Phía sau trang sách

Công thức của Rupi Kaur, “nhà thơ của thập niên”

Sau khi đọc “Rupi Kaur là nhà thơ của thập niên” trên tờ New Republic của Rumaan Alam.

Published

on

Mấy năm trước và gần đây, Milk and Honey (Bản dịch có nhan đề Sữa và Mật, NXB Nhã Nam, 2019) của Rupi Kaur nổi như cồn. Nổi về nhiều khía cạnh, những dòng thơ súc tích, ngắn gọn, cô đọng, không cần phải suy nghĩ nhiều mà vẫn có thể rút ra được những nhân sinh quan dễ hiểu và có thể coi là sâu sắc, bên cạnh đó, có thể bằng những bức sketch line-art thường đi kế cạnh, thơ ngắn, dễ vừa một khung hình chụp up story, bìa sách đẹp,… Để vắn tắt sự ảnh hưởng của nó, trước khi được dịch, năm 2018 và đầu năm nay, dân “chơi sách” từ lâu đã sống chết với những bản thơ cổ Trần Dần, Vi Thuỳ Linh, Hoàng Cầm giờ đây đổ đi mua bản tiếng Anh, tiếng Pháp. Bìa sách màu đen, deep xịt, thơ gọn ghẽ có thể dịch bằng Google đủ làm nên sức lan toả của nó.

Sữa và mật

Rupi Kaur, nếu như bạn là người mê sách đồng thời cuồng Instagram thì có thể thừa biết, cô sở hữu 3,8 triệu người theo dõi hiện tại, một con số khổng lồ cho một tác giả, gấp 30 lần Margaret Atwood, 15 lần John Green, là những tác giả đang còn hoạt động và sử dụng Instagram thường xuyên. Thơ của cô bán được ba triệu rưỡi bản, con số ấn tượng trong khi thơ thế giới, đang lụi tàn, với số lượng bản in trung bình chỉ là 500 bản in, với sự vận động bớt ế miệt mài từ người thân và người nhà. Người trẻ Mỹ, trong sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông và văn hoá pop cộng đồng, sẽ có thể không hề còn nhớ tới Merwin hay Milosz, nhưng nhắc tới rupi kaur (viết thường, như mọi bài đăng của cô) thì họ sẽ liên hồi nghĩ tới một bức hình vuông vức trắng xoá, góc cuối bên phải có hình vẽ cách điệu bằng những dây mực, bên góc trái xoã xuống những dòng thơ ngắn gọn, phông Times New Roman.

Hai năm sau khi “milk and honey”, “the sun and her flowers” ra đời không đánh dấu cho điều gì mới mẻ và ý nghĩa gì quan trọng lắm. Vẫn những cách trình bày và bìa sách cũ, đi qua hiệu ứng của những câu từ không bao giờ viết hoa thì bắt gặp những câu thơ ngắn gọn, phô trương, dễ đoán, những phép ẩn dụ tưởng chừng nhấn nhá đến vô phương thấu hiểu thật ra nhạt nhẽo và tầm thường, sự ngắt câu chểnh mảng và chỉ gây dấu ấn chứ không mang ý nghĩa về bất cứ nội dung gì. Thì làm thế nào, Rupi Kaur, một nhà thơ (nếu bạn đồng ý), trẻ, số lượng tác phẩm chưa đồ sộ và chưa có thành tích nào đặc biệt quan trọng, lại thay đổi bộ mặt thơ thế giới trong thập niên này, và có thể cô, những hậu duệ cô sẽ tiếp tục duy trì điều đó vào những thập niên tiếp nữa?

Nếu là một người đọc dễ tính, như các cô nàng tuổi teen đang chuếnh choáng cuộc đời, yêu đương, những người lạc lối (trong thế hệ này, số người đó vô số kể, hơn 3,8 triệu nhiều) thì thơ Kaur dễ dàng đánh động và thuyết phục bạn, đó là thể loại thơ mà những người sõi đời sẽ kể (thật ra không phải, ở dưới sẽ cho bạn biết vì sao), là Nam Cao sẽ viết, thể loại thơ người ta sẽ rất thích để đăng kèm caption. Sau đây là công thức của Kaur:

1. Tính đánh động bằng hình ảnh:

Một số câu thơ (verse) của Kaur giống như một câu nói trong bài phát biểu của bà hội trưởng ôn tồn giảng đạo cho bầy trẻ hơn. Nhưng vì thế, nó “mạnh mẽ” và “bộc trực”:

Một trong số đó:

bạn sợ hãi

giọng nói của tôi

tôi cũng thế

tôi cũng sợ hãi nó

Hay:

thật mạnh mẽ làm sao

trái tim con người

qua bao lần tan vỡ

vẫn sống

Đó là những dòng thơ mà người ta sẽ lấy để làm lyrics cho những bài hát thị trường, nó mang tính đánh động trực diện vào hai thái cực cảm xúc khác nhau, chỉ với những vần thơ vô cùng đơn điệu và tầm thường. Bài đầu tiên, ám chỉ lời nói độc hại, “lời nói giết người hơn dao”. Bài thứ hai, ca ngợi, tự mãn với sức mạnh của trái tim con người. Chấm hết, không gì nghĩ ngợi hơn nữa. Để làm rõ sự đơn giản của lớp ý thức của Kaur, xin đọc một bài thơ cũng ngắn như thế của Merwin có tên là “Tiết kiệm” (bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng):

Không cần phải đập tấm gương.

Đây là khuôn mặt tan vỡ,

Sẵn cho bảy năm buồn bã.

Đầu tiên, ở phương diện hình thức, thơ của Merwin không cố cắt các đoạn thơ ra khi không cần thiết, các đoạn thơ ngắt nhưng đầy đủ nghĩa, chững chạc, vững vàng. Và sau mỗi câu đều có dấu câu, không cố níu giữ sự liền mạch giữa các câu thơ sau khi xuống dòng. Còn thơ của Kaur, sự bẻ ngắt vô thức để tạo sự vỡ mạch, ấn tượng, hụt hẫng, trong khi cách viết thì mong muốn sự liền mạch trong câu thơ (verse) như thể một đoạn văn (prose), loại bỏ mọi sự cản trở lẫn hỗ trợ của dấu câu. Rõ ràng, thơ Kaur có mang tính biểu hiện, gây ấn tượng hơn so với thơ cũ. Đó là một nguyên liệu quan trọng trong công thức thành công của cô, sự ngắn gọn, vừa đủ một khung hình Instagram bởi vì người ta sẽ không bao giờ đọc những thứ quá dài, phô diễn sự sâu sắc, bởi ai cũng thích đọc những vần thơ sâu sắc nhưng quá lười để nghĩ, để bóc tách sự sâu sắc đó ra và thử nghiệm, thôi thì để nhà thơ nghĩ luôn tất cả, tiếp đó, đánh động, nội dung đề cập thường khơi dậy con người tính giác ngộ về tính ác sẵn có (phù hợp với những người nghi hoặc) hay là trân quý con người (phù hợp với những con người yêu đời, trẻ trung, bước qua tan vỡ). Kaur tự rước vào mình thiên chức người mang tiếng nói chung, đó là những tiếng nói ai cũng biết, một bó rau muống mà ai cũng có thể tậu được trong chặng đường sống, nhưng cô ta thổi vào đó hình ảnh, đem nó qua Mỹ, đặt cái tên thật mĩ miều, “morning glory”, trang hoàng bao bì và lấy lời gấp ba gấp bốn từ nó. Trong khi, “Tiết kiệm” của Merwin, chỉ nói về những cảm xúc cá nhân, không hề toàn thể, rất bất chợt mà có thể sẽ không thường trực hiện diện trong chính con người của tác giả nữa. Vậy thì, độc giả phải tự đi tìm đó là gì, nó tốn quá nhiều thời gian, để tìm hiểu “bảy năm buồn bã” đó là gì, và hình ảnh cái gương vỡ biểu đạt cho điều gì. Và người ta hiện đại không đủ thời gian và tâm huyết để đi tìm hiểu sự buồn bã của một người, thay vào đó, người ta sẽ đi tìm tính nhân bản hiện diện cạn hẹp trong thơ Kaur.

Nói về những tính cá nhân trong thơ của Kaur, không phải là không có. Đại loại là:

tôi là nước

mềm mại đủ

để cung hiến cho đời

mạnh mẽ đủ

để cuốn phăng chúng đi.

Câu thơ đầu tiên rõ ràng là một câu tự sự, và rõ ràng bài thơ là cách tự nhận mình là nước của cô. Và bắt đầu giải thích sự toàn diện của lời tự sự vô thưởng vô phạt ấy, đó là một kiểu viết cổ điển, mang tính kêu gọi và toàn thể. Ai cũng có những cảm xúc tương tự đó, vì nó quá hoàn hảo, những cách giải thích hoàn toàn thuyết phục, tự đưa mình ra thành thánh nữ và lôi kéo người đọc thành tông đồ của tín ngưỡng của mình.

2. Không quên những dài dòng ngắn gọn:

Những câu thơ ngắn không phải bao giờ cũng là đặc điểm của Kaur, để có chỗ cho những phép ẩn dụ đầy sâu sắc (có lẽ) và để cảm xúc trôi thành cuộn, cô cũng có cho mình những bài thơ dài dòng, nhưng cũng lại chỉ vừa đủ trong một khung hình trắng trơn đó.

mẹ bạn

có thói quen là

cho bạn nhiều tình thương

quá mức bạn có thể giữ

ba bạn đã vắng mặt

bạn là một trận chiến

giữa biên cương hai nước

những phá huỷ song song

những nghịch lý gắn nối hai nước

nhưng cũng chia rẽ tàn khốc chúng

Đề cập đến chủ đề gia đình, với sự bất hạnh của tuổi thơ, lối kể nhưng lại đánh tới người đọc, xưng “your” (ngôi hai), bài thơ không thể không gây xúc động đặc biệt. Đoạn đầu mềm mại, dịu dàng, dập dìu, nữ tính, sau câu ngăn cách thì lập tức chuyển sang cơ học với vô số từ chuyên ngành lý tính (colleteral, paradox). Bài thơ tập trung được nhiều cung bậc, đủ sự ẩn dụ và hình ảnh thì quá sức gợi cảm, chỉ cần người đọc ở mức trung bình thấp cũng có thể hiểu nổi và gật gù (I’m a war), chính vì sự khó hiểu đơn giản ấy, cô thu hút độc giả tiếp tục trong một trò chơi giải mã từ ngữ mà cô bịa ra, trò chơi rất cam go, nhưng đơn giản.

cô gái da nâu xinh xắn

mái tóc dày của cô như dòng sữa dê không lọ nào chứa hết

cô gái da nâu xinh xắn

da cô khôn kham chứa nhiều mặt trời nhất có thể

tôi biết cô ghét làm da mình đen thêm

nhưng cô như nam châm hút tất cả ánh sáng

chứa nó nhiều nhất có thể

cô như nam châm hút tất cả ánh sáng

đôi lông mày giao nhau – xây cầu nối liền hai thế giới

âm đạo – nơi tăm tối sâu thẳm nhất cơ thể

đang cố giấu những quặng vàng

cô sẽ có những quầng thâm thật sớm

ưa thích những quầng sáng

cô gái da nâu xinh xắn

cô kéo chúa ra bụng họ

Bỏ qua những phép tu từ và từ ngữ lạng xạng khó hiểu, bài thơ là bức tranh ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ, từ những thứ mà họ cố phô ra cho người đời thấy cho đến nơi sâu thẳm nhất, bằng những hình ảnh thơ đẹp, lạ, hoán dụ chuyển đổi cảm giác nhiều, và sau đó là đối tượng hướng tới, “cô gái da nâu”.

3. Tình yêu và tính nữ trong xã hội shared pop-culture

Khó mà một nhà thơ trẻ nào, dẫu có tư duy lỗi lạc như Kaur lại có thể làm lơ chủ đề tình yêu như một mảnh đất màu mỡ để cày xới vun trồng. Tình yêu của Kaur cũng mang tính nữ như bao ai, tan vỡ, tổn thưởng và cứu rỗi, cô đơn. Và một trong số đó, có hàng loạt bài có thể đủ thời gian để trích dẫn ra đây như sau:

sự trớ trêu của cô đơn

ta đều cảm nhận được

cùng nhau

Hay:

yêu

với nỗi cô đơn

của bạn

Và:

tôi muốn tuần trăng mật một mình

Thay vì những đau khổ đầy cảm tính của những chị gái xuân sắc dậy dà thì Kaur nói về tình yêu với những kiểu cảm xúc lấy lý tính và tricky. Bài thơ trích dẫn ban đầu ngay lần đầu đọc đã cho người ta thấy sự thú vị trong cách triển khai ý nghĩa của một tình yêu đang dần nhạt nhoà nhưng cả hai không ai muốn buông tay trước. Đó là loneliness, nhưng togetherat the same time. Đối chọi từ ngữ, đầy thông minh. Bài thứ hai cũng vậy, nói về sự cô đơn sau tình yêu nhưng lại đề cập đến tình yêu, tình yêu với nỗi cô đơn. Điều này thể hiện tính biểu hiện của trong thơ của cô, cô muốn cho người ta thấy sự thông minh trong cách dùng từ của cô, thu kéo độc giả để soi chiếu những đối chọi từ ngữ chứ không phải những cảm giác văn chương và trải nghiệm.

Ca thứ ba là một sự thú vị nữa, độc nhất một dòng, dòng mà Lana Del Rey sẽ viết trong những bài hát rất femalist, với chất giọng lãng mạn du dạt như một kẻ tự tình tổn thương. Nhưng ở đây, Kaur không thể có âm nhạc, cô ta dùng hình vẽ, đặt bên cạnh một câu thơ độc nhất có vẻ đớn đau và đầy yếu ớt là người phụ nữ đang thủ dâm với vẻ tự mãn. Lập tức biến chuyển câu thơ thành một cách nghĩ khác, đầy nữ quyền, không còn ướt át mà đầy sức mạnh, sức mạnh của “lòng tự yêu bản thân”, theo một bình luận trên bài đăng mà tôi thấy. Điều này chứng tỏ những bức line-art bên cạnh, cũng đầy súc tích và siêu thực góp phần bổ trợ cảm giác cho chúng ta rất nhiều, sự kết hợp siêu văn bản (hypertext) hài hoà, độc đáo và có tác dụng là công cụ hữu hiệu giúp cô định hình, quy chuẩn suy nghĩ của người đọc. Và người ta sẵn sàng đắm chiều trong đó.

Kết thúc thập niên với Kaur, tôi mong ít nhất nó cho chúng ta cái nhìn trực diện nhất về cái cách mà chúng ta đọc đã thay đổi bộ mặt thơ. Phương tiện truyền thông và nếp sống nhanh, vội, nhưng vẫn muốn hiểu hết các giá trị sâu sắc làm Kaur và sự thông minh của cô (cả gương mặt, hình thể, theo Rumaan Alan) có đất để diễn giải và chiếm sóng. Cô không cần quá nhiều trải nghiệm về cách mạng Ireland như W. B Yeats, trải nghiệm cuộc sống chính trị và lối sống toàn cầu như Pablo Neruda, hay đau đớn bởi các phức cảm và bất hạnh đè nén, nhạy cảm như Sylvia Plath để viết thơ, cô chỉ cần phóng tác lại những tư tưởng giờ đây quá dễ dàng để kiếm và hiểu lại theo ngôn ngữ, hình ảnh và lối dùng từ của mình. Các tên tuổi Whitman, Frost, Dickinson,… không còn phù hợp với lối sống của đại đa số giới trẻ nữa, thay vào đó sẽ là những bài thơ độc ngôn, ngắn gọn và ít phải suy nghĩ như thế. Kaur hiểu được người đọc đương thời muốn những nghịch lý gì, muốn sự phức tạp mà đơn giản, sự sâu sắc mà dễ hiểu, sự chảy tuôn trào cảm xúc nhưng tỉnh táo và lý tính, sự cuồng si và thẳm tối nhưng vẫn tricky và trào lộng. Có thể nói sự thành công lớn nhất của cô không phải ở chỗ thơ của cô đạt tới những tầm mức cao thế nào, mà chính tư duy trong cách làm thơ, cô đã dạy cho chúng ta, những người viết trong thế hệ trẻ, nếu muốn thoát khỏi bàn tròn của những chuyên gia, xâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng thì phải làm thế nào, đó là công thức chung nhất của văn chương những ngày sau của thập niên kế tiếp, tôi đoán.

Hết.

Gia Bin

Ảnh: rupikaur_


Đọc tất cả những bài viết của Gia Bin.


Một năm nhìn lại



Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng