Trà chiều

“Cái đẹp đánh bẹp cái nết?”

Thật đáng tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi ngoại hình.

Published

on

THE TRUTH ABOUT BEAUTY

Amy Alkon

Trong thế giới lý tưởng, vẻ đẹp nội tâm sẽ chiến thắng vẻ đẹp ngoại hình. Nhưng rất tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi “bao bì”. Chắc có lẽ đây là lúc chúng ta phải chấp nhận sự thật rằng: thế giới coi trọng nhan sắc hơn bạn nghĩ đấy.

Chào mừng đến Uglytopia (Vùng đất tưởng tượng dành riêng cho người không-được-đẹp-lắm), một thế giới nơi phụ nữ với tâm hồn đẹp được lên bìa tạp chí Maxim, chứ không phải một phụ nữ biết dùng áo nâng ngực. Thật không công bằng với những người bình thường như chúng ta, khi một số người sinh ra đã ngậm thìa vàng, cho dù cái thìa đó là một cái cằm đẹp như tượng tạc hay là quyền thừa kế một công ty vận tải trị giá hàng triệu đô. Có lẽ những người-không-đẹp-lắm như chúng ta cần những cử chỉ an ủi; phải chi George Clooney sẽ chọn người đàn bà chất phác giữa hàng tá những cô nàng bốc lửa. Ừ, cứ ước thoả thích, nhưng bạn nên chấp nhận cái sự thật xấu-xí rằng: sẽ chẳng có anh chàng đẹp trai nào (hay thậm chí anh chàng xấu trai nào) sẽ liếc mắt đưa tình với một người phụ nữ chỉ vì cô nàng trông như kiểu sẽ tốt bụng mua bánh mì cho người nghèo, hoặc đọc sách cho người mù.

Có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng phụ nữ và đàn ông khác nhau cả về mặt sinh học và tâm lý học, và những đặc điểm mà đàn ông hoặc phụ nữ dị tính luyến ái tìm kiếm ở bạn đời phản ánh trực tiếp những khác biệt ấy. Những đặc điểm mà đàn ông tiến hoá để thích ở một người phụ nữ là: trẻ trung, da đẹp, khuôn mặt và thân hình đối xứng, đặc trưng gương mặt nữ tính, thân hình đồng hồ cát – những đặc điểm sinh lý chỉ ra rằng người phụ nữ là một ứng cử viên khoẻ mạnh, dễ sinh sản để duy trì nòi giống.

Những sở thích này gần như giống nhau ở mọi quốc gia, văn hoá và thế hệ, đồng nghĩa với việc có tồn tại một chuẩn mực chung cho cái đẹp. Cũng như phụ nữ phương Tây cố gắng giữ hình thể mảnh mai, sự thật rằng phụ nữ ở mọi nền văn hoá, vô tình hay cố ý, đều ăn (hoặc không ăn) để đạt được chuẩn theo cái nhìn của đàn ông. Kích cỡ cơ thể tiêu chuẩn ở bất cứ nền văn hoá nào dường như có mối tương quan (tỷ lệ nghịch) với mức độ sẵn có của thực phẩm. Trong nền văn hoá như ở Mỹ, nơi mà người ta không thể đi nổi năm dặm mà không thấy một tiệm 7-Eleven nào và đồ ăn thì được bán theo kích cỡ khổng lồ thì phụ nữ gầy rất được ưa chuộng. Trong những nền văn hoá mà đồ ăn khan hiếm (như khu vực tiệm cận sa mạc Sahara) thì mũm mĩm hơn một chút lại được xem là đẹp, và phụ nữ hấp dẫn đàn ông bằng cách nhồi nhét đồ ăn hàng ngày cho đến khi họ trông “mảnh mai” như Jabba the Hutt.

…là “mảnh mai” như thế này đây.

Nhưng vẻ bề ngoài của đàn ông chỉ có ảnh hưởng đến phụ nữ ở một mức độ nào đó. Đa số phụ nữ thích đàn ông cao hơn họ, với các nét cân xứng (dấu hiệu cho thấy bạn đời tương lai của họ khoẻ mạnh và không mắc bệnh truyền nhiễm). Nhưng, phụ nữ ở bất kì nền văn hoá nào cũng kiên quyết kiếm tìm những người đàn ông có địa vị xã hội cao, có quyền lực và có nguồn tài lực nhất định – điều này đồng nghĩa rằng một anh chàng không được cao lắm có thể được bù trừ đáng kể khi anh ta sở hữu một chiếc phi cơ riêng. Và cũng giống như phụ nữ-không-được-đẹp-lắm, đàn ông thất nghiệp kinh niên hoặc kiếm không được nhiều tiền lắm sẽ gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm bạn đời. Tất nhiên là có nhiều lời phàn nàn từ cánh mày râu về vấn đề này. Tuy nhiên, dẫu hiện nay trên các tạp chí dành cho phụ nữ tràn ngập các bài viết của các nhà báo theo chủ nghĩa nữ quyền, khuyến khích phụ nữ nên rút khỏi cuộc đua cái đẹp và “học cách yêu cô gái trong gương,” vậy mà lại chẳng có ai viết bài cho đàn ông và đưa ra lời khuyên lố bịch “học cách yêu thương cái thằng cha thất nghiệp đang nằm ườn ra trên sô pha đi.”

Vậy, trước khi mọi người gán cho tôi cái nhãn phản bội chính giới tính của mình, hãy để tôi nói rằng, tôi rất ủng hộ phụ nữ có quyền bỏ phiếu, và tôi nghĩ một người phụ nữ có ria mép cũng có thể kiếm nhiều tiền như một người đàn ông có ria mép. Nhưng bạn không giúp đỡ cô ấy bằng cách khuyên “cô cứ để ria mép đó đi, và không cần quan tâm tới cái bụng mỡ ấy đâu” (bởi vì bước đường giải phóng phụ nữ được thực hiện bởi việc càng ngày càng trông giống một gã đàn ông già cỗi lông lá?)

Hóa ra, lời khuyên có hại nhất đang được lan truyền rộng rãi bởi các nhà ủng hộ nữ quyền là cái quan niệm ngớ ngẩn rằng phụ nữ chẳng nên (và chẳng cần) xem trọng những quy chuẩn cái đẹp. Tất nhiên, nhan sắc không phải yếu tố quyết định mọi chuyện (như tôi được độc giả nữ sửa lưng khi phát biểu rằng đàn ông chỉ ham muốn những phụ nữ nằm trong một giới hạn cân nặng nào đó). Nhưng nhan sắc rất quan trọng. Người phụ nữ càng xinh đẹp, cô ấy càng có nhiều cơ hội để lựa chọn bạn đời, cũng như lựa chọn những cơ hội trong công việc và đời sống hàng ngày. Ai cũng biết điều này, và cả tá nghiên cứu cũng xác nhận nó – nhưng dám nói ra những điều này lại là chuyện hi hữu.

Chúng ta ngưỡng mộ những người cố gắng nâng cao tri thức; chúng ta không nói “Nè, bạn sinh ra có phải thiên tài đâu, đọc sách làm gì cho tốn thời gian?” Vậy thì tại sao lại đối xử với vẻ ngoài khác biệt? Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy, đàn ông thích phụ nữ môi dày, cằm nhỏ và mắt to long lanh – những dấu hiệu chỉ ra mức estrogen cao. Vài người phụ nữ may mắn sinh ra với đôi mắt to, những người khác nhờ cậy đến sự giúp đỡ của trang điểm và phấn mắt. Như slogan khôn khéo khẳng định, “Có lẽ nàng đẹp tự nhiên, có lẽ đó là Maybelline.” (Nếu nó giúp cô ấy tăng số lượng bạn đời tiềm năng, ai mà quan tâm là nó bắt nguồn từ đâu chứ?)

Không may mắn cho lắm, nước Mỹ quá mâu thuẫn và không chân thật với bản thân về sức mạnh của cái đẹp, chúng ta tiếp cận nó một cách hết sức dè dặt. Đầu bên này tập hợp những người phụ nữ với phương châm “Hãy yêu tôi vì chính bản thân tôi,” điển hình là cô gái vừa hỏi tôi vì sao những lần cô gặp gặp mặt đàn ông chẳng bao giờ diễn ra tốt đẹp – và cô có phong cách ăn mặc không hề tạo cảm giác “tôi muốn kiếm bạn trai,” mà trông giống như “tôi chỉ là cô gái giúp bạn thông cống.” Đầu bên kia là những người phụ nữ dạo phố như những con búp bê chuẩn bị đóng phim cấp ba. Một lời nhắn nhủ nhỏ cho những người đầu bên kia mà sắp bước vào thời kì mãn kinh: đắp hàng tấn phấn lên mặt không giúp bạn trẻ hơn, nó khiến bạn trông như một vị drag queen hết thời (các vũ công nam giả gái thường đi kèm với lớp trang điểm dày đặc trưng).

Cũng như vậy, các nỗ lực phẫu thuật thẩm mỹ để khiến một phụ nữ 50 tuổi trông trẻ ra như 25 tuổi thường cho ra kết quả là một con robot đáng sợ trông-có-vẻ 45 tuổi, một đối tượng để dư luận thương hại hơn là ao ước. Việc người khác biết ngay rằng bạn đã phẫu thuật thẩm mĩ thường là dấu hiệu của tay nghề kém hoặc của một người đã quá lạm dụng nó, có lẽ bởi vì cô ấy đang cố gắng lấp đầy những khiếm khuyết trong cuộc đời mình bằng silicon, Juvederm và miếng độn mông. Có những người phụ nữ tìm đến phẫu thuật thẩm mĩ như một giải pháp để khắc phục cái khiếm khuyết trường kỳ trong đời cô. Số khác xem thẩm mĩ như bim bim khoai tây, “ăn một cái thì chẳng đỡ thèm được.” Một người phụ nữ bước vào bệnh viện thẩm mĩ để bơm môi và bước ra với cả hai cặp môi được chỉnh sửa (vâng tôi đang nói đến môi âm hộ đây – “môi ở dưới của bạn có đẹp không?”)

Một khi phụ nữ bắt đầu thấy nếp nhăn và vết chân chim, nỗi tuyệt vọng để tái sở hữu gương mặt long lanh ngày xưa khiến họ thường hành động để cứu rỗi nó. Phụ nữ muốn tin rằng có hy vọng đựng trong lọ mỹ phẩm được bày bán ngoài kia. Rất mừng là có. Rất buồn là hy vọng không dành cho họ, mà dành cho các vị CEO ngoài kia, hy vọng rằng các quý vị phụ nữ sẽ bỏ tiền túi ra mua sản phẩm của họ, đài thọ cho họ một cái du thuyền mới coong và một chateau tọa lạc tại miền nam nước Pháp. Nói thế thôi chứ có hy vọng tồn tại trong chai nhựa chứa đầy kem chống nắng, loại có thể chống được cả tia UVA và UVB (để ngăn ngừa lão hoá). Còn các loại kem chống lão hoá khác, theo nhóm blog Beauty Brains (tạm dịch: Tri thức về cái đẹp), thì đáng buồn thay, chẳng có tác dụng gì hơn kem dưỡng ẩm thông thường.

Phụ nữ Pháp cũng vậy, cũng ngây thơ tin tưởng rằng bạn có thể mua tuổi trẻ tại quầy mỹ phẩm Clarins. Nhưng có lẽ một phần là do chủ nghĩa nữ quyền chưa bao giờ tìm được đường vào văn hoá chính thống ở đây, họ có mối quan hệ lành mạnh với cái đẹp hơn. Họ chấp nhận nó là cây cầu dẫn đến tình yêu, tình dục, mối quan hệ và các cơ hội. Họ tìm được niềm vui khi làm đẹp bản thân, khi nhấn mạnh vào các điểm khác biệt giữa phụ nữ với đàn ông. Họ không từ bỏ việc chăm sóc vẻ bề ngoài ngay cả khi họ già đi cũng như không cố gắng trông giống như học sinh cấp ba khi bản thân đã trên 50. Họ chỉ đơn giản là tự hào về vẻ ngoài và cố gắng trông giống như một người phụ nữ lớn tuổi hấp dẫn.

Để hiểu được rằng bạn phải đánh đổi cái gì để đẹp, trước tiên bạn phải hiểu rằng đẹp là gì. Đẹp là có sức hấp dẫn về mặt giới tính với đàn ông. Và thay vì gầm gừ rằng bản năng sinh dục của đàn ông là một thứ hiểm độc, bạn phải hiểu được rằng họ chỉ đơn giản là khác biệt với phụ nữ, họ bị điều khiển bởi cái đẹp trực quan nhiều hơn phụ nữ. Để biết được những điều phải làm, chúng ta có thể lướt qua những nghiên cứu ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây của các nhà tâm lý học tiến hoá, về chủ đề “đàn ông muốn gì nhất”. Ví dụ như Devendra Singh của đại học Texas phát hiện ra rằng đàn ông khắp các nên văn hoá bị thu hút bởi phụ nữ có thân hình chuẩn đồng hồ cát. Đàn ông thích phụ nữ eo ót, ngay cả khi cô ấy hơi mũm mĩm đi chăng nữa. Vì vậy vứt cái đám áo rộng thùng thình đó đi – bạn chỉ khoe được vòng eo con kiến của mình khi có bão cấp 8 thôi. Và nếu bạn hơi thẳng đuột một chút, cố gắng tạo ra vòng eo bằng quần áo hoặc thắt lưng.

Cũng giống như phụ nữ Pháp, chúng ta cũng cần hiểu cách tiếp cận lành mạnh đến cái đẹp. Nó không phải là giả vờ như diện mạo không cần thiết, không quan trọng; cũng không phải là xem diện mạo quan trọng hơn bất kì thứ nào khác. Một khi đối mặt với nó, phụ nữ sẽ thấy được họ cần bỏ ra bao nhiêu nỗ lực vào vẻ ngoài của mình (hoặc chấp nhận những cơ hội bị bỏ qua nếu bạn không chăm chút vẻ ngoài của mình). Sự thật là, cũng giống như kiến thức, vẻ đẹp là sức mạnh. Vì vậy, chị em phụ nữ ngoài kia, hãy đọc nhiều sách, phát triển trí tuệ và tính cách, tận dụng những quyền mà các anh hùng đã phải đấu tranh để chúng ta có được, phấn đấu trở thành một người có thể tạo ra sự thay đổi cho xã hội. Và… suỵt, trong lúc làm những việc đó, đừng quên đánh một chút son cho đẹp nhé.

Hết.

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Amy Alkon, đăng tại Psychology Today.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Muôn chuyện phức tạp của phụ nữ!



Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng