Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Tuyết – Thứ tro trắng chôn lấp những hi vọng

Sau thành công vang dội của “Tên tôi là Đỏ”, Orhan Pamuk tiếp tục chứng tỏ ông là ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel với “Tuyết” – tác phẩm được Margaret Atwood ca tụng là “cuốn sách không thể thiếu của thời đại chúng ta”.

Published

on

Tiểu thuyết tựa lối đi nhỏ xuyên qua bầu không khí mờ ảo được tuyết che phủ để tìm đến trái tim của những kẻ khắc khổ bị đóng băng từ tận bên trong. Những con người ấy, những người sống trong vòng tay của tuyết, ngày ngày đắm chìm vào cái lạnh buồn bã đẹp vô hạn, liệu họ thấy gì từ tinh thể sáu cạnh huyền ảo tinh khôi, hay chưa kịp chạm đến đã vỡ tan. Tôi cứ tưởng có thể bắt gặp cảnh tượng này ở mọi nơi có tuyết. Nhưng tôi phải chờ đến Kars, thành phố tuyết, khi cái đẹp và sự đổ vỡ cách nhau chỉ trong gang tất mới cảm nhận rõ ràng được. Và lắm lúc, Orhan Pamuk đẩy ranh giới đó về zero, biến mọi chuyện trở nên khó đoán sau bức màn trắng xóa. Tuyết hội tụ đủ các yếu tố làm nên tên tuổi Orhan Pamuk, mặt khác cũng chứa đựng những bí mật của riêng nó.

Tóm tắt tác phẩm:

Tiểu thuyết xoay quanh hành trình kiếm tìm hạnh phúc đích thực đời mình của thi sĩ Ka – một người sống lưu vong sau mười hai năm trở về quê nhà để gặp mặt người bạn học Ipek. Xen lẫn câu chuyện tình yêu là bức tranh chính trị đẫm mùi khói súng ở thành phố biên giới Kars diễn ra giữa các thế lực Hồi giáo cực đoan và nhà nước thế tục với những khát vọng khó hiểu của những kẻ lãnh đạo (Lam và Sunay Zaim). Điểm tô bức tranh rối rắm đó là tin đồn về những cô gái tự sát để phản đối lệnh cấm khăn trùm đầu cùng số phận bi thảm của những thiếu niên Hồi giáo trẻ trung vô tình trở thành nạn nhân hay bất đắc dĩ phải làm nhân chứng cho tấn thảm kịch. Tất cả diễn ra trên nền cơn bão tuyết suốt ba ngày ba đêm biến Kars thành một màu trắng chết chóc.

Giống như Patrick Modiano của những con phố Paris, Mạc Ngôn gắn bó với miền đất Cao Mật hay như Dublin qua ngòi bút James Joyce; Orhan Pamuk là nhà văn sinh ra từ một thành phố – đứa con của Istanbul. Những trang viết của ông thấm đẫm tình yêu và nỗi nhớ với cố đô văn hiến, trong gần như tất cả các tác phẩm của mình: từ tiểu thuyết lịch sử Pháo đài Trắng, hay như Cuốn sách Đen viết tại New York, cho tới dấu ấn nghệ thuật của Tên tôi là Đỏ, cùng câu chuyện tình yêu tại Bảo tàng Ngây thơ và đỉnh cao phải kể tới Istanbul – Hồi ức và thành phố. Ngay từ những trang đầu của Istanbul, Orhan Pamuk đã khẳng định:

Conrad, Nabokov, Naipaul – những nhà văn này được biết đến là do đã thành công trong việc thiên di giữa các ngôn ngữ, quốc tịch, văn hóa, xứ sở, đại lục, và ngay cả nền văn minh. Trí tưởng tượng của họ lấy dưỡng chất từ sự lưu vong, một sự nuôi dưỡng được chiết ra không phải từ gốc rễ, mà từ việc không có gốc rễ. Tuy nhiên, sự tưởng tượng của tôi đòi hỏi tôi phải ở lì trong cùng một thành phố, cùng một con đường, cùng một căn nhà, nhìn mãi vào một cảnh tượng. Số phận của Istanbul là số phận của tôi. Tôi gắn liền với thành phố này bởi vì nó đã làm cho tôi trở thành tôi như bây giờ.

Điều này biến Tuyết trở thành tác phẩm đặc biệt của ông, xét về mặt bối cảnh. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tính tới thời điểm hiện tại, Orhan Pamuk để cho câu chuyện không xảy ra ở Istanbul mà ở Kars. Kars là tên thành phố biên giới phía đông bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời trong tiếng Thổ, kar lại có nghĩa là tuyết. Kars có thể được coi như là nước Thổ thu nhỏ, với một cộng đồng đa sắc tộc gồm người Thổ, người Kurd, người Azerbaijan và cả người Armenia – đây đã từng là thủ đô của Armenia và cũng chính tại đây họ rơi vào cuộc thảm sát. Cùng một thời điểm, ở Kars luôn tồn tại các thế lực Hồi giáo chính trị mâu thuẫn với nhà nước thế tục lẫn một bộ phận nhỏ người dân theo đạo Cơ đốc. Bằng cách mượn tuyết để xóa đi các dấu vết đặc trưng của Kars, nhà văn biến Kars thành một thực thể sống nơi ông thỏa sức tạo nên các ý niệm của mình. Thành phố bị tuyết chia cắt bây giờ trông cứ như con rùa khổng lồ cõng trên lưng hòn đảo, làm cho hòn đảo tách biệt với đại dương. Nếu đồng nhất Orhan Pamuk với Istanbul, thì Kars sẽ là người bạn đặc biệt của ông, thành phố thổ lộ cho ông nhiều hơn vẻ bề ngoài của nó. Khi trở lại với vẻ bề ngoài, mặc dù nhà văn luôn phủ nhận mình là nhà hoạt động chính trị, nhưng Kars, với các đặc điểm kể trên, rõ ràng là mảnh đất màu mỡ cho những chính khách phô diễn tài năng. Orhan Pamuk không hề giấu diếm toàn cảnh bức tranh chính trị ấy, tuy vậy, lại chẳng dễ dàng để lần ra quan điểm của ông. Xét về nội dung, điểm này cũng đặc biệt không kém. Nhưng liệu chỉ có chính trị?

Không khó tìm thấy câu trả lời. Nó nằm ngay lối vào câu chuyện, những dòng miêu tả một người đàn ông giữa lúc say ngủ:

Ông sống lưu vong đã được mười hai năm bên Đức song chưa bao giờ bận tâm nhiều đến chính trị. Lòng đam mê đích thực, mọi suy nghĩ của ông, là đều dành cho thi ca.

Vài dòng đơn giản nhưng hàm chứa cả cuốn sách. Người đàn ông ấy tên Kerim Alakuşoğlu, vì không ưa cho lắm nên ông tự gọi mình là Ka. Một người đàn ông sống lưu vong song chưa bao giờ bận tâm chính trị, và suy nghĩ của ông hướng về thi ca. Thi ca, chính thi ca mới là điểm đích thực cần quan tâm chứ chẳng phải chính trị hay bất cứ điều gì khác. Như vậy, nhà văn không ngần ngại gợi ý cho chúng ta, những độc giả bị khung cảnh của Kars làm choáng ngợp, rằng chúng ta phải tiếp cận cuốn sách theo hướng văn chương, hãy tìm kiếm chất thơ đằng sau mỗi câu chuyện, chớ để vẻ ngoài chính trị kia đánh lừa mà vô tình ta biến thành người lưu vong ở Kars.

Ka quay về Kars nhằm kiếm tìm hạnh phúc sau những năm dài tha hương và cũng tại đây, nhà thơ bị kéo vào một cuộc đảo chính, bị kẹp vào giữa Hồi giáo chính trị và giới quân sự Thổ. Bi kịch xảy đến buộc một người Âu hóa như ông đối mặt với sự lựa chọn tâm linh. Ông đã phải đấu tranh nội tâm rất lâu giữa việc tin hay không tin vào Thượng đế. Cho đến lúc Ka chết, tôi tin cán cân vẫn chưa ngã hẳn về bên nào. Càng bất hạnh hơn khi không những không có được hạnh phúc, Ka còn chẳng thể quay về được thời điểm bất hạnh trước kia. Cuộc đời ông cứ trượt dài trong nỗi bế tắc. Vào những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi của mình, Ka sống với nỗi âu lo bất hạnh thường trực nhưng tại những giờ khắc đen tối nhất nhà thơ lại cảm thấy hạnh phúc. Cảm xúc hỗn loạn đã đưa Ka vào thế giới đa chiều của tuyết – tinh thể sáu cánh trong suốt có tâm chính giữa với ba trục tưởng tượng xoay tròn nhiều vòng trong không trung trước khi chạm đất – niềm cảm hứng để lần đầu tiên sau bốn năm Ka mới viết được thơ, bài thơ đề tên Kar – Tuyết.

Để làm việc đó, ông vẽ ra một tinh thể tuyết riêng dựa theo hình các bông tuyết trong sách vở, sau đó ông xếp tất cả các bài thơ sáng tác ở Kars lên chỗ của chúng. Hệt như cấu trúc của cuốn thơ mới, tất cả những gì đã biến con người ông thành thi sĩ Ka, được vẽ lên tinh thể tuyết này. Theo quan điểm của ông, mỗi người phải có một bông tuyết như vậy, một dạng bản đồ tâm linh của cuộc đời. Các trục HỒI ỨC, LÝ TRÍ và TUỞNG TUỢNG Ka mô phỏng từ sơ đồ cây tri     thức con người của Bacon. Ông cũng viết rất cụ thể và tường tận về những nỗ lực của mình nhằm giải thích ý nghĩa của các điểm trên nhánh rẽ của hình lục lăng này.

Ảnh: listelist.com

Căn tính của Ka, cái chất làm nên con người ông cô đọng trong Tuyết thông qua những cái tên và những liên tưởng. Có lẽ vì vậy, định mệnh đã an bài cho Tuyết và Ka cùng một kết cục. Ông không thể hoàn thành được nó, dù sau khi trở lại Đức thời gian của ông còn nhiều. Số phận hay là Thượng đế mà ông chẳng thực lòng tin đã vĩnh viễn khép lại mong muốn hóa thân thành bông tuyết của Ka: là Ka chứ không phải là kar hay Kars, không phải là Tuyết. Trước khi kịp chạm đất, bông tuyết của ông bị cơn gió làm vỡ thành nhiều mảnh và ông sẽ mãi khuyết đi một phần của mình. Ông chẳng bao giờ tìm lại được phần linh hồn mất đi đó, bởi nó đã biến mất sau khi tuyết ở Kars tan chảy. Ôm theo sự mất mát ấy, Ka sống trong nỗi cô đơn những năm cuối đời, một cuộc đời dang dở Kars trao cho ông đồng thời lấy mất của ông. Cuối cùng tuyết sẽ lại tan. Rồi Ka chết.

Hà cớ gì Ka phải đi đến lựa chọn sống còn như vậy? Không chọn hay chọn cả hai có được chăng? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xoáy sâu vào đời sống ở Kars: Hồi giáo chính trị, nước Thổ thế tục, những chiếc khăn trùm đầu và cả về những số phận dở dang khác. Trước tiên là xung đột đức tin, và nói tới đức tin không thể thiếu Hồi giáo, thứ có vị trí đặc biệt quan trọng trong văn chương Orhan Pamuk, xuất hiện với tần suất gần như tuyệt đối. Nhưng phải tới Tuyết, tôn giáo này được đẩy lên cực độ, trở nên sống còn của toàn tiểu thuyết. Orhan Pamuk có một tình yêu đặc biệt với đất nước ông, nhà văn đưa Kars trở về màu sắc đặc trưng của Thổ Nhĩ Kỳ: cái ngã ba của thế giới, từ thành Troy cổ đại cho tới những Consantinople rồi Istanbul và những Erzurum, Kars; nơi suy nghĩ con người luôn chia làm hai như eo Bophorus vĩ đại. Tại đất nước này, người ta hoặc sống trong đức tin mãnh liệt về một Thượng đế chí tôn hoặc quay lưng lại với nó. Khi hai thái cực chẳng thể dung hòa, xung đột xảy ra và máu sẽ đổ. Cuộc đối đầu giữa hai nhân vật Lam và Sunay Zaim, những vụ khủng bố của phe Hồi giáo và những cuộc đảo chính của phe thế tục, là một ví dụ điển hình của nước Thổ. Lam và Sunay Zaim, gọi chung là nhà hoạt động chính trị, sẽ chẳng bao giờ hình dung ra hậu quả to lớn họ tạo ra từ lời nói con con. Rồi lúc bọn họ chết, thì đó là chết cho lý tưởng, cho những điều họ bảo vệ, không lâu sau sẽ trở thành những huyền thoại, tượng đài được tôn vinh kính ngưỡng. Vậy còn những người như Necip, Fazil thì sao? Đây mới là tầng lớp hứng chịu hậu quả nặng nề nhất. Cả hai chỉ là những học sinh tôn giáo trẻ trung đầy nhiệt huyết, đang sống những tháng ngày hồn nhiên nhất của cuộc đời. Ở cái tuổi ấy, Thượng đế mới manh nha tồn tại trong đức tin các cậu bé. Chẳng phải khi xưa chính Muhammad cũng phải tới bốn mươi tuổi mới nhận được thiên khải đó ư. Đoàng một phát, trái tim non nớt của Necip vỡ vụn, tôi cảm nhận được lúc ấy, tận sâu thẳm trong Fazil đã bắt đầu xuất hiện vết nứt. Chàng trai mãi mãi chẳng tìm thấy đức tin được nữa, vầng trăng lưỡi liềm chàng hằng ao ước thẫm một màu máu. Chàng gục ngã ngay trước cổng thiên đàng, thiên đàng màu trắng có bông tuyết nhỏ tan vào giữa con ngươi và Thượng đế của chàng biến mất khi còn chưa thành hình. Hỡi tuyết kia, ai cho ngươi rơi trên những ước vọng?

Với sự thật đau buồn này, tôi tin rằng Orhan Pamuk đang muốn cho cả thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây thấy rằng: Hồi giáo không phải tà giáo, và vẫn còn đó rất nhiều cậu trai như Necip, những người không bao giờ bị bạo lực vấy bẩn.

Nếu có một điểm tương đồng được tất cả những người ngồi đầu và giữa phòng     thống nhất, thì Necip nhận ra có đạn thật sau loạt súng thứ ba, song cậu lại hiểu sự kiện đó theo một hướng riêng.

Hai giây trước khi trúng đạn, cậu đứng dậy và nói đủ to để nhiều người nghe thấy (tuy không được thu vào băng video):“Dừng lại, đừng bắn! Súng có đạn thật đấy!”

Những gì mọi người trong phòng đến lúc này đã cảm thấy bằng trái tim nhưng lý trí vẫn cố cưỡng lại, thế là đã được nói ra.

Phía bên kia thành phố là Kadife và cuộc chiến giữa những chiếc khăn trùm đầu. Khác với những bạn bè đồng trang lứa của mình, Kadife không chọn cách tự tử để phản đối. Cô ví việc mình tháo khăn trùm đầu như là biểu tượng đấu tranh. Những người phụ nữ, đặc biệt những cô bé như Kadife chẳng còn có thể sống đời bình thường được nữa. Họ sống trong sự dở dang do cái bóng quá lớn của chiếc khăn tạo ra. Họ trở thành quả bóng mà dù Hồi giáo chính trị hay Nhà nước thế tục đều muốn đá về cầu môn đối phương. Chẳng ai đứng ra nhận lấy trách nhiệm về những thiếu nữ tự tử cả, chỉ toàn đổ lỗi lẫn nhau. Kadife, có lẽ cô cũng không nhận ra mình cũng chỉ là quả bóng. Cứ cho rằng cô là quả bóng gai góc đi nữa, thì điều cô làm được bất quá làm xước chân các nhà hoạt động chính trị. Cuối cùng rồi cô sẽ bị đá đi. Nếu may mắn, cô giữ được cuộc sống. Còn không, quả bóng xì hơi và xẹp xuống. Nó muôn đời nằm đó trên sân, đừng mơ có ai nhặt lấy, suy cho cùng ai lại muốn quả bóng xẹp chứ. Cho tới khi một đợt tuyết mới rơi xuống, lấp đi cái hố quả bóng tạo ra, và làm mọi thứ đều trông trăng trắng giống nhau. Dưới lớp tuyết dày, tôi tưởng chừng không thể bắt kịp những phụ nữ ấy, tuyết làm cho họ bí ẩn hơn và đẹp hơn, nhưng điều đó chỉ làm cho đàn ông say đắm họ hơn. Ka đã yêu họ, tôi cũng yêu họ.

“Ông xem xét cuộc đời quá đỗi đơn giản,” Kadife bác lại. “Thay cho tự sát vì tình, người ta chỉ cần đợi ít lâu là tình yêu sẽ không còn giằng xé. Nghèo đói cũng không phải nguyên nhân thực thụ. Những người không chịu nổi đòn roi có thể lấy trộm ít tiền của chồng rồi bỏ trốn, như thế giản dị hơn nhiều.”

“Thôi được vậy lý do thực sự là gì?”

“Tất nhiên lý do thực sự của mọi cuộc tự sát là lòng kiêu hãnh. Ít nhất thì với    đàn bà.”

“Vì lòng kiêu hãnh của họ bị tổn thương trong tình yêu?”

“Ông không hiểu gì hết!” Kadife đáp. “Phụ nữ không tự sát vì lòng kiêu hãnh của họ bị tổn thương, mà để chứng tỏ họ kiêu hãnh chừng nào.”

Như một nguyên lý nhị nguyên tất yếu, tình yêu ở Kars ra đời từ sự chia rẽ và cùng lúc sự chia rẽ làm tình yêu càng thêm mãnh liệt. Với những người phụ nữ và những người đàn ông đặc biệt như thế, dễ dàng nhận ra tình yêu giữa sẽ không đi theo logic thông thường. Đó không phải là thứ tình cảm theo kiểu phương Tây mà cũng chẳng phải ngôn tình phương Đông, nó mang màu sắc nước Thổ rõ rệt. Tại Kars, tính cách Thổ phát lộ hơn bao giờ hết trong mối tình của Ka, Ipek, Lam và Kadife.


Nếu buộc phải mô tả tình yêu ở Kars, tôi không có cách nào tốt hơn mượn bông tuyết của Ka. Trong bông tuyết của tôi, cũng có ba trục toạ độ: Lý trí, Tưởng tượng và Hồi ức; những tình cảm, những câu chuyện trên ba trục sẽ ảnh hưởng lẫn nhau tuỳ theo mức độ liên quan xa gần. Tình yêu, sẽ là tâm của bông tuyết. Nó giữ cho tinh thể trong suốt ấy xoay vòng trong không trung đủ để các trục giao thoa với nhau nhưng không đủ để xoá bỏ các trục. Sau đó nó sẽ hoặc tan chảy hoặc hoà vào tầng tầng lớp lớp các bông tuyết ngày đêm phủ lấy Kars. Kết quả tạo ra thật mỹ mãn, bức tranh tình yêu trở nên trắng và lạnh, đẹp và mờ ảo hơn bao giờ hết. Cuối cùng, khi tuyết ngừng rơi, tình yêu không biến mất mà chuyển vào những dạng hình khác bí ẩn không kém trong vòng tuần hoàn của tuyết. Rất khó duy trì một cân bằng xúc cảm tinh tế đến như vậy suốt cuốn tiểu thuyết, và Orhan Pamuk lần nữa chứng minh tài năng của ông.

Ka luôn luôn trải nghiệm một khoảnh khắc hạnh phúc trong kinh sợ, cốt để sự bất hạnh nối tiếp không quá lớn. Do vậy mà lúc này trong khi ôm Ipek – vì tình yêu thì ít mà vì nỗi sợ sinh ra từ đó thì nhiều – ông tin rằng cô sẽ khước từ ông, rằng sự gần gũi đang nảy nở sẽ đột ngột tan vỡ, và niềm hạnh phúc không xứng đáng của ông sẽ biến thành sự khước từ và tủi hổ xứng đáng, song cũng nhờ thế mà ông sẽ tìm được thanh thản cho mình.

Chỉ một mảnh ghép nữa là bức tranh hoàn chỉnh: Orhan – người kể chuyện. Cũng giống nhiều tiểu thuyết khác của mình, Orhan Pamuk lại xuất hiện trong Tuyết khi cơn bão đã tan, khi mọi việc đi đến hồi kết. Nhưng như vậy không có nghĩa là vai trò của ông không quan trọng. Nhà văn duy trì bản thể của mình ở lằn ranh giữa cái bên trong và bên ngoài, giữa thế giới tiểu thuyết và thế giới thực. Việc dung hòa hai thái cực dẫn tôi tới câu hỏi lớn về sự tồn tại: liệu một nhà văn sẽ làm đến mức nào để giữ hay loại bỏ sự hiện diện của mình đối với độc giả? Nếu ở Tên tôi là Đỏ, tiếng nói của cậu bé Orhan yếu ớt chỉ có thể cảm thán mà không thế thay đổi câu chuyện thì tại Tuyết, bóng dáng người kể chuyện Orhan Pamuk dường như có mặt trong cả tiểu thuyết mặc dù thứ ông tạo ra được chỉ là những dòng tự sự từ ký ức của thi sĩ Ka bạn ông. Điều này tạo cho tôi một nghi ngờ liệu rằng đó có phải là Ka hay là Op (rút gọn theo cách của Ka) hay phải chăng Ka chính là Op. Tuy vậy, tôi không cố đào sâu tìm hiểu chân tướng vì đó có thể là cạm bẫy hay lối cụt mà một khi dấn bước, tôi sẽ tìm thấy con người khác không chỉ của Ka hay Op mà còn của tôi. Tôi càng nghi ngờ hơn và càng không dám nghi ngờ. Tôi chấp nhận rằng cũng như tôi, Op đã bỏ một phần của ông ấy lại ở Kars.

Ảnh: IMDb.com

Để kết thúc, tôi xin mượn lời Fazil nói với Orhan ở cuối tác phẩm:

“Nếu ông để tôi xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết nói về Kars thì tôi muốn nói với độc giả rằng họ không nên tin những gì ông viết về tôi, về tất cả chúng tôi. Không ai hiểu được chúng tôi khi xa cách như thế.”

Vì vậy bạn cũng đừng tin tôi mà hãy dấn thân vào Tuyết để tìm niềm tin của riêng mình.

Hết.

3V

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


1 Comment

1 Bình luận

  1. Thiện Quang

    Tháng Sáu 8, 2019 at 5:14 sáng

    Hay quá bạn ơi!
    1 like cho bạn hihi

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam – Một nghiên cứu tiên phong

Published

on

By

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại của các tác phẩm mang đậm tính lịch sử viết về Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, khi không chỉ một mà có đến ba công ty xuất bản ra mắt cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của bác sĩ Hocquard. Ngoài những dòng hồi ký đầy thấu hiểu cùng sự đồng cảm sâu sắc với nền văn hóa dài lâu, vẻ vang và tinh tế của người An Nam; có lẽ ít ai biết được bác sỹ Hocquard cũng chính là một nhiếp ảnh gia tài năng và vô cùng xuất sắc của nền nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 19.

Và những bất ngờ ấy sẽ được tiết lộ trong tác phẩm Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam (tựa gốc Early Photograph in Vietnam) của tác giả Terry Bennett - tác phẩm đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kì đầu viết bằng Anh ngữ. Trong tác phẩm truy nguyên về hơn 100 năm lịch sử nhiếp ảnh này, Terry Bennett bằng những nghiên cứu sâu sắc và đầy cảm hứng đã tìm về kho tư liệu khổng lồ nhưng bị phân tán rải rác khắp nơi, để đưa ra một niên biểu và những cá nhân mang đậm dấu ấn vô cùng đặc biệt của ngành khoa học – nghệ thuật còn mới chớm manh nha ở Việt Nam ngay thời kì đó.

MỘT LỊCH SỬ ĐẦY BIẾN ĐỘNG

Có thể thấy nhiếp ảnh Việt Nam gắn liền với một quá trình lịch sử dài – tham vọng bành trướng thuộc địa của Pháp trên toàn châu Á. Bắt nguồn từ những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai, từ đây người Pháp lún sâu vào trong can thiệp quân sự, và cũng từ đó ngành nhiếp ảnh dần dần du nhập vào nước ta, mở đầu là bởi những người ngoại quốc.

Tấm hình đầu tiên được chụp ở Việt Nam rất có thể là của nhiếp ảnh gia Jules Itier, một thanh tra hải quan, chụp pháo đài Đồn Hai vào năm 1845 ở Đà Nẵng. Ông theo một đoàn người Pháp đàm phán đòi trả tự do cho các giáo sĩ thừa sai bị bắt bớ, và với nhiệm vụ thăm dò để xây dựng cảng ở Biển Đông, chính ông cũng không thể ngờ với khoảnh khắc mạo hiểm ấy sau này mình sẽ trở thành người then chốt nhất trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett
Hương Ký. Mẹ và con, những năm 1920, ảnh in trên giấy tráng bạc, thuộc bộ sưu tập cá nhân tác giả.

Tập trung vào trong thời kì thuộc địa, bắt đầu từ khi người Pháp bước đến năm 1850 và kết thúc vào năm 1950 khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Terry Bennett đầy thận trọng và khách quan đã chứng minh được nhiếp ảnh của thời kì đầu không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp người Pháp tác nghiệp không chỉ thỏa mãn mỗi niềm đam mê, mà ở họ còn là những mục đích thương mại. Đầu năm 1863 theo chân làn sóng đổ đến Saigon làm ăn và sinh sống, kéo theo số lượng ngày càng tăng các nhà truyền giáo và nhân viên ngoại giao, từ đó số lượng hiệu ảnh thương mai cũng ngày càng tăng.

Các nhiếp ảnh gia của thời kì này cần rất nhiều yếu tố để có thể tồn tại và phát triển một hiệu ảnh độc lập. Họ cần có tài chính vững vàng mà bên cạnh đó là tài năng cũng như khả năng quảng giao, tiếp thị và óc kinh doanh nhạy bén. Sang đầu thế kỷ 20, với sự cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của những hiệu ảnh bản xứ, những nhiếp ảnh gia người Pháp ngày càng bị thu hẹp thị trường, và phải phụ thuộc phần nhiều vào các hoạt động buôn bán thiết bị nhiếp ảnh, hoặc thắng các gói giao thầu của chính quyền thuộc địa ưu tiên cho người Pháp.

NHỮNG ANH HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Nếu tấm hình đầu tiên được chụp vào năm 1845 ở Đà Nẵng, thì người đầu tiên chụp hình chân dung sớm nhất tại Việt Nam với hình ảnh các chức sắc Nam Kỳ là nhiếp ảnh gia Paul-Émile Beranger. Ông cũng đồng thời là người đầu tiên chụp ảnh vùng Sài Gòn trong cuộc chuyển hướng tiến công xuống phía Nam của tướng Rigault de Genouilly trên tàu Catinat.

Ngoài những cái tên đặt nền móng đầu tiên cho nhiếp ảnh Việt Nam thì cũng không thể không nhắc đến Émile Gsell – người quan trọng và nổi bật nhất trong số các nhiếp ảnh gia ngoại quốc. Là người từng ghi hình lại những điều kỳ vĩ ở cả Việt Nam và Cao Miên, Dieulefils – gã khổng lồ của nhiếp ảnh Đông Dương cuối thế kỷ 19 cũng là một nhân vật quan trọng khác, mà tập ảnh Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt trong thời gian qua.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett anh
Émile Gsell. Ảnh tổng hợp chân dung, khoảng năm 1870, in trên giấy bạch đản, thuộc bộ sưu tập tác giả

Bác sĩ Hocquard phục vụ trong chiến tranh Pháp – Thanh cũng là người đầu tiên có đặc quyền chụp ảnh cho một vị Hoàng đế - vua Đồng Khánh. Với những tấm ảnh đạt được độ sâu cũng như tư tưởng vô cùng trân trọng các giá trị truyền thống, ông được ca ngợi là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 19, và xứng đáng được ca ngợi ở cả phương Tây lẫn Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nhiếp ảnh gia cả chuyên nghiệp và nghiệp dư người bản xứ cũng được nhắc đến trong cuốn sách này. Hiếm có ai ngờ những tri thức như Trương Vĩnh Ký cũng có thời gian từng mở hiệu ảnh nếu như không có những nghiên cứu sâu của Terry Bennett. Bên cạnh đó, Khánh Ký – ông tổ của nghề nghiếp ảnh Việt Nam, người phái sinh và phát triển lối chụp ảnh chân dung trong nhà cũng được đề cập. Hiệu ảnh Hương Ký, cụ Nguyễn Lan Hương – người sản xuất bộ phim đầu tiên với lối chụp ảnh tối tân và luôn thay đổi mỗi năm khác nhau, cũng là một chứng nhân khác cho những con người từng làm nên một thời lịch sử của nhiếp ảnh nước nhà.

*

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam có thể nói là cuốn sách đầy thú vị và nhiều cảm hứng với những truy nguyên từ trong lịch sử. Là một nhà nghiên cứu ngoại quốc thế nhưng Terry Bennett đã làm được rất nhiều, để tìm lại về những nền nhiếp ảnh không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy còn nhiều khó khăn trong việc định danh những nhiếp ảnh gia bản xứ và giới chuyên nghiệp người Pháp, thế nhưng có thể nói đây là một nghiên cứu vô cùng tiên phong. Và với những gì tác giả đưa ra, ta đã có cái nhìn vô cùng khách quan về bối cảnh thời đó, và những biến động trong ngành nhiếp ảnh, cũng như những người tiên phong nhất cho ngành khoa học này.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng