Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Bình địa trong lửa (Juan Rulfo): Một cõi đọa đày

Published

on

Bình địa trong lửa (Juan Rulfo)

Pedro Páramo là tác phẩm vĩ đại của văn chương Mỹ Latin, khi nó là cái nôi để thai nghén nên Trăm năm cô đơn và đồng thời là dấu mốc đưa Juan Rulfo trở thành một trong những người tiên phong mở khóa địa hạt văn chương còn nhiều bí ẩn này ra với thế giới. Nếu Pedro Páramo đã được chuyển ngữ từ những năm 1987, thì Bình địa trong lửa – tập truyện ngắn với tầm quan trọng không kém – chỉ gần đây mới được giới thiệu và xuất bản tại Việt Nam. Thời gian chờ đợi là một quãng dài, nhưng không hề phung phí cho một trước tác vô cùng tuyệt diệu.

Có thể nói, Bình địa trong lửa là một tác phẩm phản Páramo một cách toàn diện. Sinh thời chỉ cho ra mắt hai trước tác lớn trước khi cơn bĩ cực ập đến, nhưng cả hai tác phẩm của Juan Rulfo đều chiếm được vị thế vô cùng quan trọng. Trong khi Pedro Páramo tiếp cận người đọc bằng bầu không khí hiện thực kỳ ảo vô cùng mới lạ (ở thời điểm đó), thì Bình địa trong lửa là áng văn hiện thực sâu cay nhưng đầy chán chường vì nỗi tuyệt vọng. Trường nghệ thuật của hai tiểu thuyết này như hai tinh cầu song song trong một bối cảnh và mặt nội dung khá tương đồng, khi ta thấy được một Mexico vô cùng ngột ngạt như xứ địa ngục trần gian với những biến động chính trị – xã hội sục sôi âm ỉ, chìm ngập trong đó còn là thân phận con người bé nhỏ mà đầy tham vọng.

Nếu Pedro Páramo tiếp cận người đọc bằng bầu không khí hiện thực kỳ ảo vô cùng mới lạ (ở thời điểm đó), thì Bình địa trong lửa là áng văn hiện thực sâu cay nhưng đầy chán chường vì nỗi tuyệt vọng. 
Ảnh: Phanbook

Một cõi bình địa

Với hình thức một tập truyện ngắn, Bình địa trong lửa là lăng kính soi chiếu rất nhiều góc nhìn qua một đất nước Mexico khắc nghiệt và đầy gian truân. Đó có thể là chốn bình địa méo mó, cằn cõi và đã vôi hóa, nơi gió cũng không còn đủ để gom một cơn mưa bụi. Nhưng cũng đồng thời là xứ sở của mưa như trút làm hư đống mạch, giết chết gia súc, tan hoang cửa nhà.

Ở vùng được gọi là San Juan Luvina ấy, một cõi luyện ngục lần dò mở ra. Đó là vùng đất nơi chó cũng chết và không còn gì để sủa vào sự im lặng. Là nơi im lìm tồn tại mọi sự cô quạnh, nơi gió chỉ hút vào những tiếng động. Nơi cũng chỉ còn lại người già và những đứa trẻ chưa hề ra đời; nơi chỉ đàn bà ốm yếu, gầy guộc và da bọc xương. Nơi đàn ông có trời mới biết đi đâu về đâu mà khi trở lại chỉ với một bao thực phẩm và vừa kịp gieo thêm một đứa trẻ thành ra quy luật. Là nơi mà một buổi chiều đứa bé sinh ra, thì sáng hôm sau đã thành đàn ông kịp cầm cuốc xẻng.

Mexico đón người ta bằng cơn gió lạnh, những trận động đất, bằng làn sương giá. Như thế họ cho chúng tôi đất. Trên cái thứ nóng như vỉ nướng này họ muốn chúng tôi gieo hạt, bất cứ loại hạt nào, chỉ để xem nó có thể nảy mầm và sinh sôi. Nhưng mà sẽ chẳng có gì có thể sống được ở đây. Cứ thế một cõi đọa đày mở ra trong các nhân vật, khiến họ biến chất, không còn logic, tất cả chảy tràn trong họ là những dòng máu đã sủi bọt tăm của những tị hiềm, ganh ghét và đối nghịch.

Nhân gian đảo ngược

Cũng chính trong cái ngột ngạt của vùng đất ấy, cộng thêm chế độ chính trị luôn luôn chông chênh thì giá trị con người cũng kịp lăn xuống đến mức thấp nhất. Bình địa trong lửa quét qua khoảng dài lịch sử từ khi Mexico oằn mình dưới thời quá độ cách mạng chống địa chủ, cùng lúc chế độ độc tài đang còn thị oai; thì cảnh lầm than vẫn luôn chồng chất. Trong tập truyện ngắn này ta đã bắt gặp không chỉ một lần những cảnh chém giết đầu rơi máu chảy, đạn nã sâu hoắm vào những thân người từ trong cuộc chiến, một cách vật lý hay là vô hình cũng dễ nhận ra.

Đó có thể là những tàn dư trong cách mạng ruộng đất khi giới địa chủ lại một lần nữa ngoi lên cái tua dài rộng cướp bóc những thương vụ lớn như nhà Toricco. Mà cũng có thể chì vì lũ lụt mất đi chú bò hồi môn dẫn con người ta vào đời đĩ đượm do đã quá nghèo. Đó cũng có thể là những hằn thù hay nỗi tị hiềm để rồi ganh ghét trở nên bạo tàn, đến mức họ còn giết hết cả một gia đình để rồi dằn vặt vì sự ghê tởm của bản thân mình “phải vác hết sức nặng của người thứ ba lên lung không đáng chút nào. Người chết nặng hơn người sống; nó sẽ đè bẹp ta mất”.

Chính trị biến động càng làm tăng thêm sự điên cuồng ấy. Truyện ngắn Bình địa trong lửa khắc họa những cuộc đối đầu giữa quân chính phủ, quân liên bang và quân cách mạng đã thể hiện điều này trực diện nhất. Chính sự tàn bạo trong dòng giống người đã đẩy người ta đến một mức độ tàn sát lẫn nhau, quây sân đấu bò để mà giết lính đi theo phe khác. Họ như trở về thời La Mã cổ, họ treo người chết để chim ó ăn đi hết nội tạng và rồi chết mục như Prometheus của Hy Lạp cổ. Chiến tranh tang tóc, chiến tranh đau thương biến con người ta đui mù mà không nhận ra một điều gì khác.


Thế nhưng không chỉ ở trong cuộc chiến, bi kịch gia đình cũng luôn là thứ chứa đựng biết bao những sự xấu xa còn luôn ẩn giấu. Đó có thể là những tình cảnh cha giết con, con giết cha không thể thoát ra; là những đồng chí sát cánh bên nhau nay giết chết nhau chỉ vì bãi cỏ chăn bầy gia súc. Đó cũng có thể là ngã tuyệt vọng khi dắt dìu nhau trên đường chữa bệnh, để người anh trai và cô em dâu nảy sinh tình cảm, là người cha già cõng con trai mình dù cho chính y đã giết chết đi người vợ ông yêu…

Những mối quan hệ không có đường thoát giữa cha – con trai xuyên qua bóng hình người mẹ chết trẻ luôn luôn trở lại trong các sáng tác của Juan Rulfo. Từ Pedro Páramo là chuyến hành trình đi tìm người cha, cho đến con trai giết cha ở trong cuộc chiến vì sự căm ghét ông dành cho cậu là những bi kịch không thể vượt thoát. Ở đó còn là hôn phối cận huyết cha và con gái – người cha lầm lạc nhưng luôn hiển hiện là một vị thánh, là gã điền chủ với cô cháu gái còn rất ngu ngơ…

Địa hạt khô khốc, tâm tính mục ruỗng được Juan Rulfo dồn nén vào đây như một quả cầu trở nên nặng nề bởi sự tàn bạo. Đó còn có thể là sự vô luân của nền độc tài khi ngài thống đốc đến ngay sau cơn động đất, mà việc ông làm không có gì hơn là ăn gà tây mút hết cả xương, bánh tortilla, một trận chè chén với suối rượu punch khi khăn trải bàn đã nhuộm đỏ thẫm. Trên chính vùng đất đã bị tàn phá bởi cơn động đất không thể lường trước, ngài đã để lại khoản nợ 4000 peso bằng sự gia ân chuyến viếng thăm đó. Một vùng tàn suy, con người nhỏ bé; xứ Mexico vang lên đớn hèn.

Phong cách Juan Rulfo

Một điểm nổi bật trong suốt tập truyện ngắn là ta có thể nhìn nhận những cốt truyện này theo hai hướng nhìn: một rất thực tế và một của những tưởng tượng. Nếu trong Họ cho chúng tôi đất, Juan Rulfo tập trung viết về những điều bất công, những sự vô luân của chính quyền ấy khi phân chia đất đằng sau cách mạng; thì đồng thời một mặt nào đó, ta cũng thấy được là những điềm báo ông đã đoán định trong những hình tượng của truyện ngắn này. Từ dáng hình của những ngôi nhà, làn khói xa xa do gió mang đến cho tới hạt mưa đơn côi mong trận mưa rào… Nhưng rồi mây tan không còn gì cả, còn nhà còn làng ở tít đằng xa chỉ như dự đoán cho một tương lai đầy cảnh đẹp đẽ chỉ là huyễn hoặc.

Ảnh: COLETTE URBAJTEL 

Hơn nữa, Juan Rulfo hầu như dửng dưng trong suốt những bi kịch kể lại. Ông xem những điều đang dâng trước mắt như lẽ hiển nhiên, như đời tầm thường; để rồi từ đó ông viết chính về cái chết, về cái vô luân, cái vô đạo đức vô cùng nhẹ nhàng mà đầy mục ruỗng. Lạnh tanh và thiếu sức sống, ông kết hầu hết những truyện ngắn này bằng câu đầy sức mạnh, như thể “Nơi Bình địa mà họ cho chúng tôi còn ở xa phía trước” hay “Như thể bất thình lình chúng bắt đầu nảy nở để mang em gần hơn vào kiếp đọa đày này”. Những câu bỏ lửng mà lạ lùng thay, lại rất thâm sâu và nặng tình nhất.

*

Trong một bài phỏng vấn vào năm 1978, Juan Rulfo từng nói rằng tuổi thơ của mình rất bất hạnh và khắc nghiệt khi sống ở một đất nước nơi sự tàn phá lan tràn xứ sở. Ông chưa bao giờ hiểu được logic của những hành động tàn ác, bạo lực trong suốt thời kì cách mạng dẫn đến cái chết của từng người một trong gia đình mình – và Bình địa trong lửa cũng chính là lời tự bạch những tội ác ấy, những mất mát ấy khi chúng vẫn đang lan ra quê hương bé mọn.

Với Bình địa trong lửa, một Rulfo lạ lẫm mà đầy khắc khoải hiện ra trước mắt người đọc. Ở đó, ta thấy được một xứ hoang tàn ở nơi tận cùng thế giới với đất hoang hóa, tự nhiên khắc nghiệt, nơi con người ta vẫn đang rủa xả chém giết lẫn nhau trong cuộc cách mạng tranh giành những điều vô lý. Phản Páramo nhưng cũng quan trọng không kém; một đời ngắn ngủi nhưng hai trước tác thực sự vĩ đại.

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Pedro Páramo: Tác phẩm viết về và viết bởi cái chết

Phía sau trang sách

Khi các nhà văn đá xéo nhau: Tận cùng của sự đanh đá (phần 1)

“Mỗi lần tôi đọc ‘Kiêu hãnh và định kiến’, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.”

Published

on

Văn đàn đôi khi hơi ba phải một chút. Tức là, nếu đa số dư luận đánh giá một quyển sách là “Tuyệt Tác”, đánh giá này được cộp mác chính thức. Bất kì cá nhân nào dám đi ngược dòng dư luận sẽ nhận được cái nhìn kinh hãi. Danh tiếng như vậy đôi khi được thành lập khi chưa ai đọc sách cả, chỉ cần vài câu truyền miệng “tôi nghe nói nó hay lắm” là đủ. Nhưng bất chấp cái đám đông đáng sợ ngoài kia, vẫn sẽ có một vài (đôi lúc là nhiều vài) “kẻ phản đồ”. Họ chỉ đang ẩn nấp kĩ càng để tránh bị “đì” mà thôi.

Hiện nay, thật đáng tiếc là nhiều tác giả cảm thấy rằng họ không thể công khai chê bai tác phẩm của những nhà văn khác. Điều này không có lợi cho độc giả - lực lượng người hâm mộ trung thành càng ngày càng dựa dẫm vào nhà văn yêu thích của mình để tìm được đầu sách hay; cũng không tốt cho ngành sách, bởi vì độc giả đã chán ngấy những lời khen hoa mỹ bóng nhẫy và không dễ dàng tin tưởng chúng nữa. Tôi rất hiểu cho các tác giả khốn khổ phải viết bài trái lương tâm ngoài kia, nhưng vẫn không thể ngăn bản thân mình ghét cay ghét đắng cái trào lưu bợ đỡ nhau này. Mà thôi, đây là nan đề cho một bài viết khác.

Vòng vo nhiều như vậy cũng chỉ để nói rằng, thấy một gã khổng lồ bị đẩy ngã cũng khá là vui (đặc biệt là khi trong thâm tâm bạn cũng chẳng ưa gì gã lắm), mà thấy hai gã khổng lồ đánh nhau còn vui hơn. Đó là cảm giác của tôi khi xem các nhà văn nổi tiếng đá xéo tác phẩm của những tác giả nổi tiếng khác. Võ sĩ A và B của trận đấu đều là những cái tên có tiếng có miếng, điều này khiến cho hành động ngồi ăn bắp rang xem đánh nhau của bạn bớt tội lỗi hơn hẳn.

Vậy nên, kính thưa quý độc giả, tôi xin giới thiệu những tác giả đã vô tình hữu ý mà ghét một vài tác phẩm kinh điển và lời phê bình tao nhã của họ đối với những tác phẩm này. Còn việc những lời phê bình này có chuẩn xác không thì vẫn còn cần được thảo luận thêm.

1. Virginia Woolf bàn về Ulysses

Từ nhật kí của Virginia Woolf: 

Thứ tư, ngày 16 tháng Tám năm 1922:

Đáng lẽ là giờ này tôi nên đọc Ulysses, và thêu diệt những luận điểm đồng tình hoặc chống đối nó. Đến giờ tôi đã đọc được 200 trang - còn chưa được một phần ba; tôi đã cảm thấy thích thú, bị kích thích, bị quyến rũ, đã rất hứng thú với hai hay ba chương đầu của cuốn sách đến cuối cảnh nghĩa trang; sau đó thì bối rối, khó chịu và bị vỡ mộng bởi một thằng sinh viên dơ dáy đang ngồi gãi mụn. Tom, Tom vĩ đại [T.S. Eliot], lại nghĩ rằng quyển sách này ngang tầm với Chiến tranh và hòa bình! Bản thân tôi lại thấy nó là một quyển sách vô học và thô tục; quyển sách của một người lao động tự học, và chúng ta đều biết họ phiền hà như thế nào, họ tự cao, cứng đầu, sống sượng, bất bình thường và thường tạo cho người ta cảm giác chung là tởm đến phát ói. Giống như một miếng thịt sống vậy, vì sao lại chọn thịt sống khi người ta có thể ăn chín uống sôi chứ? Nhưng tôi mạo muội đoán là nếu bạn bị bệnh thiếu máu, như Tom ấy, bạn sẽ thấy sự huy hoàng hấp dẫn của máu tươi. Bản thân tôi tự nhận là một người bình thường, nên tôi sẵn sàng quay lại với những quyển sách văn học cổ điển. Tôi có lẽ sẽ đọc lại quyển sách này sau. Còn bây giờ, tôi vẫn không thể chấp nhận việc hy sinh sự minh mẫn của mình. Cứ tạm thời đánh dấu trang 200 ở đó đã.

Thứ tư, ngày 6 tháng Chín năm 1922:

Tôi đã đọc xong Ulysses và nghĩ nó là một phát đạn xịt. Một tác phẩm văn học thiên tài, nhưng thiên tài kiểu nước lợ. Quyển sách lan man. Nửa nạc nửa mỡ. Nó tự phụ. Nó thô tục, không chỉ ở nghĩa trên câu từ mà còn xét trên góc độ văn học. Tôi muốn nói, một nhà văn hạng A nên là một người tôn trọng văn học để không giở những trò câu độc giả bằng mánh lới xảo quyệt, những chi tiết giật gân hay là những trò xiếc khỉ tầm thường. Trong suốt quá trình đọc quyển sách này, trong đầu tôi luôn thường trực hình ảnh của một cậu bé học sinh trường công thấp hèn, có trí tuệ và sức bật đó, nhưng quá tự phụ và tự đại đến mức đánh mất lí trí thông thường, một kẻ ngông cuồng, ngụy trí thức, ồn ào thích gây sự chú ý, khiến những người tốt bụng thấy tội cho hắn ta và những kẻ nghiêm khắc cảm thấy hắn ta thật phiền; người ta hy vọng hắn nhanh chóng trưởng thành để bớt cái thói đó đi; nhưng Joyce đã 40 rồi, điều này chắc khó có thể xảy ra… Ôi, đọc quyển sách này tôi cảm thấy như bị vô số viên đạn tí hon bắn vào người; còn chẳng được chết thống khoái bởi một viên đạn vào mặt, như cách mà Tolstoy đã bắn vào mặt tôi; nhưng so sánh này thật là nỗi sỉ nhục với Tolstoy.

2. Mark Twain bàn về Kiêu hãnh và định kiến

Trong lá thư gửi Joseph Twichell, ngày 13 tháng Chín năm 1898:

Tôi không có quyền chỉ trích sách, và tôi thường không làm như vậy trừ phi tôi ghét cay ghét đắng quyển sách kia. Tôi thường muốn chỉ trích sách của Jane Austen, nhưng sách của cô ta thường làm tôi tức đến mức tôi không thể che giấu cơn điên tiết này trước độc giả. Vậy nên mỗi lần cầm bút lên thì tôi lại phải thả xuống. Mỗi lần tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.

Từ một bài viết không đầy đủ của Twain, tiêu đề “Jane Austen”:

Mỗi khi tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến hay Lí trí và tình cảm, tôi cảm thấy như một người bán hàng rong đang bước vào Cánh cổng Thiên đường. Ý tôi là, tôi đồng cảm với cảm giác khả dĩ của anh ta. Tôi khá chắc tôi biết anh ta cảm giác như thế nào - và ý nghĩ sâu xa trong lòng anh ta. Anh ta chắc chắn sẽ cong môi lên, trào phúng nhìn những vị trong Giáo hội Trưởng lão trong nhà thờ đang tự mãn đi ngang dọc ở Thiên đường. Bởi vì anh ta nghĩ mình tốt, khinh thường các vị Trưởng lão sao? Không hề. Chỉ đơn giản là anh ta không khoái loại người như họ. Vậy thôi.

3. Aldous Huxley bàn về On the Road (Trên các nẻo)

Trích Aldous Huxley: Một tiểu sử của Nicholas Murray:

Sau khi đọc một lúc thì tôi thấy hơi chán. Ý tôi là, nẻo ngõ gì dài thế.

4. Katherine Mansfield bàn về Howards End

Từ nhật kí của Katherine Mansfield:

Tháng Năm năm 1917:

Khi đang xem lại những quyển sách dở nhất mình sở hữu, tối hôm qua tôi tình cờ bắt gặp Howards End và đã đọc nó. Nhưng đúng thật là nó không đủ hay. E. M. Forster chưa bao giờ đi xa hơn việc sáng tác một quyển sách tạm ổn, chưa bao giờ đi xa hơn việc hâm ấm một cái ấm trà. Anh ta lại là một trong số hiếm những kẻ giỏi việc này nhỉ. Sờ cái ấm này thử xem. Ấm không? Sờ sướng tay không? Nhưng chỉ sướng tay thôi, chẳng có trà cho anh uống đâu.

Và tôi lại không chắc lắm liệu Helen có thai với Leonard Bast hay với cái ô bị lãng quên của hắn ta. Cân nhắc hết các tình tiết, tôi nghĩ nó nhiều khả năng đứa con là của cái ô rồi.

5. Martin Amis bàn về Don Quixote

Từ bài phê bình được đăng trong quyển The War Against Cliché: Essays and Reviews 1971-2000 (tạm dịch Chiến tranh chống sáo rỗng: Các bài luận và bài bình 1971-2000)

Mặc dù là một tượng đài kiệt tác không thể chối bỏ, Don Quixote vẫn có một lỗi rất nghiêm trọng – nó khiến người ta không tài nào đọc nổi. Người viết bài bình này hẳn biết điều đó chứ, bởi vì hắn mới đọc nó mà. Quyển sách chứa đầy vẻ đẹp, nét cuốn hút, chi tiết hài hước uyên bác; nó (hầu hết quyển sách - phải lên đến 75% thời lượng quyển sách) cũng… đần độn không tầm thường. Đọc Don Quixote có thể được ví như chuyến đi thăm dài vô tận đến nhà một vị họ hàng lớn tuổi, người có một bụng trò khăm, thói bẩn, những hồi ức liên miên và những người bạn đồng liêu tệ bạc. Khi trải nghiệm đã qua, khi “cậu bé già” cuối cùng cũng vẫy tay chào tạm biệt (tại trang 846 - trong đoạn văn dày đặc chẳng có chỗ cho câu hội thoại nào), bạn sẽ rơi nước mắt, không phải nước mắt giải thoát mà là nước mắt tự hào. Bạn làm được rồi, cho dù Don Quixote hành hạ bạn thế nào đi nữa thì bạn cũng vượt qua được rồi.

6. David Foster Wallace bàn về American Psycho (Người Mỹ cuồng loạn)

Từ một bài phỏng vấn do Larry McCaffery thực hiện trong The Review of Contemporary Fiction (tạm dịch Bình luận về văn học đương đại), Hè năm 1993:

Larry McCaffery (LM): Trong trường hợp của anh, sự thù địch này được biểu hiện dưới dạng nào?

David Foster Wallace (DFW): Ồ. Không phải luôn luôn, nhưng đôi lúc dưới dạng những câu không sai ngữ pháp nhưng vẫn khó hiểu như chó. Hay việc tác giả thích cầm dữ liệu đấm vào mặt độc giả. Hay việc dành rất nhiều năng lượng để thổi phồng kỳ vọng trong lòng độc giả và sau đó khoái chí làm họ thất vọng. Bạn có thể thấy rõ điều này trong những cuốn sách kiểu American Psycho của Ellis: nó giả vờ phỉnh nịnh máu bạo dâm của độc giả được một lúc, nhưng cuối cùng, hóa ra đối tượng bị bạo hành lại là chính bản thân độc giả.

LM: Nhưng ít nhất trong trường hợp của American Psycho, tôi cảm thấy còn có gì đó sau cái khát vọng gây đau đớn cho người khác - hay nói rõ hơn là, anh không nghĩ là Ellis độc địa theo cách của những nghệ sĩ chân chính, như những gì anh đã từng nói?

DFW: Anh chỉ đang phô bày chủ nghĩa hoài nghi, chính là thứ khiến độc giả bị thao túng bởi các tác phẩm hành văn tệ hại. Tôi nghĩ sở dĩ Ellis và một số những tác giả nhất định tìm kiếm được độc giả bởi cái chủ nghĩa hoài nghi tăm tối tồn tại trong thế giới ngày nay. Nghe này, nếu xã hội hiện nay thực sự thối hoắc, vô cảm, chạy theo đồng tiền, bị thiểu năng về cảm xúc, thích bạo dâm và ngu độn, vậy thì tôi (hay bất cứ nhà văn nào) có thể cực dễ dàng mà vá chỗ này đắp chỗ kia ra đại những câu chuyện có những nhân vật ngu ngốc, nhạt nhẽo, EQ thấp mà vẫn bán ào ào, vì kiểu nhân vật này không cần phát triển tuyến nhân vật gì cả. Miêu tả anh ta (hay cô ta) chỉ cần Ctrl+V một đống hàng hiệu. Cốt truyện thì toàn người ngu ngốc nói toàn chuyện vô vị. Nếu những đặc điểm chỉ ra một tác phẩm văn chương tệ hại là: nhân vật thiếu chiều sâu, một thế giới sáo rỗng và vô nhân tính,... lại đồng thời là những đặc điểm dùng để miêu tả thế giới ngày nay, thì văn chương dở lại hóa ra là một bức phác họa tinh tế của một thế giới tệ hại. Nếu độc giả đơn giản là tin rằng thế giới này ngu ngốc, nông cạn và xấu tính, thì Ellis có thể viết một quyển tiểu thuyết xấu tính, nông cạn và ngu ngốc mà hóa ra lại là một lời trào phúng về một thế giới tệ hết chỗ nói. Nghe này, có lẽ gần như tất cả chúng ta đều đồng ý là đây là thời kỳ đen tối và ngu đần, nhưng chúng ta có cần thêm những quyển tiểu thuyết viễn vông không làm gì hơn ngoài việc làm quá lên cái mặt đen tối của xã hội? Trong thời kì đen tối thì đáng lẽ nghệ thuật phải là thứ định hình và thổi sức sống hồi sinh cho cái nhân tính ít ỏi còn lại và cho những phép màu vẫn còn ngoài đó đâu đây. Văn học hư cấu xuất sắc đáng lẽ là những quyển sách có thể vừa miêu tả đúng đắn bản chất của thế giới, cho dù tác giả có muốn tô vẽ thêm cho nó càng tối tăm hơn, vừa soi sáng được hy vọng sống sót và vẫn còn giữ được nhân tính của những con người trong thế giới này. Bạn có thể biện hộ rằng American Psycho là một bản tóm lược ngôn hành của các vấn đề xã hội ở cuối những năm 80, nhưng nó cũng chỉ đến thế mà thôi, chẳng có gì sâu sắc hơn cả.

7. Vladimir Nabokov bàn về Anh em nhà Karamazov Tội ác và hình phạt

Trong bài phỏng vấn với James Mossman, xuất bản trong tờ The Listener, ngày 23 tháng Mười năm 1969, được in lại trong tờ Strong Opinions:

Nếu bạn đang ám chỉ đến những quyển tiểu thuyết tệ nhất của Dostoevsky, thì, tất nhiên, tôi rất không thích quyển Anh em nhà Karamazov và cái mớ bòng bong rùng rợn Tội ác và hình phạt. Không, tôi không phản đối hành trình tự đi tìm bản ngã, nhưng trong những quyển sách trên, linh hồn, tội lỗi và đa cảm, và văn phong viết không thể bù lại cho công cuộc tìm kiếm rối tung rối mù và chán chết kia được.

8. Vladimir Nabokov bàn về Finnegans Wake

Từ bài phỏng vấn năm 1967 trong The Paris Review:

Tôi căm ghét Punningans Wake, một tác phẩm mà sự lây lan nhanh chóng tựa như tế bào ung thư của các từ ngữ bác học cũng không thể cứu vãn nổi thái độ vui vẻ tởm lợm của các phong tục trong đó, và các phép ẩn dụ đơn giản, quá đơn giản.

Từ một bài phỏng vấn khác năm 1967, được thực hiện bởi một trong các sinh viên của Nabokov tại Cornell:

Ulysses vượt trội hơn bất kì tác phẩm nào khác của Joyce, và khi so sánh với sự sáng tạo cao quý, dòng suy nghĩ và phong cách sáng suốt độc đáo của nó, Finnegans Wake không hơn gì một mớ truyện dân dã hỗn độn giả tạo không hình không dạng, một miếng thạch không đông dưới dạng một quyển sách, là tiếng ngáy không ngừng ở phòng bên cạnh, quấy rầy làm người ta mất ngủ. Hơn nữa, tôi luôn chán ghét những áng văn chương địa phương chứa đầy những từ vựng xưa cũ quái gở và những cách phát âm bắt chước vụng về. Vẻ bề ngoài của Finnegans Wake ngụy trang dưới dạng một căn nhà cho thuê thường thấy chứa đầy gái mại dâm, và chỉ có tiếng tụng kinh như từ thiên đường thỉnh thoảng xuất hiện mới cứu nó khỏi số phận vô vị, buồn chán. Tôi biết là tôi thể nào cũng bị đuổi khỏi thánh đường vì phát ngôn này.

Còn tiếp.

Xem tiếp phần 2.

Emma Đẹp Thần Thánh lược dịch.

Bản gốc do Emily Temple thực hiện, đăng tại Literary Hub.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu và góc nhìn từ tang quyến

Độc giả xem những quyển sách này như một cơ hội để chạm vào ẩn số vĩ đại – cái chết, một cách an toàn. Họ ít nhất được trấn an rằng cái chết, theo những người sắp chết, thực sự không đáng sợ như chúng ta hằng nghĩ.

Published

on

By

thao go phep mau julie yip williams

Tháo gỡ phép màu là cuốn sách Julie Yip-Williams kể lại câu chuyện cuộc đời mình, từ một bé gái bị khiếm thị bẩm sinh, vượt khó với nghị lực phi thường và cuối cùng qua đời khi chống chọi với căn bệnh ung thư giai đoạn cuối.

"Câu chuyện này bắt đầu ở điểm cuối. Nghĩa là nếu bạn đang đọc những dòng này, thì tôi đã không còn nữa. Nhưng không sao cả... Ở đây, tôi bắt đầu viết ra trải nghiệm của mình cả về cuộc đời tôi đã sống và những gian nan tôi đã chịu - cả hai đều không toàn diện, song cũng đủ để bạn thấy rõ quãng đường mà tôi đã đi và thế giới mà tôi đã tạo dựng suốt đời mình. Và thứ vốn ban đầu chỉ để ghi lại cái chết yểu chực chờ đã trở thành điều gì đó có ý nghĩa hơn nhiều: lời cổ vũ cho các bạn, những người vẫn đang sống.

Hãy sống khi bạn còn đang sống, bạn nhé. Từ lúc phép màu khởi đầu, đến khi phép màu tháo gỡ."

Thao go phep mau 3
Tháo gỡ phép màu

*

Thời gian qua, rất nhiều cuốn hồi ký do bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối viết đã trở thành best-seller, có thể kể đến Khi hơi thở hóa thinh không của Paul Kalanithi; The Bright Hour của Nina Rigg hay Dying: A Memoir của Cory Taylor.

Độc giả xem những quyển sách này như một cơ hội để chạm vào ẩn số vĩ đại - cái chết, một cách an toàn. Khi nhìn vào khoảnh khắc tồi tệ nhất trong cuộc đời của một người xa lạ, họ ít nhất được trấn an rằng cái chết, theo những người sắp chết, thực sự không đáng sợ như chúng ta hằng nghĩ.

Hồi ký của Julie Yip-Williams thì khác, nguyên chất, không cắt cạnh gọt giũa, trung thực một cách tàn nhẫn khi miêu tả cơn thịnh nộ đi kèm với nỗi đau thể xác của một bệnh nhân ung thư. Quyển sách bao trùm trong những cảm xúc chân thực nhất của một người đang đối diện với cái chết sớm: trực diện, trần trụi, và không hề được lãng mạn hóa.

Dưới đây, chúng ta có thể biết thêm một góc nhìn khác về quyển sách Tháo gỡ phép màu - giọng nói của tang quyến.

Julie qua đời vào tháng 03.2018, quyển sách Tháo gỡ phép màu được phát hành sau đó 1 năm. Josh Williams, chồng của tác giả, đã có những chia sẻ chân thực với trang Vulture xoay quanh người vợ quá cố cũng như quyển hồi ký.

Anh chia sẻ thẳng thắn về nguồn gốc quyển sách, những khó khăn của anh trong việc chia sẻ câu chuyện của gia đình mình với đông đảo bạn đọc, và cả cái tâm trạng quái quỷ khi biết rằng anh chỉ có thêm 4 năm nữa để sống với người mà anh muốn chung sống cả đời.

*

Cảm xúc của bạn khi quyển sách Tháo gỡ phép màu được xuất bản?

Như tôi đã nói, Julie thực sự không có ý định thương mại hóa bất kì bài viết nào. Cô ấy chỉ cảm thấy phần lớn những thông tin ngoài kia (về ung thư, về cái chết) là không trung thực, thậm chí gây hiểu lầm, và không đặc biệt hữu ích. Và chiếc blog của cô, một nơi duy nhất trên thế giới, giúp Julie phơi bày những cảm xúc chân thực nhất.

Phản ứng của Julie khi nghe rằng NXB thực sự quan tâm đến việc chuyển thể nó thành một cuốn sách - ý tôi là, thật khó để diễn tả. Cô ấy vui như được lên cung trăng. Lúc đó cô ấy thực sự yếu.

Cô biết mình không còn nhiều thời gian nữa. Tôi nghĩ Julie rất xúc động khi được để lại thứ gì đó, bởi vì cô ấy nghĩ rằng quyển sách có thể hữu ích cho những người đang đau khổ ngoài kia. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng cô ấy thực sự, thực sự muốn để lại một di sản hữu hình, đặc biệt là cho những đứa trẻ. 2 đứa đều còn quá nhỏ khi mẹ chúng qua đời.

Julie viết rất nhiều cảm xúc tức giận, bất lực trước cái chết. Đó dường như không phải là cảm xúc mà mọi người muốn đề cập đến khi nói về ung thư?

Chúng tôi có một kỳ nghỉ gia đình hàng năm, nơi chúng tôi có mặt cùng với bố mẹ tôi, chị em tôi và gia đình của họ. Và chúng tôi quyết định thực hiện nó vào năm 2013, mặc dù Julie lúc đó vừa nhận chẩn đoán về căn bệnh quái ác.

Tôi nhớ mình đã ngồi bên cạnh cô ấy, tất nhiên là trong tâm trạng bị sốc, thất thểu và đọc các bài blog của Julie. Và ngạc nhiên rằng, các bài viết đều rõ ràng và hữu ích.

Chúng tôi thống nhất với nhau rằng sứ mệnh trọng tâm của các bài blog, hay sau này là quyển sách Tháo gỡ phép màu, là thể hiện những cảm xúc trung thực, cởi mở và thực sự hữu ích. Những cảm xúc này đã ở đó, ngay từ đầu cuộc hành trình chống chọi ung thư của cô ấy.

Bạn có bảo vệ cuộc sống riêng theo một cách nào đó không? Vì hẳn sẽ rất nhiều người nói về gia đình, về vợ và các con bạn.

Chúa ơi. Nghe này, tôi không muốn mọi người hiểu sai, nhưng điều đó thực sự khó khăn với tôi. Tôi rất tự hào về cô ấy. Và tôi thực sự rất biết ơn vì cô ấy đã nhận được một hợp đồng xuất bản tốt. Julie xứng đáng được hưởng một điều lớn lao trong cuộc đời, nhất là khi cuộc đời này đối xử quá bất công với cô ấy. Tôi thực sự tự hào về vợ mình. Và tôi cũng rất vui vì quyển sách giúp cất giữ kỉ niệm về Julie với các con. Ở tuổi 42, tôi đủ lớn để hiểu rằng ký ức sẽ phai nhạt nếu ta không gìn giữ.

Nhưng về mặt cá nhân, điều đó rất khó khăn. Tôi chỉ đang cố gắng duy trì tập trung vào những khía cạnh tốt. Nhưng nó sẽ không phải là lựa chọn của tôi. Tôi không thích nói về cuộc sống cá nhân của mình, nhất là khi đó là những kỉ niệm đau đớn. Mất Julie là trải nghiệm đau khổ nhất trong cuộc đời tôi cho đến nay.

Tôi hiểu. Bạn không nói rằng bạn ghét cuốn sách hay ước gì cô ấy không viết nó - chỉ là đây không phải là tình huống bạn muốn.

Tôi là ai để ngồi đó và giết chết giấc mơ của cô ấy? Tôi đã rất yêu cô ấy. Tôi muốn cô ấy hạnh phúc. Tôi biết điều này làm cho cô ấy rất hạnh phúc. Và tôi biết rằng đó là mục tiêu sống của cô ấy. Ngay cả giấy chứng tử của Julie cũng viết rằng cô ấy là một luật sư và một tác giả. Cô ấy sẽ thích điều đó. Cô ấy sẽ mỉm cười với điều đó.

Có điều gì trong cuốn sách mà bạn chưa đọc, hoặc không thể đọc, cho đến khi cô ấy qua đời không?

Trước đây, tôi đọc các bài viết tại nơi làm việc. Hoặc có thể là vào ngày hôm sau nếu tôi có một ngày làm việc đặc biệt bận rộn. Nhưng theo thời gian, khi mọi thứ trở nên trầm trọng hơn vào năm 2016, 2017.

Tôi đã không thể đọc bài đăng mà cô ấy viết cho tôi có tựa đề “Tình yêu” - bài đăng cuối cùng hoặc áp cuối mà cô ấy đã viết - cho đến nhiều tháng sau khi chấp nhận được sự thật. Tôi đọc bài đăng đó khi Julie đã qua đời.

Julie có đọc hồi ký nào khác của những người mắc bệnh nan y không?

Tôi chưa đọc bất kỳ cuốn nào trong số đó, nhưng tôi biết rằng Julie chắc chắn đã đọc Khi hơi thở hóa thinh khôngvà quyển sách của Nina Riggs - The Bright Hour.

Bạn có thấy Tháo gỡ phép màu và cả những quyển hồi ký của bệnh nhân ung thư nêu trên, sau tất cả, mang lại một động lực tích cực?

Tất nhiên.

Những cuốn sách đó không có từ năm 2013. Trở lại năm 2013, nếu đọc chúng, tôi gần như cảm thấy hụt hẫng, kiểu như: “Ôi Chúa ơi. Những người này xem ung thư là một thách thức. Như một cơ hội.”

Họ viết về cái chết nhẹ như bẫng, như thể việc ghi một bàn thắng, việc giảm đi mười cân. Bởi theo những người sắp chết, cái chết thực sự không đáng sợ như chúng ta luôn nghĩ.

Vào một thời điểm nào đó trong cuốn sách, Julie chấp nhận những gì sắp xảy ra với bản thân. Bạn đã nghiệm ra khái niệm về "cái chết" mới của riêng mình chưa?

Cái chết có lẽ ít đáng sợ hơn với tôi so với trước đây. Julie không thực sự thuộc về tôn giáo nào, nhưng cô ấy sở hữu niềm tin tâm linh của người phương Đông. Cô ấy không sợ chết. Tôi nghĩ rằng mọi người đều có một chút sợ hãi, nhưng cô ấy thì không - thậm chí rất lâu trước khi cô ấy bị bệnh.

Mặt khác, tôi hoàn toàn kinh hãi về điều đó. Tôi đấu tranh với niềm tin rằng thực sự tồn tại một 'thế giới bên kia'. Quan sát Julie, tôi luôn tự hỏi không biết khi nó thực sự xảy ra thì sẽ như thế nào. Cô ấy rất bình yên khi ra đi - vì vậy theo một cách nào đó, làm giảm bớt nỗi sợ hãi của tôi. Nhưng tôi không biết liệu nó có thực sự trả lời bất kỳ câu hỏi sâu xa nào của tôi về 'thế giới bên kia' ấy hay không.

Có điều gì bạn muốn mọi người biết về Julie mà họ không thể hiểu khi đọc cuốn sách này không?

Tôi nghĩ rằng Julie có lẽ là người dũng cảm nhất mà tôi từng gặp. Đó không chỉ là vấn đề thị lực yếu hay suýt mất mạng dưới tay người bà. Cô ấy là một người cực kỳ thích phiêu lưu mạo hiểm, cô ấy đã đi khắp 7 lục địa vào năm 30. Tôi biết rằng một số người có thể đọc cuốn sách và nghĩ rằng cô ấy thật khắc nghiệt, gay gắt. Cô ấy thực sự có một số khía cạnh khó khăn, nhưng Julie cuối cùng là một người tốt bụng và yêu thương gia đình.

Tôi hy vọng độc giả cảm nhận được điều đó khi đọc quyển sách.

Chắc chắn.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Hillary Kelly, đăng tại Vulture.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Hồ sơ Rachel: Tiểu thuyết đầu tay và quan trọng nhất định hình nên Martin Amis

Hai mươi có thể chẳng phải là khởi đầu cho sự chín chắn, nhưng, chắc chắn, nó là kết thúc của tuổi thanh xuân.

Published

on

Khi nói về những cuốn sách táo bạo nhất tôi từng đọc qua, thì Trên đường, Chuyện nàng O và Hồ sơ Rachel không thể thiếu ở đầu danh sách. Nếu Trên đường kỳ lạ bởi cái hoang dã sống chết hết mình trong thời tuổi trẻ, Chuyện nàng O là bởi màu sắc huê tình đậm đặc dục tính; thì Hồ sơ Rachel như vùng giao chiếu của biểu đồ ấy – giữa cái hoang vu tuổi trẻ và tính bạt mạng thời khắc huê tình. Với cuốn tiểu thuyết đầu tay và vẫn còn "thô" như chính Martin Amis từng thừa nhận sau này – ông đã viết nên câu chuyện đầy ngạo nghễ, phớt đời, suồng sã mà không thiếu đi tính đa cảm trong mỗi nhân vật. Như dấu chỉ cho một sự nghiệp sừng sỏ của một trong những nhà văn quan trọng nhất nước Anh sau này, Hồ sơ Rachel là tấm gương phản ánh thời đại – nơi chú hề "đại lộ" tự soi chiếu mình để rồi bất chợt nụ cười vẽ sẵn đang tự khinh mình, cũng khinh khi đời; trong một kiểu thức phóng túng, trịch thượng đến độ bi kịch, éo le.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng của tác phẩm Hồ sơ Rachel.

*

Nếu có cuộc bình chọn đâu là nhân vật đặc sắc nhất trong những tác phẩm văn chương từ trước đến nay, thì Charles Highway có lẽ là người mình dành duy nhất mọi sự trông mong (xin lỗi Jack của Titanic, vì sự chung thủy của mình). Để họa được Charles chắc hẳn không có một tính từ nào cố định cho chàng trai này, giữa "cao ngạo", "tự luyến", "suồng sã", "khinh khi",… Charles là tổng hòa của những điều ấy, là người con trai với tuổi thiếu niên rực lửa mà như anh nói, Hai mươi có thể chẳng phải là khởi đầu cho sự chín chắn, nhưng, chắc chắn, nó là kết thúc của tuổi thanh xuân. Và do đó, Charles của tuổi 19 dạm ngõ 20 là cá tính duy nhất và độc đáo nhất ta được trải nghiệm ở nơi con ngựa bất kham, giữa những mối quan hệ gia đình, giữa sợi dây bó chặt xã hội và những khoái lạc rủa xả rất đáng để tâm.

Thành thực mà nói, Martin Amis đã xây dựng một Charles táo bạo không bằng phép màu nào cả. Người con trai đại lộ ấy cũng như những chàng thanh niên khác, người có đủ thứ mụn trứng cá, đổ đốn vào rượu chè rẻ tiền và cà phê, chơi pinball, săn tiệc, tìm gái và… xuất tinh. Thế nhưng bằng chính cái "thô" như Amis thừa nhận – nó không đặt ra giới hạn đạo đức hay mỹ học nào cho tiểu thuyết này cả. Là bầu trời của những cậu chàng, là cánh cửa mở vào xã hội của những năm xưa; ta thấy sự vận động của Hồ sơ Rachel chứa đầy chủ nghĩa tự nhiên dáng vẻ Zola. Nói thế để thấy rằng, Hồ sơ Rachel tuy là một tập sách đóng mà Charles giữ riêng cho mình, thế nhưng đồng thời cũng là cánh cửa dẫn vào quá khứ của ngày hôm nay, để biết rằng dù thời gian có trôi qua bao lâu đi nữa, con thác dữ dội mà gập gềnh tuổi trẻ vẫn thế, vừa đáng sống mà cũng đáng quên. Điều khác biệt duy nhất ta có thể nhận ra là liệu có còn giới hạn của đường biên quy hoạch tuyến tính, nơi đạo đức hay tính mỹ học như nhát cắt gọn vào trong hiện thực, khi con người bịt mắt sống tiếp những hôm nay?

Đối với Charles, cảm giác về một cậu chàng Don Quixote đánh nhau với cối xây gió là mặt nổi bật không thể không thấy – cậu chàng với đủ thứ trò dối trá, cao ngạo, ngang tàng; người của hàng tá những lần làm làm tình trong trạng thái say ma túy và thức dậy vào chiều hôm sau. Hơn thế, để làm tăng vẻ ngoài đầy nổi bật ấy, anh ta phục sức chính bản thân mình bằng những tiểu luận – phê bình thơ ca, trong khi bản thân không cảm được một chút nào những bài thơ ấy. Thế nhưng ở tuổi 19, 20 thơ mộng tràn đầy tự tin cùng những cô gái mê đắm trong bầu không khí bung xõa của dân hippie, cơn sóng thanh xuân đã tràn vào người và dĩ nhiên không lâu sau đó, như một kết quả tất yếu của những lần làm tình bừa bãi, anh đã mắc lậu.

Dễ thấy Amis xây dựng hình tượng Charles vượt ngoài khuôn thước bằng những điều trên, thế nhưng một mặt nào đó, ông cũng xoay ngược cậu chàng vào bản thân mình bằng những bi kịch dường như lớn hơn. Đầu tiên là cái trăn trở về một gia đình ôn cố mờ nhạt – nơi cha mẹ đóng vai như những con rối giữ vững hạnh phúc gia đình trong khi bản thân đã chết trong nhau từ lâu. Đôi lần anh nói từ tuổi rất nhỏ về nỗi căm hận và sự đau đớn, Căm hận là phản ứng tâm lý duy nhất ta học được trước một bầu không khí gia đình cằn cỗi. Nó là một cảm xúc tàn phá và… đau đớn. Chính những cuốn sổ và sở thích viết một năm 7 cuốn nhật ký, việc viết chớp nhoáng bất cứ ai mà anh từng gặp, ghi chép những điều mình đã từng thấy – đã cung cấp cho anh một góc nhìn rộng về thế giới nghi hoặc này; cộng với tính cách suồng sã nơi bản thân mình; cả hai gặp nhau và nổ trong nhau thành một phản ứng châm biếm xã hội đầy rặt nụ cười trong cái đớn đau ta không thể thấu.

Và chính việc gặp Rachel đã cho anh một tiêu cự phù hợp trong câu chuyện ấy. Để nói một cách dễ hiểu, thông qua Hồ sơ Rachel, Diễn văn gửi bố hay Những cuộc chinh phục và kỹ thuật [những cuốn sổ tay của mình], anh ít nhất đã có một góc nhìn vào bức tranh xã hội đương thời. Thế nhưng nếu đó là bức tranh lớn với bối cảnh rộng; thì cuộc tình và những mơ ước cùng với Rachel cho anh trải nghiệm thực hơn cũng suy tư hơn về vị trí và vai trò của mình ở bờ bến 20. Nếu trước 20 tình dục là cái ta làm, là phận sự của bản thân ta; thì sau 20, chỉ qua một nhích của cây kim giây, lập tức trở thành cái ta phải làm cho xong và là phận sự đối với bạn tình. Chính đường biên mỏng manh về thời khắc này cho anh dũng khí để đến với Rachel, để sống cuộc đời riêng bản thân mình, để được ngập chìm trong bãi tha ma nơi bánh xe đỗ của thế hệ trước.

Việc tiếp thu và hành xử như những lớp người đi trước biến cuộc tình này thành một đường thẳng, như trong những ngày tan vỡ sau này, anh phải thừa nhận Mối quan hệ của bọn tôi cho đến phút đó chỉ toàn là thẳng tiến và lý tưởng hóa, không có tính thật thà đến nỗi khi trường hợp ủ dột thực tình, đáng ghét đầu tiên xuất hiện, tôi (và cả Rachel) nhận ra là bọn tôi chẳng có thứ máy móc nào để phá vỡ nó. Chính trong trạng thái thúc giục của thời quá độ, Charles không còn là anh. Từ người cao ngạo nay bị ra rìa ở Tea Centre, từ bị từ chối không biết bao lần nay lại nuôi mộng bám dính dằng dai; để đến cuối rồi thì, Rachel đến với anh chỉ như lựa chọn của cuộc may rủi, để một trong hai (giữa anh và DeForest) không ai phải đau khổ thêm. Và kết quả trước mắt là khuynh hướng tự suy ngẫm đời mình cho có thứ tự lớp lang đã đánh bại anh, làm nhục anh và phơi bày cái đa cảm của bản thân mình ra trước người đọc.

Thế nhưng chính cuộc chinh phục tưởng như mãi mãi bỗng chốc khép lại bằng những lý do không thể lạ hơn – vì Rachel nhơ nhớp, dơ bẩn; vì Rachel tè dầm hay kỳ quặc hơn nữa, vì Rachel nổi mụn trên mũi!? Trải qua thời kỳ mê đắm cho đến suy sụp, cuộc tình của hai người họ kết thúc một cách không thể lường trước. Thế nhưng đằng sau bề nổi của tảng băng chìm ấy, là dối trá, lọc lừa; là những mặt đối lập chưa thể nhìn thấy ở tít đằng xa, mà cú cua gấp ở phía sau cùng, là cuộc vụng trộm với người đàn bà khác dẫn đến Rachel mang thai trong một trường hợp không thể lường trước.

Vào đúng khoảnh khắc Charles nhận ra bao cao su bị thủng cũng là lúc trách nhiệm của việc có con len sâu vào anh, mà hai đại diện vô cùng tiêu biểu đã cho anh thấy con đường ấy không hề dễ dàng. Việc thù ghét cha mình vì một gia đình bình thường, vì sự xa cách, vì mối quan hệ nhợt nhạt vẫn không thể bằng việc ông không cần dối vợ, tự mình duy trì sức khỏe để có tình nhân và còn thật thà hơn nữa, dẫn hai chị em họ về nơi nhà mình trong bầu không khí bàn luận chính trị của giới tinh hoa. Gần hơn chỉ cách có một vách tường, việc cảm thông với Jenny trước những nhục hình Norman gây ra vì không muốn cô sinh con, không muốn bầu vú chảy xệ đậm đặc mùi sữa hay bánh pudding sẽ không còn khít khi anh ra vào; đã đánh động Charles một điều gì đó về sự khốn nạn của việc làm cha, của chính tình trạng khốn khổ mà bọn đàn ông gây ra cho người phụ nữ để rồi sau này Rachel đáp hoàn toàn ngược lại. Chắc anh sẽ nói chuyện này khá khá… nhảm, nhưng con cái là thứ duy nhất phụ nữ có thể có mà đàn ông thì không. Và họ nên tự hào về điều đó. Cái đó đã bù trừ mọi chuyện.

Và Charles có thật đáng trách khi đổ mọi thứ lên đầu Rachel? Bởi lẽ nguồn cơn của việc bao thủng cũng chính là cuộc vụng trộm của anh với Gloria, việc cho rằng Rachel nói dối về gia thế mình, về ba lý do không đâu như đã dẫn trên… tất cả dẫn về một sự ích kỷ ở phía Charles. Ngao ngán hơn, là lời biện hộ không thể nuốt trôi Tôi cũng đã nói dối và tưởng tượng và lừa bịp; sự tồn tại của tôi cũng là một cái mạng nhện dối trá sắc màu sặc sỡ – nhưng với tôi việc đó […] mang đậm tính giải trí, văn chương, để đáp lại một nhu cầu trí tuệ hay cảm xúc. Thế nhưng nhìn nhận ở một mặt khác, việc còn quá trẻ và phải chứng kiến những sự phụ bạc, những lần bạo hành chỉ vì vấn đề con cái nơi người đàn ông trong gia đình mình đã dẫn Charles đến phán quyết ấy; tuy rằng bất công nhưng vẫn có thể cảm thông cho một tuổi trẻ đã quá hư hao. Đến cuối rồi thì không ai vui vẻ, không ai được gì; chỉ toàn mất mát bởi con tàu nhanh cuối cùng cũng đã vào ga, cuốn phăng mọi thứ cản trở trên đường.

*

Với Hồ sơ Rachel, Martin Amis đã viết nên một tiểu thuyết thách thức thời đại, nơi ông phá bỏ mọi định kiến đạo đức để biến cái thô vụn thành niềm chân thật không một vết xước; để từ đó ta thấy một tuổi trẻ vội vã, những đứt gãy gia đình, những dằn vặt tự thân trở thành nguyên liệu cho điệu jive linh hoạt của những bàn chân suồng sã, trịch thượng, phóng túng lướt trên sàn nhảy cứng đanh mang vẻ giả tạo của xã hội Anh một thời quá khứ và cả sau này. Hồ sơ Rachel ngạo nghễ, linh hoạt mà đa cảm một cách không ngờ. Tiểu thuyết đầu tay và quan trọng nhất định hình nên Amis của ngày hiện tại. Vô cùng hay ho.

Hết.

minh.

Ảnh đầu bài: Nhã Nam

*

Hồ sơ mật: Danh sách xếp hạng văn học 2020


Đọc bài viết

Cafe sáng