Phía sau trang sách

Chiếc xe đạp mất cắp: Quá khứ quên lãng dưới điêu tàn của sắt

Một số chuyện từng xảy ra sẽ lưu lại ở đâu đó trong món đồ, giống như hạt giống vậy.

Published

on

Trung Quốc, với phần lãnh thổ to lớn, vốn từ lâu trở thành đất nước của những nghĩa địa: “nghĩa địa xe đạp”, “nghĩa địa xe máy” hay “nghĩa địa ô tô”. Sau các chính sách cấm cửa đi liền với động thái siết chặt quản lý, bong bóng của nền kinh tế chia sẻ sụp đổ một cách không thể lường trước. Và nếu vào ngày nào đó, người thân của ta mất tích cùng chiếc xe đạp thì biết tìm đâu dấu tích của một trong hơn 23.000 chiếc xe ở bãi nghĩa địa của riêng một thành phố?

Dời ngược thời gian trở lại cơn bĩ cực sau thời Hậu đệ nhị Thế chiến, Wu Ming-Yi (Ngô Minh Ích) bằng một chuỗi dài khoan sâu đã viết nên câu chuyện độc đáo, lồng lộng và tràn đầy xúc cảm về thời đoạn kéo dài hơn một thế kỷ với chiếc xe đạp – chiếc xe đạp bị mất cắp trong cuộc đời của một ai đó.

Cuốn sách xoay quanh câu chuyện của nhân vật “tôi” trên hành trình đi tìm lại bóng dáng người cha chỉ qua đầu mối duy nhất là chiếc xe đạp ông mang theo vào ngày ông biến mất mãi mãi. Càng đáng nói hơn, đây không hẳn là lần đầu tiên chiếc xe đạp bị mất cắp. Qua một lịch sử trải dài đằng đẵng từ thời Đệ nhị Thế chiến đến khi Internet phổ cập và mọi ứng dụng trên nền tảng xã hội phát triển, những câu chuyện đời, chuyện người được khắc họa tựu trung vào điểm gốc là chiếc xe đạp. Ở đó ta có thể bắt gặp đời sống Đài Loan cả những năm trước, trong và sau cuộc chiến, những hậu chấn tâm lý ảnh hưởng đến cả một thế hệ đi vào chiến tranh. Từ đó, lịch sử gian khó mà đầy biến động của Đài Loan hiện lên, khắc rõ; để con người và mọi sinh vật khác đều trở nên nhỏ bé trước số mệnh.

Chiếc xe đạp sống đời lận đận như một con người

Điểm gốc của mọi phối cảnh đều tựu trung về chiếc xe đạp. Việc mượn vật thể rồi từ đó khắc họa nên diễn tiến câu chuyện không hẳn là hiếm trong văn chương châu Á. Nếu ta từng bắt gặp Mạc Ngôn trong Phong nhũ phì đồn (Báu vật của đời) với hình tượng mông – vú, thì ở đây, Ngô Minh Ích dùng chiếc xe đạp có dây cu-roa để nối những vòng lịch sử như bánh đằng trước, và vòng đời ở bánh phía sau; bằng sức mạnh vận mệnh để đạp cho xe chuyển động. Cả hai câu chuyện song hành cùng nhau (bi, tiếng Latin), nối nhau như những vòng tròn (kyklos, tiếng Hy Lạp) gắn kết vào nhau, làm nên sự vận động theo hình tròn luân hồi của thời gian và những kiếp người.

Nếu câu chuyện không mở đầu bằng cảnh bé gái chạy vụt lên chiếc xe đạp về nhà khi cánh đồng vừa bị san phẳng, nếu chiếc xe đạp Khổng Minh của nhân vật chính không mất đến tận bốn lần, thì câu chuyện của tiểu thuyết này đã trở nên rất khác. Vì bối rối mượn chiếc xe đạp của một người Nhật mà bọn cảnh sát trói đầu gông cổ không nghe giải thích; vì đem cho đứa con gái khi lỡ đẻ quá nhiều để chờ một mụn con trai, vì chở cu cậu rong ruổi khám bệnh hay hồi hộp vui mừng khi đi xem điểm – mà chiếc xe đạp sống đời lận đận như một con người.

Chiếc xe đứng đó, chứng nhân cho rất nhiều điều, cho phong tục cổ hủ, cho bối cảnh chiến tranh, cho tình cảm trìu mến. Chiếc xe chứng kiến tình cảm cha con vốn thường khó nói, về một cậu bé khi nhỏ rất hay bệnh vặt, về một người cha sung sướng xem điểm cho đứa con trai, về cô gái nhỏ ngồi sau A Vân những chiều tan làm ở xưởng cánh bướm… Xe đạp ở đó lướt đi trong từng tầng gió khác nhau, có tầng tha thiết yêu đương là thế, nhưng cũng có tầng vô cùng muốn quên.

Hơn thế, đó là chiến tranh với chiếc xe đạp là phương tiện mới. Là đơn vị hành quân Bánh xe bạc không lốp lần đầu xuất hiện trong cuộc hành quân xẻ rừng xuyên Myanmar, là quân đoàn Hoa cúc những tối trăng treo, là Basuya chôn chiếc xe đạp ở ngôi làng nọ mà sau này lão Trâu lại một lần nữa khai quật nó lên. Chiếc xe ở đó và là chứng nhân cho những thời đoạn vô cùng biến động. Những chiếc xe đạp không lốp còn như một dấu gạch nối để con người ta tìm về quá khứ, về thời đã qua, thúc đẩy khai quật những gì từng là, dẫn đến công cuộc đi tìm người cha của nhân vật tôi hay quá trình về lại con đường hành quân đi xuyên Miến Điện bằng chiếc xe đạp của Abbas nơi cha cậu một thời chiến đấu.

Dễ thấy xe đạp đóng vai trò quan trọng trong dòng chảy thời gian. Nó ở đó gạn lọc đầy đủ những thứ trôi qua mắt lưới, gìn giữ những thứ còn lại dù cho nhỏ nhất. Xe đạp chứa trong nó không chỉ lịch sử, mà còn con người, phong tục, tập quán, quê hương, nguồn cội và ti tỉ hàng hà thứ khác. Nó như di chỉ, nó như xác ướp; để từ đó niên đại được hoàn về đúng thực tế. Rằng nếu bạn nghe ai đấy gọi xe tự quay, thì người ấy nhất định chịu nền giáo dục của Nhật, nếu gọi ngựa sắt hoặc xe Khổng Minh thì tiếng mẹ đẻ của anh ta là tiếng Đài, nếu gọi xe đơn hay xe tự hành thì rất có khả năng người này đến từ miền Nam Trung Quốc hay xem xét tỉ mỉ tình trạng hoen gỉ của từng chiếc xe, sẽ có thể phát hiện ra điều kiện khí hậu của một số vùng, thói quen của chủ xe hay cảnh ngộ của chiếc xe.

Chiếc xe đạp của thời hậu chiến tranh

Thông qua chính hình tượng ấy, Ngô Minh Ích tiếp tục triển khai để cho ta thấy còn gì ẩn sâu dưới những điêu tàn của vật liệu sắt. Ở đó, con người sau thời hậu chiến trở nên cuồng loạn và mất kiểm soát. Nếu trong Bên dòng sông Hằng, Endo Shusaku viết lại chính cái dằn vặt của nhân vật Kiguchi khi lỡ một lần ăn thịt đồng loại lúc quân Đồng Minh nắm thế thượng phong ở rừng Mã Lai; thì trong Chiếc xe đạp mất cắp, đó là Basuya tự đâm vào tai vì tiếng vo ve cứ tồn tại mãi dẫn đến bi kịch tự tử bằng khí gas, là đội trưởng Mục cứ bị ám ảnh mãi leo lên cây rồi đến khi té chết. Và liệu đó có phải là nguyên nhân người cha bỏ đi, khi ông cũng góp phần sang Nhật lắp máy bay phục vụ chiến tranh? Khó mà có thể giải thích được gì. Nhưng trên hết, bằng hình tượng chiếc xe đạp, bằng khoảng dài lịch sử, Ngô Minh Ích phần nào cho thấy con người nhỏ bé và yếu ớt đến mức độ nào trước cuồng nộ, hoang dại và giết chóc lẫn nhau.

Vấn đề sinh thái mới mẻ, thú vị và chiếm một dấu ấn quan trọng trong toàn tiểu thuyết làm nên cái cuốn hút cho người đọc. Mượn sở thú Maruyama những ngày cận chiến, những con voi vốn từng tham gia cuộc chiến nay trở về đây với môi trường nuôi nhốt, những con khỉ vốn quen tự do từ lâu, nay đứng lặng mình trước tấm màn sắt. Những con voi to lớn ấy vốn tổn thương từ lâu, chịu những ám ảnh từ bom đạn, pháo súng; bị con người thúc ép không có đường lui, hoang mang đứng trên chiếc thuyền, đi trên cỏ, trên đường nhựa hay hàng vạn dặm đường để còn mãi ám ảnh trong chúng một thời chiến tranh. Đến khi quân Đồng minh ập vào, vì sự an toàn của cư dân, chúng lại bị bắn, bỏ đói hay thậm chí xẻo thịt cho những viên chức cấp cao. Tối ấy, voi mơ thấy trong tử cung của mình có một voi con, nó ở trong đó đầm đìa máu, trên mình găm đầy mảnh bom vỡ. Voi thò vòi vào âm đạo móc nó ra, đó là cách duy nhất có thể cứu vớt nó. Voi con vẫn chưa hoàn toàn thành hình lấy vòi của nó móc lấy vòi voi mẹ, nhưng vì dùng sức quá mạnh, thông đạo lại quá hẹp, voi con được móc ra đã ngạt thở, còn âm hộ của voi mẹ thì bị mảnh bom rạch chi chít vết thương.

Những động vật ấy bị lột trần hết mức ở thời chiến tranh, chúng không được sống đúng với tự do và chết đi tuân theo số mệnh. Ngô Minh Ích ngoài một nhà văn còn là họa sĩ. Việc đưa voi, khỉ và cây cối lên bìa cuốn sách chứng tỏ những sinh vật này chiếm phần nào đó quan trọng trong ông. Những ngày này, khi văn chương sinh thái có một vị thế vô cùng mạnh mẽ bằng tiếng nói và những khẩu hiệu ngầm, Ngô Minh Ích chứng tỏ góc nhìn sâu sát thời đại, tiệm cận thế giới mà hài hòa với tự nhiên. Thú vật trong tác phẩm ông chịu nhiều bất công, cây cối trong cuốn sách này vừa hiền hòa bao dung lại vừa thống thiết bi thảm. Một góc nhìn mới, thức thời, hiện đại và tràn ngập tình cảm.

Về nghệ thuật viết, Ngô Minh Ích kết hợp hài hòa giữa lối viết tuần tự, đảo ngược thời gian, truyện lồng trong truyện và những phân đoạn hiện thực – kỳ ảo vô cùng đắt giá. Chi tiết đầu truyện khi Abbas đi lặn cùng lão Trâu và những ảo ảnh huyền diệu nơi cửa sông, hình tượng con sáo đá chết hiện thân cho sỹ quan Nhật hay cơn mơ của con voi mẹ giữa những lằn ranh lửa đạn… Tất cả cho thấy một lối viết mới giữa những ảo ảnh song song, với ý nghĩa vô cùng gợi mở, tỏa ra nhiều hướng. Chẳng hạn đường hầm ánh sáng mà Abbas và lão Trâu cùng nhau lặn xuống, liệu có liên quan gì đến hình tượng loài mối ở phía sau sách? Khả năng chịu mất nước của mối rất thấp, bọn chúng nhất định phải có nước, nên dù có chết bao nhiêu mạng mối, bỏ ra bao nhiêu thời gian, bọn chúng chắc chắn sẽ đào xuống tiếp bằng bất kể giá nào, đây là trời định, là bản năng. Rằng rốt cuộc con người cũng không hơn gì loài côn trùng ấy, nhỏ bé, xót xa, lao theo cái chết theo đúng bản năng, vì tự giết nhau, thèm khát vật chất?

Nhưng cũng không hẳn cuốn sách này không chứa điểm yếu. Ngoài những nổi bật phía trên, việc dùng phần lớn thời lượng kể về cuộc chiến không quá thú vị. Một góc nhìn, một giọng kể, không đa dạng và gây nhàm chán với hằng hà những cột mốc thời gian. Hơn thế nữa, cách diễn tiến cốt truyện của Ngô Minh Ích vẫn còn hơi thô và chưa tinh tế. Đơn cử chi tiết trao đổi email với những nội dung không rõ nguồn cơn không biết ai gửi, chúng không thực tế và gợi nhớ lại sự lỗi thời. Một sự cục bộ châu Á, một sự sến súa thường thấy là những điểm yếu lẽ ra có thể tinh giảm nếu đào sâu hơn. Nhưng vượt lên trên hết, Chiếc xe đạp mất cắp vẫn là một tiểu thuyết hay, gợi mở và sừng sững giá trị hiện sinh.

Tạm kết

Với Chiếc xe đạp mất cắp, bằng những đẹp đẽ – xấu xa, đen tối – tươi sáng, trường đoạn mất mát – bài ca hy vọng lồng trong phong cách viết điềm tĩnh và kiểm soát tốt cốt truyện, những chi tiết hiện thực – kỳ ảo ấn tượng, Ngô Minh Ích đã làm nên một lịch sử Đài Loan qua nhiều biến động trong hơn 100 năm và số phận con người sau thời Hậu chiến. Ở đó con người có thể ngu ngốc, chết vị tỵ hiềm, tự giết lẫn nhau như loài mối chúa lao đầu xuống nước; nhưng song song cùng đó, hy vọng cũng được nhân lên, vẻ đẹp mãi mãi trường tồn, trong bầu trời u ám sẽ luôn hiện lên tia sáng soi rọi một điều gì đó từ trong tâm thức. Khúc chiết, điềm tĩnh mà sâu lắng, Chiếc xe đạp mất cắp như loại đĩa nhạc làm từ chất bài tiết của cánh kiến đỏ, tinh than, trộn với hoàng thổ; mà cũng có người gọi đó là chiếc đĩa than.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Phía sau trang sách

Tâm tư của bạch tuộc: Bước vào thế giới của một giống loài “rất kì”

Published

on

By

Hơn nửa năm trước người ta vẫn còn cau mày khi Titane – bộ phim gây nhiều tranh cãi của nữ đạo diễn Julia Ducournau chiến thắng giải Cành cọ vàng. Ở thời điểm đó, chuyện tình giữa một cô gái và chiếc xe hơi bị coi là… không chấp nhận được. Nếu thế, hãy lùi lại thêm một năm, để đến với bộ phim khác chiếu trên Netflix, My Octopus Teacher, về mối tình giữa anh thợ lặn và… cô bạch tuộc. Dễ thấy phản ứng của khán giả trong hai trường hợp đều y hệt nhau. Họ lăm lăm phê phán, chỉ trích; và đúng là khó mà trách được họ. Thế nhưng nếu đã đọc Tâm tư của bạch tuộc của nhà tự nhiên học và nhà biên kịch Sy Montgomery, cùng đó là những suy tư vượt khỏi biên giới, thì chắc hẳn bạn sẽ nghĩ khác.

Đầu tiên phải khẳng định rằng Tâm tư của bạch tuộc không hẳn là cuốn sách tranh giành quyền lợi hay là mượn tiếng đáp lời hỗ trợ cho loài vật này, mà đó là cuốn sách của một con người, viết cho loài người và dưới ánh sáng trí tuệ con người. Sy Montgomery đứng trên lập trường của mẹ thiên nhiên – vị thẩm phán tối cao – dưới hình hài Sapiens, giống loài có tiếng nói và có khả năng lan truyền thông tin, vốn thường tự cho rằng mình thông minh nhất. Bạch tuộc là một đối tượng nghiên cứu thú vị, khi không chỉ từ khi My Octopus Teacher trình chiếu thì người ta mới thấy nó “kì”, mà hơn một thế kỷ trước, trong tranh ảnh shunga Nhật Bản, giống loài này cũng đã xuất hiện trong tranh của Hokusai. Giấc mơ của vợ ngư phủ là một họa phẩm như thế, đầy hoan lạc, thèm muốn cũng như sung mãn, mang khát khao hòa mình cùng với tự nhiên của đảo quốc vốn đã cô lập tứ phương.

Thế nhưng bỏ qua những nét văn hóa vốn rất đặc trưng của người Đông Phương, thì phía Tây phương duy vật lại duy trì một não trạng khác. Như một dẫn chứng trong cuốn sách này về nhà tự nhiên học Jane Goodall đã phải che giấu phát hiện của mình về loài tinh tinh, chỉ vì sợ hãi mình bị buộc tội đang nhân cách hóa, nghĩa là, phóng chiếu cảm xúc chỉ con người có lên đối tượng nghiên cứu – ở đây là loài tinh tinh – và là một lỗi vô cùng nghiêm trọng của khoa học hiện đại. Không riêng gì Jane Goodall, mà ngay từ khởi thủy Wittgenstein cũng đã viết rằng: “Nếu sư tử có thể nói, chúng ta cũng không thể hiểu được nó”. Và nếu sư tử là loài động vật rất gần con người, là động vật có vú, chung lớp với mèo; thì hãy nghĩ thử, nếu ai cho rằng bạch tuộc có thể yêu con người, thích giao tiếp với con người như trong My Octopus Teacher, thì hẳn bạn sẽ thế nào?

Do đó, quan điểm cho rằng bạch tuộc có suy nghĩ, cảm xúc và tính cách riêng chỉ mới gần đây mới có sức mạnh ở một mức độ nào đó. Với ba trái tim, một bộ não quấn quanh cổ họng và được bao phủ bởi một lớp nhầy thay vì là tóc; bạn sẽ tự hỏi nó giống con người ở đâu, khi có 8 chi và máu có màu xanh lam chứ không phải đỏ, vì chứa đồng chứ không phải sắt, vận chuyển oxy. Tâm tư của bạch tuộc không đi sâu phân tích làm thế nào bạch tuộc thông minh tiệm cận con người, mà đó là sự đồng cảm hòa vào thiên nhiên của một người viết mở lòng và đầy cởi mở, dành cho những ai cũng chung góc nhìn như thế, về một giống loài còn nhiều xa lạ.

Sy Montgomery cùng những đồng nghiệp của bà tại Thủy cung New England đã kịp gắn kết với nhau bằng chính chất nhờn bạch tuộc như chất bôi trơn xã hội. Ở đây bà đã tiếp cận và lần đầu chạm vào những con bạch tuộc Thái Bình Dương thật nhất và cũng sinh động nhất. Đó là Athena hiền lành, Octavia quyết đoán, Kali hiếu kì và Karma vui vẻ. Cùng Scott, Ben và Wilson – những người phụ trách bể thủy cung, Montgomery dấn bước vào việc đọc vị bạch tuộc, bởi nhẽ như Scott – người theo sát giống loài này, tiết lộ bạch tuộc có nhiều biểu cảm hơn bất kì loại nào mà anh từng biết. Anh cũng nói thêm “Chúng ta có thơ ca, vũ điệu, âm nhạc và văn học. Nhưng dù có giọng nói, trang phục, cọ vẽ, đất sét hay công nghệ, liệu chúng ta có thể hiểu được những gì con bạch tuộc biểu đạt chỉ qua một làn da hay không?”

Và đó chính là khởi đầu cho những dịp gặp gỡ tràn đầy năng lượng với Kali, cho những tháng ngày ở cữ với Octavia hay sự điềm tĩnh, vừa phải mà cũng dịu dàng với Athena. Trước một giống loài có phần tinh vi và vượt ra khỏi hiểu biết thông thường, Montgomery mở rộng phạm vi nghiên cứu, mà may mắn thay cũng là sở thích có phần mới mẻ của bà – lặn biển. Từ biển Cozumel ở Mexico đến vùng Mooréa, Polynesia thuộc Pháp; để cuối cùng ta cũng biết rằng bất cứ cá thể bạch tuộc nào cũng là một sinh vật tinh vi tầm cỡ quốc tế, trong một quãng đời hoang dã tiếp xúc biết bao những giống loài khác, còn con người bé nhỏ chỉ như những tên quê mùa tỉnh lẻ.

Cõi lòng rộng mở và truyền cảm hứng của Montgomery dẫn dắt người đọc qua từng cá thể bạch tuộc, từng bể thủy cung như những trạm thập tự giá, mà ở đó vẻ đẹp và sự kỳ bí của đại dương giúp ta mộ đạo và rửa tội hết lần này đến lần khác. Những ngày chứng kiến Octavia chăm sóc hàng ngàn quả trứng vô sinh lúc cuối đời mình vừa kiên trì, vừa dịu dàng, vừa huy hoàng mà cũng vinh quang; hay lúc biết được Kali chuyển màu thiếu nước rũ mình cách xa bể cá – không cho chúng ta ấn tượng của những sinh vật bậc cao nhìn xuống bậc thấp, mà đó là sự đồng cảm giữa những nhân vật trong một vở kịch, giữa những sinh linh chiếm giữ vị trí ngang hàng trong chính bữa tiệc của mẹ thiên nhiên.

Bạch tuộc ở đó cũng là chứng nhân cho những sự kiện lướt qua đời sống. Chúng không đơn thuần là những sinh thể đẹp đẽ của bể thủy cung, mà cũng đồng thời dạy ta cách sống và nhìn thấy nhau. Đó là Wilson cùng với người vợ trong cơn bạo bệnh, hiến tặng mọi thứ quý giá trong những lần lặn biên. Đó là Anna trải qua khủng hoảng trong việc trưởng thành mất đi một người bạn tốt. Đó còn là chị em Christa và Danny tự kỉ, là Marion và những cơn đau, nhưng đều chung hết sức mạnh và khát vọng sống. Con người cũng như bạch tuộc, quyến rũ, bạo liệt, đa nhiệm và đầy bí ẩn. Montgomery một cách tài tình viết nên cuốn sách không hướng về riêng chỉ một giống loài, mà qua các trải nghiệm của bà, sự hài hòa với tự nhiên nổi lên sáng rõ và đầy sức sống.

*

Tâm tư của bạch tuộc cũng như hành động lặn biển của Montgomery, là chất LSD quyến rũ con người vào thế giới đó, để thấy chúng ta nhỏ bé và bất cứ điều bình thường nhất nào của đại dương cũng là một thế giới lớn đối với con người. Từ những con sứa, rùa biển, cá rồng… cho đến chim cánh cụt, trăn Nam Mỹ, Tâm tư của bạch tuộc dạy ta cách sống và cách suy nghĩ như một “quái vật”. Bởi nhẽ những lời phỉ báng danh phẩm qua hàng thế kỷ dưới dạng ngôi sao phản diện của Jules Vernehay nỗi ám ảnh của Victor Hugolà quá sức chịu đựng. Mỗi loài bạch tuộc trong bể thủy cung qua từng đời một có suy nghĩ, cảm xúc và tính cách riêng; từ đó định kiến hạ thấp trí tuệ cũng như cảm xúc của những loài khác dần dần mất đi, triệt tiêu chủ nghĩa hoài nghi; chỉ đến khi ấy chúng ta mới rõ vị trí của mình, trong lòng thiên nhiên. Một cuốn sách mở cho những tâm hồn về với nguồn cội.

“Các loài động vật không phải đồng sự, không phải đàn em mà là những sinh vật được ban tặng những giác quan mở rộng mà chúng ta đã mất và không bao giờ đạt được, sống bằng tiếng nói mà chúng ta không bao giờ nghe được. Chúng là những dân tộc khác, bị cuốn vào mạng lưới sự sống với thời đại của chúng ta, là những bạn tù của sự huy hoàng và tàn phá trên trái đất” – Nhà tự nhiên học Henry Beston.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Người mắt kép: Những con người kết nối, những câu chuyện lồng vào nhau

Published

on

“Cô ơi, hai mắt màu khác nhau thì thế giới mà nó nhìn thấy có giống nhau không?”

Nếu bạn thắc mắc về nhan đề của sách thì câu thoại trên đã phần nào hé mở cho ta biết thế nào là người mắt kép. Và để biết vai trò của người mắt kép trong câu chuyện, tôi nghĩ bạn hãy cầm sách lên và khám phá vai trò của người ấy.

Nội dung bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Người mắt kép.

*

Mỗi cuốn sách đều chứa đựng một kho tàng - một thế giới chờ người đọc, người nghe khám phá nó. Tiểu thuyết Người mắt kép kể về những con người với số phận riêng biệt, những vùng đất với số phận đặc thù. Ở một tầng sâu hơn, cuốn sách còn đề cập đến vấn đề khí hậu, vấn đề sinh thái trong văn học và sự trả thù của tự nhiên.

Mỗi người có một cuộc đời riêng biệt nhưng kết nối

Cuộc sống vốn dĩ không có kịch bản, không có đạo diễn, cũng chẳng có nhà sản xuất, chỉ có những kẻ tự quyết định lấy cuộc đời của mình. Trong cuộc trú chân vô cùng ngắn ngủi của chúng ta trên mẫu hành tinh bé nhỏ, chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Mỗi người có một cuộc đời riêng và để ta gặp được nhau, phải có một “sự tình cờ” nào đó liên kết chúng ta lại.

Người mắt kép kể câu chuyện của Atile’i - một thanh niên 15 tuổi sống ở đảo Wayo Wayo, cậu trai với hành trình dong buồm ra biển lớn vì truyền thống lâu đời của nơi này. Sự tăng trưởng dân số trên đảo dẫn đến sự tăng trưởng sản lượng tiêu thụ và thiếu đất sinh sống. Người con trai thứ, sau 180 lần trăng tròn, phải tự chèo thuyền ra biển, như một lời hứa với Kabang và chưa một ai ra khơi trở về được cả. Anh em sinh đôi ra đời chỉ cách nhau vài giây thôi; nhưng với Atile’i, người ta vẫn phân biệt con trai đầu, con trai thứ. Đứa con trai thứ là người phải lên thuyền ra khơi - sự khác nhau vài giây đó đã tạo nên một vận mệnh khác.

Song hành với đó, sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người khi ta không tìm được hạnh phúc, khi hiện tại là sự sống hẫng hụt. Sự thất vọng với thế giới hiện tại khiến con người muốn tìm một thế giới riêng. Alice là một nữ giáo sư sống cùng gia đình nhỏ trong căn nhà xinh đẹp bên bờ biển. Chồng và con trai cô mất tích trong một chuyến leo núi, cô khát khao được kết liễu mạng sống của mình, cô cho đi toàn bộ tài sản vật chất để ra đi mà không phải nghĩ ngợi gì. Ý định chưa kịp thực hiện thì cô gặp Ohiyo, một con mèo cho cô cảm giác cô cần phải chăm sóc nó vì biết đâu đứa con trai bé bỏng của cô ngoài kia chưa chết và đang có người chăm sóc nó như vậy. Một kẻ chỉ vài ngày trước đem cho đi toàn bộ tài sản của mình, vài ngày sau lại đi sắm sửa “gia tài” cho “kẻ khác”.

Hai con người ở hai thế giới, tưởng chừng chẳng bao giờ gặp nhau, bằng một sự tình cờ do đại dương mang đến, Alice gặp Atile’i, hai người dù chẳng biết ngôn ngữ của nhau nhưng họ dần hiểu được lời nói của đối phương. Từ đây, những câu chuyện về cuộc đời họ dần được kể rõ hơn, họ cho nhau niềm tin để sống tiếp cuộc đời của mình.

Sự giận dữ của mẹ thiên nhiên

Ngay cả nếu chúng ta vẫn tiếp tục chạy đủ nhanh và trì hoãn được sự suy sụp của hệ sinh thái thì bản thân cuộc đua cũng tạo nên những vấn đề cực kì lớn. Sau nhiều thế kỉ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học, đáng ra cuộc sống phải yên ổn và thanh bình hơn - ít nhất là ở các nước tiên tiến. Nhưng bất chấp những thành tựu, chúng ta vẫn lắm lúc thấy áp lực và không tìm được sự hài lòng.

Trong quá trình đọc Người mắt kép, tôi đã nghĩ thật nhiều đến những bộ phim hoạt hình của Ghibli Studio: Laputa Castle In The Sky Laputa (1989), Mononoke Hime (1997), Ponyo (2008),… vấn đề môi trường và cuộc sống con người, những câu hỏi ám ảnh tôi, trên rừng xuống biển. “Có một đảo rác từ ngoài biển trôi vào nơi này”, có một vực xoáy rác, cuốn mọi thứ con người thải ra biển, đem vào lại đất liền để trả lại toàn bộ cho con người.

Cuộc mưu cầu quyền năng thời hiện đại được thúc đẩy bởi liên minh khoa học và tiến bộ kinh tế. Những kí ức của Alice về năm tháng sống cùng ngoại, lúc chưa có nhà máy hóa dầu, mùa đông có rất nhiều người tập trung đến đấy để ngắm chim, rút đầu lại đứng phía sau của ống nhòm như đang kì vọng cuộc sống của mình sẽ có gì đổi khác. Nhưng khi nhà máy ấy hoàn thành, từ đó hầu như không còn nhà nào để mở cửa. “Những ống khói hì hục bốc lên làn khói đen”. Khi một thảm hoạ sinh thái ập đến, người nghèo luôn chịu tác động nhiều hơn người giàu, ngay cả khi thảm kịch ấy do chính người giàu gây ra.

“Chuyện gì thế này? Những thứ này từ đâu đến?”

Toàn bộ những gì con người gây ra cho trái đất, con người phải nhận lại hết. Vực xoáy rác là minh chứng, thiên nhiên đã trả lại cho con người tất cả, vốn lẫn lãi. Con người cần trái đất, con người cần tự nhiên; không có con người trái đất vẫn có thể sống, nhưng không có trái đất, con người sẽ không thể tồn tại được.

Hành trình thiên nhiên đáp trả đó không phải đột ngột theo cách bất ngờ, đó là một quá trình. Tự nhiên đã nhiều lần nhắc nhở, cảnh báo, con người không nghe nên tự nhiên mới dùng hành động để cho con người thấy: “Con người - các ngươi đã thật sự làm ta giận dữ”. Vực xoáy rác khổng lồ cũng chỉ là lời nhắc nhở thôi, như lúc nhà máy hóa dầu quê ngoại của Alice vậy. Cũng giống như những con người ở đảo Wayo Wayo vậy, họ đã thay đổi bằng cách “hiến tế” người con trai thứ như lời hứa giảm số người dân, đảm bảo số người dân ít hơn số cây trong đảo. Và những con người sống ở đất liền, nếu không giảm lượng rác thải tạo ra, rồi cũng chẳng còn nơi để sống đâu. Sự hủy diệt sẽ làm biến mất tất cả. Khi chẳng còn khỏe mạnh, mẹ thiên nhiên sẽ thật sự nổi giận và trả lại con người cơn thịnh nộ của mình.

Chuộc tội như thế nào cho đúng?

Ngày xửa ngày xưa, tất cả mọi vật đều bắt chước lẫn nhau, hòn đảo bắt chước rùa biển, cây cối bắt chước đám mây, cái chết bắt chước sự sống. Thiên nhiên đã tồn tại trước, sau đó rất lâu, con người mới xuất hiện trên trái đất.

Một câu hỏi lớn buộc chúng ta phải tự đặt ra cho chính mình và mọi người. Liệu con người và thiên nhiên có thể chung sống hòa bình? Rốt cục nguyên tắc phân loại là thực sự theo quy luật của tự nhiên hay theo quy tắc của con người? Loài người nhận thức được sự căm phẫn của thiên nhiên, nhưng có khả năng nào để chúng ta chuộc lại lỗi lầm hay không? Khả năng cao là không.

Chẳng ai muốn đón nhận cơn cuồng nộ của thiên nhiên đâu nhỉ? Mèo nhỏ Ohiyo là sự dịu dàng xua tan nỗi đau với Alice. Tôi nghĩ rằng chính sự dịu dàng trong cách con người đối xử với nhau, đối xử với thiên nhiên sẽ làm nguôi ngoai phần nào cơn giận dữ.

Kết.

“Vậy thứ khiến chúng ta sợ hơn đó là con người. Bất luận là người đó nói bảo vệ chúng ta hay người muốn dỡ nhà chúng ta đều đáng sợ cả, vì họ sẽ không nói với chúng ta tại sao, vì cái tại sao của những người dân bản địa chúng ta không giống nhau đúng không?” Mỗi người chúng ta thuộc về một thể loại riêng. Một số sống đời bi kịch, số khác sống đời hài kịch, số tiếp trú ngụ trong những vở kịch của tôn giáo, có kẻ chọn tiếp cận nó như phim hành động, nhưng xét cho cùng, tất cả đều là câu chuyện

Những thất vọng và niềm tin, mỗi người, ai cũng có câu chuyện cho riêng mình, không ai giống ai, có người mải mê tạo nên những câu chuyện, có người mải mê đi tìm những câu chuyện, có người lắng nghe những câu chuyện của những người khác. Và cuối cùng mỗi chúng ta, khi đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình, chúng ta sẽ có một câu chuyện để người khác nhớ về chúng ta.

“Rồi sẽ có một ngày
Em muốn rời bỏ thành phố phồn hoa
Rồi sẽ có một ngày
Em sẽ muốn trông thấy
Một nơi như thiên đường mà thuở ấu thơ mẹ kể”.

Hết.

Hoàng Anh

Ảnh đầu bài: Elle Việt Nam

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH Siêu Đẳng: Một góc nhìn khác về động vật

Published

on

Em có muốn trở lại sống trong ống cống không? Và ăn rác rưởi của con người? Vì loài chuột vẫn sống như thế. Nhưng thực tế là chúng ta không còn là chuột nữa. Chúng ta là thứ được bác sĩ Schultz tạo ra. Một thứ hoàn toàn mới.

Hình thức nhân hóa các loài vật để tạo nên một câu chuyện, một huyền thoại giống như con người không phải là hiếm; và dĩ nhiên, không thiếu những tác phẩm thành công. Đồi thỏ của Richard Adams từng bị e ngại về độ dày quá lớn cho một tác phẩm thiếu nhi; thế nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của nó cho đến ngày nay. Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng – tác phẩm đoạt Huân chương Newberry năm 1972 thì ngược lại, không cần quá dày cũng đủ làm nên một huyền thoại.

Tác phẩm kể về nhà chuột Frisby và những khó khăn họ gặp phải khi đối mặt với chuyến chuyển nhà mùa hè. Góa chồng, bà Frisby một mình nuôi nấng bốn người con, trong đó Timothy, đứa nhỏ nhất, lại đang viêm phổi và có thể trở nặng bất cứ lúc nào, nếu họ đánh liều di chuyển sang căn nhà mùa hè. Thế nhưng băng đã tan, nhà Fitzgibbon đã bắt đầu cày bừa, đâu là giải pháp cho bà mẹ này?

Bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng.

Thiên nhiên đa dạng

Cũng như những tác phẩm khác, nhà văn Robert C.O’Brien dồn ép câu chuyện đến bước đường cùng, để ta thấy sức khám phá và hành trình chứng minh bản thân của những loài vật tuy nhỏ kích thước nhưng can đảm là có thừa. Thiên nhiên trong tác phẩm của ông điển hình nhưng cũng tuyệt đẹp, với những giúp đỡ, sẻ chia cũng như sự đồng cảm của những loài vật dành cho nhau.

Có thể thấy được sự tương đồng với Đồi thỏ khi cả hai tác phẩm đều bắt nguồn từ việc nơi ở của mình bị con người đe dọa. Mối quan hệ giữa con người và động vật trong tác phẩm của O’Brien không quá cay đắng. Ông cho mỗi tuyến nhân vật một ý nghĩa để hành động, không phản chiếu hay đánh giá phiến diện bất kì ai. Rốt cuộc thì nhà chuột Frisby hay gia đình ông Fitzgibbon cũng cần sống, và điều này càng làm tăng thêm vị thế của gia đình chuột, khi không cầu xin sự thương cảm từ phía người đọc, mà trong tác phẩm này, họ có chỗ đứng cũng như tầm nhìn vô cùng độc lập.

Một trong những yếu điểm của truyện thiếu nhi là nó quá… phi thực. Nếu chỉ dành cho trẻ con, thì không có gì để nói. Nhưng để lưu danh và dành cho nhiều độ tuổi khác nhau, mà mỗi một người có thể nhìn nó theo thế giới quan của mình, như Hoàng tử bé, như Totto-chan bên cửa sổ… thì không phải là dễ. Và tác giả O’Brien giải quyết điều này vô cùng logic. Tác phẩm của ông không chứa đựng sự ngẫu nhiên hay phép thần thông quảng đại nào, mà như nói trên, mọi thứ đều có lý do, và ông cho độc giả một lý do mang tính dự báo, và rất có thể trở thành hiện thực trong những ngày này.

Phân chia cốt truyện thành hai tuyến song song, bên cạnh việc tìm giải pháp cho lần chuyển nhà trong khi Timothy thì đang bệnh nặng; O’Brien cũng khéo léo lồng ghép quá trình Chuột cống, Chuột đồng trốn khỏi phòng thí nghiệm NIMH, và cũng từ đây lí giải vì sao những tình tiết sau đó vô cùng logic. Từng là những loài chuột thí nghiệm, quần thể Chuột cống và Chuột đồng sở hữu bộ gen đặc biệt, trong thử nghiệm giúp học và tiếp thu nhanh. Từ đó, một thế hệ Chuột mới ra đời, toàn năng và không thể phá hủy.

Điều đó cũng lý giải vì sao có một cộng đồng chuột với đủ thứ thiết bị, từ hành lang, sách vở, đèn đóm, máy phát điện, kho hạt… cho đến những bài thuốc gây mê con mèo lởn vởn xung quanh. Các nhân vật này trong tác phẩm của O’Brien nhiều cá tính và đậm dấu ấn, khiến bất cứ lúc nào người đọc cũng tìm thấy được một nhân vật đặc biệt, như Cây Phỉ của Đồi Thỏ, thì tác phẩm này có Chuột Nicodemus, Justin, Arthur, Brutus, quạ Jeremy, bác cú, thầy Ages… những cá tính nổi bật và đậm nét.

Tính nhân văn

Sự đẹp đẽ trong quần thể nhỏ nhắn của các loài vật đã được truyền tải một cách trọn vẹn, từ tình mẹ con ấm áp thiêng liêng của cô chuột Frisby tần tảo nuôi con thơ dại trong mùa đông khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn; cho đến việc cứu quạ Jeremy mà không màng đến tính mạng. Bất cứ một việc thiện nào trong tác phẩm này cũng đều dẫn đến một việc tốt khác, cứ thế cái tốt đẹp và lòng tốt nhân đôi, càng lan tỏa thêm sự đồng cảm và tình yêu thương.

Cũng chính sự cứu mạng đó mà bác cú đã mách chị Frisby dời nhà sang mé bế phong – hay vùng tam giác đổ bóng của ngọn đá lớn ông Fitzgibbon bỏ qua khi cày. Cũng chính nhờ sự giúp đỡ của chồng mình chống lại Rồng, mà cộng đồng Chuột cống mới có một thế giới riêng, và những dự án bí mật sau này.

Thế nhưng, nỗi bật nhất vẫn là thế cân bằng giữa các loài vật trong tiểu thuyết này. Chuột Cống không ngại sử dụng thân thể to lớn của mình để cứu Chuột Đồng, Chuột Chù tuy nhiều chuyện nhưng không ngại đứng ra bảo vệ những đứa con của chị Frisby; và dĩ nhiên, những chú chuột ấy cũng có thể diện, cảm xúc, cũng như những nhận thức rất con người.

Khi đã trở thành một giống loài được chọn, 20 chú chuột ấy biết rõ mình không còn thuộc về phường đầu trộm đuôi cướp hay ưa phá hoại của cải của con người nữa. Họ từ bỏ chợ nông sản và những cống rãnh hôi thối của đường phố, mà quây mình ở điền trang Boniface tự trau dồi học hỏi đương lúc gia chủ đi vắng. Từ chiếc xe bỏ hoang của Ông Đồ chơi rong mà họ xây dựng nơi an cư cho riêng mình, và chỉ mình mình.

Thế cân bằng ấy còn nằm ở việc họ không tự bằng lòng với việc ăn ấm mặc êm, trở nên sung túc với điện và nước lấy trộm của con người, hay những hạt giống, ngũ cốc sẵn có từ nhà Fitzgibbon. Trong sự phát triển ngang tầm cỡ con người, họ đã nuôi lớn kế hoạch tự xây dựng Thung lũng Gai, để gieo hạt, trồng trọt dù biết trước là sẽ gian khổ. Họ cũng như con người, tự mình phá hủy cái cung điện nguy ngoa khoét vào đá để bản thân không quay trở lại hưởng thụ được, khi tương lai phía trước là bất định.

Tác phẩm này của O’Brien đạt đến hàng kinh điển bởi nhẽ, nó khai thác một góc nhìn rất mới và đầy biến động về con người và tự nhiên. Loài chuột biết suy nghĩ, biết tự nuôi sống bản thân; chúng độc lập đứng trước con người, chứng minh và thể hiện mình. Con người hay Homo Sapiens từ trước đến nay vẫn tự nhủ bản thân là giống loài riêng biệt duy nhất thông minh; thì ở tác phẩm này, có đôi khi ta phải nhìn lại, rốt cuộc rồi thì con người cũng là động vật, cũng được tạo thành từ các nguyên tử, phân tử từ thủa sơ khai. Họ không có đặc quyền gì đặc biệt, bởi nhẽ, họ đã quen với sự thống trị của bản thân trong thế giới vô tri. Và O’Brien đã bắt một cái bập bênh, để chính họ nhìn lại vị thế của mình.

*

Bằng câu chuyện phiêu lưu đậm màu cổ tích nhưng không thiếu logic và những suy tư rất sâu và xa của con người, Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng không chỉ thể hiện tình cảm thân ái giữa các loài vật hay thế giới nhân hóa kì diệu; mà đồng thời, cũng giúp con người ngộ ra được vị trí và vai trò của chính họ, trong tự nhiên và những giống loài tồn tại trên Trái Đất này. Một tác phẩm hay và chứa đựng nhiều bài học đáng quý.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Cafe sáng