách đến đây 'giống như ngủ với một ông Bụt vô hình'. Đối với các ông già, ngủ với một người đẹp không khi nào tỉnh thức là một mối cám dỗ, một cuộc phiêu lưu, một niềm vui thú mà họ tin mình còn thực hiện được", tác giả viết.

Mỗi chương là một lần Eguchi đến ngôi nhà ngủ cùng cô gái khác nhau. Khi màn đêm buông xuống, nhiều tiếng động kết hợp tạo nên bản nhạc của thiên nhiên, con người. Hơi thở của những cô gái, cộng với tiếng gió thổi qua mái nhà và âm thanh sóng biển đập vào vách đá. Từ đó, Eguchi hồi tưởng quá khứ, nhớ về những người đàn bà đi qua đời ông.

Tác giả lấy những hoài niệm để ẩn dụ cho sự tiếc nuối vẻ đẹp văn hóa Nhật Bản. Kỷ niệm tái hiện qua không gian, hình ảnh thiên nhiên xung quanh ngôi nhà của các mỹ nữ. Việc ngủ cạnh những cô gái khiến Eguchi khám phá nhiều cung bậc cảm xúc, đồng thời nhận ra sự cô đơn của mình. "Một nỗi cô đơn buồn bã trào lên. Nhưng hơn cả nỗi cô đơn hay nỗi buồn rầu, chính là nỗi cô chiếc tuyệt vọng của tuổi già như thể đông lạnh hẳn trong ông", Kawabata viết.

Tác phẩm không chỉ tràn ngập những mỹ từ, như "bàn tay mịn và đẹp, mái tóc trinh trắng, đôi má ửng đỏ, cổ và vai trông tươi và trẻ", mà còn suy tưởng về quy luật của thời gian, sự sống và cái chết, nỗi hoài niệm quá khứ, khao khát tương lai. Đời sống xã hội mang nhiều tổn thương, khiến con người dễ rơi vào tâm trạng cô đơn, tiếc nhớ những tháng ngày quá khứ.

Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book
Bìa trong của tác phẩm Người đẹp ngủ mê năm 2023. Ảnh: Phương Nam Book

Càng về cuối, Kawabata càng đào sâu ký ức của nhân vật chính, nhằm giúp Eguchi tìm lại được cảm xúc thuần túy nhất. Eguchi tin những lão già như mình, khi có dịp trú ngụ tại ngôi nhà của các mỹ nữ, không chỉ nhìn lại thời trai trẻ mà cố quên đi những việc tiêu cực xảy ra trong cuộc đời. Từ khía cạnh này, Eguchi liên tưởng những người đẹp ngủ mê là hiện thân của thần tiên trong các truyền thuyết.

"Cô gái ngủ mê man như chết nhưng thời gian sinh tồn của nàng đâu có ngưng chảy, vậy nàng có giữ được thời gian đó không hay là nó chảy tuột vào một vực sâu không đáy? Nàng không phải là một búp bê sống, vì không thể có búp bê sống trên thế gian này; nàng được biến thành một đồ chơi sống, để các cụ già đã mất năng lực đàn ông không bị cảm thấy xấu hổ. Không, không phải một đồ chơi: đối với các cụ, nàng chính là cuộc sống. Một cuộc sống người ta có thể sờ mó được, một cách tự tin", Kawabata nhận định.

Trong một số tác phẩm, Kawabata thường lồng ghép quan điểm của mình để gợi nhớ cuộc sống mồ côi và những khó khăn thời trẻ tuổi trẻ. Đồng thời, nhà văn để lại nhiều khoảng trống để độc giả tự khám phá. Bằng sự khéo léo biến hóa ngôn từ, Kawabata dẫn dắt người đọc qua nhiều tình huống, tạo nên cảm nhận khác nhau khi đọc tác phẩm.

Tác phẩm được giới chuyên môn và nhiều độc giả đánh giá cao. Năm 1968, Người đẹp ngủ mê giúp Kawabata Yasunari trở thành tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học. Đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét: "Tác giả tôn vinh cái đẹp hư ảo, đồng thời khắc họa nỗi buồn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và định mệnh con người".

Trên trang đánh giá sách Goodreads, độc giả Jim Fonseca viết: "Những dòng văn mở đầu câu chuyện góp phần che đậy nỗi khao khát và ký ức tình yêu trong quá khứ của nhân vật. Tác phẩm có chút kinh dị nhưng hấp dẫn, khắc sâu vào tâm trí tôi".

Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh
Nhà văn Kawabata Yasunari. Ảnh: Estate of Yousuf Karsh

Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ra ở Osaka, mồ côi năm lên hai tuổi. Từ đó, ông và người chị ruột sống cùng ông bà ngoại và gia đình người dì. Qua thời gian, những sáng tác văn chương, tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata vẫn luôn hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu văn học khắp thế giới, do phản ánh nhiều phương diện văn hóa và đề cao tinh thần người Nhật. Nhiều tác phẩm của Kawabata từng xuất bản trong nước, gồm: Đẹp và buồnHồTiếng núiXứ tuyếtBồ công anh.

Theo Vnexpress

Đọc bài viết

Book trailer

Quán thiền trong Đường xưa mây trắng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Published

on

Đường xưa mây trắng là tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Cuốn sách kể về cuộc đời Đức Phật, mà ai đọc vào cũng cảm nhận được điều hay lẽ phải. Giáo lý nhà Phật được tác giả phân tích dễ hiểu, dễ nắm bắt.

Thầy Thích Nhất Hạnh (tên khai sinh Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm 1926, tại Huế). Ông là Thiền sư nổi tiếng người Việt Nam. Ông hiện là nhà sư có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo trên toàn thế giới. Không những là nhà tu hành, Thích Nhất Hạnh còn hiện diện là một nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu. Đến nay, ông đã viết được hơn 100 cuốn sách.

Hầu như tác phẩm nào của ông cũng gây được sự chú ý không chỉ ở những người theo Phật giáo, mà ở nhiều độc giả, ở mọi lứa tuổi, ngành nghề, tôn giáo khác. Tác phẩm Đường xưa mây trắng của Thầy Thích Nhất Hạnh có thể được coi như là một cuốn tiểu thuyết về cuộc đời Đức Phật, mà trong sách, tác giả gọi là Bụt. Bụt là phiên âm từ âm Buddha trong tiếng Phạn.

Quán thiền trong Đường xưa mây trắng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Tác phẩm Đường xưa mây trắng - Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Cuộc đời Đức Phật được kể qua con mắt của chú bé chăn trâu Svasti, sau xuất gia, trở thành một vị đệ tử của Phật. Svasti từng cúng dường cỏ bồ đề cho cho Đức Phật suốt 49 ngày trước khi thành đạo. Đây có thể là góc nhìn khác lạ của tác giả so với nhiều người kể về Đức Phật.

Qua đôi mắt đứa trẻ, mọi sự vật, sự việc sẽ được kể chân thật, hồn nhiên, không có gì phải giấu diếm. Đức Phật hiện diện lên trước hết, không phải là một thần linh, mà là một con người giản dị, có cuộc sống và mơ ước như bao người. Mơ ước của Đức Phật là làm lợi cho muôn loài.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Tác phẩm Đường xưa mây trắng được chia làm 81 chương, trong mỗi chương là những cảnh xưa, người xưa được hiện diện lên sống động. Giáo lý nhà Phật được nói dễ hiểu, gọn gàng. Những tập tục của người xuất gia xưa, hay cách quán thiền cũng được tác giả lồng ghép vào khéo léo.

Câu chuyện diễn ra tự nhiên, không có một gượng ép nào. Tác giả cho thấy sức tưởng tượng thiên tài của mình, người đọc có thể tưởng rằng, tác giả phải là người sống bên cạnh Đức Phật mới có thể viết tỉ mỉ, lý thú như vậy, nếu như không đọc tên người viết.

Tâm sự về cuốn sách này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng viết: “Tôi còn nhớ là tôi đã viết Đường xưa mây trắng ở trong cái quán của Xóm Thượng. Hồi đó chưa có lò sưởi trung ương, trong phòng chỉ có một cái lò sưởi đốt củi thôi và trời rất lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của Đường xưa mây trắng với rất nhiều hạnh phúc.

Thỉnh thoảng tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn. Và tôi biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc. Viết Đường Xưa Mây Trắng không phải là một lao động mệt nhọc mà là cả một niềm vui lớn. Đó là một quá trình khám phá. Có những đoạn tôi cho là khó viết, như đoạn Bụt độ cho ba anh em ông Ca Diếp.

Tài liệu thường nói là Bụt độ ba anh em đó nhờ thần thông của Ngài, nhưng khi viết thì tôi đã không để cho Bụt dùng thần thông mà cứ để Bụt sử dụng từ bi và trí tuệ của Ngài để độ ba ông ấy. Bụt có rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại phải dùng thần thông? Và tôi có một niềm tin rất vững chắc là mình sẽ viết được chương đó. Chương này là một trong những chương khó nhất của Đường Xưa Mây Trắng nhưng cuối cùng tôi đã thành công. Chương khó thứ hai là chương nói về cuộc trở về của Bụt để thăm gia đình. Ngài đã thành Phật rồi, Ngài đã thành bậc toàn giác rồi, nhưng về thăm gia đình thì Ngài vẫn còn là một đứa con của cha, của mẹ, vẫn là một người anh của các em.

Viết như thế nào để Bụt vẫn còn giữ lại được tính người của Ngài. Cũng nhờ niềm tin đó mà tôi thành công. Quý vị đọc lại, sẽ thấy Bụt về thăm nhà rất tự nhiên. Cách Ngài nắm tay vua cha đi từ ngoài vào, cách Ngài đối xử với em gái, cách Ngài đối xử với Yasodhara và Rahula, rất tự nhiên. Tôi có cảm tưởng là có chư Tổ gia hộ nên tôi mới viết như vậy được. Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta khám phá ra Bụt là một con người chứ không phải là một vị thần linh”.

Một trích dẫn hay trong tác phẩm Đường xưa mây trắng - Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Đường xưa mây trắng được biết đến là cuốn sách đã bán được nhiều triệu bản, được dịch ra hơn 20 tiếng trên thế giới. Sau khi đọc được cuốn sách này, nhà tỉ phú Ấn Độ Bhupendra Kuman Modi đã quyết định tài trợ 120 triệu USD để các nhà làm sản xuất dựa theo Đường Xưa Mây Trắng dựng thành phim.

Qua cuốn sách Đường xưa mây trắng, thầy Thích Nhất Hạnh đã vẽ lại phần nào khung cảnh xưa: “Trong bóng me im mát vị khất sĩ Svastika đang thực tập phép quán niệm hơi thở. Chú ngồi trong tư thế hoa sen. Từ hơn một tiếng đồng hồ, chú đã ngồi thực tập như thế một cách chăm chú. Đó đây trong tu viện Trúc Lâm, hàng trăm vị khất sĩ cũng đang ngồi thực tập thiền quán, hoặc trong bóng tre, hoặc tron những chiếc am lá nhỏ đựng rải rác khắp nơi trong tu viện, xen lẫn giữa những bụi tre xanh tươi và khỏe mạnh”.

Đọc cuốn sách này, chúng ta học được nhiều điều hay của Đức Phật, đó là cách nói chuyện, cách hành động, cách lý giải cuộc sống. Và đặc biệt, là cách quán thiền, cách tĩnh tâm trước những biến động của đời người.

Theo báo Pháp luật

Đọc bài viết

Cafe sáng