Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Call Me By Your Name: Còn gì để kể ngoài tiểu thuyết tuổi mới lớn?

Tại sao lại là “gọi em bằng tên anh?”? Đó là “anh” đang thuyết phục “em” trong một nụ cười buồn hay “em” đang gợi ý cho “anh” trên đôi môi sau nụ hôn vui đây?

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Tôi tin vào một câu của các bạn trẻ “Huấn luyện viên thì không ra sân” và mù quáng cộng thêm niềm tin vào cả cái mệnh đề ngược của nó. Ít có nhà văn nào thực sự nổi lên khi đang trong giảng đường hay làm ngành báo chí in ấn. Họ đều là những gã tay ngang bộc phát trong một cơn hoành hành của xúc cảm và diễn tiến tâm lý phức tạp tiềm ẩn. Cứ viết rồi được tung hê. Nhưng André Aciman là một ca thú vị nhưng không hoàn toàn là quá hiếm, và ông cũng không phải thực sự kinh điển gì cho lắm để mà lôi ngành nghiệp ra làm thú đặc biệt. Thực sự, cách mà André đến với ta mới đáng kinh ngạc. Đọc tiểu thuyết đầu tay của ông, ta chắc ngẩm đây là của một tay viết trẻ trung năng nổ, mới vào nghề và lập cú đúp như kiểu Old Town Road đây, nhưng không. Lần giở tiểu sử và ông khiến kẻ đọc rong chơi như tôi ngạc nhiên khi một nhà báo, giảng viên và học giả như ông lại lấn sân một cách đáng sợ như vậy. Và cú đúp Call Me By Your Name là điều phải có, là thứ nội lực ông đã tiềm tàng trong Out of Egypt, về một tính văn chương bùng nổ hơn, đi nguy hiểm hơn so với khi vận áo vest quần tây lên giảng đường và tốn nước bọt (tôi thích cà khịa những vị giáo sư kiểu vậy, nó vui). Đó là giọng văn trữ tình, lai láng ẩn sau cuốn hồi ký đạt giải Whiting trên, và một loạt truyện ngắn vô danh (với tôi, với độc giả Việt Nam) nữa. Gọi em bằng tên anh xuất hiện không quá bất ngờ với những ai đã theo dõi hoặc biết ông thầy này.

André Aciman trong buổi phỏng vấn với Charles Shafaieh.
Nguồn ảnh: Kinfolk Magazine

André Aciman đủ sức biết mình đang làm gì khi từ một ông giáo làng ngoan ngoãn (mà sau này là giáo New York, giáo Princeton) chuyên viết các loại bài xã luận, khảo cứu sang hồi ký, rồi tiếp tục đánh một cú home-run vào các tầng lớp khán giả thấp hơn một tí. Như một sự tính toán kiểu Haruki, và hoàn hảo thay, ông tới với độc giả trong con mắt ngưỡng mộ chỉ với một cuốn gay-fiction: Call Me By Your Name. Con người đó đủ sức tạo ra một sự mê hoặc đáng kể khi thể hiện nó dưới cú pháp viết tương tự của Proust, một nhà văn ông biết rõ hơn ai hết. Rõ ràng, trong Gọi em bằng tên anh, ông ta hiểu rõ một tiểu thuyết diễm tình thì sẽ khác với hồi ký như thế nào. Ta hiếm thấy một cuốn gay-fiction nào được nhắc tới và biết đến rộng rãi như tác phẩm này của André: ở quê nhà với cả truyện lẫn phim bom tấn khuấy đảo giới LGBT+ và ở Pháp, cái nôi của sự lãng mạn, nơi cuốn này được đọc đi đọc lại bởi hàng chục ngàn người mỗi năm và in đi in lại mệt nghỉ.

Nói Call Me By Your Name diễm tình từ ngay cái bìa (của Trẻ lẫn của Farrar, Straus and Giroux) không ngoa, nhưng có lẽ ta sẽ chọn mua bởi vì cái tên sặc mùi ngôn tình giới trẻ. Tại sao lại là “gọi em bằng tên anh?”? Đó là “anh” đang thuyết phục “em” trong một nụ cười buồn hay “em” đang gợi ý cho “anh” trên đôi môi sau nụ hôn vui đây? Sở dĩ, quá nhiều câu hỏi được đưa ra xoay quanh cái tựa khá romantic lần mới này – nó gợi ý ta về một cuốn ngôn tình còn ướt át hơn Sài Gòn mấy ngày nay.

Nhưng ngay từ lúc đầu tiên, André đã chứng tỏ mình không thuộc đẳng cấp đó. Một đẳng cấp cao hơn (hoặc chống chế để lắt léo hơn). Sở hữu một cốt truyện cũ nhạt, tình yêu giữa Elio – mười bảy tuổi, con của một gia đình chữ tràn cả ra ao và Oliver – một học giả luyên thuyên về chữ nghĩa và Heraclitus. Có vài yếu tố ngoại cảnh và có vẻ lãng mạn nữa xen vào, nhưng ý định của André chắc chắn là không để cốt truyện thêm drama tí nào, chỉ là họ cần thiết được đặt ở đó. Ông bà Pearlman, già Anchise, dì Mafalda, con bé Chiara, đứa bé bệnh bạch tạng bị bắt đội mũ vành rộng ngồi trên tảng đá Vimini,… Họ không được đưa vào với nghĩa vụ làm kịch tích cốt truyện, xoắn não gì, họ ở đó để làm rõ ràng tình yêu của hai người trẻ này, thứ mà chính tác giả luôn nỗ lực làm cho mờ đi bằng ngôn từ dài dòng kiểu Proust của mình (!?).

1. Trong tấm gương của Proust, đọc Gọi em bằng tên anh.

“Tuyệt nhiên có thứ gì bắt đầu sớm sủa hơn tôi nghĩ rất lâu, một sự dao động tôi cũng không nhận ra được. Bạn thấy ai đó, nhưng thực sự bạn đâu có thấu, anh ta như núp sau sân khấu hoành tráng, sau tấm mành. Hoặc bạn có thể để ý anh ta, nhưng chẳng có thứ gì xảy ra nữa, dù nắm bắt hay đuổi dạo cũng không. Chỉ chớm khi bạn nhận thức được sự hiện diện ấy đoặc điều làm bạn băn khoăn đôi chút thì sáu tuần đã trôi qua như gió, đến lúc anh đi rồi hoặc sắp sửa đi, và bạn đành vật lộn để chấp nhận rằng đã có một điều gì đó vô thức nung nấu hàng tuần ngay dưới mũi bạn, có đầy đủ triệu chứng của thứ bạn buộc phải gọi là tôi muốn. Bạn hỏi tại sao tôi lại không biết? Tôi biết khát khao là gì, nhưng lần này, nó trượt qua tôi hoàn toàn. Tôi mải kiếm tìm nụ cười ma mãnh đột nhiên bừng lên trên gương mặt anh khi đoán được tôi đang nghĩ gì, trong khi thứ tôi thực sự muốn giờ đây chỉ là da, chỉ là da, hoặc da trên da.

– Trang 15, Gọi em bằng tên anh1

“Linh hồn của Marcel Proust đóng đô ở đây… “, Erich Ormsby (who?) đã nhận xét như thế và tôi đồng ý. Với một người thích Proust, tôi không biết ông này muốn khen hay muốn khẩy (tôi nghĩ là khen vì khẩy đời nào người ta cho vào đầu sách), nhưng thực sự, chất của Proust một phần làm nên sự thành công trong lòng người đọc của cuốn truyện này. Ở đó, ta bắt gặp những dòng ý thức tràn từ trang này sang trang khác, chương này sang chương khác bằng suy nghĩ miên man của Elio. Cấu tứ hoàn toàn toại nguyện, cách huy động trạng từ một cách triệt để trong cuộc đối thoại với cái mặt thứ ba (khán giả). Tác giả huy động tới hơn năm trạng từ kiểu Conrad rất phiếm chỉ và ít cần thiết trong một đoạn văn nhỏ trên: really (thực sự), by completely (hoàn toàn), suddenly (bất chợt),… hay chuyển đổi cảm giác một cách lý tính, đều là phong cách của Đi tìm thời gian đã mất. Elio có quyền, André có quyền hành người đọc của mình vật ra bằng những dòng văn không đầu không cuối, và toàn là những tư liệu hình như là quá ít và quá cá nhân để ta có thể tựa vào một cốt truyện vững chãi. Đó đơn giản chỉ là một buổi chiều và thằng trai tơ này nhìn vào các loại màu quần của “crush” và suy nghĩ, hoặc là chỉ cảm tác về một từ “gặp sau” ở cả chục trang phân đều ra các chương trong toàn tiểu thuyết. Và tiếp tục, ông lại kéo ta vào trong màn mưa mịt mờ của ngôn từ khi đưa cho chúng ta quá nhiều kiến thức hàn lâm: văn học, ngôn ngữ học, hội họa, nhạc lý. Ý tôi là, Elio chủ ý gì khi cứ một tí lại có một đoạn ta cảm giác ta quá ngu để hiểu một số kiến thức khá hàn lâm (với tôi). Điều này, trôi qua tôi như nước lũ mùa hạ và tuột luốt sang bờ biển Địa Trung Hải ngay lần đọc đầu tiên. Tại sao ông già này lại phải hành tôi bằng Heraclitus, bằng Liszt, Bach, Monet, apricot, mimish, bằng tiếng Đức, tiếng Ý? Ông đang cố chứng tỏ điều gì với một độc giả tầm tệ như tôi thì tôi chẳng biết, nhưng tôi đã vứt ngay cuốn sách khi có vài đoạn y như André nói chưa đã trên giảng đường và bê nguyên đống sắt đó vào trong tôi.

Nhưng trong một ngày đẹp trời nào đó, tôi nhận ra, chúng ta không cần phải hiểu tất cả những gì André viết, ta chỉ cần cảm. Đó là một hiệu ứng khá tâm lý, kiểu Freud hoặc Jung gì đó. Đại loại, thủ pháp khi đưa lần lượt và từ từ vào đầu người cảm nhận một số loại kiến thức khó hiểu cùng với nhân vật và cốt truyện (dù ít) thì tạo ra một hiệu ứng mù mờ (blur effection) trong văn chương. Ta chỉ có thể để ý những chi tiết nhỏ để lộ về cảm xúc và từ dân dã mà tác giả bỏ nhỏ ra, để quyết định cấu tứ chủ đạo của phân cạnh. Rõ ràng, ông rất khéo léo khi mà không chỉ đem lại sự mù mờ và vô định trong tác phẩm (đối với nhân vật) mà còn đem những cảm xúc thực với (đối với người thưởng thức). Và điều này thú vị thay, khi ta như có được một phần đồng cảm mà không phải là con người quá đa cảm đa sầu. Tức là ông ta đã tính toán theo hai chiều song song, nếu bạn chai sạn, bạn rơi vào lưới mù mờ vì bạn chỉ đi phân tích xem ở đây ông ta ý đồ gì; nếu bạn đa mang, bạn lọt một lần hai hố: ngôn từ tú lệ và hiệu ứng kể trên. Chỉ khi nó trôi qua bạn và vô hiệu khi bạn nắm được tất cả kiến thức tác giả bung ra (hơi khó). Nhưng nói gì thì nói, André chỉ là một người phân tích tập tành ứng dụng lý thuyết, là Proust con. Tính thô cứng của một vị giáo sư đôi khi làm tôi không khỏi chán chường với những đoạn ý thức dài dằng và không thể nào đọc nổi. Mà dù có đọc cũng chỉ thấy mệt mỏi thêm. Ở đây, tôi xin phép lấy những trang đầu tiên của chương ba (Hội chứng San Clemente) làm dẫn chứng khá là bi quan. Trong khi chương liền trước (Gò vẽ của Monet) với đoạn cuối làm tôi khá hài lòng, và nếu được tôi chỉ muốn cắt phần đầu của chương ba để gắn vào đuôi chương này. Ta thấy cuối chương hai, người kể là Elio bỏ lửng và kể ít về chuyến tàu làm tốt hiệu ứng gây tò mò, thì chương ba, ông này lại phá đi cái tính nghệ thuật đã dày công xây từ trước, chỉ để một vài dòng ý thức vô vị chán chường. Trong khi tôi cần Rome, thì anh kể về xe. Tôi chán văn anh. Đối với Proust, ta can tâm tình nguyện đọc ngàn trang Đi tìm thời gian đã mất vì ở đó ông ta làm ta mãn nguyện khi bị vật bởi ngôn từ hào phóng và quyến rũ, nhưng nếu ông tiếp tục làm như thế thì chẳng khác nào làm độc giả mệt mỏi. Và tôi thì quá lười biếng để chịu đựng quá ba bốn trang.

2. Tính điện ảnh của Call Me By Your Name và sự tương tác giữa phim và truyện.

Như trên tôi đã nói, Gọi em bằng tên anh đủ sức thu hút giới trẻ bằng những khung cảnh và phân đoạn được dàn dựng thơ mộng như điện ảnh Hollywood, một mỹ cảm đẹp đẽ xa lạ đầy lôi cuốn:

“Tôi đã say đắm cái kiểu thời tiết tháng Tám. Thị trấn vắng vẻ và yêu kiều hơn thường lệ bởi vì kỳ nghỉ, nhất là trong những tuần lễ cuối cùng của tháng mùa. Lúc ấy, những cư dân rời thủ phủ của mình cho những ngày ‘la vacanze’, và những đợt du hí theo mùa thường đem khách của họ rời khỏi trước bảy giờ tối. Tôi đã yêu những buổi chiều hơn hết, mùi của những loài hương thảo, cái nóng râm ran, những loài thiên di bằng đôi cánh, hay những loài ở lại với tiếng kêu hè còn sót. Thân cọ đu đưa tấm hình dìu dặt, sự im lặng vắt qua cõi thế như tấm khăn choàng lụa lanh mỏng tanh khi nắng sớm làm ta phải kinh hãi. Tất cả những thứ này làm việc thả bộ xuống bãi biển và trở lại phòng tắm trên lầu thêm phần ý vị. Tôi cũng đã thích việc nhìn chung quanh ngôi nhà mình từ sân tennis và tưởng tới những nơi ban công vắng nhúng mình trong ánh nắng chiều hôm, biết từ ai trong số bọn họ, bạn có thể phát hiện ra biển là vô tận. Ban công của tôi, mênh mông thế giới của tôi. Từ chỗ tôi đang ngồi bấy giờ, tôi có thể kể: đây là sân tennis, kia là mảnh vườn, vườn quả mọng của chúng tôi, kho chứa đồ của chúng tôi, nhà cửa, và những thứ ở thấp hơn là cầu gỗ bước ra mé sông, cũng của chúng tôi, những thứ tôi cần và tôi quan tâm đều hiển lộ ở đây. Gia đình, đàn nhạc, sách báo, dì Mafalda, Marzia, và anh, Oliver.”

– Trang 260-261-262, Gọi em bằng tên anh

Timotheé Chalamet trong một cảnh phim Call Me By Your Name
Nguồn ảnh: nme.com

Rõ ràng, tác giả đem tới một phong các ngụ tình kiểu Jane Eyre khi miêu tả chính xác tâm cảnh khi đan xen hình cảnh, mà ở đó quá đẹp khi dàn trải trong trí tượng tượng. Cách chọn bối cảnh là một mùa hè Địa Trung Hải nóng bỏng nhưng trải dài với những bãi bờ lau sậy và đường cỏ phơi phới làm câu chuyện có vẻ đầy sôi động và cháy bỏng. Ta có những le vancaze (kì nghỉ dài), rosemary (cây hương thảo), the sway of palm fronds (cái đu đưa của những lược lá cọ), empty balconies bask in the sun (những hành lang vắng tắm nắng), limitess sea (biển vô tận). Hay cao cấp hơn với phép liên tưởng độc đáo: dải lụa lanh như một sự im lặng phủ mờ cảnh sáng nóng kinh hãi, con đường vào nhà với lối kiến trúc cổ xưa mà nhạc piano làm chuẩn,… Một cách chuẩn xác thay, tĩnh và động nhịp nhàng kết hợp với tính từ đặt trước đem lại thứ văn chương màu mỡ về chất dựng hình. Nhưng tempo truyện dường như chậm và không nhịp nhàng bắt khớp với bối cảnh thuần điệu. Ở đó, hoạt động của các nhân vật luôn cũ cổ, rất chậm rãi và thong dong: cảnh làm bếp, cảnh những con phố xe qua,… Điều đó làm rối nhiễu tư duy tiếp cận và buộc ta phải lựa chọn một đức tin chính: và đa phần, ta chọn cảnh trầm lắng, chầm chậm, thong thả. Đó là tư duy rất điện ảnh, rót vào người xem những phong cảnh đẹp mà chậm, đủ để người ta có thời gian chiêm ngưỡng và thưởng nguyện sự tưởng tượng được khơi mào rất tốt của chính mình.

Chủ nghĩa hoàn hảo được ứng dụng trong phép dựng cảnh. Bối cảnh hiện ra đôi lúc phi lý trong cách đưa vào thực tế (đôi khi các cảnh trí được bố trí một cách phi logic nếu trải lời văn ra mặt đất), nhưng nó hướng tới một mục đích cao cả hơn, tạo mỹ cảm cho người đọc cảm nhận được chất hoàn hảo mà tác giả cố gắng đem lại. Và cũng là đất để nhân vật tự do thể hiện tình cảm và hoạt động theo tuyến tính chia nhỏ của mình. Chúng phù hợp cho nụ hôn, chúng phù hợp cho cái ôm bởi vì cách thúc đẩy họ, một động lực vừa đủ, vừa vặn. Đôi khi ta bắt gặp chủ nghĩa hoàn hảo tương tự như Oscar Wilde, trữ tình thuần túy của Walt Whitman, nhất là khi Elio nghĩ về Oliver sau những giờ hạnh ngộ trĩu nặng tâm tư.

Như Chicago Tribune3 đã thống kê, gần nửa số người đọc Call Me By Your Name sau khi đã xem qua phim hai đến ba lần. Dễ dàng hiểu được, phim tạo mới sức vang quá lớn và lời PR to chưa hề có cho cuốn tiểu thuyết này của André. Thắng giải Oscar, cảnh quay quá đẹp và lãng mạn, dàn cast thủ vai nhập tâm cùng bộ phận xử lý âm thanh thiên tài làm ta phải tìm đến ngọn nguồn của bộ phim để mà đọc truyện. Nhưng nó mang lại một hiệu ứng khác, hiệu ứng mà có lẽ André đã mong chờ và Luca Guadagnino đã đoán được. Tư duy tưởng tượng về khung cảnh và nhan sắc định hình nhân vật bị chặn đứng vì có người đã nghĩ giùm ta, nhưng nó hoàn toàn đẹp đẽ và chẳng ảnh hưởng gì mấy. Cảnh phim sát với cảnh truyện, và André chắc mãn nguyện vì sự thiếu hụt này, Luca chặn đứng tưởng tượng của người đọc tốt, và tôi thích bị chặn bởi những cảnh phim và dàn cast như vậy.

Nói như vậy không có nghĩa là một nỗi thiệt cho những người tiếp cận truyện bằng phim, André không thể lường trước truyện mình mười năm sau khi viết lại được tung hê đến vậy, ông đã tự tính cho mình bằng những cách viết rất điện ảnh, rất hiển lộ đã kể trên. Và khi đã có phim, tôi cũng nghĩ đó là một sự trợ giúp đáng khen ngợi từ phía tác giả trong việc nỗ lực để người đọc tự suy nghĩ ra bối cảnh bằng những trang viết gợi ý có vẻ khá dài và khá đẹp.

3. Gọi em bằng tên anh liệu có phải là một bước đi bốc đồng không?

Tôi nghĩ lý trí của một kẻ đứng giảng đường cùng cái đầu lạnh của André không cho phép ông lơ là dù ta đang đòi hỏi một câu chuyện thực sự khêu gợi và thả dòng cho tự trôi tự chảy. Dù có những đoạn dường như chỉ có cảm xúc mới thi triển được thì ông chen vào đó gần như là lý trí để mó tay thêm thắt một vài thứ nghệ thuật tâm lý học. Có thể đổ cho bệnh nghề nghiệp nhưng nó tạo cho ta nhiều thứ còn vui hơn để cảm xúc thành dòng như vậy.

Không phải trùng hợp và đột nhiên mà cả mấy cuốn sách về chủ đề này luôn để nhân vật ở độ tuổi tầm mười bảy, mười tám đổ lại. Dường như ở đó, con người ta tập trung đủ mọi cảm xúc khi yêu đương. Có thể một chút hân hoan kiểu nhục cảm khi kề trái ngọt bên môi, sợ sệt vì bị phát hiện hoặc lo lắng, bồn chồn đến kinh hãi. Elio cũng vậy, từ ghét chuyển sang yêu, qua một đêm chuyển sang ghét và nỗi đau chuyển hóa không ngừng nghỉ sang mọi dạng thức khác nhau của tính sợ cô đơn của một kẻ chớm trưởng thành. Ở cậu có một cảm xúc khác, sự chiến đấu giữa lý trí và tình cảm. Với sự hiểu biết về tình yêu và ý thức được Oliver là ai và sẽ thuộc về đâu, cậu chống lại toàn bộ cảm xúc của mình. Gây ra một sự mâu thuẫn đáng yêu. Luôn muốn yêu thật nồng nhiệt nhưng biết chắc chắn càng nồng nhiệt sẽ càng đau đớn về sau. Nỗi tiềm thức sợ đau đớn và nỗi cô đơn và mong muốn yêu hết mình xâm lấn không ngừng nghỉ, biến đổi linh hoạt bằng dòng tâm tư không rõ làm người đọc không biết mình đang ở đâu trong dòng chảy đó.

Với tôi, một con người cổ hủ truyền thống tập bú mớm truyền thông, tôi ưa thích cảnh Elio và Chiara làm tình trên gác. Tôi bất ngờ về cảnh đó vì nó đáng lý phải đặt ở chỗ sớm hơn hoặc trễ hơn một tí. Khi nỗi đau không có hoặc nỗi đau quá lớn thì sẽ giải thích một cách dễ dàng hơn: bằng lý lẽ là phủ nhận hoặc phủ lấp khoảng trống. Nhưng việc đưa vào chính giữa tập hợp được cả hai lý lẽ trên. Đó là, khi tình cảm của mình với Oliver đã rõ mươi mười, Elio sử dụng Chiara như một que thử thai. Nhưng không thử bằng nước tiểu mà thử lòng mình, ta có thể hiểu nỗ lực đó là sự xác nhận lại bản thân mình, hoặc bất lực của một thân xác, hoặc trần trụi hơn, sự lên ngôi của tính dục và mong muốn chiếm hữu lên cao.

Tiếp theo, khi hai người đã có nhau, tình yêu đó được làm rõ bằng một buổi làm tình với nhau đầy khoái cảm thì ta bất ngờ bị chính Elio đánh ót. Tâm lý lại biến chuyển thành sự ghê tởm chính người tình trong mơ của mình. Đó là thứ mặc cảm độc hại, nó sẽ xâm chiếm và ta sợ nó sẽ không kiềm chân được một khách bộ hành như Oliver. Ta thấp thỏm lo sợ, nhưng sau đó André làm ta thở phào. Họ tiếp tục, họ lại yêu nhau bằng những tuần cuối cùng ngắn ngủi.

Thứ dụng ý nghệ thuật tôi thấy thú vị nhất mà André cố tình chen lý trí vào dòng tâm tưởng chính là đoạn chia tay. Ông ta không để Elio yên bằng một cuộc tiễn đưa Oliver, mà chính Elio sẽ phải bị bỏ lại trong sân ga đầy mùi nước uế và tạp phẩm, nhìn chuyến tàu đó đi xa mãi. Họ lao vào cuộc chia tay tạm bợ, cái bẫy trêu ngươi đầy dụng ý của tác giả, thỏa mãn và vui thú ở Rome, San Clemente, hội quán sách trong một nỗi chia lìa sắp tới. Niềm vui họ có ở Ý đã quá lớn, Elio rồi phải bị bỏ lại và ký ức đó sẽ tấn công cậu chàng và phương hại anh ta trong nỗi đau của người ở lại.

Đến đây, khi tới tận cùng của nỗi đơn côi và dòng tâm tưởng miên man của Elio, ta bỗng nhận ra sự thiếu hụt tư liệu cảm xúc của Oliver. Ta nhận ra ngôi thứ nhất thuộc về Elio chặn đứng nỗ lực ta tiếp cận với đối phương bên kia. Oliver bản thân đã là một vùng đất khó tiếp cận, ngôi một lại không thuộc về anh và không quá đi sâu về anh ta, làm ta cảm giác mù mờ trong tâm lý anh này. Hai mươi năm sau đó, cảm xúc này được đưa lên đỉnh điểm bằng một cú sốc mà ta tưởng sẽ chẳng bao giờ xảy ra: anh này cưới vợ và tái ngộ Elio. Hai người đã là hai ông già, và đến như thế thì ta vẫn thiếu thông tin về nhân vật chính này. Chỉ biết đó là một người đã có vợ, già nua xấu xí và khú đế, một kẻ tư tưởng hết thời.

Như thế, với một cốt truyện không mới và cách thể hiện dường như thuộc về tay của một nhà văn đi trước hơn trăm năm, nhà văn cũng biết cách tạo cho mình những lối đi riêng khá an toàn bằng sự tính toán của mình. Ông đủ vững chãi để dắt mũi người đọc đi qua con đường zigzag tâm lý của Elio, một cách đủ, đầy, và nên như vậy. Một sự khảo cứu chất lượng, ấn tượng và rõ ràng, bậc thầy.

4. Call Me By Your Name – Có vượt qua giới hạn của truyện tuổi mới lớn?

Tôi nghĩ là không. Xin lỗi phải từ chối mọi nỗ lực đem truyện tuổi mới lớn lên một tầm cao mới kiểu Salinger hay Charles Dickens thì tôi sẽ vẫn coi đây là một tiểu thuyết cho giới trẻ. Thật sự, André chưa có một cốt truyện thực sự ấn tượng và mang tính biểu tượng để có thể truyền cảm hứng và bật dậy mạnh mẽ như Bắt trẻ đồng xanh từng làm, cũng chẳng có sự tinh quái và twist độc đáo của David Copperfield. Nó nên hợp để dạy trẻ con xác định tâm lý, hoặc đọc để mà cảm động và du hành qua mọi cung bậc cảm xúc và sự mỹ mãn của thế giới tác giả dày công xây dựng. Vượt qua mọi tính nghệ thuật và ngôn từ khéo léo, tính tư tưởng và biểu tượng không cao của truyện làm nó sẽ lướt qua những người khó tính như bốn chai Aquafina hai lít nước mỗi ngày. Nhưng dù sao, Call Me By Your Name là một địa chỉ hay ho dễ cưng cho những người tìm tới văn học gaylit, nó đưa văn học Trẻ đến với những mỹ cảm sâu xa hơn về tính dục, tình yêu và ý thức chiến đấu giữa lý trí và tình cảm. Và có lẽ, nó sẽ để qua trong lòng ta một thứ gì đó gọi là rung cảm, vì những điều tinh túy nhất tác giả đã cài vào, Find Me cũng phải tìm những tinh túy khác để thoát ra khỏi bóng của người anh trước. Song, tôi chân thành xin lỗi cả André lẫn Colm Tóibín khi nếu lần tới đây, khi tôi thấy Giovanni’s Room chung hàng với Call Me By Your Name, tôi sẽ lén tay để cuốn của André xuống một hàng, hoặc James lên hai hàng. Nếu nhà sách chịu. 

Hết.

Chú thích:

  1. Mọi trích dẫn đều từ bản sách Call Me By Your Name của nhà xuất bản Picador. Phần biên dịch do người viết tự thực hiện dưới sự tham khảo bản dịch của Nhật Khoa.
  2. Theo bài viết ‘Call Me by Your Name’ review: At long last, first love của Chicago Tribube.

Gia Bin

Xem tất cả những bài viết của Gia Bin tại đây.


Bài viết có chủ đề liên quan



2 bình luận

2 Bình luận

  1. Lưu Lưu

    Tháng Tám 23, 2019 at 3:45 chiều

    Bài này em đọc trong group rồi nè, rất ấn tượng với bài viết của bạn Gia Bin này: đầu tiên là về cái độ dài- không muốn đọc mà đi lướt thì mỏi tay à nha, thứ hai là cách trình bày từng phần một rất rõ ràng khoa học và tiếp theo là lối viết của bạn ấy. Thực sự bị thuyết phục bởi bài của bạn trong flash review 1.

  2. Pingback: Nhà Bookish Squad thích đọc gì? Kì 1: Giới tính, Drama, Giải thưởng văn học. – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Người lớn, trẻ con và Hoàng tử bé

Đăng từ

on

Người đăng

Khi còn bé, chúng ta suy nghĩ mọi thứ khác so với chúng ta phiên bản trưởng thành đến nỗi đánh mất đi nhiều thói quen hay ho. Là trẻ con, chúng ta nhìn qua lăng kính trong veo không gợn chút bụi trần, và hầu như không phải đắn đo giữa được và mất. Đến một thời khắc nào đó, con người khi đã đủ trưởng thành lại bùi ngùi nhớ lại bản thân mình ngày xưa với biết bao tiếc nuối… Đọc Hoàng tử bé, độc giả không tránh khỏi những suy nghĩ ấy: giờ đây, những thứ mộc mạc, giản dị của ngày bé chẳng thể trở về giản dị, mộc mạc nữa rồi, vì cuộc sống khắc nghiệt của người lớn phức tạp hơn nhiều.

Tuổi thơ và những điều con trẻ

Nhân vật xưng “tôi” ngày nhỏ thích vẽ. Trong một lần nhìn thấy bức tranh con trăn nuốt chửng cả một chú voi khổng lồ, bạn nhỏ ấy đã họa lại theo cách của mình, nhưng có vẻ không được tán dương lắm. Con trăn no căng bụng bị nhìn nhầm thành chiếc mũ, nên cậu vẽ cho hở bụng và không quên họa con voi to tướng vào chỗ hở của bụng trăn. Khi ấy, “người lớn” thi nhau bảo cậu hãy bỏ giấc mộng vẽ vời đi. Chẳng ai hiểu cậu vẽ gì cả.

Cậu bỏ thật…

Nhưng bức tranh ấy có ý nghĩa gì nhỉ? Tôi nghĩ mãi, và tạm chấp nhận với câu trả lời: con trăn chính là cuộc sống của “người lớn”. Nó nuốt chửng cả đứa trẻ thơ dại còn sót lại trong mỗi chúng ta. Đáng buồn là, chẳng ai thèm đoái hoài hay lo lắng về quá trình khó lòng cưỡng lại ấy. Chúng ta dường như đang quay mặt lại với chính mình ngày xưa: giản đơn, hiền lành và đầy mơ mộng.

Người kể chuyện là một người đàn ông cô đơn. Mỗi lần người khác cười ông vẽ “chiếc mũ” vớ vẩn, ông lại từ chối đứa trẻ sống trong tim mình bằng cách sống “người lớn” hơn: trí tuệ, hiểu biết và sõi đời.

Ông vẫn là một tâm hồn cô độc, quanh quẩn với chính mình, vòng quanh thế giới bao la nhưng mãi đến khi gặp Hoàng tử bé từ hành tinh B612 thì ông mới phần nào nguôi ngoai. Hai tâm hồn cô đơn, gặp nhau và tạo thành một mối dây liên kết vô hình. Của một đứa trẻ với một người già. Của một cư dân Trái Đất với kẻ sống ở nơi chỉ toàn núi lửa và lác đác vài bông hoa…

Người lớn đánh giá một vật xấu hay đẹp, đánh giá một người có đáng được lắng nghe hay không, cũng chỉ sòng phẳng qua những phương tiện vật chất. Trong thế giới mà tiền bạc là tất cả, chẳng ai để ý đến bông hoa nhỏ bé có thể bị con cừu ranh mãnh ăn mất bất cứ lúc nào.

Hoàng tử bé và chuyến phiêu lưu nhỏ

Lúc trò chuyện với chú phi công, Hoàng tử bé có vẻ rất lo lắng cho bông hoa hồng của mình. Cô quạnh trên hành tinh quê nhà, bông hoa lắm lời và kiêu kì có thể được xem như người bạn duy nhất của cậu. Đoạn miêu tả bông hồng sao mà giống lời miêu tả chị em phụ nữ của cánh mày râu quá: kiêu hãnh, không chịu công nhận tình cảm, lại còn vô cùng điệu nữa. Hoàng tử yêu bông hoa ấy, và bông hoa đó cũng yêu hoàng tử. Đó là lý do bông hoa cố tỏ ra vẻ mình yếu đuối: muốn được cậu che chở và chăm sóc.

Lồng ghép vào đó là câu chuyện về cây bao báp ăn nát cả hành tinh. Phải chăng, tác giả ngụ ý rằng, chuyện gì hôm nay làm được thì chớ để ngày mai, không thôi bao báp ăn mất đất, đến không còn chỗ mà sống. Triết lý giản đơn ấy, ngày nhỏ chắc hẳn rằng đã được mẹ và cô bảo ban hàng chục, hàng trăm lần, nhưng không hiểu sao khi đọc truyện, tôi mới thấy nó rõ ràng và đáng suy ngẫm đến thế.

44 lần ngắm mặt trời lặn. Vì buồn quá nên thích ngắm mặt trời lặn. Chẳng phải, vì cô đơn, lạc lõng quá nên buồn sao? Vì vậy, chú phi công kết luận: “Cái ngày 44 lần ngắm ấy, hẳn là cậu phải buồn lắm?” Cậu im lặng không đáp. Một đứa trẻ mà buồn thì sẽ như thế nào nhỉ?

Hoàng tử bắt đầu chán chường với bông hoa “nói nhiều”. Cậu muốn thoát khỏi hành tinh nhỏ bé của mình, thoát khỏi “vùng an toàn” và chu du khắp những vì sao. Nhưng sau đó, rõ ràng cậu lại hối hận vì đã đánh giá bông hồng qua cái sự “nói nhiều” ấy. Cậu nhận thấy mình có tình cảm sâu đậm với bông hoa. Cuộc phiêu lưu của cậu ra khỏi “vùng an toàn” chính là một cuộc dạo chơi của tâm hồn thơ bé đến với thế giới hiện thực tàn khốc của người lớn. Ở đó, có biết bao loại người khác nhau, nhưng dù là ai thì cậu cũng cảm thấy “người lớn thật là khó hiểu”, “kỳ lạ” và “buồn cười”.

Đó là một ông vua trị vì vương quốc không có lấy một thần dân. Ông trị vì trong cô đơn và mòn mỏi, với những triết lí cũng khá là hợp lí: “Cần phải yêu cầu người ta làm cái điều gì người ta có thể thực hiện được…” Tuy nhiên, vì quá cứng nhắc nên ông ta có vẻ bị động và bất lực, khi cậu quả quyết rời khỏi hành tinh. Một ông vua mà không có thần dân, thì còn gì là vua nữa?

Đó là một ông hợm hĩnh, coi cả thế giới là “cộng đồng người hâm mộ” của mình, và mình là cái rốn của vũ trụ. Loại người như thế này thì công nhận, ngoài đời nhiều thật. Bạn cứ thử làm việc nhóm nhưng chọn nhóm một cách ngẫu nhiên xem. Thế nào bạn cũng phải chán ngán như khi Hoàng tử bé chán ngán trò chơi vỗ tay… Cái tôi quá lớn xua đuổi người khác đi mất chứ chẳng thể giữ nổi chân ai cả.

Đó là một ông nát rượu. Vì quá bất lực với cuộc đời, quá hèn nhát mà ông chỉ trốn vào men rượu. Tại sao? Vì ông nghiện rượu. Đó là một vòng luẩn quẩn không lối thoát, nhất là khi bạn chỉ biết than thân trách phận mà chẳng buồn hành động chút xíu nào để làm cuộc đời bạn tốt hơn.

Đó là nhà buôn nghiện tính. Tính mãi, tính mãi, luôn miệng nói mình bận lắm, mình toàn làm những việc cao cả, những thứ nghiêm túc thôi. Nhưng để làm gì nhỉ? Tính tổng số sao mình sở hữu. Hoàng tử bé đã chỉ ra một điều mà ít ai để ý: rằng nhà buôn ấy, tính toán bận rộn thế thì chẳng ích lợi gì cả, rằng ông ta cũng không làm gì được cho các ngôi sao cả. Cuộc sống thực tại cũng vậy. Có rất nhiều người bận vùi đầu vào những thứ vô bổ, tưởng chừng nghiêm túc nhưng chả hề có ích; lại có người mải mê kiếm tiền mà quên hưởng thụ, quên mục đích cuộc sống của mình là gì, dẫn đến đời sống tinh thần nghèo nàn, thui chột; cũng có người có nhiều lắm, nhưng không cho đi, không giúp đỡ người khác, nên cuộc sống vô cùng tẻ nhạt.

Lại có ông nhà địa lý mọt sách, suốt ngày rúc vào sách vở chứ chẳng đi thực tế hay khám phá gì cả. Riêng có người đốt đèn chăm chỉ, cần mẫn là đáng để Hoàng tử bé kết thân. Có cảm giác, tác giả đang miêu tả bản thân như người đốt đèn đó: làm một việc khiêm nhường nhưng có ích cho đời. Đó là người duy nhất ngoài vũ trụ mà cậu muốn kết thân.

Vậy bạn trẻ à, bạn là cư dân của hành tinh nào mà tôi đã đề cập nhỉ?

Mong rằng bạn không cần phải phật lòng với tôi vì đã khiến bạn chột dạ.

Vậy còn Trái Đất thì sao?

Con rắn, cái giếng, con cáo và hoa hồng

Cách nói ví von đầy ẩn ý như thế, khiến những con người đã-từng-là-trẻ-con không khỏi trăn trở: rắn, cáo, hoa hồng nhưng đâu phải là rắn, cáo, hoa hồng thôi; giếng nhưng sâu thẳm, nó là gì nữa?

Con rắn ban đầu thấy Hoàng tử bé là đã ra chiều dụ dỗ. Nó bảo, nọc độc nó là để người bị cắn trúng trở về với nơi được sinh ra – thật là tráo trở biết bao. Thì ra, con người với nhau nhưng giả dối lắm, nên hay dùng những mỹ từ cao cả để che đậy tội lỗi. Cuối cùng, chính con rắn ấy đã trút hết nọc độc vào em và bỏ đi. Em ngây ngô, nhưng không hề ngây ngô chút nào.

Cậu gặp một con cáo, khao khát được thuần hóa. Con cáo đó, chính là nhân loại. Nhân loại khao khát yêu và được yêu, dù có đau khổ, dù có nếm mật nằm gai. Romeo và Juliet vẫn đến với nhau và yêu nhau bằng cả mạng sống, và chắc hẳn tiểu thuyết của Nicholas Sparks bán chạy cũng là do nhân gian nào có ai từ chối tình yêu cả một đời. Thế là cậu phát hiện ra, mình đã “được” hoa hồng kia thuần hóa. Cậu yêu bông hoa ấy. Và cậu nghĩ mình có trách nhiệm với thứ mà mình đã thuần hóa. Chậc, những người yêu nhau, thương nhau đều có trách nhiệm giữ cho người kia an toàn và hạnh phúc mà nhỉ?

Con cáo đau khổ khi phải chia xa Hoàng tử bé, nhưng nó không hối hận vì đã van nài cậu thuần hóa nó. “Lúa mì, vốn dĩ vàng óng, sẽ khiến tớ nhớ đến cậu.” Thật đáng nể, tác giả dạy trẻ con về tình cảm tự nhiên của con người quá tài tình!

Còn đây là bài học mà tôi tâm đắc nhất:

Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Con mắt thường mù lòa trước điều cốt tử… Chính thời gian mà cậu dành cho bông hồng của cậu mới khiến bông hồng của cậu quan trọng đến thế.

Hoàng tử bé của chúng ta cũng phát hiện rằng, 5000 bông hoa hồng trên trái đất giống hệt như bông hoa của cậu, nhưng với cậu, đóa hoa đó là duy nhất. “Nhưng chỉ riêng mình nàng thôi, nàng đã quan trọng hơn tất cả các cô, bởi lẽ chính nàng đã được tôi tưới nước cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi chắn bình phong cho… Bởi lẽ đấy là bông hồng của tôi.”

Đọc đến đây, tôi chợt ganh tị với một bông hoa hồng nhỏ bé…

“Điều khiến cho sa mạc đẹp, hoàng tử nói, chính là nó giấu một cái giếng ở đâu đó…”

Em biết mình muốn làm gì, và cần phải làm gì để đi đến điểm dừng cuối cùng ấy. Không như những người trên tàu hỏa, chen lấn, xô đẩy, nhưng ông lái tàu chẳng biết họ đi tìm cái gì cả.

Vậy bạn thân mến, bạn đã biết mình đến thế giới này để làm gì chưa? Nếu chưa, thì bạn cần phải học hỏi Hoàng tử bé nhé! Cậu đi tìm giếng nước và khoan khoái uống nước do chú phi công múc lên. Cậu gắn liền làn nước mát ngọt và tiếng dây kéo cót két với chú phi công. Vì vậy, có lẽ sau này mỗi lần cậu khát nước hoặc nghe tiếng dây, thấy cái giếng, cậu sẽ nhớ tới chú phi công. Nhưng có lẽ, cậu không còn lần sau nữa.

Cậu đã tặng chú phi công cái gì nhỉ?

Những ngôi sao biết cười.

Đứa trẻ trong cơ thể già cỗi khô cằn.

Một lời gợi nhớ, rằng những thứ vô hình cần được cảm nhận bằng trái tim.

Lời kết

Tác giả truyện, Antoine de Saint-Exupéry là một phi công, và đã có kinh nghiệm tham gia làm nhiệm vụ trong Thế chiến thứ hai. Giấc mơ được bay lượn của ông được gởi gắm qua nhân vật “tôi” trong truyện, cùng với việc Hoàng tử bé bay lượn từ hành tinh này sang hành tinh khác. Kết thúc của truyện cũng khá buồn, nhưng tôi vẫn muốn hiểu theo cách riêng của mình. Tôi thấy bản thân không đủ mơ mộng và lạc quan để tưởng tượng cảnh Hoàng tử bé trở về quê nhà, tận tay chăm bón cho cô hoa hồng đỏng đảnh. Hoa chờ cậu một năm rồi, đã úa tàn rồi. Còn cậu, cậu cũng chẳng thể thoát khỏi lưỡi hái tử thần, và rời khỏi thế gian một cách nhẹ nhàng. Nhưng cậu, với một tâm hồn thánh thiện và tinh khiết, đã khiến cho chú phi công kia thay đổi quan điểm sống, khiến chú luôn nhớ đến cậu, thương nhớ cậu, vì chí ít, cậu cũng đã cứu mạng chú ấy, khiến chú ấy sống thật với bản thân, với “đứa trẻ mình đã từng là”. Hoàng tử cũng đã thỏa được mong muốn trở về với hoa hồng yêu dấu, dù là mãi sau khi cả hai đều lìa khỏi cõi đời. Tôi hoàn toàn tin rằng, cậu đã ra đi vô cùng thanh thản. Cậu ra đi vì tình yêu, dù bản thân cũng chẳng biết định nghĩa tình yêu là gì…

Truyện ngắn gọn nhưng dư âm thì còn mãi với thời gian. Mong rằng, những bài học quý giá về cuộc sống, về thành và bại, hữu hình và vô hình, tình yêu và tình bạn, sự sống và cái chết, tất cả đều sẽ đồng hành với tôi trong suốt quãng đời còn lại. Đều là những bài học đắt giá mà tác giả đã đúc rút được từ cuộc đời truân chuyên của mình, nên tôi rất trân trọng.

Ngày 31.07.1944, máy bay của Saint-Exupéry mất tích trên Địa Trung Hải. Tôi nghĩ, ông đi tìm Hoảng tử bé đấy. Ắt hẳn là ông đã tìm được em.

Hết.

Gia Bảo

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Những điều chúng ta có thể học (và không nên học) từ “Dịch hạch” của Albert Camus

Từ Liesl Schillinger, về thảm họa, lây nhiễm và tình trạng con người.

Đăng từ

on

Người đăng

WHAT WE CAN LEARN (AND SHOULD UNLEARN) FROM ALBERT CAMUS’S THE PLAGUE

Liesl Schillinger

Thông thường, một câu hỏi như thế này thường mang tính lí thuyết: Chuyện sẽ ra sao nếu thị trấn của bạn, tiểu bang của bạn, đất nước của bạn, bị tách biệt khỏi phần còn lại của thế giới, người dân bị ép ở yên trong nhà khi một căn bệnh truyền nhiễm đang lây lan, lây nhiễm cho hàng ngàn người và làm hàng ngàn người nữa phải cách ly? Bạn sẽ đối phó như thế nào nếu dịch bệnh phá vỡ nhịp sống thường nhật, trường học đóng cửa, bệnh viện dần trở nên quá tải và các cuộc tụ họp xã hội, các sự kiện thể thao, các buổi hòa nhạc, hội nghị, lễ hội và kế hoạch du lịch bị trì hoãn vô thời hạn?

Năm 1947, khi 34 tuổi, Albert Camus, nhà văn người Pháp gốc Algeria đã đưa ra câu trả lời đáng kinh ngạc và chi tiết cho câu hỏi trên trong cuốn tiểu thuyết Dịch hạch. Cuốn sách ghi chép lại sự xuất hiện đột ngột và ra đi chậm chạp của một trận bệnh dịch hạch giả tưởng tại thị trấn ven biển Oran của Algeria vào tháng Tư trong thập niên 1940 (năm cụ thể không rõ). Khi căn bệnh xâm nhập vào thị trấn, dịch bệnh kéo dài, làm đảo lộn cuộc sống và tâm trí người dân, cho đến tháng Hai năm sau, khi nó rời đi nhanh chóng và kỳ lạ như cách nó đến, “quay trở lại hang ổ tối tăm nơi mà nó đã lén lút xuất hiện”.

Dù bạn đã đọc Dịch hạch hay chưa, ngay lúc này ta cần đọc hoặc đọc lại cuốn sách trong thời điểm cả quốc gia và quốc tế căng thẳng, khi một căn bệnh mới mang tên COVID-19, gây ra bởi chủng mới của vi-rút corona, đang càn quét toàn cầu. Kể từ khi chủng mới của vi-rút corona xuất hiện vào cuối năm ngoái tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc (thành phố đã bị phong toả từ tháng Một), nó đã phát triển không ngừng, xâm chiếm hơn một trăm quốc gia, làm người dân và thị trường tài chính chao đảo, buộc các thành phố, khu vực, và cả nước Ý sống dưới sự cách ly. Tuần này, nơi làm việc, trường học và trường cao đẳng đã đóng cửa hoặc làm việc online ở nhiều thị trấn của Mỹ (bài viết gốc được đăng vào ngày 13.03.2020), các sự kiện bị hủy bỏ và du lịch không thiết yếu đã bị cấm. Dịch đã được nâng cấp thành đại dịch. Bạn có thể thấy mình có nhiều thời gian để đọc sách hơn bình thường. Tiểu thuyết của Camus có sự tương đồng và nhiều bài học để cung cấp trong thời buổi này.

Trước khi bạn cầm cuốn sách này lên, hãy yên tâm rằng dù dịch COVID-19 có thể đáng sợ, nhưng nó không tài nào có sức tàn phá như bệnh dịch hạch của Camus. Vào thế kỷ 14, bệnh dịch hạch, còn được gọi là “Cái Chết Đen” đã giết chết gần một phần ba dân số trên lục địa châu Âu. Khi nó hoành hành khắp London vào năm 1656 và 1657, nó đã giết chết gần một phần tư dân số. Trong trường hợp bạn chưa biết, bệnh dịch hạch vẫn còn tồn tại đến ngày nay, không chỉ ở châu Á và châu Phi, mà còn ở phía Tây Nam nước Mỹ. Nó được truyền bởi bọ chét từ loài gặm nhấm bị nhiễm bệnh, gây sốt cao, nôn mửa và sưng đau, có tên là “sưng bạch hạch” (về sau gọi là “thể hạch”). Ngay cả khi được điều trị bằng kháng sinh, nó có tỷ lệ tử vong là 10%; và nếu không được điều trị, tỉ lệ lên tới 90%. Vi-rút corona lại không hề giống như thế.

Khi Camus viết cuốn tiểu thuyết này, không có dịch hạch ở Oran. Tuy nhiên, nó đã tàn phá thành phố này vào thế kỷ 16 và 17. (Từng có một đợt dịch bùng phát kéo dài một tháng tại Oran vào năm 2003.) Nhưng nếu Dịch hạch mô tả các triệu chứng và hậu quả của căn bệnh theo đúng nghĩa đen và phương diện lâm sàng, thì những con vi khuẩn soi dưới ống kính của tác giả không có quá nhiều yếu tố thuộc về mặt sinh lý, mà là phân tích dưới góc độ xã hội học và triết học. Mặc dù tiểu thuyết theo dõi sự tiến triển của một dịch bệnh cụ thể ở một thành phố, quốc gia và khung thời gian cụ thể, chủ đề thực sự của Camus lại vượt ngoài phạm vi thời gian và địa điểm.

Mục đích của ông là ẩn dụ: ông đang đề cập đến bất kì căn bệnh truyền nhiễm nào có thể thống trị bất kì xã hội nào, từ một căn bệnh như dịch tả, cúm Tây Ban Nha, AIDS, SARS, hoặc, vâng, COVID-19; đến một hệ tư tưởng mục ruỗng, như Chủ nghĩa Phát-xít, hay Chủ nghĩa Toàn trị, có thể đầu độc cả nhân loại. Camus đã nhìn thấy Đức Quốc Xã tràn vào Paris năm 1940 trong Thế chiến thứ hai. Cùng thời điểm ông đang viết Dịch hạch, ông là tổng biên tập tờ Combat, tạp chí ngầm của Kháng Chiến Pháp, những người đóng góp bài vở bao gồm André Malraux, Jean-Paul Sartre và Raymond Aron. Ông nhìn thấy mối liên hệ giữa nhiễm trùng thể chất và nhiễm trùng tâm lý, và cuốn sách của ông đã nối chúng lại với nhau.

*

Khi câu chuyện bắt đầu, những con chuột đang lảng vảng trong bóng tối của Oran, đầu tiên là từng-con-một, sau đó thành “từng bầy”, hết sức kì lạ, chúng lăn ra chết trên mặt đất hay trên các con đường. Người đầu tiên gặp phải hiện tượng này là bác sĩ địa phương tên Rieux, người đã báo với người gác cổng của mình, Michel, để giải quyết sự phiền nhiễu trên, và bất ngờ khi Michel tỏ ra “căm giận” thay vì ghê tởm. Michel tin chắc rằng lũ trẻ hư đốn đã vứt những con chuột chết trên hành lang nhà mình như một trò chơi khăm. Giống như Michel, hầu hết các công dân Oran đều lý giải sai những điềm báo sớm; họ đã bỏ lỡ ý nghĩa to lớn của chúng. Trong một thời gian, hành động duy nhất họ thực hiện là tố cáo bộ phận vệ sinh địa phương và phàn nàn về chính quyền. “Về phương diện này, cư dân của chúng ta cũng giống như mọi người khác, chỉ biết lo cho bản thân”, người kể chuyện phản ánh. “Họ là những người theo chủ nghĩa nhân văn: họ không tin vào bệnh dịch.” Camus cho thấy thật dễ dàng để nhầm lẫn dịch bệnh với một sự phiền toái.

Nhưng sau đó, Michel ngã bệnh và qua đời. Khi Rieux chăm sóc cho ông, ông đã nhận ra những dấu hiệu của bệnh dịch hạch, nhưng lúc đầu, ông tự thuyết phục mình rằng: “Không được phép làm mọi người sợ hãi, như thế sẽ chẳng được gì cả.” Các quan chức Oran đều đồng ý. Tỉnh trưởng (giống như thị trưởng hoặc thống đốc, ở thuộc địa Algeria) “tin chắc rằng đó là một báo động sai.” Một quan chức cấp thấp, Richard, khẳng định căn bệnh này không nên được xác định chính thức là bệnh dịch hạch, mà nên được gọi đơn thuần là “một loại sốt đặc biệt”. Nhưng khi tốc độ và số ca tử vong tăng lên, Rieux không chấp nhận cách nói giảm nói tránh đó và các nhà lãnh đạo thị trấn buộc phải hành động.

Camus đề xuất rằng, các nhà chức trách chỉ có trách nhiệm giảm thiểu mối đe dọa của dịch bệnh cho đến khi các dấu hiệu đã trở nên quá rõ ràng, rằng phản ứng chậm chạp còn nguy hiểm hơn là phản ứng thái quá. Ông viết, hầu hết mọi người đều có chung thiên hướng này – đó là điểm yếu của con người: “Mọi người đều biết rằng dịch hạch có cách tái xuất trên thế giới, nhưng bằng cách nào đó chúng ta thấy khó tin vào những thứ từ trên trời rơi xuống đầu mình.”

Chẳng mấy chốc, thành phố bị đóng cửa và áp đặt trạng thái cách ly, tách biệt những cư dân Oran với nhau và với thế giới bên ngoài. “Điều đầu tiên mà bệnh dịch hạch mang đến thị trấn của chúng tôi là lưu vong”, người kể chuyện viết. Một nhà báo tên Rambert, bị mắc kẹt ở Oran sau khi cánh cổng đóng lại, đã cầu xin Rieux cấp giấy chứng nhận sức khỏe để anh ta có thể trở lại với vợ mình ở Paris, nhưng Rieux không thể giúp anh ta. “Có hàng ngàn người như anh đang bị mắc kẹt trong thị trấn này,” ông nói. Giống như Rambert, người dân sớm cảm nhận được sự vô nghĩa của việc nhai đi nhai lại nỗi khổ sở của bản thân, bởi vì dịch hạch xóa đi “tính độc đáo trong cuộc sống mỗi người” ngay cả khi nó nâng cao nhận thức của mỗi người về sự yếu đuối và bất lực của mình để lên kế hoạch cho tương lai.

Thảm hoạ này là của chung cộng đồng: “Một cảm giác, bình thường vốn rất cá nhân, như nỗi đau của sự chia li với những người mình yêu thương đột nhiên trở thành cảm giác mà tất cả cùng chia sẻ,” Camus viết. Nỗi đau này, cùng với nỗi sợ hãi, trở thành “tai hoạ lớn nhất của thời kỳ lưu đày kéo dài.” Bất cứ ai gần đây đã phải hủy bỏ một chuyến công tác, một lớp học, một bữa tiệc, một bữa ăn tối, một kỳ nghỉ hoặc một cuộc hội ngộ với người thân, có thể cảm nhận sự hợp lí khi Camus nhấn mạnh về sự sụp đổ cảm xúc thời kỳ bệnh dịch: cảm giác của sự cô lập, sợ hãi và mất đi công việc. Chính điều này, “lịch sử của những gì mà nhà sử học bình thường đã ngó lơ”, là những điều cuốn tiểu thuyết của ông ghi lại, và cuốn tiểu thuyết vi-rút corona đang được ghi vào cuộc sống người công dân hiện tại.

Nếu bạn đã đọc Dịch hạch, bạn sẽ bị ám ảnh nhất với những dằn vặt về thể xác mà người kể chuyện của Camus, dù có vẻ vô tư, nhưng miêu tả vô cùng trực quan. Có thể bạn chú ý nhiều hơn đến bong bóng và các hố vôi hơn là bức tranh tường thuật về những người dân bình thường, bị mắc kẹt trong những vết sưng phồng do dịch bệnh, người đã chiến đấu với cảm giác bị cô lập bằng cách mặc quần áo, đi dạo một cách vô mục đích dọc theo đại lộ Oran, và tràn ra khỏi nhà hàng, sẵn sàng tránh xa nếu một đồng nghiệp ngã bệnh, bị cuốn vào “cơn khát khao điên cuồng về cuộc sống thịnh vượng giữa thảm hoạ”: sự an ủi của cộng đồng. Người dân thị trấn Oran không có sự trông cậy mà người dân ngày nay có được, ở bất cứ thị trấn nào: tìm kiếm cộng đồng trong thực tế ảo. Hiện tại, khi đại dịch đang xâm chiếm và tồn tại trong thời đại kĩ thuật số, người ta đã áp dụng một bộ lọc mới sống động cho cái nhìn sắc sảo của Camus về bối cảnh cảm xúc của sự lây lan.

Ngày nay, sự lưu đày và cô lập của dịch bệnh 2.0 đang có được các sắc thái riêng, đặc điểm riêng của chúng, tái tạo lại hình ảnh của Camus. Khi chúng ta đi bộ dọc theo những con phố, đi đến cửa hàng tạp hóa, chúng ta phản xạ theo thói quen phòng ngừa mà các phương tiện truyền thông xã hội khuyến cáo: rửa tay, nhún vai và cười toe toét thay cho bắt tay, thực hiện giãn cách xã hội. Chúng ta có thể thực hiện công việc của mình từ xa để tránh lây nhiễm cho người khác hoặc tránh bị nhiễm bệnh, chúng ta có thể tránh xa các bữa tiệc, buổi hòa nhạc và nhà hàng, đặt hàng các ứng dụng giao hàng. Nhưng trong bao lâu? Camus biết câu trả lời: chúng ta không thể biết.

Giống như những người đàn ông và phụ nữ sống trong thời kỳ gián đoạn gần một thế kỷ trước, những người mà Camus đã mô phỏng lại để minh họa cho chủ đề không thể tránh khỏi của mình, tất cả những gì chúng ta có thể biết là sự gián đoạn này sẽ không kéo dài mãi mãi. Nó sẽ đi, không thể giải thích được, khi nó đã vừa ý. Và một ngày, những thứ khác sẽ xuất hiện. Và khi đó, cuốn tiểu thuyết của ông đã cảnh báo từ lâu, và giờ đây cho chúng ta thấy rõ hơn, chúng ta phải cẩn thận để hiểu chính xác những điềm báo. “Có rất nhiều bệnh dịch cũng như chiến tranh trong lịch sử”,  Camus viết, “Tuy nhiên, luôn luôn có những tai họa và cuộc chiến làm mọi người ngạc nhiên.”

Hết.

Chan Trang lược dịch.

Bài viết gốc được Liesl Schillinger thực hiện, đăng tại Literary Hub.

Ảnh đầu bài: Fanpage Nhã Nam


Bài viết có thể bạn sẽ thích




Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Giữa hai chúng ta: Tuổi trẻ hoang dại

Về mặt cảm xúc, “Giữa hai chúng ta” thật sự thành công trong vai trò này, và hơn ai hết, chính Sally Rooney xứng đáng là cây bút mới cho những tuổi trẻ vô cùng xanh xao.

Đăng từ

on

Người đăng

Kể từ sau WonderCall Me By Your Name, Normal People với tựa tiếng Việt Giữa hai chúng ta là cuốn sách tiếp nối gây được nhiều tiếng vang trong giới đọc sách ngay trước khi được chuyển ngữ và giới thiệu hồi đầu năm nay tại Việt Nam. Không dừng ở đó, với việc bộ phim chuyển thể được phát sóng trên kênh BBC ở Anh và Hulu ở Mỹ hồi cuối mùa xuân 2020 càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó. Chưa bàn về nội dung, việc được đề cử giải Man Booker 2018 hay được xướng danh “Tiểu thuyết hay nhất” giải Costa đã như bảo chứng cho tầm quan trọng của cuốn sách này. Với Giữa hai chúng ta, Sally Rooney đã viết nên một bản hòa tấu về tình yêu và tuổi trẻ vô cùng đặc sắc: trải dài từ khoảng trầm đau thương đến nơi cao lảnh lót của niềm tin, tình yêu và sự tha thứ. Nói không ngoa, Giữa hai chúng ta thật sự là cuốn sách mà những người trẻ cần đọc để vững tin hơn, để trân quý hơn tình yêu mà mỗi người họ vẫn hằng nắm giữ.

Nội dung cuốn sách xoay quanh hai nhân vật chính – Marianne và Connell, hai học sinh phổ thông đứng trước lằn ranh của trưởng thành và bản tính trẻ con. Nếu Marianne xuất thân trong gia đình giàu có nhưng đầy nỗi buồn, cô co mình và sống ở một thế giới khác; thì Connell – cậu trai Ireland điển hình tuy gia cảnh không quá nổi bật nhưng sắc vóc và tính cách như thể sinh ra dành cho trường học. Họ gặp gỡ và gắn kết ban đầu không hơn gì ngoài những tò mò dục tính. Thời gian làm con người ta lớn lên và nhận thức thay đổi, đây cũng là lúc họ tách nhau ra bởi những lựa chọn bên lề, nhưng cuối cùng rồi thì, thứ khiến họ trở về như một bản nguyên lại là tình yêu – thứ cảm xúc trải qua chông gai và đầy khó khăn để thật sự nhận ra nó thuộc về họ. Giữa hai chúng ta là một tiểu thuyết tiêu biểu dành cho tuổi trẻ, không chỉ về tình yêu, khờ dại; mà đan xen ở đó còn là màu xám của những nỗi lo đầu đời, của trầm cảm, tuyệt vọng và mất mát khi bỗng nhận ra cuộc sống không hẵng vận hành như một bộ phim. Và cuốn tiểu thuyết từ đó bắt đầu.

*

Điểm đáng khen đầu tiên có thể kể đến là Sally Rooney đã có một khởi đầu vô cùng phù hợp. Cây bút sinh năm 1991 kể câu chuyện về những người trẻ thuộc thế hệ cô một cách đầy đồng cảm và thấu hiểu. Họ đủ lớn để quyết định con đường mình, nhưng cũng đủ bé để khao khát trải nghiệm đi đến những vùng mới lạ hơn. Nếu Marianne là cô bé có sự cứng rắn đến từ nỗi đau; thì Connell là chàng trai đầy nhút nhát và mặc cảm về tình trạng mình. Nếu Rob hay Eric, Jamie thuộc phe chuyên bắt nạt phe yếu ở trường; thì Rachel hay Lisa là những mean girl chính hiệu. Bằng cách mở ra bầu không khí và sự phân vai đầy điển hình, Sally Rooney mở ra Giữa hai chúng ta bằng sự quen thuộc đầu tiên, và hơn ai hết chính những người trẻ như đang sống lại đời sống thật sự của mình, còn những người lớn có thêm cơ hội để rồi nhìn lại những năm tháng ấy.

Từ sự tiếp cận quen thuộc trên, Sally khai thác những yếu tố vẫn thường xảy đến với những người lớn chưa hoàn thiện này – sự tò mò về tính dục, những tình cảm ngốc nghếch, sự chia bè kéo lũ, sự giành tranh tình cảm hay hằng hà sa số những thứ khác. Chính trong những hoạt cảnh này, những nhân vật của cô hiện lên đầy sức sống và sự vận động. Nếu hai nhân vật chính đắm chìm trong sự khám phá bản thân với người còn lại, thì những mean girl hay cool boy chính hiệu lại đang làm chủ ở trường đại học. Và cũng từ trong những khoảnh khắc ấy, tính cách của họ dần dần hé lộ.

Sally tiếp đó khai phá những khoảnh vực sâu giữa mỗi nhân vật. Cô xây dựng Marianne và Connell gần như đối lập. Trong khi Marianne giàu có với danh tiếng gia tộc, thì Connell lại có gia đình gần như bê tha – nhiều người ngồi khám và Lorraine sinh cậu khi mới 17. Ở đó, cô cũng đi sâu vào cấu trúc gia đình của người phương Tây điển hình, khi ẩn đằng sau sự giàu có và sung túc là những bí mật muốn giấu – người mẹ lơ đãng và anh trai thường hay bắt nạt. Chính những sự kiện ấy gắn kết họ lại với nhau, và giữa họ xuất hiện từ lâu chính thứ tình cảm không thể tách rời.

Cũng chính vào những lần họ ở bên nhau này, Sally Rooney dần dần khắc họa nên cả bầu trời của những ước mơ, của những toan tính bình thường. Mỗi lần Connell hay Marianne đáp xuống khoảng giường của người còn lại, ta đều nghe thấy trong mỗi đoạn văn là thứ tình cảm non yếu đang mới cất lời. Marianne thông qua Connell như đang đi tìm một sự bảo bọc, về phía Connell – cậu chàng như lớn lên theo chính cách rất khác này. Họ bên nhau và hút cạn chút tuổi thanh xuân của mình, có cả phút giây hạnh phúc và lúc hờn ghen “Nếu cô khác với Connell thì sự khác biệt không xảy ra trong chính cô, trong sâu thẳm nhân cách cô mà xảy ra ở giữa họ, giữa sự tương tác”.

Cũng chính từ trong những khoảnh khắc ấy, tuổi trẻ hiện lên thật hoang dại nhưng đôi khi cũng đầy bi kịch. Ở đó, trong môi trường đại học đầy tính cởi mở, ta thấy họ được là chính mình và thật sự là mình. Những buổi tiệc thâu đêm, những lần làm tình, những tấm ảnh khiêu gợi… Tất cả gợi lên không hơn gì khác cái bồng bột và ham sống của tuổi trẻ. Họ ủng hộ nhau, phản bác và tranh biện lẫn nhau về chính trị, văn chương và đời sống con người; họ nhìn sâu vào bản chất nghèo nàn, sĩ diện và hơn hết là nỗi tị hiềm giữa họ với nhau. Họ làm nên một nguồn năng lượng tích cực, một đám mây tích điện những nguồn ham sống vẫn đang còn đập. Nhưng luẩn quẩn đâu đó, trong họ cũng là sự mất phương hướng, của lạc lối và cảm thấy đầy cô độc trên cuộc đời này. Nếu cái chết của Rob gây nên căn bệnh trầm cảm cho Connell khi những sắp đặt cuộc sống của anh đang dần đi vào ngõ cụt, khi chúng chạy tán loạn và không còn theo những gì anh nghĩ; thì nỗi ám ảnh bởi một gia đình thiếu trọn vẹn nơi Marianne lại bám riết và bám rễ vào sâu trong cô, biến cô trở nên thụ động và không gì hơn là một hình nhân để cho anh cô dễ dàng điều khiển.

*

Qua chính những chi tiết này, Sally Rooney làm nên Giữa hai chúng ta đậm đặc nhựa sống tuổi trẻ. Cô cấy vào đây chính những bước ngoặt mà người trẻ nào cũng hẳn đã từng trải qua: giữa những lựa chọn không biết bờ bến, giữa những tình cảm không thể phân biệt và hơn hết là những hiểu lầm, cơ hội vụt mất khi họ không biết níu giữ lẫn nhau. Nhưng cũng từ đây, điểm yếu của Giữa hai chúng ta dần dần hiện ra.

Chính những điển hình trong cách chọn nhân vật, cốt chuyện và nút thắt làm cho Giữa hai chúng ta trở thành một cuốn từ điển về tuổi mới lớn không hơn không kém. Nói thế không có nghĩa những chủ đề của Sally Rooney đã cũ hoặc không thể khai thác. Nói đúng hơn, cô thiếu nhiều hơn những sự tinh tế (hay cái thấu trải – nếu có thể nói thế) để viết nhiều hơn những khoảnh khắc này. Chúng thật đáng giá và đầy quý trọng nhưng Sally đôi lúc lại để cho chúng trôi tuột qua tay. Tôi từng nhớ những lúc khi ngồi nghiền ngẫm Người đọc của Bernhard Schlink, tuy cuốn sách đó và Giữa hai chúng ta không có quá nhiều điểm chung, nhưng một điểm chung lớn nhất nơi nhà văn người Đức làm được so với Sally là sự đi sâu tìm hiểu nhân vật. Tình cảm giữa một người lớn và cậu thiếu niên dĩ nhiên có nhiều khai thác và tính văn chương hơn so với người trẻ lứa tuổi đại học; nhưng nếu quy về cùng một mặt tình yêu, Sally dường như vẫn còn an toàn nhón chân bước trên lớp băng của sự thể nghiệm. Cô thiếu sự mạo hiểm cũng như đào sâu hơn nữa vào nhân vật mình. Họ có căn cước, nhân dạng và tính cách; nhưng dường như nó chưa đủ lớn trở nên đặc trưng cho một tác phẩm.

Ở một điểm khác, những diễn biến tâm lý nhân vật cũng nên được cân nhắc thêm. Vẫn không hiểu sao khi đã trải qua suốt khoảng thời gian từ trung lên đến đại học cùng nhau mà Marianne và Connell vẫn bao nhiêu lần trôi vụt qua nhau. Những cuộc đối thoại trên giường vẫn đầy thổn thức và còn đó cái tinh ranh của những khao khát tình yêu chưa được khỏa lấp; nhưng khi đối mặt với nhau họ trở nên xa lạ. Với những người nhạy cảm như Marianne hay lý trí như Connell, thiết nghĩ họ là người hiểu rõ nhất tâm cảnh riêng mình – nhưng với Giữa hai chúng ta, cả hai người họ dường như là những vũ trụ song song, ánh xạ lẫn nhau nhưng lại không thể đi đến cùng nhau.

Sự yếu đuối của Marianne cũng là một điều rất đáng nhìn lại. Ngay từ đầu vẫn không hiểu sao cô có thể chịu đựng dài lâu như thế, từ người anh hèn nhát đến Jamie bạo lực, từ Lukas vụ lợi đến Connell năm lần bảy lượt trêu ngươi. Cô có đầu óc, của cải và sự nhạy cảm; nhưng thật không hiểu vì sao vẫn luôn đứng đó như một cái bóng vô ảnh vô thanh, không một tiếng nói không lời đấu tranh. Nội tâm của nhân vật thật sự là một món ăn vô cùng quý hiếm mà chỉ đầu bếp lành nghề mới có thể động vào không gây biến động, riêng với Sally, đây chính là nơi cô cần khai thác và tập trung nhiều hơn nữa so với những gì đang được bày biện.

*

Khép lại Giữa hai chúng ta, đây thật sự là cuốn sách mang đến nhiều trải nghiệm. Bỏ qua những điểm bất hợp lý và những xử lý vẫn còn non tay, đây thật sự là một hành trang vô cùng cần thiết cho những người trẻ. Thêm một lần nữa, nó cho họ thấy tình yêu có thể tuyệt diệu đến mức độ nào; và tuổi trẻ, tuy nguy hiểm như gai hoa hồng, nhưng nếu trải nghiệm đúng người hợp lý và đúng thời điểm, nó còn tỏa ngát và đẹp đẽ còn hơn thế nữa. Với những người lớn, nó là ống dẫn đưa họ về lại một thời đã qua, một thời chưa xa nhưng vẫn đầy ắp kỷ niệm. Về mặt cảm xúc, Giữa hai chúng ta thật sự thành công trong vai trò này, và hơn ai hết, chính Sally Rooney xứng đáng là cây bút mới cho những tuổi trẻ vô cùng xanh xao.

Hết.

Ảnh đầu bài: I love books

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!