Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Nghiệt tử: Bài ca khát sống

Tất cả đau thương cứ rơi lả tả như trận mưa không dứt tỏa xuống từ công viên này.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

“Tớ sẽ cho cậu thấy, tớ thực sự đang sống trong một vở kịch như thế nào” – đấy là câu thoại mà Tiểu Ngọc nói cùng Thanh trong bản chuyển thể điện ảnh của Nghiệt tử vào năm 2003. Và quả thật cũng đúng như vậy, bằng quyển tiểu thuyết này, Bạch Tiên Dũng đã âm thầm dựng lên một sân khấu lớn, tuyển chọn diễn viên và cứ thế action không cần kịch bản. Vốn dĩ chẳng cần một dòng chữ nào bởi họ đang sống như chính là mình, phơi bày ra trước thế giới rộng lớn bản chất thật nhất của mình, kể câu chuyện đời mình. Họ là đội quân những bóng ma lang thang vô định trong từng mét vuông sân khấu, phê pha tận hưởng từng khoảnh khắc vẻ vang hay đớn đau, và tất cả được Bạch Tiên Dũng ghi lại dưới con mắt lành nghề vừa mang vẻ tinh tế, nhưng cũng đồng thời, thật đến tan nát cõi lòng. Với Nghiệt tử, ông không hẳn cho thấy cái tréo ngoe cùa những con người vốn được coi như một trò đùa của tạo hóa, mà ngay cả những người tưởng như bình thường nhất, những người con theo đúng ý định của Adam và Eva nhất, cũng đồng thời mang trong mình cái gen tréo ngoe mà hễ sinh ra là kiếp con người, ai rồi cũng sẽ nếm mật nằm gai.

Nghiệt tử như cơn đồng sàng dị mộng rất khó tiêu hóa, khi một bên là đời sống bên ngoài ở Công viên Mới, một bên là những thẳm sâu bên trong mỗi nhân vật. Lấy câu chuyện của Thanh làm mạch sườn chính, Bạch Tiên Dũng tạo ra ban đầu một sự tiếp cận vô cùng tuần tự. Một thanh niên đang tuổi nổi loạn bùng cháy những khát khao yêu đương hừng hực tuổi trẻ, nhưng hà khắc ở chỗ, tình yêu ấy chưa bao giờ được chấp nhận bởi những phụ huynh vẫn tin lí tưởng của mình trên hết, và một xã hội dẫu được Tây hóa từ rất lâu như Đài Loan vẫn phải chào thua. Những đứa trẻ một khi đã như những con thiêu thân lao đầu vào thứ tình cảm ấy, đều có một số phận không mấy êm đẹp. Như lời lão Quách từng nói khi mở tập ảnh Bầy chim Thanh xuân rằng: “Chính dòng máu trong người đã thôi thúc chúng bây, chúng bây là lũ nhóc hoang dại sinh ra trên hòn đảo này, giống như bão tố và động đất trên đảo. Chúng bây là bầy chim non đã mất đi tổ ấm. Giống như bầy chim én bay vượt đại dương, chỉ biết gồng mình bay về phía trước, rồi sẽ bay đến nơi đâu chúng bây cũng không biết được.”

Ở đó tồn tại một vương quốc nơi những con người lạc loài như họ hàng ngày vẫn tề tựu về như chốn dung dưỡng tâm hồn. Đó là một vương quốc không phân giàu nghèo, sang hèn, già trẻ hay mạnh yếu, mà đó là chốn thỏa bày, là nơi hợp nhất những sự tuyệt vọng như hai dấu trừ của môn đại số, để rồi từ đó bật lên là những cảm thông, là sự chia sẻ qua hết ngày dài đoạn tháng. Từ Công viên Mới ấy, Bạch Tiên Dũng tỏa ra nhiều ngã, sử dụng những câu chuyện nhỏ như nét chấm phá gợi lên đôi chút thương đau. Về anh thầy giáo thể dục, về cậu thiếu niên nhảy cầu Đạm Thủy, về cậu bé vẫn mãi trông chờ người tình nước Mỹ của mình đến mức hóa rồ hay cả chuyện tình ly kì của Phượng,… Tất cả đau thương cứ rơi lả tả như trận mưa không dứt tỏa xuống từ công viên này.  Chật chội, ám ảnh và đè nén như những thước phim đặc tả cái cô đơn đậm chất Hongkong của Vương Gia Vệ bằng những khung hình chật hẹp, Bạch Tiên Dũng cũng phả vào đây thứ hơi nghẹn đắng ứ đầy ở cổ: “Thứ mà tất cả chúng tôi đều có, là những tấm thân bị dục vọng thiêu đốt đến tột cùng đau đớn, là những trái tim cô đơn đến cuồng dại. Những trái tim cô đơn đến cuồng dại ấy, cứ đến lúc nửa đêm, lại như một bầy mãnh thú phá tan hoang tù ngục giam cầm, nhe nanh múa vuốt, gầm gừ bắt đầu cuộc sục sạo săn tìm. Dưới bóng hắt của vầng trăng đỏ bầm, chúng tôi như lũ con bệnh mộng du, mỗi kẻ giẫm lên một chiếc bóng, bắt đầu cuộc truy tìm cuồng nhiệt vòng quanh hồ hoa súng không ngừng không nghỉ, luân hồi bất tận, theo đuổi cơn ác mộng khổng lồ ngập ngụa yêu thương và dục vọng.”

Thế nhưng ở đó không chỉ là những thiêu đốt của dục vọng thấp hèn, mà ngoài ánh sáng, họ vẫn là những con người hàng ngày quay cuồng với cõi nhân gian. Bạch Tiên Dũng rõ ràng không quá cố gắng khi chỉ khai thác cái sầu thảm hay duy bi kịch, mà ông đạt đến trạng thái cân bằng và sau đó dùng nó làm chiếc đòn bẩy như niềm tiếc nuối cho những tháng ngày đã qua. Hình ảnh cậu em của Thanh không chỉ xuất hiện trong tác phẩm như cách để làm dài thêm, mà đó là cách con người họ sống, là kí ức đẹp và sự xót thương. Hay Tiểu Ngọc với giấc mơ Nhật đi tìm người cha lừa dối mẹ mình, không biết mặt mũi ông sao, chỉ biết tên họ dẫu cho Nakajima trăm ngàn phổ biến ấy biết có thật không? Chuột và người anh Qụa, dẫu có bị hành hạ vô cớ hay đánh đến mềm rũ người, cậu ta vẫn cười hề hề sau mỗi trận đánh, vì sống với Qụa đã quá quen rồi!? Hay như Ngô Mẫn, cậu trai mềm yếu từng cắt tay mình vì một người đàn ông cho cậu giấc mơ về cuộc sống tưởng quá êm đềm: “Cậu không biết phòng tắm nhà anh Trương thích đến mức nào đâu, toàn bộ lát gạch men màu xanh lam, đến bồn tắm cũng màu xanh nốt… Tớ chưa bao giờ nhìn thấy cái bồn tắm nào đẹp đến thế, bên trên bồn tắm có van gas, mở vòi là nước nóng chảy ra ào ào. Tớ xả đầy một bồn nước nóng, ngâm mình trong đó, không muốn bước chân ra ngoài nữa, cứ ngâm đến khi cả người đỏ au lên… Lần đầu tiên trong đời tớ được tắm thỏa thích đến thế”. Tất cả bọn họ đều là những người rất ư bình thường, đều có gia đình, những mối quan hệ, đã từng hay đang mơ ước thứ này thứ khác, những thứ giản đơn… Bạch Tiên Dũng từ đây lại gợi một sự cân bằng, dẫu cho sai khác một mặt nào đó, họ vẫn là những sinh thể dưới ánh mặt trời, khát khao yêu thương, đam mê cả thế giới này. Từ một tác phẩm tưởng như viết riêng cho một cộng đồng người, Nghiệt tử lại như tiếng nói nhân sinh cho mọi con người như lời thiết sống.

Nghiệt tử mang trong lòng mình dáng dấp một tác phẩm lớn. Nói thế, bởi Nghiệt tử vô cùng toàn diện, khi không những phác họa thành công những nhân-vật-chính của mình, mà đồng thời, nó còn gom cả xã hội ôm vào trong mình, thành sự phản ánh hai chiều đầy đủ giác quan, nghe-nhìn-cảm nhận. Đó là cha của Lý Thanh, người cha suốt cả một đời chinh chiến nhưng không may bị bắt làm tù binh, để rồi sau đó không còn lại gì: chức tước, danh lợi, địa vị,… Là mẹ Lý Thanh, người đàn bà trẻ khi mới 19 đã lấy cha anh, lúc ấy 45 để rồi sau này say đắm bản tính nghệ sĩ cuốn gói đi xa bỏ mặc cả hai người con. Như chính cái tên dãi dầu của chị – Hoàng Lệ Hà, những năm cuối đời là những kí ức vô cùng muốn quên. Hoảng loạn, cuồng nộ như cơn bão lớn, Thanh viết: “Mẹ tôi suốt đời không ngừng trốn chạy, phiêu bạt, kiếm tìm, để đến cuối cùng phải nằm liệt trên chiếc giường chồng chất những chăn bông chua loét mồ hôi, chụp kín trong cánh màn nhem nhuốc, bệnh độc đầy người, thoi thóp hơi tàn chờ chết.” Là mẹ Tiểu Ngọc, người đàn bà phốp pháp phấn son lem luốc, trót đem lòng tin người đàn ông Nhật để rồi khổ sở cả đời. Là Lệ Nguyệt, người đàn bà đẹp, nhưng quá đa cảm tin vào tình yêu,… Mỗi một người họ đều như những con mồi ngon của thứ thời cuộc ủ men quá độ, đều là những thân những kiếp của loài côn trùng khoác lên trên mình bộ cánh đẹp đẽ, nhưng nào biết rằng họ đang dấn bước vào trong khu rừng của loài nắp ấm, chỉ tiến quá gần, rồi sẽ tiêu tan.

Một điểm rất đáng chú ý ở Nghiệt tử là nó không hề chứa đựng một phút giây nào của những đặc tả ham muốn thể xác. Việc chối từ một mặt tối quan trọng của những tiểu thuyết mô tả bản chất con người của Bạch Tiên Dũng rõ ràng là một ca lạ. Vì như từ trước đến nay, sex trong văn chương vẫn luôn được coi như một thành tố vừa đi sâu vào lòng bản chất, vừa như một lối hướng theo thị hiếu đọc giả. Nói sex trong văn chương châu Á vẫn chưa rộng đường, còn hơi tế nhị cũng chưa hẳn đúng; vì Trương Ái Linh cùng Sắc, Giới hay bộ phim chuyển thể của Lý An sau này đã như một sự phản hồi. Chuyển từ những cảnh tính dục sang những mô tả tình cảm vô cùng thần sầu, mối quan hệ cha – con trong Nghiệt tử là chi tiết cá nhân nhất mà Bạch Tiên Dũng mang vào. Giữ Vương Quỳ Long như nhân vật mang chính hình dáng chính mình, ông khắc sâu vào lòng độc giả thế đối lập tư tưởng giữa những cánh chim hoang dã và người cha của họ. Cụ Phó Sùng Sơn, Vương Thượng Đức và cha Lý Thanh là ba người được ông khắc họa cùng chung một khuôn, như đại diện cho những con người cứng cỏi nhất của thời bấy giờ, khi từng chinh chiến, giữ chức vụ cao và hơn hết, là những kỳ vọng lớn lao vào con trai họ. Trong khi Phó Vệ, Vương Quỳ Long và Lý Thanh, lại là ba con chim hoang dã không chịu khuất phục, lao mình vào lửa không màng kết cục. Sự kình chống tư tưởng giữa mỗi người họ giống như cách nhìn của xã hội Đài Loan lúc bấy giờ, nhưng trong trường hợp này, còn hơn thế nữa, khi nó còn là bộ mặt, còn là thanh danh. Kết cục là cái chết tự kết liễu mình của Phó Vệ, là sự thù hằn không bao giờ nguôi của Vương Thượng Đức và nỗi nhớ nhà nhưng đành bất lực của Lý Thanh. Tất cả xoay vòng thành một hỗn thế, đầy đủ hết mọi xúc cảm: hối hận, căm tức, phẫn nộ, đau khổ,… Nhưng rồi ông lại thắp lên ánh sáng sau đường hầm tối, khi rồi nhìn lại, cụ Phó dang tay cứu giúp những đứa trẻ trong công viên Mới, hay một lần khác ông ngồi trầm ngâm dưới hương ngải tiên vào ngày giỗ của con trai mình. Chi tiết Vương Quỳ Long chất vấn cụ Phó vì sự lạnh lùng của cha mình, để rồi nhận lại câu nói: “Ông ấy không nỡ gặp con… Đến nhắm mắt rồi cũng không nỡ gặp con…”, hay giọt nước mắt của cha Lý Thanh và tiếng gào thét khan đặc gọi cậu quay lại ở bản điện ảnh, tất cả đã như một câu trả lời.

Đài Loan những năm 70 chìm trong bầu không khí ngột ngạt của nền kinh tế chuyển mình, rón rén bước chân trở thành một trong bốn con rồng châu Á, giống như lời Bạch Tiên Dũng mô tả một con ngõ nhỏ: “Trong con ngõ số 125 đường Nam Kinh Đông, quán ăn, nhà hàng san sát. Đầu ngõ là Phượng Thành, một nhà hàng chuyên món Quảng Đông rất đắt khách […] Sát bên cạnh là một nhà hàng Nhật Bản tên là Mai Uyển, tiếp nữa là quán thịt nướng Hàn Quốc Arirang, đối diện với Arirang là nhà hàng Âu Golden Angel.” Một cách gần giống với Us của đạo diễn Jordan Peele, ở đâu đó trong đêm trường tăm tối, cả một cộng đồng mới đã dần thành hình. Nhưng khác với nhóm những người song trùng đầy những hận thù của Red, cộng đồng những con chim hoang dại tập hợp ở đây chỉ với một mục đích duy nhất, khát khao sống. Đọc Nghiệt tử, ta thấy họ cũng như những con người khác, cũng mong manh trước những thân phận, nhưng cũng mạnh mẽ đứng lên trước những khó khăn. Nghiệt tử là một tác phẩm lớn, khi nó không chỉ khắc họa sự lênh đênh của những con người bị tạo hóa trêu đùa, mà nó còn như nét màu hoàn thiện bức tranh nhân quần đầy chuyển động, cạnh đó là một xã hội Đài Loan thu nhỏ với nhịp sống về đêm vô cùng nhộn nhịp, là chốn vui chơi lạc thú bên cạnh những thân xác rã rời. Với Nghiệt tử, Bạch Tiên Dũng đã tự đưa mình vào hàng ngũ những cây bút ngoài Đại Lục vô cùng tài hoa, bên cạnh những Kim Dung, Trương Ái Linh, Lưu Dĩ Sưởng,… từng làm nức lòng xứ Cảng Thơm biết bao thế hệ.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Bài viết có chủ đề liên quan



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam – Một nghiên cứu tiên phong

Published

on

By

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại của các tác phẩm mang đậm tính lịch sử viết về Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, khi không chỉ một mà có đến ba công ty xuất bản ra mắt cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của bác sĩ Hocquard. Ngoài những dòng hồi ký đầy thấu hiểu cùng sự đồng cảm sâu sắc với nền văn hóa dài lâu, vẻ vang và tinh tế của người An Nam; có lẽ ít ai biết được bác sỹ Hocquard cũng chính là một nhiếp ảnh gia tài năng và vô cùng xuất sắc của nền nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 19.

Và những bất ngờ ấy sẽ được tiết lộ trong tác phẩm Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam (tựa gốc Early Photograph in Vietnam) của tác giả Terry Bennett - tác phẩm đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kì đầu viết bằng Anh ngữ. Trong tác phẩm truy nguyên về hơn 100 năm lịch sử nhiếp ảnh này, Terry Bennett bằng những nghiên cứu sâu sắc và đầy cảm hứng đã tìm về kho tư liệu khổng lồ nhưng bị phân tán rải rác khắp nơi, để đưa ra một niên biểu và những cá nhân mang đậm dấu ấn vô cùng đặc biệt của ngành khoa học – nghệ thuật còn mới chớm manh nha ở Việt Nam ngay thời kì đó.

MỘT LỊCH SỬ ĐẦY BIẾN ĐỘNG

Có thể thấy nhiếp ảnh Việt Nam gắn liền với một quá trình lịch sử dài – tham vọng bành trướng thuộc địa của Pháp trên toàn châu Á. Bắt nguồn từ những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai, từ đây người Pháp lún sâu vào trong can thiệp quân sự, và cũng từ đó ngành nhiếp ảnh dần dần du nhập vào nước ta, mở đầu là bởi những người ngoại quốc.

Tấm hình đầu tiên được chụp ở Việt Nam rất có thể là của nhiếp ảnh gia Jules Itier, một thanh tra hải quan, chụp pháo đài Đồn Hai vào năm 1845 ở Đà Nẵng. Ông theo một đoàn người Pháp đàm phán đòi trả tự do cho các giáo sĩ thừa sai bị bắt bớ, và với nhiệm vụ thăm dò để xây dựng cảng ở Biển Đông, chính ông cũng không thể ngờ với khoảnh khắc mạo hiểm ấy sau này mình sẽ trở thành người then chốt nhất trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett
Hương Ký. Mẹ và con, những năm 1920, ảnh in trên giấy tráng bạc, thuộc bộ sưu tập cá nhân tác giả.

Tập trung vào trong thời kì thuộc địa, bắt đầu từ khi người Pháp bước đến năm 1850 và kết thúc vào năm 1950 khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Terry Bennett đầy thận trọng và khách quan đã chứng minh được nhiếp ảnh của thời kì đầu không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp người Pháp tác nghiệp không chỉ thỏa mãn mỗi niềm đam mê, mà ở họ còn là những mục đích thương mại. Đầu năm 1863 theo chân làn sóng đổ đến Saigon làm ăn và sinh sống, kéo theo số lượng ngày càng tăng các nhà truyền giáo và nhân viên ngoại giao, từ đó số lượng hiệu ảnh thương mai cũng ngày càng tăng.

Các nhiếp ảnh gia của thời kì này cần rất nhiều yếu tố để có thể tồn tại và phát triển một hiệu ảnh độc lập. Họ cần có tài chính vững vàng mà bên cạnh đó là tài năng cũng như khả năng quảng giao, tiếp thị và óc kinh doanh nhạy bén. Sang đầu thế kỷ 20, với sự cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của những hiệu ảnh bản xứ, những nhiếp ảnh gia người Pháp ngày càng bị thu hẹp thị trường, và phải phụ thuộc phần nhiều vào các hoạt động buôn bán thiết bị nhiếp ảnh, hoặc thắng các gói giao thầu của chính quyền thuộc địa ưu tiên cho người Pháp.

NHỮNG ANH HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Nếu tấm hình đầu tiên được chụp vào năm 1845 ở Đà Nẵng, thì người đầu tiên chụp hình chân dung sớm nhất tại Việt Nam với hình ảnh các chức sắc Nam Kỳ là nhiếp ảnh gia Paul-Émile Beranger. Ông cũng đồng thời là người đầu tiên chụp ảnh vùng Sài Gòn trong cuộc chuyển hướng tiến công xuống phía Nam của tướng Rigault de Genouilly trên tàu Catinat.

Ngoài những cái tên đặt nền móng đầu tiên cho nhiếp ảnh Việt Nam thì cũng không thể không nhắc đến Émile Gsell – người quan trọng và nổi bật nhất trong số các nhiếp ảnh gia ngoại quốc. Là người từng ghi hình lại những điều kỳ vĩ ở cả Việt Nam và Cao Miên, Dieulefils – gã khổng lồ của nhiếp ảnh Đông Dương cuối thế kỷ 19 cũng là một nhân vật quan trọng khác, mà tập ảnh Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt trong thời gian qua.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett anh
Émile Gsell. Ảnh tổng hợp chân dung, khoảng năm 1870, in trên giấy bạch đản, thuộc bộ sưu tập tác giả

Bác sĩ Hocquard phục vụ trong chiến tranh Pháp – Thanh cũng là người đầu tiên có đặc quyền chụp ảnh cho một vị Hoàng đế - vua Đồng Khánh. Với những tấm ảnh đạt được độ sâu cũng như tư tưởng vô cùng trân trọng các giá trị truyền thống, ông được ca ngợi là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 19, và xứng đáng được ca ngợi ở cả phương Tây lẫn Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nhiếp ảnh gia cả chuyên nghiệp và nghiệp dư người bản xứ cũng được nhắc đến trong cuốn sách này. Hiếm có ai ngờ những tri thức như Trương Vĩnh Ký cũng có thời gian từng mở hiệu ảnh nếu như không có những nghiên cứu sâu của Terry Bennett. Bên cạnh đó, Khánh Ký – ông tổ của nghề nghiếp ảnh Việt Nam, người phái sinh và phát triển lối chụp ảnh chân dung trong nhà cũng được đề cập. Hiệu ảnh Hương Ký, cụ Nguyễn Lan Hương – người sản xuất bộ phim đầu tiên với lối chụp ảnh tối tân và luôn thay đổi mỗi năm khác nhau, cũng là một chứng nhân khác cho những con người từng làm nên một thời lịch sử của nhiếp ảnh nước nhà.

*

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam có thể nói là cuốn sách đầy thú vị và nhiều cảm hứng với những truy nguyên từ trong lịch sử. Là một nhà nghiên cứu ngoại quốc thế nhưng Terry Bennett đã làm được rất nhiều, để tìm lại về những nền nhiếp ảnh không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy còn nhiều khó khăn trong việc định danh những nhiếp ảnh gia bản xứ và giới chuyên nghiệp người Pháp, thế nhưng có thể nói đây là một nghiên cứu vô cùng tiên phong. Và với những gì tác giả đưa ra, ta đã có cái nhìn vô cùng khách quan về bối cảnh thời đó, và những biến động trong ngành nhiếp ảnh, cũng như những người tiên phong nhất cho ngành khoa học này.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng