Trà chiều

Trong cuộc tranh luận dai dẳng về giày cao gót, không có phe nào thắng cuộc cả

Có phải giày cao gót là biểu tượng cho quyền lực? Sự áp bức? Chỉ là thứ phù phiếm? Biểu đạt sự tự tin? Tình dục?
Đều đúng cả.

Published

on

NOBODY WINS IN THE AGE-OLD DEBATE OVER HIGH HEELS

Summer Brennan

Trong ấn bản năm 1977 của Cẩm nang giúp phụ nữ ăn vận hướng tới thành công, chắp bút bởi John T. Molloy (“Chuyên viên tư vấn thời trang nổi tiếng nhất nước Mỹ sẽ cho bạn biết phải mặc gì và vì sao!”), phần giới thiệu có tiêu đề “Những sai lầm của phụ nữ và làm sao để khắc phục.” Theo sau đó là 187 trang đầy những lời khuyên về cách ăn mặc để khiến đồng nghiệp nam và khách hàng xem trọng bạn (đừng mặc gợi cảm, không bao giờ mặc quần tây, luôn mang giày cao gót mũi nhọn đến công sở). Vào thời bấy giờ, và đôi khi bây giờ vẫn thế, rất ít người nghĩ rằng công sở mới là điều cần phải thay đổi, mà thay vào đó, đa số cho rằng nữ nhân viên phải định hình lại để thích ứng với nơi làm việc. Bìa sau có hình một người phụ nữ trẻ trong trang phục công sở, không mỉm cười, với một người đàn ông lớn tuổi đằng sau cô ấy – chính tác giả – với cánh tay gần như chạm vào vai cô ấy.

Dù sao đi nữa, giày cao gót hiện nay là loại giày dép phổ biến nhất dành cho phụ nữ. Nó là giày cho các sự kiện, trưng bày, biểu diễn, quyền lực và tao nhã. Chúng ta đã ban cho nó khả năng biến đổi, và văn hoá của chúng ta là một nền văn hoá ám ảnh với sự biến đổi của người nữ. Trong một vài bối cảnh và sự kiện, thường là những hoàn cảnh trang trọng nhất, giày cao gót còn là trang phục bắt buộc. Giày cao gót với phụ nữ cũng giống cà-vạt với đàn ông: rất khó để trông vừa trang trọng vừa nữ tính mà không có nó. Phụ nữ đã bị cấp trên ép buộc mang giày cao gót khi làm việc hoặc khi thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến công việc trong gần như tất cả các ngành nghề, từ nữ phục vụ bàn ở Las Vegas cho đến một kế toán ở PricewaterhouseCoopers; trong buồng máy bay cao 1000km cho đến một bãi biển ở Liên hoan phim Cannes. Nó là đôi giày cho khi chúng ta ở chế độ bật, cho tham vọng, cho chụp hình bìa tạp chí, cho thảm đỏ, cho chương trình trao giải, cho phòng họp, cho phòng xử án, cho toà nhà quốc hội, và cho bục tranh cử.

Hơi ngược đời một chút (hoặc có lẽ là không), trong ngành công nghiệp fetish1 kéo dài hơn 150 năm, giày cao gót cũng luôn được xem là biểu tượng tình dục. Đối với phụ nữ, thứ công khai nhất cũng là thứ kín đáo nhất, riêng tư nhất, và ngược lại.

Đối với phụ nữ, thứ công khai nhất cũng là thứ kín đáo nhất, riêng tư nhất, và ngược lại.

Cùng với việc được coi là đôi giày thích hợp cho sự kiện công chúng nhất, giày cao gót cũng được xem là nữ tính nhất. Rất ít kiểu dáng giày trong lịch sử được xem là dành riêng và đặc trưng cho tính nữ như những đôi giày gót nhọn đương đại (duy nhất loại giày khác có thể so sánh là đôi giày hoa sen cho đôi bàn chân bó của hoàng gia Trung Quốc thời xưa). Trong hai kiểu giày này, chỉ có cao gót thông dụng đến ngày nay. Trừ điểm đặc trưng là cái gót giày, cả hai loại giày này đều để lại dấu chân hình tam giác, nhỏ nhắn đặc trưng.

*

Nữ tính không đồng nghĩa với việc là phụ nữ. Sự nữ tính là thứ gì đó người ta thấy và cảm nhận, nhưng cũng là thứ người ta lảng tránh và chối bỏ, hoặc được nuôi dưỡng và chứng tỏ. Với phụ nữ chuyển giới, những cá nhân song tính hay liên giới tính và những người không xác định giới tính, giày cao gót đôi lúc đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện mong muốn tính nữ bên trong hoặc thừa nhận sự nữ tính, đặc biệt là khi họ đã bị nghi ngờ hoặc chối bỏ trên con đường tiếp cận với tính nữ, bất chấp (hay chính vì) giới tính mà họ được gán cho lúc sinh ra. Hoặc không? Dù sao đi nữa, giày cao gót cũng tạo một hợp âm mạnh mẽ và vang dội trong bản hoà nhạc phức tạp của bản dạng giới tính hiện đại.

Giày cao gót và tổ tiên của chúng đã bị kì thị, sau đó được bảo vệ, sau đó lại bị kì thị, bị đánh giá bất công và bắt ép thành gần-như-bắt-buộc-phải-dùng bởi cùng một nền văn hoá cùng một lúc. Là phụ nữ, dù bạn ăn mặc như thế nào, bạn vẫn bị lạc trong một mê cung: đi hướng này thì bạn được khen thưởng, đi hướng khác thì bạn bị phục kích hoặc mắc kẹt. Thật khó để không rơi vào tình trạng thất vọng khi người ta biến lối nói hoa mỹ này thành một kết luận logic, rằng một đôi giày “đúng đắn” thì không nữ tính, còn đôi giày “nữ tính” thì không thể đúng đắn được, vì vậy thể hiện “tính nữ” là việc thiếu khôn ngoan. Chúng ta cứ mãi tranh luận về giày dép của phụ nữ qua cả ngàn năm, bởi vì các luận điểm không xoay quanh thời trang hay văn hoá, hay thậm chí là về giày. Chúng là về chính trị và vai trò của phụ nữ đối với xã hội.

Khi một người phụ nữ cố gắng đảm nhiệm vai trò tối cao, cái câu hỏi rằng cô ấy nên mang giày gì có thể trở nên rất phức tạp. Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2016, ứng cử viên nữ đầu tiên của một đảng lớn, Hillary Clinton đã mang một đôi giày chắc chắn là kết quả của quá trình cân nhắc cực kỳ thận trọng. Giày đế bệt hiển nhiên là không trang trọng cho một sự kiện lớn như vậy nên bà ấy đã mang giày cao gót. Thế nhưng, gót giày quá cao sẽ thể hiện ra là gợi cảm quá, và do đó, không nghiêm túc, đối với cả vị trí và tuổi tác của bà, vì thế giày gót rất thấp là phù hợp. Và bởi vì đế quá thấp, nên nếu đế vuông hay đế xuồng sẽ khiến chúng gần như giống hệt giày nam, nên đế giày của bà cũng rất mảnh. Những đôi giày đế mảnh và thấp như vậy cũng có tên cho chúng: gót mèo con (kitten heels). Những đôi giày này thật ra rất chuẩn, và có lẽ là lựa chọn duy nhất chấp nhận được cho bà Clinton trong trường hợp này, để thể hiện rằng, trong khoảnh khắc ấy, bà vừa nữ tính, nghiêm túc và thời trang, cùng một lúc. Việc ăn mặc hợp thời trang, đặc biệt là với nữ giới được xem như là một biểu hiện của trí thông minh xã hội. Vậy mà trớ trêu thay, một ứng cử viên nữ giới cho cuộc bầu cử tổng thống chỉ có sự lựa chọn duy nhất, và sự lựa chọn này còn có cả chữ “mèo con” trong tên.

Giày “mèo con”
Ảnh: Manolo Blahnik

Điểm tương đồng giữa những nhà hoạt động nữ quyền và phi nữ quyền là: chẳng hề có đường lối nào áp dụng cho giày cao gót cả. Tính từ thời điểm bài viết này ra đời, dường như cứ vài tháng thì sẽ có một vụ tranh cãi liên quan đến giày cao gót đều đặn xuất hiện. Giày cao gót sẽ bị cấm ở đâu đó, và bị bắt buộc ở một chỗ khác, hoặc một nhân vật có sức ảnh hưởng sẽ mang chúng ở một nơi nào đó không thích hợp. Báo chí sẽ đăng tải, những thành phần quá khích trong Twitter nhảy vào. Một nhóm sẽ gièm pha chúng là đại diện của sự đàn áp, ủng hộ chế độ nam quyền, trong khi số khác bảo vệ chúng hay người mang chúng dưới danh nghĩa tôn vinh tính nữ, thể hiện văn hoá, lựa chọn an toàn (lựa chọn – vâng, lại là cái từ này). Có vẻ như là, bất chấp việc chúng ta chọn cái gì, vẫn có một mặt nào đó không được toàn vẹn. Lựa chọn một thứ đồng nghĩa với đánh mất những thứ còn lại. Vậy giày cao gót tốt hay xấu? Ý nghĩa của chúng là gì? Chúng ủng hộ nữ quyền hay chống lại nó? Chúng có biểu đạt quyền lực không? Sự độc lập? Sự áp bức? Tính chuyên nghiệp? Sự tự tin? Tính phù phiếm? Sự quỵ lụy? Tình dục? Chẳng ai đồng tình với ai cả.

Nếu bạn hỏi tôi, thì toàn bộ những ý kiến trên đều đúng.

… Nhưng đi giày cao gót không đau chân à?

Đúng là giày cao gót gây ra đau chân, và nó không chỉ đau khi bạn té. Một đôi giày tốt chỉ khiến bạn đau chân sau khi đi bộ một thời gian nhất định, trong khi đôi chất lượng kém thì đau ngay khi vừa mang. Chúng làm trầy da và cấn vào xương. Sự thật không thể trốn tránh là, nếu mang thường xuyên, giày cao gót sẽ có ảnh hưởng xấu vĩnh viễn đến cơ thể. Với một số người, giày cao gót, đặc biệt là những đôi giày gót nhọn stiletto, là đặc trưng của đám phụ nữ dựa hơi đàn ông, với hàng tá cuộc phẫu thuật thẩm mĩ, đôi bàn chân như búp bê Barbie, và – giống như Ivanka Trump – được sinh ra trong nhung lụa và giả vờ như mình đại diện cho sức mạnh phụ nữ; tương tự như phong trào Tiếp Sức Hồng, những mặt hàng nhãn hồng dành riêng cho phái nữ với đơn giá cao hơn 20% mặt hàng dành cho nam giới trong tiệm tạp hoá.

Giày gót nhọn stiletto
Ảnh: Pexels

*

Tuy nhiên, bên ngoài cái địa hạt marketing và quảng cáo siêu-nhân-tạo này, vẫn còn có điều gì đó sâu sắc hơn thế. Giày cao gót sở hữu một nét hấp dẫn phức tạp. Có gì đó hoang dại của dã thú, tựa móng vuốt của loài chim săn mồi hay loài sư tử (và tất nhiên, từ giày cao gót ở tiếng Pháp là les talons – vuốt chim.) Tôi nhớ về dáng giày xuất hiện trong những tác phẩm lộng lẫy mà ám ảnh của nghệ sĩ lai Mĩ-Dominica, Firelei Baez, trong đó, những chiếc gót nhọn, vuốt sắc, trông như thể là mọc thẳng ra từ chính đôi chân. Những dáng hình trong tranh của cô ấy, đầy nhục dục và không thể kiềm chế được, phình ra và nẩy mầm rồi nở hoa thành những hình dáng hoang dã hơn phụ nữ, sắc màu như muốn trào ra, được bao phủ bởi lá, lông chim, tóc và hoa vùng nhiệt đới. Thay vì phải lựa chọn giữa những quả vả đày đoạ lo lắng của Sylvia Plath, dường như những người phụ nữ của Baez’s đã trở thành cây, một cái cây ăn quả xanh có tri giác. Vào một thời kỳ nổi bật trong sự nghiệp của Baez, gần như tất cả các nhân vật của cô, những người mà chân có thể được nhìn thấy trong bức tranh, đều có cái gót nhọn chết người đó, như là một cái sừng mảnh, một cái răng sắc nhọn, hay một cái cọc xuyên thủng vật bất kỳ; bàn chân của họ uốn cong và nhọn, sẵn sàng để chụp con mồi, để thăng bằng hoặc là để nhảy múa.

Firelei Báez | A reconstituted echo (2019)
Ảnh: Artsy

Có gì đó hoang dại của dã thú, tựa móng vuốt của loài chim săn mồi hay loài sư tử (và tất nhiên, từ giày cao gót ở tiếng Pháp là les talons – vuốt chim.)

Bản thân giày đã mang một sức mạnh lạ lùng trong việc gợi mở trí tưởng tượng, từ lâu đã đóng vai trò đóng thế cho cơ thể con người và vai trò xã hội của người đó. Thời thơ ấu, thông qua truyện cổ tích, chúng ta biết rằng giày là vật ma thuật có thể giúp đỡ hoặc phá hoại, là phần thưởng hoặc là vết thương, là sự giải phóng hoặc cầm tù. Chúng có thể biến một con mèo thành thủ tướng và người hầu thành nữ hoàng. Freud mô tả bàn chân như là một biểu tượng gợi dục lâu đời thậm chí trong các truyền thuyết cổ đại; ông nói rằng giày là ẩn dụ cho bộ phận sinh dục của phụ nữ. Mặc dù người ta có nhiều việc phải làm hơn là để tâm đến chuyện, với Freud, liệu có thứ gì không đại diện cho bộ phận sinh dục không, cách hiểu này thêm một hàm nghĩa gây sửng sốt vào nội dung những câu chuyện cổ tích – từ cơn đau như đâm thấu lòng bàn chân của nàng tiên cá khi nàng bước vào thế giới con người, hay cô bé có đôi giày đỏ khiến cô nhảy múa không ngừng cho dù cô không còn muốn, hay là thứ mà Cô bé lọ lem đã thật sự mất vào tay hoàng tử vào đêm dạ hội.

*

Khi hè dần sang thu ở Paris, làn sóng khách du lịch giảm xuống, một lần nữa các con phố lại tràn ngập người dân Paris. Lá cây hạt dẻ ngựa chuyển màu xanh úa, rồi chuyển đốm nâu, rồi rụng từng chiếc từng chiếc xuống nền đá vôi của các công viên được chăm sóc tỉ mỉ. Đèn nê-on của quán cà phê có vẻ như bật mỗi ngày mỗi sớm hơn. Nỗi lo sợ hay mong mỏi mùa hè của tôi, rằng giày cao gót sẽ trở nên lỗi thời cũng biến mất, khi Kinh Đô Ánh Sáng ăn diện cho mùa mới. Chúng lại xuất hiện: nhung đỏ, nhung vàng, hay da thuộc xanh; đen, nâu, xám, tím, hoa, hoạ tiết paisley, trắng. Có giày cao gót nhọn, có gót “mèo con”, xăng-đan cao gót, bốt thấp cao gót. Chúng được mặc chung với áo đầm, quần rộng, váy, quần đùi, đồ bay, quần jeans, abaya, nguyên bộ sậu vải in kiểu Tây Phi,… Và tất nhiên, cũng có giày đế bệt, giày oxford, giày sneaker, giày búp bê, giày lười, bốt, giày moccasin,… Và trong số chúng, giày cao gót vẫn là sự lựa chọn của khá nhiều người.

Câu chuyện về đôi giày của một người là câu chuyện về địa vị trong xã hội của cô ấy, và dấu chân của chúng ta là dấu vết ta để lại, cho những nơi ta đã đi qua và những nơi ta đang hướng tới. Đây là câu chuyện đương đại nhất về giày của phụ nữ: những đôi giày bí ẩn và có thực, còn mới toanh hay đã được mang mòn, được kinh qua sự hào hứng và nỗi đau, những đôi giày khiến người mang tập tễnh hay như đang bay, đôi giày được làm từ thuỷ tinh, băng hay đá quý, đôi giày chúng ta đánh cắp hay bị trộm mất, đôi giày loang màu hay dính máu của chúng ta. Nỗi đau, niềm hạnh phúc, ước mơ, nỗi khao khát, địa vị, máu: đây là đoạn điệp khúc trong bài hát của người phụ nữ, nói về khi chúng ta đi chệnh choạng, cà nhắc, nhảy múa và bước qua cái thế giới tạp nham này.

Hết.

Chú thích:

  1. Fetish (ái vật, hay bái vật tình dục) chỉ các mối quan tâm tình dục trên những đối tượng không phải là cơ quan sinh dục. Những mối quan tâm này có thể coi như công cụ hỗ trợ để đạt cảm hứng tình dục hoặc có thể trở thành rối loạn tâm thần nếu nó gây ra những đau khổ tâm lý đáng kể cho người mắc hoặc tác động có hại vào các lĩnh vực quan trọng trong đời sống của họ.

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Summer Brennan, trích từ Object Lessons: High Heel.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Muôn chuyện phức tạp của phụ nữ!



1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Một đốm diêm tàn

Ngày tuyển U22 giành huy chương vàng SEA Games và phủ kín sóng truyền thông, có một chuyện quan trọng khác xảy ra – Công ty Diêm Thống Nhất chính thức thông báo dừng sản xuất.

Published

on

Thật khó diễn đạt cảm xúc của tôi trong buổi sáng ấy. Làn sóng ký ức ập tới, ồ ạt vỗ vào từng góc não, lớp sau xô lớp trước. Mùi diêm sinh ngắn ngủi và mong manh đã góp phần định hình tuổi thơ. Từ ngọn nến sinh nhật đến câu đố vui trên báo Thiếu Niên Tiền Phong, từ tủ hàng của mẹ đến nơi bố ngồi xem thời sự, từ lúc ngây ngô đến khi nổi loạn.

Biểu tượng con chim bồ câu ngậm bông hồng, sải cánh bay trên nền trời xanh đã ăn sâu vào tâm khảm tôi, tưởng chừng không thể tan biến. Chúng đáng lẽ phải luôn hiện hữu trong thực tế, dù tôi mỗi năm lại già đi và cuộc sống vốn luôn đổi thay.

Đợt sóng ký ức dừng lại ở tuổi 20, nơi bức ảnh này ra đời. Đó là một ngày Hà Nội mùa Đông tại cà phê Cộng. Hộp diêm Thống Nhất trên bàn, ba ly nước, hai chiếc gạt tàn.

Và tôi sực nhớ ra nhiều điều khác, những mảnh rời rạc được chắp vá, tạo thành bức tranh quá vãng hoàn chỉnh. 20 tuổi, tôi từng coi Anything but Ordinary của Avril Lavigne là ca khúc phản thân.

“Sometimes I get so weird
I even freak myself out
I laugh myself to sleep
It’s my lullaby

Sometimes I drive so fast
Just to feel the danger
I want to scream
It makes me feel alive…”

Bị khùng bị điên là đặc quyền của tuổi 20 phải không? Chặng đường nào đã dẫn tôi rời khỏi Anything but Ordinary, những cuộc trò chuyện bất tận về truyện của Haruki Murakami, tình yêu và tình bạn trong năm tháng ấy?

https://www.youtube.com/watch?v=0pdOTyk5azQ

Gần đây, tôi có cuộc nói chuyện dài sau nhiều năm với một trong những người bạn thân ở tuổi 20. Haruki Murakami thật sự có biệt tài đưa mọi viễn cảnh mờ nhạt và tế vi nhất phô diễn trên câu chữ. Tôi đã quên gần hết nội dung cuốn Tazaki Tsukuru Không Màu, nhưng màn tái ngộ đập vào mặt tôi ký ức về một cuộc hội thoại trong sách. Chính là khi Tsukuru gặp lại Xanh, thành viên thuộc nhóm bạn tâm giao thời niên thiếu của anh, nay đã thành sales xịn trong hãng xe Lexus. Xanh phệ bụng, mỗi tuần đi đánh golf một lần để tiếp khách. Xanh chỉ làm việc với giới thượng lưu. Kết thúc của chương sách như sau:

“Khoảng thời gian ba mươi phút có thể là ngắn ngủi đối với hai người bạn cũ sau mười sáu năm hội ngộ. Chắc chắn còn nhiều chuyện chưa nói hết. Nhưng đồng thời, Tsukuru cũng cảm thấy giữa hai người đã gần như chẳng còn gì quan trọng để nói với nhau hơn nữa”.

Cái cách diêm Thống Nhất có thể khơi dậy tất cả những điều này mới thật sống động và kỳ quặc. Trong đêm, khi ngoài phố là tiếng reo hò và chiêng trống của đoàn xe đi bão, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: “Những người bạn năm 20 của tôi, các bạn có khỏe không?”.

P/S: Và sau đó, trước những than van và nuối tiếc của cộng đồng, Công ty Diêm Thống Nhất đã quyết định tiếp tục sản xuất diêm!

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Tình yêu không ai bán, nhưng chúng ta lại đang mua (rất nhiều)

Published

on

Nếu bạn tình cờ có người yêu và xài mạng Viettel vào những năm 2010, tình yêu lúc đó là 3k/100 tin nhắn/ngày, giới hạn 80 kí tự một tin nhắn có dấu hoặc 160 kí tự tin nhắn không dấu. 10 năm sau, tình yêu là khung chat mạng xã hội, online 15 phút trước nhưng không đọc, seen 3 giờ trước nhưng không trả lời.

Thời gian thay đổi phương tiện biểu đạt tình cảm, nhưng đồng thời cũng thay đổi cách thức diễn giải tình yêu.

Thời cổ đại, triết gia Hy Lạp Plato tin rằng dạng thức tình yêu cao nhất là không-lãng mạn, không-sex; như tình gia đình hay tình huynh đệ. Người ta không cưới vì yêu, vì yêu làm quái gì khi kiếm cái ăn nhét vào mồm và sinh con đẻ cái mới là vấn đề sống còn. Nhiều nền văn hóa xem tình yêu như một căn bệnh không may mà tất cả chúng ta đều phải trải qua để bước vào đời, như bệnh sởi (Mark Manson).

Mãi đến thế kỉ 19, khi chủ nghĩa Lãng mạn bước ra sân khấu thế giới, cảm xúc con người mới đột nhiên có giá trị. Những cặp đôi bắt đầu mơ màng về tình yêu thiêng liêng, hạnh phúc cùng nhau đến suốt kiếp. Tình yêu kiểu đại gia Gatsby: đốt tiền hàng tuần tổ chức tiệc tùng với hy vọng người trong mộng vô tình đặt chân đến nhà. Tình yêu kiểu bà Bovary: “Tình yêu, cô tin, phải đến, bất thần, với tiếng sét đinh tai và tia chớp chói lòa, một cơn bão từ trên trời giáng xuống đời mình, như một cuộc tàn phá, tước nát lý tưởng như chiếc lá và ném linh hồn của mình xuống đáy vực sâu.”

Các nhà sinh hóa thế kỉ 20 giải thiêng tình yêu là nồi lẩu hormone của serotonin, dopamine, oxcytoxin và một nhúm các chất hóa học khác. Mọi người kêu lên: Nếu tình yêu là kết quả của hormone thì đó cũng là hormone của tôi. Việc tôi tiết hormone với người này mà không tiết hormone với người kia chứng tỏ tình yêu vẫn là định mệnh viết trong sách trời.

Mọi người chắc chưa?

Chúng ta tin tình yêu không ai bán nhưng kì thực lại đang mua một tá định nghĩa về tình yêu. Từ những nhà làm phim, nhà buôn bán, nhà marketing. Phim ảnh và mạng xã hội bán cho chúng ta tình yêu là kim cương và danh vọng, là ba vòng và sáu múi, là người sẵn sàng chết trong lòng một ít hay bán trong nhà một mớ vì ta. Dạng người khiến ta thổn thức bồi hồi, dạng người khiến ta tiết hormone tình yêu ào ạt là dạng người mà ta xem qua phim, đọc trong sách, lướt trên mạng ngày này qua tháng nọ. Chẳng có tình yêu thiên định, chỉ có tình yêu được đóng gói đẹp đẽ và bán cho ta với giá hời.

Mua những gói tình yêu có sẵn, khi yêu, chúng ta yêu ai đó không vì chính bản thân họ, mà yêu những ảo tưởng về họ mà ta dựng lên trong đầu mình. Tình yêu thăng hoa khi đối phương hành xử y hệt định nghĩa của mình về tình yêu. Nhưng ảo tưởng thì không có thật và tình yêu dựa trên ảo tưởng cũng vậy. Ngay lúc chàng soái ca bắt đầu ngoáy mũi, ngay lúc nàng kẹo ngọt bất ngờ chửi thề, tình yêu văng mảnh.

Nhưng chính thời điểm người ta vỡ mộng về nhau cũng chính là lúc tình yêu thật sự bắt đầu. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta trả lời tin nhắn sau 30 giây, và lúc họ không nhắn được một cái tin tử tế trong vài ngày. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta khiến mình tiết hormone hạnh phúc, và lúc họ gây cho mình những ức chế của hormone. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta nói yêu mình, và lúc họ nói không còn yêu mình nữa. Vì có thể loại tình yêu nào có thể bất thần chuyển thành ghét bỏ khi người ta từ chối yêu mình?

Chẳng mấy ai chịu ở lại để dọn những mảnh tình ảo tưởng vỡ và để sự thật trần trụi của yêu đương cứa vào tay. Chúng ta bỏ chạy ngay khi tình yêu vừa kịp đến, chọn mua tình yêu ăn liền thay vì bỏ công cực nhọc nấu nướng, để Bích Phương cứ phải hát đi hát lại: “Tại sao anh yêu biết bao người mà vẫn không hiểu tình yêu?”

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Điều gì quan trọng hơn?

Vài ý nghĩ sau khi đọc Cỗ Máy Thời Gian của H. G. Wells.

Published

on

Cỗ máy thời gian đưa nhà du hành tới năm 802.701 sau Công Nguyên. Ở đó, con người đã chia thành hai chủng. Một chủng lao động quần quật dưới lòng đất lạnh, tăm tối và hôi thối; một chủng sống đời nhàn hạ, lụa là, biếng nhác trong ánh mặt trời. Một chủng vượt trội về ưu thế tiến hoá do phải đấu tranh, giành giật thực phẩm; một chủng ngày càng suy thoái, tàn nhược do được sống trong nền công nghiệp hoá tối ưu đến mức sức lao động của con người trở nên thừa thãi.

Năm 1895, H. G. Wells hẳn không thể hình dung nổi cái gọi là AI hay ASI. Trí tuệ nhân tạo mà Stephen Hawking và Elon Musk luôn nhắc đến như quỷ dữ đang được triệu hồi là khái niệm quá trừu tượng trong thế kỷ 19. Thậm chí vẫn chưa thật quen trong hiện tại này, thời điểm này.

H. G. Wells có thể mường tượng đến cảnh Trái Đất nóng lên nhiều lần, độ nghiêng trục quay Trái Đất thay đổi dẫn đến những biến đổi về khí hậu và hệ sinh thái. Tuy nhiên trong những tưởng tượng xa nhất của ông, con người vẫn sống và chỉ bị tuyệt diệt bởi điều kiện tự nhiên như mặt trời hết năng lượng và tàn lụi. Ông không thể hình dung ra cảnh một con robot vô tri bỗng dưng hoá thành đấng sáng tạo với IQ cao hơn con người 12.000 lần và có thể thổi bay cả hành tinh chỉ trong vài giờ.

Học thuyết Kurzweil dựa trên Luật tăng tốc theo cấp số nhân nói rằng, chỉ trong 14 năm từ 2000 tới 2014, con người đã tạo ra khối lượng phát triển tương đương với khối lượng của toàn thế kỷ 20 dồn lại. Một người ở thế kỷ 19 nếu có thể du hành đến hôm nay, anh ta sẽ chết điếng chỉ vì Siri của Apple chứ chưa nói đến những AI cao cấp và đắt đỏ hơn cả ngàn lần khác.

Chỉ cần nhắm mắt lại và suy nghĩ về tất cả những điều này, tôi lại thấy số phận con người thật quá nhạt nhẽo và bé nhỏ trong vũ trụ. Và tôi không hiểu tại sao lại phải mất thời gian hằn học một ai đó. Không phải vì tôi nhân ái, mà vì tôi còn bận ngước cổ lên tìm sao trăng và phân tích bộ gân của một cái lá cây. Tôi quan tâm tới chuyện chòm Đại Hùng Tinh đang ở đâu trên trời hơn chuyện bị ai đó nghĩ sai, thật sự.

Rảnh quá thì coi hành trình tới ngày tàn của thời gian còn hơn.

https://www.youtube.com/watch?v=uD4izuDMUQA

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng