Trà chiều

Trong cuộc tranh luận dai dẳng về giày cao gót, không có phe nào thắng cuộc cả

Có phải giày cao gót là biểu tượng cho quyền lực? Sự áp bức? Chỉ là thứ phù phiếm? Biểu đạt sự tự tin? Tình dục?
Đều đúng cả.

Published

on

NOBODY WINS IN THE AGE-OLD DEBATE OVER HIGH HEELS

Summer Brennan

Trong ấn bản năm 1977 của Cẩm nang giúp phụ nữ ăn vận hướng tới thành công, chắp bút bởi John T. Molloy (“Chuyên viên tư vấn thời trang nổi tiếng nhất nước Mỹ sẽ cho bạn biết phải mặc gì và vì sao!”), phần giới thiệu có tiêu đề “Những sai lầm của phụ nữ và làm sao để khắc phục.” Theo sau đó là 187 trang đầy những lời khuyên về cách ăn mặc để khiến đồng nghiệp nam và khách hàng xem trọng bạn (đừng mặc gợi cảm, không bao giờ mặc quần tây, luôn mang giày cao gót mũi nhọn đến công sở). Vào thời bấy giờ, và đôi khi bây giờ vẫn thế, rất ít người nghĩ rằng công sở mới là điều cần phải thay đổi, mà thay vào đó, đa số cho rằng nữ nhân viên phải định hình lại để thích ứng với nơi làm việc. Bìa sau có hình một người phụ nữ trẻ trong trang phục công sở, không mỉm cười, với một người đàn ông lớn tuổi đằng sau cô ấy – chính tác giả – với cánh tay gần như chạm vào vai cô ấy.

Dù sao đi nữa, giày cao gót hiện nay là loại giày dép phổ biến nhất dành cho phụ nữ. Nó là giày cho các sự kiện, trưng bày, biểu diễn, quyền lực và tao nhã. Chúng ta đã ban cho nó khả năng biến đổi, và văn hoá của chúng ta là một nền văn hoá ám ảnh với sự biến đổi của người nữ. Trong một vài bối cảnh và sự kiện, thường là những hoàn cảnh trang trọng nhất, giày cao gót còn là trang phục bắt buộc. Giày cao gót với phụ nữ cũng giống cà-vạt với đàn ông: rất khó để trông vừa trang trọng vừa nữ tính mà không có nó. Phụ nữ đã bị cấp trên ép buộc mang giày cao gót khi làm việc hoặc khi thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến công việc trong gần như tất cả các ngành nghề, từ nữ phục vụ bàn ở Las Vegas cho đến một kế toán ở PricewaterhouseCoopers; trong buồng máy bay cao 1000km cho đến một bãi biển ở Liên hoan phim Cannes. Nó là đôi giày cho khi chúng ta ở chế độ bật, cho tham vọng, cho chụp hình bìa tạp chí, cho thảm đỏ, cho chương trình trao giải, cho phòng họp, cho phòng xử án, cho toà nhà quốc hội, và cho bục tranh cử.

Hơi ngược đời một chút (hoặc có lẽ là không), trong ngành công nghiệp fetish1 kéo dài hơn 150 năm, giày cao gót cũng luôn được xem là biểu tượng tình dục. Đối với phụ nữ, thứ công khai nhất cũng là thứ kín đáo nhất, riêng tư nhất, và ngược lại.

Đối với phụ nữ, thứ công khai nhất cũng là thứ kín đáo nhất, riêng tư nhất, và ngược lại.

Cùng với việc được coi là đôi giày thích hợp cho sự kiện công chúng nhất, giày cao gót cũng được xem là nữ tính nhất. Rất ít kiểu dáng giày trong lịch sử được xem là dành riêng và đặc trưng cho tính nữ như những đôi giày gót nhọn đương đại (duy nhất loại giày khác có thể so sánh là đôi giày hoa sen cho đôi bàn chân bó của hoàng gia Trung Quốc thời xưa). Trong hai kiểu giày này, chỉ có cao gót thông dụng đến ngày nay. Trừ điểm đặc trưng là cái gót giày, cả hai loại giày này đều để lại dấu chân hình tam giác, nhỏ nhắn đặc trưng.

*

Nữ tính không đồng nghĩa với việc là phụ nữ. Sự nữ tính là thứ gì đó người ta thấy và cảm nhận, nhưng cũng là thứ người ta lảng tránh và chối bỏ, hoặc được nuôi dưỡng và chứng tỏ. Với phụ nữ chuyển giới, những cá nhân song tính hay liên giới tính và những người không xác định giới tính, giày cao gót đôi lúc đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện mong muốn tính nữ bên trong hoặc thừa nhận sự nữ tính, đặc biệt là khi họ đã bị nghi ngờ hoặc chối bỏ trên con đường tiếp cận với tính nữ, bất chấp (hay chính vì) giới tính mà họ được gán cho lúc sinh ra. Hoặc không? Dù sao đi nữa, giày cao gót cũng tạo một hợp âm mạnh mẽ và vang dội trong bản hoà nhạc phức tạp của bản dạng giới tính hiện đại.

Giày cao gót và tổ tiên của chúng đã bị kì thị, sau đó được bảo vệ, sau đó lại bị kì thị, bị đánh giá bất công và bắt ép thành gần-như-bắt-buộc-phải-dùng bởi cùng một nền văn hoá cùng một lúc. Là phụ nữ, dù bạn ăn mặc như thế nào, bạn vẫn bị lạc trong một mê cung: đi hướng này thì bạn được khen thưởng, đi hướng khác thì bạn bị phục kích hoặc mắc kẹt. Thật khó để không rơi vào tình trạng thất vọng khi người ta biến lối nói hoa mỹ này thành một kết luận logic, rằng một đôi giày “đúng đắn” thì không nữ tính, còn đôi giày “nữ tính” thì không thể đúng đắn được, vì vậy thể hiện “tính nữ” là việc thiếu khôn ngoan. Chúng ta cứ mãi tranh luận về giày dép của phụ nữ qua cả ngàn năm, bởi vì các luận điểm không xoay quanh thời trang hay văn hoá, hay thậm chí là về giày. Chúng là về chính trị và vai trò của phụ nữ đối với xã hội.

Khi một người phụ nữ cố gắng đảm nhiệm vai trò tối cao, cái câu hỏi rằng cô ấy nên mang giày gì có thể trở nên rất phức tạp. Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2016, ứng cử viên nữ đầu tiên của một đảng lớn, Hillary Clinton đã mang một đôi giày chắc chắn là kết quả của quá trình cân nhắc cực kỳ thận trọng. Giày đế bệt hiển nhiên là không trang trọng cho một sự kiện lớn như vậy nên bà ấy đã mang giày cao gót. Thế nhưng, gót giày quá cao sẽ thể hiện ra là gợi cảm quá, và do đó, không nghiêm túc, đối với cả vị trí và tuổi tác của bà, vì thế giày gót rất thấp là phù hợp. Và bởi vì đế quá thấp, nên nếu đế vuông hay đế xuồng sẽ khiến chúng gần như giống hệt giày nam, nên đế giày của bà cũng rất mảnh. Những đôi giày đế mảnh và thấp như vậy cũng có tên cho chúng: gót mèo con (kitten heels). Những đôi giày này thật ra rất chuẩn, và có lẽ là lựa chọn duy nhất chấp nhận được cho bà Clinton trong trường hợp này, để thể hiện rằng, trong khoảnh khắc ấy, bà vừa nữ tính, nghiêm túc và thời trang, cùng một lúc. Việc ăn mặc hợp thời trang, đặc biệt là với nữ giới được xem như là một biểu hiện của trí thông minh xã hội. Vậy mà trớ trêu thay, một ứng cử viên nữ giới cho cuộc bầu cử tổng thống chỉ có sự lựa chọn duy nhất, và sự lựa chọn này còn có cả chữ “mèo con” trong tên.

Giày “mèo con”
Ảnh: Manolo Blahnik

Điểm tương đồng giữa những nhà hoạt động nữ quyền và phi nữ quyền là: chẳng hề có đường lối nào áp dụng cho giày cao gót cả. Tính từ thời điểm bài viết này ra đời, dường như cứ vài tháng thì sẽ có một vụ tranh cãi liên quan đến giày cao gót đều đặn xuất hiện. Giày cao gót sẽ bị cấm ở đâu đó, và bị bắt buộc ở một chỗ khác, hoặc một nhân vật có sức ảnh hưởng sẽ mang chúng ở một nơi nào đó không thích hợp. Báo chí sẽ đăng tải, những thành phần quá khích trong Twitter nhảy vào. Một nhóm sẽ gièm pha chúng là đại diện của sự đàn áp, ủng hộ chế độ nam quyền, trong khi số khác bảo vệ chúng hay người mang chúng dưới danh nghĩa tôn vinh tính nữ, thể hiện văn hoá, lựa chọn an toàn (lựa chọn – vâng, lại là cái từ này). Có vẻ như là, bất chấp việc chúng ta chọn cái gì, vẫn có một mặt nào đó không được toàn vẹn. Lựa chọn một thứ đồng nghĩa với đánh mất những thứ còn lại. Vậy giày cao gót tốt hay xấu? Ý nghĩa của chúng là gì? Chúng ủng hộ nữ quyền hay chống lại nó? Chúng có biểu đạt quyền lực không? Sự độc lập? Sự áp bức? Tính chuyên nghiệp? Sự tự tin? Tính phù phiếm? Sự quỵ lụy? Tình dục? Chẳng ai đồng tình với ai cả.

Nếu bạn hỏi tôi, thì toàn bộ những ý kiến trên đều đúng.

… Nhưng đi giày cao gót không đau chân à?

Đúng là giày cao gót gây ra đau chân, và nó không chỉ đau khi bạn té. Một đôi giày tốt chỉ khiến bạn đau chân sau khi đi bộ một thời gian nhất định, trong khi đôi chất lượng kém thì đau ngay khi vừa mang. Chúng làm trầy da và cấn vào xương. Sự thật không thể trốn tránh là, nếu mang thường xuyên, giày cao gót sẽ có ảnh hưởng xấu vĩnh viễn đến cơ thể. Với một số người, giày cao gót, đặc biệt là những đôi giày gót nhọn stiletto, là đặc trưng của đám phụ nữ dựa hơi đàn ông, với hàng tá cuộc phẫu thuật thẩm mĩ, đôi bàn chân như búp bê Barbie, và – giống như Ivanka Trump – được sinh ra trong nhung lụa và giả vờ như mình đại diện cho sức mạnh phụ nữ; tương tự như phong trào Tiếp Sức Hồng, những mặt hàng nhãn hồng dành riêng cho phái nữ với đơn giá cao hơn 20% mặt hàng dành cho nam giới trong tiệm tạp hoá.

Giày gót nhọn stiletto
Ảnh: Pexels

*

Tuy nhiên, bên ngoài cái địa hạt marketing và quảng cáo siêu-nhân-tạo này, vẫn còn có điều gì đó sâu sắc hơn thế. Giày cao gót sở hữu một nét hấp dẫn phức tạp. Có gì đó hoang dại của dã thú, tựa móng vuốt của loài chim săn mồi hay loài sư tử (và tất nhiên, từ giày cao gót ở tiếng Pháp là les talons – vuốt chim.) Tôi nhớ về dáng giày xuất hiện trong những tác phẩm lộng lẫy mà ám ảnh của nghệ sĩ lai Mĩ-Dominica, Firelei Baez, trong đó, những chiếc gót nhọn, vuốt sắc, trông như thể là mọc thẳng ra từ chính đôi chân. Những dáng hình trong tranh của cô ấy, đầy nhục dục và không thể kiềm chế được, phình ra và nẩy mầm rồi nở hoa thành những hình dáng hoang dã hơn phụ nữ, sắc màu như muốn trào ra, được bao phủ bởi lá, lông chim, tóc và hoa vùng nhiệt đới. Thay vì phải lựa chọn giữa những quả vả đày đoạ lo lắng của Sylvia Plath, dường như những người phụ nữ của Baez’s đã trở thành cây, một cái cây ăn quả xanh có tri giác. Vào một thời kỳ nổi bật trong sự nghiệp của Baez, gần như tất cả các nhân vật của cô, những người mà chân có thể được nhìn thấy trong bức tranh, đều có cái gót nhọn chết người đó, như là một cái sừng mảnh, một cái răng sắc nhọn, hay một cái cọc xuyên thủng vật bất kỳ; bàn chân của họ uốn cong và nhọn, sẵn sàng để chụp con mồi, để thăng bằng hoặc là để nhảy múa.

Firelei Báez | A reconstituted echo (2019)
Ảnh: Artsy

Có gì đó hoang dại của dã thú, tựa móng vuốt của loài chim săn mồi hay loài sư tử (và tất nhiên, từ giày cao gót ở tiếng Pháp là les talons – vuốt chim.)

Bản thân giày đã mang một sức mạnh lạ lùng trong việc gợi mở trí tưởng tượng, từ lâu đã đóng vai trò đóng thế cho cơ thể con người và vai trò xã hội của người đó. Thời thơ ấu, thông qua truyện cổ tích, chúng ta biết rằng giày là vật ma thuật có thể giúp đỡ hoặc phá hoại, là phần thưởng hoặc là vết thương, là sự giải phóng hoặc cầm tù. Chúng có thể biến một con mèo thành thủ tướng và người hầu thành nữ hoàng. Freud mô tả bàn chân như là một biểu tượng gợi dục lâu đời thậm chí trong các truyền thuyết cổ đại; ông nói rằng giày là ẩn dụ cho bộ phận sinh dục của phụ nữ. Mặc dù người ta có nhiều việc phải làm hơn là để tâm đến chuyện, với Freud, liệu có thứ gì không đại diện cho bộ phận sinh dục không, cách hiểu này thêm một hàm nghĩa gây sửng sốt vào nội dung những câu chuyện cổ tích – từ cơn đau như đâm thấu lòng bàn chân của nàng tiên cá khi nàng bước vào thế giới con người, hay cô bé có đôi giày đỏ khiến cô nhảy múa không ngừng cho dù cô không còn muốn, hay là thứ mà Cô bé lọ lem đã thật sự mất vào tay hoàng tử vào đêm dạ hội.

*

Khi hè dần sang thu ở Paris, làn sóng khách du lịch giảm xuống, một lần nữa các con phố lại tràn ngập người dân Paris. Lá cây hạt dẻ ngựa chuyển màu xanh úa, rồi chuyển đốm nâu, rồi rụng từng chiếc từng chiếc xuống nền đá vôi của các công viên được chăm sóc tỉ mỉ. Đèn nê-on của quán cà phê có vẻ như bật mỗi ngày mỗi sớm hơn. Nỗi lo sợ hay mong mỏi mùa hè của tôi, rằng giày cao gót sẽ trở nên lỗi thời cũng biến mất, khi Kinh Đô Ánh Sáng ăn diện cho mùa mới. Chúng lại xuất hiện: nhung đỏ, nhung vàng, hay da thuộc xanh; đen, nâu, xám, tím, hoa, hoạ tiết paisley, trắng. Có giày cao gót nhọn, có gót “mèo con”, xăng-đan cao gót, bốt thấp cao gót. Chúng được mặc chung với áo đầm, quần rộng, váy, quần đùi, đồ bay, quần jeans, abaya, nguyên bộ sậu vải in kiểu Tây Phi,… Và tất nhiên, cũng có giày đế bệt, giày oxford, giày sneaker, giày búp bê, giày lười, bốt, giày moccasin,… Và trong số chúng, giày cao gót vẫn là sự lựa chọn của khá nhiều người.

Câu chuyện về đôi giày của một người là câu chuyện về địa vị trong xã hội của cô ấy, và dấu chân của chúng ta là dấu vết ta để lại, cho những nơi ta đã đi qua và những nơi ta đang hướng tới. Đây là câu chuyện đương đại nhất về giày của phụ nữ: những đôi giày bí ẩn và có thực, còn mới toanh hay đã được mang mòn, được kinh qua sự hào hứng và nỗi đau, những đôi giày khiến người mang tập tễnh hay như đang bay, đôi giày được làm từ thuỷ tinh, băng hay đá quý, đôi giày chúng ta đánh cắp hay bị trộm mất, đôi giày loang màu hay dính máu của chúng ta. Nỗi đau, niềm hạnh phúc, ước mơ, nỗi khao khát, địa vị, máu: đây là đoạn điệp khúc trong bài hát của người phụ nữ, nói về khi chúng ta đi chệnh choạng, cà nhắc, nhảy múa và bước qua cái thế giới tạp nham này.

Hết.

Chú thích:

  1. Fetish (ái vật, hay bái vật tình dục) chỉ các mối quan tâm tình dục trên những đối tượng không phải là cơ quan sinh dục. Những mối quan tâm này có thể coi như công cụ hỗ trợ để đạt cảm hứng tình dục hoặc có thể trở thành rối loạn tâm thần nếu nó gây ra những đau khổ tâm lý đáng kể cho người mắc hoặc tác động có hại vào các lĩnh vực quan trọng trong đời sống của họ.

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Summer Brennan, trích từ Object Lessons: High Heel.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Muôn chuyện phức tạp của phụ nữ!



1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng