Phía sau trang sách

Con đường phản bội: Nỗi băn khoăn của tình thế làm người

Published

on

Trong dòng chảy văn chương đương đại, có thể nói văn học di dân luôn chiếm vị thế vô cùng quan trọng mỗi lần xuất hiện. Lần ngược trở về những giải thưởng lớn được trao hàng năm mang tính quốc tế – như Booker chẳng hạn, cả giải Quốc tế lẫn Chính thức dành cho khối Thịnh vượng chung đều ít nhất mỗi năm có một tác phẩm thuộc dòng văn này.

Nếu thống kê nền văn chương di dân nào quen thuộc với độc giả Việt Nam nhất, thì các tác giả Trung Quốc có thể nói là không quá xa lạ với giới xuất bản nước nhà trong những năm qua. Từ Amy Tan đến Anchee Min, từ Lý Dực Vân đến Lư Tân Hoa… những nhà văn di dân này luôn đưa được tiếng nói tự do của bản thân mình ra với thế giới, để cho thấy được một điều gì đó vốn từ lâu vẫn bị kiềm tỏa.

Trong những tên tuổi kể trên, để nhắc đến những nhà văn di dân để lại dấu ấn đậm nét trên văn đàn thế giới, thì hai cái tên không thể không nhắc đến là Yiyun Li (Lý Dực Vân) và Ha Jin (Cáp Kim). Nếu Yiyun Li luôn viết về những tác động của vết thương quá khứ vốn vẫn chưa lành nay va chạm với cuộc sống hiện tại, thì Ha Jin chỉ viết về hiện thực quá khứ – tức những năm tháng ông đã hoặc phải trải qua nếu từng có mặt ở quê nhà bản xứ; mà ta có thể thấy thông qua Đợi chờ – tác phẩm đoạt giải Sách Quốc gia năm 1999 của Mỹ hay Con đường phản bội gần đây đã được giới thiệu và tiến hành chuyển ngữ.

Điều đặc biệt cuốn hút của dòng văn học di dân có thể nói – nếu ta tóm gọn nó chỉ trong một cụm – thì đó chắc hẳn là “sự mở mắt”. Với người trong cuộc – đó là tiếng nói tự do để họ thoát xác và đi đến được với những trăn trở vốn vẫn chất chứa từ lâu. Ở một mặt khác với người ngoài cuộc, thì đó là cơ hội để vén bức màn vốn vẫn phong kín từ lâu bởi một thế lực tập trung nào đó. Và Con đường phản bội của Ha Jin cũng không nằm ngoài hai điểm chủ chốt ấy: vừa là tiếng nói tự do, vừa là ngòi bút vạch trần hiện thực một thời đen tối.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng của tác phẩm Con đường phản bội.

*

Tiểu thuyết là câu chuyện kể về Gary Trương – một điệp viên nhị trùng làm việc cho Đảng Cộng Sản dưới thời nội chiến với Quốc Dân Đảng những năm 1950. Từ cuộc Nội chiến Quốc – Cộng đến bối cảnh của chiến tranh Triều Tiên hay sự đối đầu của hai nước lớn Liên Xô và Mỹ… Gary ở đó và bị cuốn vào vòng xoáy của những đấu tranh trong cơn bất ổn về mặt chính trị. Vốn dĩ là một điệp viên của phía Trung Quốc, nay ông đâm ra ngày càng yêu mến và muốn ở lại nước Mỹ vĩ đại với phong cảnh đẹp, những tiến bộ xã hội hay hơn hết là nền dân chủ.

Có thể nói bằng việc xây dựng một điệp viên hai mang, Ha Jin đã khéo léo dẫn dắt người đọc vào trong vòng xoáy đối đầu của những mặt trái ở phía ngoại vi hay là nội hàm. Ở người đàn ông ấy luôn chứa đựng những nỗi trăn trở và cô độc không thể nào nguôi. Tuy trở thành một huyền thoại sống của ngành tình báo nước nhà mà không cần đến bất cứ tài lực hay tiền lực nào, thế nhưng ông vẫn là một linh hồn thực quá cô độc. Từ một chàng trai chỉ luôn khát khao giải phóng đất nước ra khỏi bóng tối của chủ nghĩa thực dân, chế độ thuộc địa; nay bỗng chốc anh đã trở thành anh hùng vô danh trong mặt trận vô hình. Anh yêu thích Jazz như cũng yêu thích chính sự bất định nơi mình, như một gián điệp chiến lược có cuộc sống hỗn loạn, dẫn đến cô độc bén rễ vào sâu trong anh.

Từ việc bỏ mặc người vợ đầu tiên với hai đứa con ở nơi quê nhà mà anh không thể làm được gì khác ngoài việc chu cấp những khoảng tiền lương, đến cuộc hôn nhân với nàng Nellie và tình nhân là cô phát thanh viên trẻ; một mặt nào đó, Gary luôn hiện ra với người đọc một sự bất lực trong vẻ bạc nhược. Một mặt nào đó, anh hiểu tình trạng của mình – khao khát được yêu và được đáp lại nhưng biết sẽ không gì khác có thể xảy ra, từ đó một sự cô độc bén rễ trong anh, khiến ta cảm giác như một mảnh bèo gió dập sóng đưa.

Một điểm đặc biệt trong các sáng tác của Ha Jin là hình tượng người đàn ông trong các tác phẩm của ông luôn đứng chông chênh giữa hai bến bờ, hoặc đương đầu với số phận khó khăn, hoặc bạc nhược nằm im để rồi chịu chết. Nếu trong Đợi chờ là Khổng Lâm với cuộc tình tay ba không thể vượt thoát giữa Mạn Na, Thục Ngọc và ông; thì ở Con đường phản bội, đó là quê hương, đó là nước Mỹ – một cuộc dằn vặt cả ở bên ngoài lẫn ở bên trong. Với cuốn sách này, Ha Jin không giấu sự thật nào một lần xảy ra. Cũng tương tự như Viet Thanh Nguyen viết về viễn kiến của điện ảnh Hollywood hay cuộc sống của những di dân trên đất Mỹ sau ngày tháng Tư đỏ lửa trong The Sympathizer, ở Con đường phản bội, Ha Jin nhìn cuộc đời qua hai lăng kính cuộc sống ông đã trải qua, dẫn đến câu nói sau cuối ở phiên tòa xử như một nhát chém vào những ngây ngô ông một lần tin “Hai nước giống như người cha và người mẹ, cho nên là người con, tôi không thể chia rẽ hai bên và tôi yêu cả hai. Tôi không thể gây tổn thương cho người này để kết thúc đẩy hạnh phúc cho người kia”.

Đó là Trung Quốc của thực dụng mù quáng, của không quan tâm đến một nguyên tắc nào mà ưu tiên trước nhất là việc tồn tại. Đó là đất nước của bốn mối quan tâm chính chỉ có bao gồm thức ăn, quần áo, nhà ở, phương tiện đi lại. Hay như Diêm Liên Khoa một lần viết trong Tứ thưngười phương Tây thường bảo Trung Quốc có ba thứ đã trở thành đặc sản: đó là thuốc súng, giấy, và sự dối trá. Cái dối trá ấy ta cũng được thấy ở phía sau này khi Gary bị tước đoạt hết tất cả giá trị, còn phía nước nhà chỉ kịp phủi tay không làm gì khác.

Một mặt nào đó, Con đường phản bội cũng có thể nói là một bán tự truyện của chính Ha Jin khi ông hướng về quê nhà bản xứ, trong hình tượng của nhân vật chính, mà ta dễ dàng nhận ra ở những chi tiết cụ thể, chẳng hạn Gary có thể nói được tiếng Anh với thứ ngữ pháp đến độ hoàn hảo nhưng lại thiếu đi nhiều sự thoải mái. Ở Gary cũng có những vọng hoài cố, về biến cố Thiên An Môn 1989 khiến ông không trở về nước, về những thảm họa cuộc Đại nhảy vọt của những nạn đói thiếu ăn trầm trọng, về Cách mạng ruộng đất, Bè lũ bốn bên…

Trong khi đó, Mỹ – một đất nước ngăn nắp, trật tự, sung túc, riêng tư, liên tục và đề cao giá trị con người. Khi Nixon nhúng chân vào bãi lầy chiến tranh Việt Nam, người dân của họ vẫn có đủ quyền đứng lên biểu tình cho một đất nước hướng đến hòa bình. Cũng chính điều này xoay chuyển hoàn toàn con người Gary, khiến ông từ một điệp viên chuyển thành con người gắn kết giữa hai nước lớn, khẳng định thêm một lần nữa Không con cá nào có thể sống mà không bị ảnh hưởng bởi dòng nước nó bơi trong đó. Theo cách nào đấy, tất cả chúng ta đều bị định hình bởi những thế lực to lớn hơn bản thân chúng ta.

*

Với Con đường phản bộiHa Jin lại một lần nữa dồn ép nhân vật của tác phẩm mình vào thế chông chênh của tình thế làm người. Không như Đợi chờ là cuộc chiến tâm tính của ba con người ràng buộc vào nhau; Con đường phản bội là thế gọng kìm của nỗi hoài nhớ quê hương và cái khao khát tinh thần tự do, hướng đến dân chủ. Tác phẩm này chứa đựng rất nhiều cảm xúc trong cách dẫn dắt tuyến tính, trung tính nhưng đầy mê hoặc, với Con đường phản bội nỗi nhớ quê hương đã phát triển thành nỗi đau âm ỉ trong tim, làm cho con người ta trở nên mụ mẫm không thể thoát ra, một thiên đường mù sương dang tay chờ đón.

Có gì còn lại sau phía màn sương?

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Những tác phẩm văn học Trung Quốc đã được review tại Bookish

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Nắng Tháng Tám: Màn trình diễn ấn tượng của William Faulkner

Published

on

By

Nắng tháng Tám diễn ra ở vùng Nam Mỹ vào những năm 1930 và trung tâm câu chuyện xoay quanh vụ án mưu sát một người phụ nữ tên Joanna Burden, người địa chủ bị hầu hết những người dân trong vùng khinh ghét vì quá khứ gia đình. Thông qua quá trình kể câu chuyện này, bí mật của những nhân vật khác cũng dần được tiết lộ. Truyện được viết với thời gian phi tuyến tính, gợi nhớ đến lối kể truyện truyền miệng, đường dây câu chuyện thường xuyên bị ngắt giữa chừng và những nhân vật khác thay phiên nhau tiếp nối mạch truyện. Các nhân vật đều là những con người bị gạt ra khỏi xã hội. Vì vậy, câu chuyện là cái nhìn về xã hội từ ngoài rìa của những con người không còn thuộc về nó nữa.

Tiểu thuyết chia làm ba đường dây câu chuyện riêng biệt, cuối cùng tất cả đều liên kết nhau bằng kết thúc bùng nổ với bạo lực. Một phong cách rất Faulkner. Nhưng khác với những tiểu thuyết khác viết theo phong cách này ở chỗ: cuối cùng nhân vật chính trong mỗi câu chuyện thường gặp nhau thì Faulkner lại không bao giờ tạo ra một cảnh chung có cả Christmas và Lena – hai trong số ba nhân vật chính. Mặc dù dường như họ được kết nối với nhau một cách vô hình: có thể Chirstmas vừa là hóa thân ẩn dụ cho người cha của đứa trẻ trong bụng Lena, đồng thời lại chính là đứa trẻ đó. Đứa trẻ là câu trả lời của Faulkner cho định mệnh tàn bạo không thể tránh khỏi đã nguyền rủa vùng đất phía Nam ấy. Chẳng có lối thoát nào cho những tổn thương quá khứ ngoài việc tự tạo nên những mầm hi vọng mới. Và Faulkner để cho chúng ta tìm ra điều ấy ở đứa trẻ của Lena.

Ở Nắng tháng Tám, Faulkner đã cho thấy một thế giới có chuẩn mực xã hội quá khắt khe, thiếu linh động, bảo thủ và con người phải chịu đựng bằng cách vờ như khuất phục khối bêtông hiện thực của ngoại giới, của những sự việc dường như chẳng liên quan đến họ. Đó là một thế giới chẳng có gì thích ứng với nhau, chẳng có điều gì kết nối, và Faulkner cũng không cố gắng tìm ra sự kết nối. Ông chỉ trộn lẫn chúng vào nhau trong hệ thống câu chuyện của mình để chúng ta cảm nhận những nghịch lí đó.

Nhận xét của báo chí thế giới

Nói rằng Nắng tháng Tám là một màn trình diễn ấn tượng thật chẳng phải là nói quá chút nào… Faulkner không chỉ tích hợp trong cuốn sách này thứ văn phong quyến rũ của sức mạnh và cái đẹp: ông còn cho phép một vài nhân vật của mình, nếu không phải là nhân vật chính, thỉnh thoảng được quyền hành động vô cớ, nằm ngoài những khuôn mẫu xã hội… Nghĩa là, Faulkner tự cho mình lí lẽ và sự thương cảm đối với hệ thống trong thế giới của ông.

J. Donald Adams | New York Times

Quyển sách như rực lửa với sự phẫn nộ dữ dội trước bạo lực, sự ngu ngốc và lòng kiêu hãnh – một quyển sách tuyệt vời.

Spectator

Faulkner có một sức sáng tạo không mệt mỏi, trí tưởng tượng phong phú, và ông thường viết như một thiên thần.

Arnold Bennett

Kodaki
dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tình miệt thứ trong phù sa câu chữ

Published

on

By

Tập truyện ngắn này bao gồm những truyện mà tôi thích. Khi tập hợp để in thành sách, tôi ngồi lựa chọn lại thật kỹ càng, bởi tôi mong muốn trao gởi đi những điều trân quý nhất của mình dành cho độc giả, như một lời tri ân cho những người đã ưu ái đồng hành cùng văn chương của mình.

12 truyện ngắn này là những câu chuyện của miệt đồng bưng chín nhánh sông mà đâu đó trong cuộc đời chúng ta vẫn thường bắt gặp. Xoay quanh những câu chuyện là chữ “tình”. Tôi vẫn thường nghĩ, con người ta trong cuộc đời này chẳng ai thoát khỏi được chữ tình. Chữ tình quấn lấy chúng ta, dắt dìu chúng ta đi qua nỗi buồn, dẫn chúng ta chạm đến niềm vui. Chữ tình khiến chúng ta đắng đót với niềm đau nhưng cũng chính cái chữ tình đó lại là nỗi thương để chúng ta bám víu vào mà sống hết đoạn đời phù sinh thế thái này.

Người viết vì tình mà viết. Người đọc vì tình mà buồn vui theo từng con chữ, xa xót theo từng phận đời, và hả hê với điều thiện lành được hồi đáp sau bao đoạn trường trầm luân.

Có một lần ngồi trên chuyến phà đêm Châu Giang, tôi chợt nghĩ mình chỉ là một dòng phù sa của muôn triệu dòng phù sa đang chảy tràn khắp miệt đồng bưng châu thổ. Tôi đem đến những điều dung dị, chất phác và hào sảng như là bản tính vốn dĩ của người Cửu Long đã ăn sâu vào gốc rễ nội tâm và căn cơ chính mình.

Có bận tôi về Đồng Tháp, ghé cái chợ quê mà hồi nhỏ hay để dành năm trăm, một ngàn để mua dăm ba thứ bánh quê, tôi ngồi sụp xuống và lựa chục loại rồi hí hửng xách lên chạy về khoe với mấy cậu mấy dì. Tôi chẳng thể ăn hết được mớ bánh hôm đó, nhưng vui lạ lùng. Thể như tôi tìm thấy chính mình sau những đãi bôi thị thành. Tôi thấy niềm vui của mình sao giản đơn đến lạ! Hóa ra mỏi gót điêu linh nơi phố xá hào nhoáng thì cái gốc rạ chân quê vẫn là thứ mà tâm tưởng chính tôi luôn hoài vọng.

Có lẽ, dấu chân tôi chưa đi hết nổi dải đất bạt ngàn phù sa miền Tây, đôi tai chưa nghe hết chuyện hào sảng xứ này, đôi mắt chưa thể tận tường hết những thứ đẹp đẽ của sóng nước bưng biền, hay thâm tâm chưa thể trọn vẹn thấu hiểu hết vùng châu thổ, nhưng tôi vẫn luôn thích viết về xứ này. Cái xứ gì mà hổng hết chuyện để viết. Có lần tôi nói vậy với một bạn văn phía Bắc. Bạn nói, thì cứ viết đi, viết đến cạn cùng cuộc đời, chưa chắc viết hết trọn một vùng đất. Bởi đất ôm cả đời người. Người ta sống thác gì đó, gieo neo dâu bể thế nào thì cũng về với đất quê xứ mình mà thôi!

Vậy nên, tôi cứ viết hoài về miền đất này, ngõ hầu đem đến cho độc giả của mình cái “tình” miệt thứ, cái “thương” đồng bưng. Càng viết tôi lại càng thấy mình như mắc nợ vào sóng nước phù sa câu chữ. Viết hoài hổng hết. Viết hoài vẫn cứ muốn viết.

Viết và gởi đến độc giả đã thương yêu câu chữ của mình, cũng như nếu một ai đó hữu duyên cầm trên tay cuốn sách nhỏ này, thì mời bạn một lần lắng lòng lại, lật từng trang sách, nghe tôi kể chuyện buồn miệt thứ. Nhưng mà, người miệt thứ buồn đó rồi lại vui đó, như sóng nước xứ này vơi rồi lại đầy, như phù sa châu thổ muôn đời vẫn dâng người những mùa màng tốt tươi.

Tống Phước Bảo

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Hồ: Một nỗi buồn điềm tĩnh và dịu dàng

Published

on

By

Tiểu thuyết Hồ của Banana Yoshimoto viết về những nỗi đau, những mất mát của con người và cách họ vượt qua nó. Các nhân vật trong Hồ như Chihiro, Nakajima, Mino, Chii… đều có những thương tổn sâu sắc trong quá khứ. Với đề tài như thế, câu chuyện sẽ dễ sa đà vào nhiều trường đoạn cảm xúc nặng nề nhưng Banana vẫn luôn giữ được sự điềm tĩnh, dịu dàng trong văn phong giống như ở những tác phẩm trước đây đã quen thuộc với bạn đọc Việt Nam như: Kitchen, Vĩnh biệt Tugumi, N.P…

Hồ được Banana lấy cảm hứng từ câu chuyện của giáo phái Aum Shinrikyo. Độc giả có thể nhận thấy mô hình công xã mà Nakajima sống ngày còn nhỏ phần nào tương tự với mô hình của giáo phái này. Aum Shinrikyo cũng xuất hiện trong tác phẩm 1Q84 của Murakami Haruki dưới hình thức hư cấu. Qua đó, người đọc thấy được sự khác biệt trong cách khai thác cùng một chủ đề của hai nhà văn. Nếu như trong 1Q84, Haruki đề cập nhiều đến những tác động chính trị – xã hội xoay quanh mô hình phi nhân của Aum thì ở Hồ, Banana chọn một góc nhỏ để viết về hậu chấn tinh thần của những đứa trẻ khi phải chịu sự giáo dục tẩy não trong một cộng đồng không đề cao cái tôi cá nhân. Và chi tiết mà Banana chọn để khắc họa nỗi đau của những đứa trẻ ấy khi lớn lên vừa đơn giản, vừa ám ảnh: Nakajima kẹp vỉ nướng bánh dày vào nách khi ngủ mỗi lần “cảm thấy sắp mơ phải cái gì đáng sợ” bởi đó là vật mà mẹ cậu rất quí; Chii mãi chìm đắm trong những giấc ngủ; Mino sống lặng lẽ từng ngày và đôi khi truyền hộ thông điệp mà người em gái say ngủ muốn nói cho người khác…

Nỗi buồn của các nhân vật dù được Banana viết ra thật nhẹ nhàng nhưng không vì thế mà người đọc có cảm giác hời hợt. Bởi vì, cái đau của họ không phải là cái đau của một người vừa qua cơn khủng hoảng tâm lí, vẫn chưa hết bàng hoàng và không thể chấp nhận hiện thực. Ngược lại, họ tự tách mình ra khỏi chính bản thân mình, đứng ở một nơi xa để ngắm nhìn nỗi đau của mình, chịu đựng nó, chấp nhận nó. Đó là cách để họ vừa giữ lại những kỉ niệm tươi đẹp trong quá khứ, vừa giữ lại nỗi buồn đã tiềm ẩn trong kí ức ấm áp ấy.

Đọc bài viết

Cafe sáng