Phía sau trang sách

Bình địa trong lửa (Juan Rulfo): Một cõi đọa đày

Published

on

Bình địa trong lửa (Juan Rulfo)

Pedro Páramo là tác phẩm vĩ đại của văn chương Mỹ Latin, khi nó là cái nôi để thai nghén nên Trăm năm cô đơn và đồng thời là dấu mốc đưa Juan Rulfo trở thành một trong những người tiên phong mở khóa địa hạt văn chương còn nhiều bí ẩn này ra với thế giới. Nếu Pedro Páramo đã được chuyển ngữ từ những năm 1987, thì Bình địa trong lửa – tập truyện ngắn với tầm quan trọng không kém – chỉ gần đây mới được giới thiệu và xuất bản tại Việt Nam. Thời gian chờ đợi là một quãng dài, nhưng không hề phung phí cho một trước tác vô cùng tuyệt diệu.

Có thể nói, Bình địa trong lửa là một tác phẩm phản Páramo một cách toàn diện. Sinh thời chỉ cho ra mắt hai trước tác lớn trước khi cơn bĩ cực ập đến, nhưng cả hai tác phẩm của Juan Rulfo đều chiếm được vị thế vô cùng quan trọng. Trong khi Pedro Páramo tiếp cận người đọc bằng bầu không khí hiện thực kỳ ảo vô cùng mới lạ (ở thời điểm đó), thì Bình địa trong lửa là áng văn hiện thực sâu cay nhưng đầy chán chường vì nỗi tuyệt vọng. Trường nghệ thuật của hai tiểu thuyết này như hai tinh cầu song song trong một bối cảnh và mặt nội dung khá tương đồng, khi ta thấy được một Mexico vô cùng ngột ngạt như xứ địa ngục trần gian với những biến động chính trị – xã hội sục sôi âm ỉ, chìm ngập trong đó còn là thân phận con người bé nhỏ mà đầy tham vọng.

Nếu Pedro Páramo tiếp cận người đọc bằng bầu không khí hiện thực kỳ ảo vô cùng mới lạ (ở thời điểm đó), thì Bình địa trong lửa là áng văn hiện thực sâu cay nhưng đầy chán chường vì nỗi tuyệt vọng. 
Ảnh: Phanbook

Một cõi bình địa

Với hình thức một tập truyện ngắn, Bình địa trong lửa là lăng kính soi chiếu rất nhiều góc nhìn qua một đất nước Mexico khắc nghiệt và đầy gian truân. Đó có thể là chốn bình địa méo mó, cằn cõi và đã vôi hóa, nơi gió cũng không còn đủ để gom một cơn mưa bụi. Nhưng cũng đồng thời là xứ sở của mưa như trút làm hư đống mạch, giết chết gia súc, tan hoang cửa nhà.

Ở vùng được gọi là San Juan Luvina ấy, một cõi luyện ngục lần dò mở ra. Đó là vùng đất nơi chó cũng chết và không còn gì để sủa vào sự im lặng. Là nơi im lìm tồn tại mọi sự cô quạnh, nơi gió chỉ hút vào những tiếng động. Nơi cũng chỉ còn lại người già và những đứa trẻ chưa hề ra đời; nơi chỉ đàn bà ốm yếu, gầy guộc và da bọc xương. Nơi đàn ông có trời mới biết đi đâu về đâu mà khi trở lại chỉ với một bao thực phẩm và vừa kịp gieo thêm một đứa trẻ thành ra quy luật. Là nơi mà một buổi chiều đứa bé sinh ra, thì sáng hôm sau đã thành đàn ông kịp cầm cuốc xẻng.

Mexico đón người ta bằng cơn gió lạnh, những trận động đất, bằng làn sương giá. Như thế họ cho chúng tôi đất. Trên cái thứ nóng như vỉ nướng này họ muốn chúng tôi gieo hạt, bất cứ loại hạt nào, chỉ để xem nó có thể nảy mầm và sinh sôi. Nhưng mà sẽ chẳng có gì có thể sống được ở đây. Cứ thế một cõi đọa đày mở ra trong các nhân vật, khiến họ biến chất, không còn logic, tất cả chảy tràn trong họ là những dòng máu đã sủi bọt tăm của những tị hiềm, ganh ghét và đối nghịch.

Nhân gian đảo ngược

Cũng chính trong cái ngột ngạt của vùng đất ấy, cộng thêm chế độ chính trị luôn luôn chông chênh thì giá trị con người cũng kịp lăn xuống đến mức thấp nhất. Bình địa trong lửa quét qua khoảng dài lịch sử từ khi Mexico oằn mình dưới thời quá độ cách mạng chống địa chủ, cùng lúc chế độ độc tài đang còn thị oai; thì cảnh lầm than vẫn luôn chồng chất. Trong tập truyện ngắn này ta đã bắt gặp không chỉ một lần những cảnh chém giết đầu rơi máu chảy, đạn nã sâu hoắm vào những thân người từ trong cuộc chiến, một cách vật lý hay là vô hình cũng dễ nhận ra.

Đó có thể là những tàn dư trong cách mạng ruộng đất khi giới địa chủ lại một lần nữa ngoi lên cái tua dài rộng cướp bóc những thương vụ lớn như nhà Toricco. Mà cũng có thể chì vì lũ lụt mất đi chú bò hồi môn dẫn con người ta vào đời đĩ đượm do đã quá nghèo. Đó cũng có thể là những hằn thù hay nỗi tị hiềm để rồi ganh ghét trở nên bạo tàn, đến mức họ còn giết hết cả một gia đình để rồi dằn vặt vì sự ghê tởm của bản thân mình “phải vác hết sức nặng của người thứ ba lên lung không đáng chút nào. Người chết nặng hơn người sống; nó sẽ đè bẹp ta mất”.

Chính trị biến động càng làm tăng thêm sự điên cuồng ấy. Truyện ngắn Bình địa trong lửa khắc họa những cuộc đối đầu giữa quân chính phủ, quân liên bang và quân cách mạng đã thể hiện điều này trực diện nhất. Chính sự tàn bạo trong dòng giống người đã đẩy người ta đến một mức độ tàn sát lẫn nhau, quây sân đấu bò để mà giết lính đi theo phe khác. Họ như trở về thời La Mã cổ, họ treo người chết để chim ó ăn đi hết nội tạng và rồi chết mục như Prometheus của Hy Lạp cổ. Chiến tranh tang tóc, chiến tranh đau thương biến con người ta đui mù mà không nhận ra một điều gì khác.


Thế nhưng không chỉ ở trong cuộc chiến, bi kịch gia đình cũng luôn là thứ chứa đựng biết bao những sự xấu xa còn luôn ẩn giấu. Đó có thể là những tình cảnh cha giết con, con giết cha không thể thoát ra; là những đồng chí sát cánh bên nhau nay giết chết nhau chỉ vì bãi cỏ chăn bầy gia súc. Đó cũng có thể là ngã tuyệt vọng khi dắt dìu nhau trên đường chữa bệnh, để người anh trai và cô em dâu nảy sinh tình cảm, là người cha già cõng con trai mình dù cho chính y đã giết chết đi người vợ ông yêu…

Những mối quan hệ không có đường thoát giữa cha – con trai xuyên qua bóng hình người mẹ chết trẻ luôn luôn trở lại trong các sáng tác của Juan Rulfo. Từ Pedro Páramo là chuyến hành trình đi tìm người cha, cho đến con trai giết cha ở trong cuộc chiến vì sự căm ghét ông dành cho cậu là những bi kịch không thể vượt thoát. Ở đó còn là hôn phối cận huyết cha và con gái – người cha lầm lạc nhưng luôn hiển hiện là một vị thánh, là gã điền chủ với cô cháu gái còn rất ngu ngơ…

Địa hạt khô khốc, tâm tính mục ruỗng được Juan Rulfo dồn nén vào đây như một quả cầu trở nên nặng nề bởi sự tàn bạo. Đó còn có thể là sự vô luân của nền độc tài khi ngài thống đốc đến ngay sau cơn động đất, mà việc ông làm không có gì hơn là ăn gà tây mút hết cả xương, bánh tortilla, một trận chè chén với suối rượu punch khi khăn trải bàn đã nhuộm đỏ thẫm. Trên chính vùng đất đã bị tàn phá bởi cơn động đất không thể lường trước, ngài đã để lại khoản nợ 4000 peso bằng sự gia ân chuyến viếng thăm đó. Một vùng tàn suy, con người nhỏ bé; xứ Mexico vang lên đớn hèn.

Phong cách Juan Rulfo

Một điểm nổi bật trong suốt tập truyện ngắn là ta có thể nhìn nhận những cốt truyện này theo hai hướng nhìn: một rất thực tế và một của những tưởng tượng. Nếu trong Họ cho chúng tôi đất, Juan Rulfo tập trung viết về những điều bất công, những sự vô luân của chính quyền ấy khi phân chia đất đằng sau cách mạng; thì đồng thời một mặt nào đó, ta cũng thấy được là những điềm báo ông đã đoán định trong những hình tượng của truyện ngắn này. Từ dáng hình của những ngôi nhà, làn khói xa xa do gió mang đến cho tới hạt mưa đơn côi mong trận mưa rào… Nhưng rồi mây tan không còn gì cả, còn nhà còn làng ở tít đằng xa chỉ như dự đoán cho một tương lai đầy cảnh đẹp đẽ chỉ là huyễn hoặc.

Ảnh: COLETTE URBAJTEL 

Hơn nữa, Juan Rulfo hầu như dửng dưng trong suốt những bi kịch kể lại. Ông xem những điều đang dâng trước mắt như lẽ hiển nhiên, như đời tầm thường; để rồi từ đó ông viết chính về cái chết, về cái vô luân, cái vô đạo đức vô cùng nhẹ nhàng mà đầy mục ruỗng. Lạnh tanh và thiếu sức sống, ông kết hầu hết những truyện ngắn này bằng câu đầy sức mạnh, như thể “Nơi Bình địa mà họ cho chúng tôi còn ở xa phía trước” hay “Như thể bất thình lình chúng bắt đầu nảy nở để mang em gần hơn vào kiếp đọa đày này”. Những câu bỏ lửng mà lạ lùng thay, lại rất thâm sâu và nặng tình nhất.

*

Trong một bài phỏng vấn vào năm 1978, Juan Rulfo từng nói rằng tuổi thơ của mình rất bất hạnh và khắc nghiệt khi sống ở một đất nước nơi sự tàn phá lan tràn xứ sở. Ông chưa bao giờ hiểu được logic của những hành động tàn ác, bạo lực trong suốt thời kì cách mạng dẫn đến cái chết của từng người một trong gia đình mình – và Bình địa trong lửa cũng chính là lời tự bạch những tội ác ấy, những mất mát ấy khi chúng vẫn đang lan ra quê hương bé mọn.

Với Bình địa trong lửa, một Rulfo lạ lẫm mà đầy khắc khoải hiện ra trước mắt người đọc. Ở đó, ta thấy được một xứ hoang tàn ở nơi tận cùng thế giới với đất hoang hóa, tự nhiên khắc nghiệt, nơi con người ta vẫn đang rủa xả chém giết lẫn nhau trong cuộc cách mạng tranh giành những điều vô lý. Phản Páramo nhưng cũng quan trọng không kém; một đời ngắn ngủi nhưng hai trước tác thực sự vĩ đại.

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Pedro Páramo: Tác phẩm viết về và viết bởi cái chết

Phía sau trang sách

Chuyện đời Sương: Một góc nhìn về xã hội Hàn Quốc

Published

on

Bạn có bao giờ tự hỏi, mọi quyết định xảy ra với mình là kết quả của định mệnh hay là những lựa chọn của chính bản thân? Liệu định mệnh sẽ/đã đưa bạn gặp nửa kia của đời mình hay do những lựa chọn của bạn? Là do định mệnh hay lựa chọn mà bạn chọn đọc cuốn sách/bài viết này này?

Chuyện đời Sương (Suh Song Nan) kể câu chuyện của cô gái người Việt với cái tên bình thường Nguyễn Thị Sương, xinh đẹp, khỏe mạnh, sinh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, chọn lựa rời bỏ quê hương để làm dâu xứ Hàn. Ngoài ra, câu chuyện còn đan cài số phận của những con người ở làng Gail, những người ở thành thị Jang và Lee Ryeong là đại diện chính, Sương là một mắt xích tình cờ trong câu chuyện. Một câu chuyện với những tình tiết bình thường, không thật sự có cao trào nhưng bên trong những con chữ là sự cuộn sóng và những âm ỉ trong tâm tưởng của nhân vật. Mộng và thực, quá khứ và hiện tại, suy nghĩ và hành động. Cứ bình thường, bình thường như vậy thôi, trên con thuyền chở đầy chữ lênh đênh cùng dòng suy tưởng của các nhân vật, bạn đọc lật giở từng trang sách cho đến cuối cùng, mọi chuyện được sáng tỏ… nhưng vẫn để lại những nuối tiếc.

Những dòng tiếp theo sẽ tiết lộ kha khá nội dung truyện.

Số phận của phụ nữ bị cái gì quyết định thế?

Theo thống kê từ một nghiên cứu của tạp chí Newsweek được xuất bản năm 2011, Việt Nam xếp thứ 45, Hàn Quốc xếp thứ 80 trên tổng số 165 quốc gia tham gia khảo sát về quyền và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Người phụ nữ gần như không có tiếng nói ở các nước Á Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng.

Lấy chồng, kết hôn, sinh con, chẳng phải cuộc đời một người phụ nữ bình thường nào cũng vậy sao? Người phụ nữ khi lấy chồng sẽ thuộc về nhà chồng, họ sống vì bổn phận chứ không còn vì cá nhân mình nữa. Ta có thể thấy qua người mẹ trong Hãy chăm sóc mẹ, Kim Ji Young trong Kim Ji Young, Sinh năm 1982 và Sương hay Jeong Ha trong tác phẩm này, họ trở nên kiệm lời, ít nói và dần vô cảm. Chúng ta vẫn thường nghe các chị kháo nhau lấy chồng như đánh một canh bạc, ai may mắn thì trúng lớn, ai xui thì thua hết vốn liếng.

Không ai có quyền quyết định quê hương, cha mẹ hay giới tính của mình. Điều họ có thể làm là nỗ lực để cuộc sống tốt hơn.

Sương bỏ quê đến miền đất hứa, những mong tương lai tươi sáng hơn; cô mơ về một gia đình hạnh phúc, với ngôi nhà khang trang, có chồng yêu thương, có những đứa con nhỏ, một mảnh vườn để trồng vài loại cây. Khát khao đó có chính đáng không? Có chứ. Nhưng Sương quên mất rằng, hạnh phúc của bản thân đâu thể nào đặt vào tay kẻ khác, đâu thể nào để kẻ khác quyết định thay mình được.

Sương mơ về chốn thị thành xa hoa, cô thất vọng vì Quốc, người thầm yêu cô nhưng không bao giờ dám thổ lộ, xem thường khi anh không lên thành phố mà mãi quẩn quanh ở vùng sông nước nghèo. Sương có tham vọng, có ước mơ, có chính kiến. Cô dám đi, dám làm và dám gánh hậu quả do quyết định của mình mà không một lời kêu ca. “Nhập gia tùy tục”, khác nhau về ngôn ngữ, cách sinh hoạt, khí hậu… nhưng cô đã thích nghi rất tốt, sau bảy năm làm dâu, cô đã nói tiếng Hàn chuẩn như người bản xứ, nấu món Hàn như một người phụ nữ Hàn thực thụ, đến người làng cũng tấm tắc khen.

Khi không còn hy vọng, Sương làm các công việc hằng ngày như một cái máy, chỉ dám mơ những điều mình thích trong tâm tưởng. Sương hoàn toàn có cơ hội chạy trốn khỏi làng quê nghèo khổ đó nhưng cô không chọn bỏ chạy khỏi nơi đây. Sương như loài hoa rừng hằng ngày Lee Ryeong vẫn ngắm, vừa xinh đẹp rực rỡ, vừa ấm áp nhưng cũng âm thầm. Sương mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại vô cùng.

Ranh giới của yêu và ghét, thiện và ác thật mong manh

Sẽ ra sao nếu một ngày con người, khi mà nỗi đau nuốt trọn tâm trí họ, khi hy vọng bắt đầu bị bóng tối thế chỗ? Liệu những gì tốt đẹp nhất làm nên một con người có trường tồn, hay nó cũng sẽ phai dần cùng những mất mát?

Chồng Sương - Jong Tae, không phải là người xấu. Nhưng anh là kẻ nhu nhược. Anh để mẹ đánh đập, mắng nhiếc vợ dù cô chẳng làm sai gì cả; cách duy nhất anh bảo vệ Sương là để cô trốn sang nhà hàng xóm. Đã có lúc anh quan tâm, yêu thương vợ, anh thấy có lỗi vì đã nói dối Sương khi anh hơn cô 20 tuổi nhưng lại bảo chỉ 10 thôi. Anh muốn bù đắp cho Sương bằng những món quà, dù chỉ là những thứ mĩ phẩm rẻ tiền mua trên phố nhưng an ủi Sương biết bao. Anh chu đáo gói phần quà nhỏ gửi về cho ông bà Sương ở Việt Nam. Những định kiến về quan niệm ăn sâu vào người đàn ông đó, chứ có phải bản chất họ xấu xa đâu.

Khi biến cố xảy ra, hắn ta trở thành một con người khác, triền miên trong những cơn say, đánh, chửi, đổ lỗi lên Sương. Rượu đem đến cho hắn cảm giác giải thoát, làm hắn ta trở nên mất trí, thờ ơ trước khổ đau của Sương, thậm chí làm nên những việc ác. Và Jong Tae đã trở thành một kẻ độc ác vì rượu và cả sự hoài nghi.

Họ không có bằng chứng để kết tội nhưng họ dồn ánh mắt nghi ngờ, đổ lỗi lên Sương. Người duy nhất có thể làm chứng - chú Dong Joo lại bị câm, bà Park - mẹ chú cũng lờ đi những hành động của con trai mình. Ranh giới giữa thiện và ác thật mong manh, sự im lặng đã đẩy một người vô tội đến đường cùng. Không phải một lần mà đến tận hai lần, ngọn lửa đã thiêu rụi hy vọng của Sương, những tàn tro và oan khuất từ vụ chạy đầu tiên vẫn còn đủ để một đốm lửa hy vọng lập lòe, để cô sống, tiếp tục nuôi niềm tin về tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng ngọn lửa lần này đã thiêu rụi toàn bộ, thiêu rụi căn nhà trắng, Lee Ryeong và tất cả. Nó cũng lấy đi tiếng nói của Sương. Chẳng còn gì.

Lối sống làng xã ăn sâu và gốc rễ người làng quê

Sương là sở hữu chung của dân làng, những ánh nhìn soi mói của người làng luôn nhìn vào cô, chỉ cần có một hành động sai thôi, cả làng sẽ lên án và vớ lấy lý do “người ngoại quốc” để từ chối nhận cô. Dù ở làng Gail hơn 10 năm nhưng không có hộ khẩu Hàn, mà cho dù có thì đời đời kiếp kiếp cô chỉ là “kẻ ngoại quốc” mà thôi. Dân làng cũng chẳng ưa Jang và Lee Ryeong dù họ mang quốc tịch Hàn, sinh ra và lớn lên ở Hàn nhưng họ chỉ là người giàu về đây chiếm đất.

Những suy nghĩ đâm sâu, cắm rễ trong tâm trí họ, họ không chấp nhận một người ngoại quốc, một người thành phố đến sinh sống ở đây.

Hai người phụ nữ đối lập nhưng cũng thật giống nhau

Nhờ trưởng thôn giới thiệu, Sương đã đặt chân vào ngôi nhà trắng làm người giúp việc. Lúc đầu tôi nghĩ, “Chuyện đời Sương” mà sao những trang viết chiếm sóng của Jang và Lee Ryeong nhiều quá trời vậy? Rồi ai mới là nhân vật chính đây? Nhưng có lẽ, mọi thứ đều mang ý nghĩa riêng, chỉ là chúng ta hiểu như thế nào, hiểu đúng nó hay không thôi. Ngôi nhà trắng Lee Ryeong sống là ngôi nhà ao ước của Sương, ngôi nhà cô thấy trong những thước phim cổ tích, trong tưởng tượng. Hai người phụ nữ, họ đều có những nỗi khổ riêng. Sương sống trong sợ hãi đến mức phải trốn chạy sang nhà bà Park mỗi lần mẹ chồng đánh, đến lúc mẹ chồng qua đời lại là những trận đòn roi của chồng, Sương làm việc bục mặt để trang trải phí sinh hoạt, để nuôi người chồng nát rượu mà chẳng hề ta thán nửa lời. Còn Lee Ryeong, quá khứ của cô quả thực không dễ dàng, khi lấy Jang, cuộc sống cô ổn hơn, hạnh phúc chưa được bao lâu thì tai họa ập đến, cô phải sống với bệnh của mình. Thay vì kiên cường cô chọn trốn tránh, một cái xác không hồn trong căn phòng cánh cửa nhỏ như tờ giấy A3 và tối đen. Cô gái ngoại quốc đã kiên cường hơn, có lẽ vì cô khao khát được sống hơn, vì cô có một ước mơ, một hy vọng về tương lai đổi khác. Chỉ cần còn niềm tin, con người ta vẫn có thể vươn lên.

Sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người, khi chúng ta không tìm được hạnh phúc, khi sự thất vọng với thế giới khiến con người muốn tìm một thế giới riêng, trong xã hội đầy những nguyên tắc, đè nén thì sự vươn lên của Sương chính là một điều đáng trân trọng. Sương và Lee Ryeong sắp gặp nhau ở thế giới giao thoa, nhưng mọi thứ dang dở đầy tiếc nuối.

Ngôi nhà trắng: Khi tất cả đều hóa tàn tro

Ngôi nhà trắng là ngôi nhà mơ ước Jang dành cho Lee Ryeong, anh đã xây nó làm món quà cầu hôn người con gái đặc biệt, đó cũng chính là ngôi nhà trong những thước phim Sương mơ về trước ngày sang Hàn. Nó xuất hiện với xứ mệnh tốt đẹp biết bao nhưng chẳng có gì hoàn hảo cả. Giữa vùng quê nghèo, ngôi nhà trắng khang trang giàu có là cái gai trong mắt người làng, nó cũng vô tình là bước đẩy Lee Ryeong bị tai nạn. Từ sứ mệnh tốt đẹp lúc đầu, nó trở thành nơi giam cầm Lee Ryeong. Nhưng nó chính là mắc xích quan trọng kết nối câu chuyện. Để Sương gặp họ, để những mối giao cảm giữa những con người xa lạ thật gần gũi. Họ chưa hề trực tiếp ngồi nói chuyện với nhau; chỉ trong tâm tưởng thôi nhưng ta có thể cảm nhận được. Ngôi nhà cháy, tất cả đều hóa tàn tro, thân thể của Lee Ryeong, niềm hy vọng của Sương. Nhưng nó cũng là sự giải thoát, không biết đúng hay sai khi tôi nghĩ, nó giải thoát Jang, dù anh còn yêu Lee Ryeong nhưng là cô của trước kia, một nữ nhà văn khác biệt, viết vì chính mình chứ chẳng vì ai cả. Nó giải thoát Lee Ryeong trước nhưng tiếng kim loại ing tai trong đầu. Điều đó cũng chấm dứt cuộc đời làm dâu, làm vợ nơi xứ Hàn của Sương. Như một chuỗi vòng kết bằng sợi dây mỏng mảnh, ngọn lửa bùng cháy đốt hết tất cả.

Kết.

Câu chuyện không có sự chênh lệch giàu nghèo như trong Parasites, cũng không có những kịch tính mẹ chồng nàng dâu, motif bệnh ung thư… Ở đó chỉ có những con người với cuộc đời bình thường nhưng đủ để phơi bày hiện thực của ảo vọng đổi đời khi lấy chồng Hàn. Cô dâu Việt dưới ngòi bút của tác giả Suh Song Nan không mạnh về sự kiện, hành động hay lời thoại, xuyên suốt cuốn sách có những góc nhìn đan xen giữa các nhân vật. Nếu bạn đặt kì vọng quá lớn về cuốn sách kể chuyện làm dâu, những drama Hàn thì có lẽ, cuốn sách sẽ làm bạn thất vọng đấy. Nhưng không có nghĩa nó không đáng để đọc, để gặt hái những “quả chiêm nghiệm”, để lắng lòng suy nghĩ về số phận người phụ nữ, về cuộc đời của một con người, tác phẩm này là một sự lựa chọn không tồi.

Hết.

Tài liệu tham khảo:

  1. Suh Song Nan (2021) “Chuyện đời Sương nàng dâu Việt ở xứ Hàn”, NXB Phụ Nữ Việt Nam.
  2. Wikipedia (2021) Xếp hạn nữ quyền theo các quốc gia, truy cấp 18/10/2021: https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n
Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Always Day One – Cái nhìn trực diện về “thành công”

Vì sao Amazon thành công? Vì sao Apple dần thoái trào? Và vì sao Yahoo!, Firefox… biến mất?

Published

on

By

always day one - cong thuc thanh cong cua amazon, Facebook, Google, Microsoft

“Bạn không ngừng cố gắng làm cho mình bị thất nghiệp. Bạn không nên làm một việc gì đó lặp đi lặp lại, hết ngày này qua ngày khác. Một khi bạn làm một việc như vậy thì bạn cần tìm cách để sáng tạo và đơn giản hóa việc đó.” - Lời khuyên Bezos dành cho nhân viên của mình, cũng như là mục tiêu mà ông hướng tới. Những “ngày đầu tiên” mà sáng tạo luôn được đặt lên hàng đầu.

Những cái tên thân thuộc như Yahoo!, Internet Explorer, Firefox,... ắt hẳn không có gì xa lạ với các thế hệ 8x, 9x. Những tiện ích trên đều là kỉ niệm và người đồng hành tuyệt vời của chúng ta. 

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chúng ta ít khi nào bắt gặp những cái tên ấy nữa. Thay vào đó, mọi người luôn tất bật với Facebook, học hỏi nhiều điều mới mẻ với Google hay mua sắm mọi thứ với Amazon. Liệu trong tương lai chúng ta có thể nhìn thấy những cái tên khác không? Hay liệu những “gã khổng lồ công nghệ” này sẽ thống trị nền công nghệ của thế giới mãi mãi? 

Để có một góc nhìn toàn diện hơn về sự phát triển của thế giới công nghệ, hãy cùng lắng nghe câu chuyện được tác giả Alex Kantrowitz kể thông qua quyển Always Day One.

Xây dựng một nền văn hóa thành công

Kantrowitz đề cao văn hóa làm việc. Các tổ chức, công ty, hay doanh nghiệp giống như những xã hội thu nhỏ vậy. Việc doanh nghiệp đó có tỏa sáng và đứng vững hay không phụ thuộc rất nhiều vào phương cách lãnh đạo và sự tương tác lẫn nhau giữa những “công dân” trong doanh nghiệp ấy. Vậy tại sao văn hóa tại nơi làm việc lại đóng vai trò quan trọng?

Trước tiên hãy nhìn vào nền văn hóa hoàn thiện của Apple. Trong khi các doanh nghiệp đang từng bước thích nghi với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và áp dụng chúng vào hệ thống của mình, mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác thì Apple vẫn đang tập trung hoàn thiện hai sản phẩm của mình là iPhone và Mac PC. Tuy nhiên, việc sở hữu một chiếc iPhone mới nhất bây giờ không mấy quan trọng nữa, như nhiều người nhận xét: “Tôi thấy iPhone 8 là đủ rồi.” Chúng ta có nhiều sự lựa chọn thay thế với giá cả hợp lý mà vẫn đáp ứng được những tiện ích cơ bản. 

Tại Apple, việc phát triển sản phẩm diễn ra trong bí mật. Nhân viên ở bộ phận này sẽ không biết được quá trình hay kế hoạch làm việc của bộ phận khác. Phương cách làm việc này là một con dao hai lưỡi, từng giúp Apple tỏa sáng một thời, nhưng giờ đây lại làm Apple đứng trước nguy cơ bị chôn vùi giữa vũ trụ công nghệ ngày càng đa dạng. 

Sự thất vọng từ chiếc HomePod chẳng-khác-gì-Siri-dạng-loa cũng như tương lai không mấy tươi sáng của chiếc ô tô tự lái Apple Car có thể khiến công ty này trượt khỏi đường đua bất cứ lúc nào, nếu Apple cứ khăng khăng giữ vững cách làm việc độc lập và thiếu giao tiếp giữa các bộ phận.

Vì sao Amazon thành công? Vì sao Apple dần thoái trào? Và vì sao Yahoo!, Firefox... biến mất?
Always Day One - Alex Kantrowitz.

Vậy chúng ta có gì trong nền văn hóa của những gã khổng lồ? Nổi bật nhất có thể kể đến nền văn hóa sáng tạo của Jeff Bezos tại Amazon, nền văn hóa phản hồi của Mark Zuckerberg tại Facebook và nền văn hóa hợp tác của S.Pichai tại Google.

Amazon có những bản đề xuất ý tưởng đến từ nhân viên của tất cả cấp bậc, và những ý tưởng này luôn được lắng nghe và có cơ hội được biến thành hiện thực; tại Facebook, bạn luôn nhận được những phản hồi chân thành, đồng thời, phản hồi của bạn cũng sẽ được nghiêm túc cân nhắc; ở Google, ta dễ dàng thấy được sự liên kết chặt chẽ và tinh thần hợp tác mạnh mẽ. Cụ thể, chúng ta có thể lưu, chia sẻ và chỉnh sửa Google Docs, Spreadsheets hay Slides từ Drive, và Drive sẽ gợi ý khéo léo về những tài liệu mà ta có thể cần. Và Google Assistant sẽ giúp bạn làm những việc này chỉ với giọng nói.    

Tương tự, mỗi gã khổng lồ có một môi trường làm việc khác nhau, một nền văn hóa khác nhau, nhưng đan xen trong ấy, đều thấm đượm tinh thần hợp tác, không ngừng sáng tạo, và tiếp nhận những phản hồi để làm mới mình.

Chú trọng vào tương tác đa chiều, đẩy mạnh hợp tác giữa các bộ phận và các cấp bậc, luôn làm mới mình, để mỗi ngày đều là một “ngày đầu tiên”, chính là vũ khí giúp các công ty lớn đứng vững trên đỉnh cao.

Tương lai xán lạn hay “Ngày tận thế”?

Vậy tương lai phía trước sẽ như thế nào đây? Khi mà công nghệ máy học, trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa đang ngày ngày hòa hợp và dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của ta? 

Kantrowitz cũng đưa ra nhiều phiên bản “Ngày tận thế” của ông, rằng việc những gã khổng lồ ngày càng nắm giữ nhiều kĩ thuật tiên tiến, rằng sự tập trung quyền lực sẽ bóp nghẹt các doanh nghiệp nhỏ lẻ khác, chi phối kinh tế - xã hội - chính trị; rằng AI sẽ cắt giảm hết việc làm của đa số chúng ta khi mọi thứ đều được đưa vào dây chuyền và tự động hóa; rằng số người vô gia cư sẽ tăng lên, tỷ lệ thuận với số người tự tử,...

Như Tiến sĩ Frankenstein - người chỉ nhận ra sự nguy hiểm của việc tạo nên một thực thể sống nhân tạo khi nhiều người đã phải bỏ mạng, chúng ta chỉ có thể thấy được những nguy hại từ phát minh của mình khi phải trả cái giá thật đắt cho những hậu quả mà nó gây ra.  

Để tương lai đen tối này mãi nằm trong tâm trí của những người hay lo lắng thái quá, chúng ta cần hành động. Cần phải nhìn lại hệ thống giáo dục, khuyến khích sáng tạo cho học sinh từ sớm, đồng thời cũng nên trang bị cho bản thân ta tinh thần hợp tác, phản hồi, và sáng tạo, như cách những gã khổng lồ công nghệ vẫn đang ngự trị trên ngai vàng đã và đang thực hiện. 

*

Dù viễn cảnh phía trước có phần u ám, tác giả vẫn giữ một góc nhìn tích cực về tương lai, như cách mà các CEO đã từng cố gắng ở những Ngày Đầu Tiên, vượt qua bao khó khăn để vươn lên được vị trí đỉnh cao hiện tại. Lo lắng, thất vọng và nếm trải thất bại là điều đương nhiên, quan trọng là chúng ta cần tiếp thu cái mới, thuyết phục bản thân cố gắng và kiên định. Không có một công thức chung nào cho thành công, chúng ta không thể áp dụng một quy trình, một biểu thức hay lý thuyết cụ thể nào để thay đổi chính mình sau một đêm.  

Always Day One không phải là một quyển self-help như ta thường thấy, Kantrowitz đã không “giải mã” công thức thành công theo nghĩa đen, thay vào đó, ông tiếp cận những ngôi sao của các công ty công nghệ ở nhiều khía cạnh khác nhau, ông không ngần ngại nêu lên quan điểm, nhận xét của bản thân về các khuyết điểm mà một số công ty có thể mắc phải. Nói đúng hơn, xuyên suốt quyển sách, Kantrowitz cố đào sâu vào hệ thống, những sự kiện, liên kết giữa những thành tựu và thất bại từ quá khứ với hiện trạng để đưa ra nhận xét và phân tích chúng. 

Chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều nhờ những ví dụ sinh động, nắm bắt và hệ thống được toàn bộ nội dung quyển sách nhờ vào sự sắp xếp khéo léo của ông. Đừng thất vọng vì không nắm được công thức của thành công, hãy bắt lấy mọi cơ hội để mơ ước và hành động, để tiến tới thành công theo cách của chính chúng ta.

“Không ai đánh thuế giấc mơ, nên tôi sẽ nói ‘có’ với bất kỳ cơ hội nào để mơ mộng.”

-Hết-

Như Nguyễn
Ảnh đầu bài: Valerie Niemeyer

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Về Huế: Mải mê với Huế bằng một tấm lòng trân trọng

Published

on

Có ai đó đã từng nói rằng: “Cuộc đời con người là những hành trình”, có những người sẽ muốn đi đến những nơi thật xa để tìm kiếm và khám phá những vùng đất mới, cũng có những người lại muốn đi thật sâu, tìm và hiểu rõ nơi mình sinh ra và lớn lên.

Chúng ta tìm kiếm những vẻ đẹp tiềm ẩn mà không phải ai sống ở đó cũng dễ dàng nhìn ra; tôi sợ đến cuối đời, khi bản thân đã có tuổi hay không còn đủ sức đi trên đôi chân của mình rồi giật mình nhận ra mình chẳng hiểu gì, biết gì về vùng đất được sinh ra và lớn lên – đất Huế cả. Giữa đợt Covid thứ tư, mọi người hạn chế ra khỏi nhà, có lẽ đọc sách là cách hiệu quả nhất để chúng ta bước lên những chuyến xe du lịch, có thể trở về quá khứ, tìm kiếm những thứ thú vị ở hiện tại, thả hồn mơ mộng cho tương lai…

Tại sao lại là “về Huế?”

Người dân Việt Nam lớn lên cùng những câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa bà và mẹ thường hay kể, nên dường như con người, món ăn, tình cảm, tình yêu cũng có phần đượm màu cổ tích. Trong khu rừng thần thoại của những câu chuyện kể, Huế nhỏ bé, xinh xinh và tinh tế như chiếc hài của cô Tấm.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế, cũng ở mảnh đất Hương Trà - quê hương tác giả Trần Kiêm Đoàn. Đọc Về Huế, tôi thấy Huế thân thuộc như tác giả nói hộ nỗi lòng, giãi bày cảm nhận của mình vậy. Một giọng kể tâm tình của người con xa quê ngày trở về, mười năm trở lại một lần, gặp lại mẹ già, gặp lại Huế thân thương. Rồi tự hỏi, mỗi lần nghĩ đến Huế, chẳng biết con người đang về với Huế hay chính Huế đang từ từ tiến đến ôm người vào lòng. Ai nghĩ đến Huế, ai nhớ nhung ai đâu còn quan trọng nữa, bởi Huế và người đã được gặp lại nhau.

Về Huế là chiếc bánh nhỏ gói cả tâm can, nỗi lòng, sự mộc mạc và quý tộc cùng sự linh thiêng của vùng đất Thần Kinh. Ai đã ở Huế rồi, xa Huế mới thấu, cái sự nhớ nhung ngàn năm khắc khoải, như bóng cây phượng buồn dựa bên sông mà hát mãi câu Nam bằng. Những con người gắn bó vài năm với Huế đã đành, khách du lịch một lần ghé Huế cũng vậy, còn đến như kẻ ly hương ngày trở về thì mừng mừng, tủi tủi, mà nước mắt cứ ứa ra chẳng biết vì răng. Vì răng rứa?

Huế vừa là quê mẹ để nhớ, để về, vừa là chiếc nôi tình cảm trong suốt một đời người. Khi nhiều lần cố quên Huế thì mảnh đất ấy lại hiện hữu dịu dàng một tình mẫu tử đơn phương, rồi có lúc lại bâng khuâng như người tình cũ cười nhẹ nhớ thời dĩ vãng. Nhưng cũng lạ rằng, khi nhớ Huế, Huế lại mơ hồ cái bóng dáng mờ nhân ảnh rất thơ, để rồi mất hút xa xăm lúc nào chẳng hay. Tưởng gần mà xa, tưởng xa mà vẫn ở đâu đó trong tim. Tưởng yêu thương hững hờ mà lại chất nặng tình trên vai.

Tôi tự hỏi, tại sao lại là “Về Huế?” “Dù tôi có vô tận Sài Gòn thì cũng là Ra Huế. Có ra Hà Nội thì rồi cũng Huế. Có về làng với mẹ thì cũng là Qua Huế. Và, có xuống tận Thuận An thì cũng sẽ là Lên Huế mà thôi. Còn với người khách phương xa viễn xứ thì cũng Tới Huế là cùng”. Chúng ta bắt gặp về quê, về nhà, có lẽ vì vậy mà có Về Huế. Về Huế, về với quê hương, về với những bến bờ xưa cũ, với nơi “chôn nhau cắt rốn” dẫu phong ba có lớn, bão tố có mạnh, thì vẫn còn có Huế, có nhà, có mẹ. Chẳng phải đứa con nào cũng thế ư?

Về Huế - một thoáng kí ức ngày xưa

“Huế mà không thơ là thờ ơ với Huế”. Mỗi người sẽ có những cách cảm khác nhau về nét thơ và hồn thơ của Huế, có thể qua thành quách rêu phong, đền đài cổ kính, hay qua cách trang trí, trình bày những món ăn, có khi lại là con người nơi đây, và có khi là cả những điệu hò, câu hát say mê lòng người.

“Trở lại Huế yêu lần theo ân tình câu hát...
Tìm người con gái áo tím mộng mơ.
Sông Hương tấp nập tìm răng được chừ,
Không nguôi kỷ niệm vòng tay học trò”

Huế dịu dàng, Huế trầm tư, Huế cũng thướt tha với tà áo trắng thoáng nhịp Trường Tiền, chiếc nón bài thơ và dòng Hương Giang lững lờ.

Áo trắng ngày xưa thuở tìm em mà không thấy
Mênh mang mấy nhịp Tràng Tiền nắng lên
Nắng lên từ phía nón em nghiêng qua cầu”.

Sự e ấp, nét duyên của người con gái xứ Huế là một góc khuất người đời ưa khám phá. Trong tiếng “dạ”, tiếng “thưa” và nét duyên như điệu nước dòng Hương, “nước trong, sóng lặng mới soi được bóng con đò”. Rồi cả mối tình với nàng thơ “Thuở tiên Đồng Khánh”, tình yêu chín hườm thuở học trò mùa xuân tuổi mười sáu, “Cô bé nhà dối diện, với mái tóc đen dài, dáng thanh…”. Tình yêu đẹp và buồn như thơ, để sự dang dở ngày gặp lại vươn nét buồn nơi cõi tạm trần ai.

Tôi đã sững sờ và im lặng hồi lâu trong khoảnh khắc tác giả gặp lại “nàng Tiên Đồng Khánh”, nhưng cũng buồn thay, trong một thoáng bất chợt gặp lại quá khứ, chẳng còn là tâm hồn Quốc Học, Đồng Khánh ngày nào, giờ đây những mái đầu muối tiêu nhuộm phai màu phôi pha, con người và thân phận đã có một sự ly phân. Một người sinh ra để làm “một thuở Tiên Đồng Khánh”, một người là mụ Bé bán bánh lá, cái chết, sự tái sinh không biết phải đặt ở đâu trong kiếp luân hồi. Tuổi già nhắc chuyện ngày xưa như muốn mình trẻ lại, lấy hồn nhiên đối mặt với vô thường. Rồi cũng một kiếp người, kỉ niệm cũng chỉ là kỉ niệm.

Ẩm thực Huế - chẳng chốn nào bằng

Nhắc đến Huế mà thiếu đi ẩm thực Huế quả là một thiếu sót lớn không gì bù đắp được. Cái ăn ở Huế thường nổi danh từ những vô danh. Những gánh hàng nhỏ, tạm bợ với tên người bán như bún bò Mụ Rớt, cơm hến Mụ Bòng, bánh chưng Mệ Tóc Bạc… Ngày nay những “Mụ”, “Mệ” được kế thừa bằng thế hệ trẻ hơn nhưng những cái tên ấy đã tạo nên thương hiệu rất Huế.

“Thiên nhiên đã tác dụng một cách kì bí” để tạo nên đủ các loại mắm, không chỉ từ thủy sản mà còn cả nông sản và thổ sản, những thứ mắm “ngon quá trời độ”. Mùa nào mắm đó, từ mắm bình dân đến mắm quý tộc. Vào những ngày mưa, ăn cơm với mắm thì ngon không gì ta nổi, với đủ các cung bậc cảm xúc tả vị ngon, “ngon ngậm mà nghe”, “ngon nhức răng”, “ngon đáo để”, “ngọn dễ sợ” … Đâu chỉ mỗi mắm, Huế còn có Chè Huế với đủ loại, chè từ các loại hạt, chè từ tinh bột các loại củ và cả những thứ chè lạ, độc đáo “chè bột lọc heo quay”, quý tộc nhất là chè sen hồ Tịnh bọc nhãn lồng Thành Nội. Rồi bún bò Huế, cả một biểu hiện văn hóa Huế trong truyền thống nấu ăn “khi cho bò nổi heo chìm, lẫn lộn trong hai tính mâu thuẫn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở’”. “Dân Huế và những người Huế xa quê, có tô cơm hến nằm ở một góc nào đó trong mớ hành trang kí ức”. Cả cơm Hến và cơm Âm Phủ những món ăn bình dị nhưng gói gọn tinh hoa của đất trời.

Có một đặc trưng của những món ăn ở Huế rằng, các món ăn, từ chè, cơm hến, bún hến hay bún bò, đến các loại bánh: bèo, nậm, lọc… tất cả đều be bé, xinh xinh. Ăn để thưởng thức cái hương, cái hoa là chính chứ chẳng phải ăn no, ăn ngán. Cách trang trí cung đình, lối sống cung đình vẫn còn tàn dư trong ẩm thực. Vậy đấy, đôi khi, trong ẩm thực gói ghém nhiều thứ, ẩm thực cũng là một nét văn hóa.

Huế riêng

Có nhiều cái riêng ở Huế không lẫn vào đâu được. Huế với những người lần đầu ghé đến sẽ phải ngạc nhiên vì thành phố này sao mà buổi tối buồn đến vậy. Chẳng dễ dàng tìm chốn chơi vào buổi tối, đêm ở Huế chưa khuya mà đường đã vắng hoe, chỉ còn đèn vàng, cây lá và vài chiếc xe chạy đường dài. Ở bờ Bắc1 cây cối um tùm nhìn còn buồn hơn bờ Nam nữa.

Có những vạt nắng riêng trong đời, có những cơn mưa riêng trên trời. Mưa Huế vừa là sự đối xử khắc nghiệt, lại như một đặc sản riêng chẳng nơi nào có được. Vào mùa mưa thực sự, những cơn mưa ở Huế kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, có khi non tháng, đi cùng với cái lạnh tê buốt của mưa dầm gió bấc. Trong những cơn mưa chứa cả kho tàng kỉ niệm cũng ngả màu rêu phong vì những cơn mưa Huế. “Nghe mưa lâm thâm chảy dầm trên má lẫn với giòng nước ấm làm mặn môi mình”. Rồi mưa dầm dề, tụi nhỏ lại có thú vui không hẹn trước… ngày lũ.

Trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người ta thấy dáng dấp và điệu chảy của sông Hương, điệu chảy của dòng sông phần nào ảnh hưởng đến tính cách và lối sống con người Huế. Dòng sông Hương cũng như đời người, chia thành nhiều khúc. Thượng nguồn là tuổi trẻ, khúc Thiên Mụ, Kim Long là trung niên, khúc Đông Ba, Gia Hội là giai đoạn trưởng thành. “Từ đó sông Hương rẽ về hai ngả: ngả Đò Cồn, Vỹ Dạ mang dáng dấp trầm tư của con quan về vườn quy ẩn. Ngả Bao Vinh, Ba Sình giống như tuổi sắp già bon chen, nhưng vẫn còn duyên nợ với cuộc đời…”. Và cuối đời, cũng như những con sông, mọi con sông đều đổ ra biển cả. Luôn có một chút gì đó trang đài, khoan thai, nhẹ nhàng trong cách sống đó.

Kết.

Giữa cuộc đời trần ai tân khổ này, mỗi người, mỗi sự vật trong cuộc sống quanh ta có thể sẽ rất quý giá nếu được ta cảm nhận giá trị quý giá ấy. Một tác phẩm nghệ thuật có thể không có giá trị với người không thưởng thức hay với người hững hờ với nó. Những ai quan tâm, dành cho Huế một chút tình, muốn “gặp” Huế một lần chắc hẳn không thể bỏ qua “VỀ HUẾ” của Trần Kiêm Đoàn, câu chuyện và góc nhìn của một người con xứ Huế ở viễn phương, một màu sắc rất Huế, một giọng văn mộc mạc, một tấm lòng trân trọng với Huế thương yêu.

Hết.

Chú thích:

  1. Bờ Bắc, Bờ Nam là cách phân chia của người Huế tính từ vị trí dòng Hương.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng