Trà chiều

“Cái đẹp đánh bẹp cái nết?”

Thật đáng tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi ngoại hình.

Published

on

THE TRUTH ABOUT BEAUTY

Amy Alkon

Trong thế giới lý tưởng, vẻ đẹp nội tâm sẽ chiến thắng vẻ đẹp ngoại hình. Nhưng rất tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi “bao bì”. Chắc có lẽ đây là lúc chúng ta phải chấp nhận sự thật rằng: thế giới coi trọng nhan sắc hơn bạn nghĩ đấy.

Chào mừng đến Uglytopia (Vùng đất tưởng tượng dành riêng cho người không-được-đẹp-lắm), một thế giới nơi phụ nữ với tâm hồn đẹp được lên bìa tạp chí Maxim, chứ không phải một phụ nữ biết dùng áo nâng ngực. Thật không công bằng với những người bình thường như chúng ta, khi một số người sinh ra đã ngậm thìa vàng, cho dù cái thìa đó là một cái cằm đẹp như tượng tạc hay là quyền thừa kế một công ty vận tải trị giá hàng triệu đô. Có lẽ những người-không-đẹp-lắm như chúng ta cần những cử chỉ an ủi; phải chi George Clooney sẽ chọn người đàn bà chất phác giữa hàng tá những cô nàng bốc lửa. Ừ, cứ ước thoả thích, nhưng bạn nên chấp nhận cái sự thật xấu-xí rằng: sẽ chẳng có anh chàng đẹp trai nào (hay thậm chí anh chàng xấu trai nào) sẽ liếc mắt đưa tình với một người phụ nữ chỉ vì cô nàng trông như kiểu sẽ tốt bụng mua bánh mì cho người nghèo, hoặc đọc sách cho người mù.

Có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng phụ nữ và đàn ông khác nhau cả về mặt sinh học và tâm lý học, và những đặc điểm mà đàn ông hoặc phụ nữ dị tính luyến ái tìm kiếm ở bạn đời phản ánh trực tiếp những khác biệt ấy. Những đặc điểm mà đàn ông tiến hoá để thích ở một người phụ nữ là: trẻ trung, da đẹp, khuôn mặt và thân hình đối xứng, đặc trưng gương mặt nữ tính, thân hình đồng hồ cát – những đặc điểm sinh lý chỉ ra rằng người phụ nữ là một ứng cử viên khoẻ mạnh, dễ sinh sản để duy trì nòi giống.

Những sở thích này gần như giống nhau ở mọi quốc gia, văn hoá và thế hệ, đồng nghĩa với việc có tồn tại một chuẩn mực chung cho cái đẹp. Cũng như phụ nữ phương Tây cố gắng giữ hình thể mảnh mai, sự thật rằng phụ nữ ở mọi nền văn hoá, vô tình hay cố ý, đều ăn (hoặc không ăn) để đạt được chuẩn theo cái nhìn của đàn ông. Kích cỡ cơ thể tiêu chuẩn ở bất cứ nền văn hoá nào dường như có mối tương quan (tỷ lệ nghịch) với mức độ sẵn có của thực phẩm. Trong nền văn hoá như ở Mỹ, nơi mà người ta không thể đi nổi năm dặm mà không thấy một tiệm 7-Eleven nào và đồ ăn thì được bán theo kích cỡ khổng lồ thì phụ nữ gầy rất được ưa chuộng. Trong những nền văn hoá mà đồ ăn khan hiếm (như khu vực tiệm cận sa mạc Sahara) thì mũm mĩm hơn một chút lại được xem là đẹp, và phụ nữ hấp dẫn đàn ông bằng cách nhồi nhét đồ ăn hàng ngày cho đến khi họ trông “mảnh mai” như Jabba the Hutt.

…là “mảnh mai” như thế này đây.

Nhưng vẻ bề ngoài của đàn ông chỉ có ảnh hưởng đến phụ nữ ở một mức độ nào đó. Đa số phụ nữ thích đàn ông cao hơn họ, với các nét cân xứng (dấu hiệu cho thấy bạn đời tương lai của họ khoẻ mạnh và không mắc bệnh truyền nhiễm). Nhưng, phụ nữ ở bất kì nền văn hoá nào cũng kiên quyết kiếm tìm những người đàn ông có địa vị xã hội cao, có quyền lực và có nguồn tài lực nhất định – điều này đồng nghĩa rằng một anh chàng không được cao lắm có thể được bù trừ đáng kể khi anh ta sở hữu một chiếc phi cơ riêng. Và cũng giống như phụ nữ-không-được-đẹp-lắm, đàn ông thất nghiệp kinh niên hoặc kiếm không được nhiều tiền lắm sẽ gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm bạn đời. Tất nhiên là có nhiều lời phàn nàn từ cánh mày râu về vấn đề này. Tuy nhiên, dẫu hiện nay trên các tạp chí dành cho phụ nữ tràn ngập các bài viết của các nhà báo theo chủ nghĩa nữ quyền, khuyến khích phụ nữ nên rút khỏi cuộc đua cái đẹp và “học cách yêu cô gái trong gương,” vậy mà lại chẳng có ai viết bài cho đàn ông và đưa ra lời khuyên lố bịch “học cách yêu thương cái thằng cha thất nghiệp đang nằm ườn ra trên sô pha đi.”

Vậy, trước khi mọi người gán cho tôi cái nhãn phản bội chính giới tính của mình, hãy để tôi nói rằng, tôi rất ủng hộ phụ nữ có quyền bỏ phiếu, và tôi nghĩ một người phụ nữ có ria mép cũng có thể kiếm nhiều tiền như một người đàn ông có ria mép. Nhưng bạn không giúp đỡ cô ấy bằng cách khuyên “cô cứ để ria mép đó đi, và không cần quan tâm tới cái bụng mỡ ấy đâu” (bởi vì bước đường giải phóng phụ nữ được thực hiện bởi việc càng ngày càng trông giống một gã đàn ông già cỗi lông lá?)

Hóa ra, lời khuyên có hại nhất đang được lan truyền rộng rãi bởi các nhà ủng hộ nữ quyền là cái quan niệm ngớ ngẩn rằng phụ nữ chẳng nên (và chẳng cần) xem trọng những quy chuẩn cái đẹp. Tất nhiên, nhan sắc không phải yếu tố quyết định mọi chuyện (như tôi được độc giả nữ sửa lưng khi phát biểu rằng đàn ông chỉ ham muốn những phụ nữ nằm trong một giới hạn cân nặng nào đó). Nhưng nhan sắc rất quan trọng. Người phụ nữ càng xinh đẹp, cô ấy càng có nhiều cơ hội để lựa chọn bạn đời, cũng như lựa chọn những cơ hội trong công việc và đời sống hàng ngày. Ai cũng biết điều này, và cả tá nghiên cứu cũng xác nhận nó – nhưng dám nói ra những điều này lại là chuyện hi hữu.

Chúng ta ngưỡng mộ những người cố gắng nâng cao tri thức; chúng ta không nói “Nè, bạn sinh ra có phải thiên tài đâu, đọc sách làm gì cho tốn thời gian?” Vậy thì tại sao lại đối xử với vẻ ngoài khác biệt? Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy, đàn ông thích phụ nữ môi dày, cằm nhỏ và mắt to long lanh – những dấu hiệu chỉ ra mức estrogen cao. Vài người phụ nữ may mắn sinh ra với đôi mắt to, những người khác nhờ cậy đến sự giúp đỡ của trang điểm và phấn mắt. Như slogan khôn khéo khẳng định, “Có lẽ nàng đẹp tự nhiên, có lẽ đó là Maybelline.” (Nếu nó giúp cô ấy tăng số lượng bạn đời tiềm năng, ai mà quan tâm là nó bắt nguồn từ đâu chứ?)

Không may mắn cho lắm, nước Mỹ quá mâu thuẫn và không chân thật với bản thân về sức mạnh của cái đẹp, chúng ta tiếp cận nó một cách hết sức dè dặt. Đầu bên này tập hợp những người phụ nữ với phương châm “Hãy yêu tôi vì chính bản thân tôi,” điển hình là cô gái vừa hỏi tôi vì sao những lần cô gặp gặp mặt đàn ông chẳng bao giờ diễn ra tốt đẹp – và cô có phong cách ăn mặc không hề tạo cảm giác “tôi muốn kiếm bạn trai,” mà trông giống như “tôi chỉ là cô gái giúp bạn thông cống.” Đầu bên kia là những người phụ nữ dạo phố như những con búp bê chuẩn bị đóng phim cấp ba. Một lời nhắn nhủ nhỏ cho những người đầu bên kia mà sắp bước vào thời kì mãn kinh: đắp hàng tấn phấn lên mặt không giúp bạn trẻ hơn, nó khiến bạn trông như một vị drag queen hết thời (các vũ công nam giả gái thường đi kèm với lớp trang điểm dày đặc trưng).

Cũng như vậy, các nỗ lực phẫu thuật thẩm mỹ để khiến một phụ nữ 50 tuổi trông trẻ ra như 25 tuổi thường cho ra kết quả là một con robot đáng sợ trông-có-vẻ 45 tuổi, một đối tượng để dư luận thương hại hơn là ao ước. Việc người khác biết ngay rằng bạn đã phẫu thuật thẩm mĩ thường là dấu hiệu của tay nghề kém hoặc của một người đã quá lạm dụng nó, có lẽ bởi vì cô ấy đang cố gắng lấp đầy những khiếm khuyết trong cuộc đời mình bằng silicon, Juvederm và miếng độn mông. Có những người phụ nữ tìm đến phẫu thuật thẩm mĩ như một giải pháp để khắc phục cái khiếm khuyết trường kỳ trong đời cô. Số khác xem thẩm mĩ như bim bim khoai tây, “ăn một cái thì chẳng đỡ thèm được.” Một người phụ nữ bước vào bệnh viện thẩm mĩ để bơm môi và bước ra với cả hai cặp môi được chỉnh sửa (vâng tôi đang nói đến môi âm hộ đây – “môi ở dưới của bạn có đẹp không?”)

Một khi phụ nữ bắt đầu thấy nếp nhăn và vết chân chim, nỗi tuyệt vọng để tái sở hữu gương mặt long lanh ngày xưa khiến họ thường hành động để cứu rỗi nó. Phụ nữ muốn tin rằng có hy vọng đựng trong lọ mỹ phẩm được bày bán ngoài kia. Rất mừng là có. Rất buồn là hy vọng không dành cho họ, mà dành cho các vị CEO ngoài kia, hy vọng rằng các quý vị phụ nữ sẽ bỏ tiền túi ra mua sản phẩm của họ, đài thọ cho họ một cái du thuyền mới coong và một chateau tọa lạc tại miền nam nước Pháp. Nói thế thôi chứ có hy vọng tồn tại trong chai nhựa chứa đầy kem chống nắng, loại có thể chống được cả tia UVA và UVB (để ngăn ngừa lão hoá). Còn các loại kem chống lão hoá khác, theo nhóm blog Beauty Brains (tạm dịch: Tri thức về cái đẹp), thì đáng buồn thay, chẳng có tác dụng gì hơn kem dưỡng ẩm thông thường.

Phụ nữ Pháp cũng vậy, cũng ngây thơ tin tưởng rằng bạn có thể mua tuổi trẻ tại quầy mỹ phẩm Clarins. Nhưng có lẽ một phần là do chủ nghĩa nữ quyền chưa bao giờ tìm được đường vào văn hoá chính thống ở đây, họ có mối quan hệ lành mạnh với cái đẹp hơn. Họ chấp nhận nó là cây cầu dẫn đến tình yêu, tình dục, mối quan hệ và các cơ hội. Họ tìm được niềm vui khi làm đẹp bản thân, khi nhấn mạnh vào các điểm khác biệt giữa phụ nữ với đàn ông. Họ không từ bỏ việc chăm sóc vẻ bề ngoài ngay cả khi họ già đi cũng như không cố gắng trông giống như học sinh cấp ba khi bản thân đã trên 50. Họ chỉ đơn giản là tự hào về vẻ ngoài và cố gắng trông giống như một người phụ nữ lớn tuổi hấp dẫn.

Để hiểu được rằng bạn phải đánh đổi cái gì để đẹp, trước tiên bạn phải hiểu rằng đẹp là gì. Đẹp là có sức hấp dẫn về mặt giới tính với đàn ông. Và thay vì gầm gừ rằng bản năng sinh dục của đàn ông là một thứ hiểm độc, bạn phải hiểu được rằng họ chỉ đơn giản là khác biệt với phụ nữ, họ bị điều khiển bởi cái đẹp trực quan nhiều hơn phụ nữ. Để biết được những điều phải làm, chúng ta có thể lướt qua những nghiên cứu ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây của các nhà tâm lý học tiến hoá, về chủ đề “đàn ông muốn gì nhất”. Ví dụ như Devendra Singh của đại học Texas phát hiện ra rằng đàn ông khắp các nên văn hoá bị thu hút bởi phụ nữ có thân hình chuẩn đồng hồ cát. Đàn ông thích phụ nữ eo ót, ngay cả khi cô ấy hơi mũm mĩm đi chăng nữa. Vì vậy vứt cái đám áo rộng thùng thình đó đi – bạn chỉ khoe được vòng eo con kiến của mình khi có bão cấp 8 thôi. Và nếu bạn hơi thẳng đuột một chút, cố gắng tạo ra vòng eo bằng quần áo hoặc thắt lưng.

Cũng giống như phụ nữ Pháp, chúng ta cũng cần hiểu cách tiếp cận lành mạnh đến cái đẹp. Nó không phải là giả vờ như diện mạo không cần thiết, không quan trọng; cũng không phải là xem diện mạo quan trọng hơn bất kì thứ nào khác. Một khi đối mặt với nó, phụ nữ sẽ thấy được họ cần bỏ ra bao nhiêu nỗ lực vào vẻ ngoài của mình (hoặc chấp nhận những cơ hội bị bỏ qua nếu bạn không chăm chút vẻ ngoài của mình). Sự thật là, cũng giống như kiến thức, vẻ đẹp là sức mạnh. Vì vậy, chị em phụ nữ ngoài kia, hãy đọc nhiều sách, phát triển trí tuệ và tính cách, tận dụng những quyền mà các anh hùng đã phải đấu tranh để chúng ta có được, phấn đấu trở thành một người có thể tạo ra sự thay đổi cho xã hội. Và… suỵt, trong lúc làm những việc đó, đừng quên đánh một chút son cho đẹp nhé.

Hết.

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Amy Alkon, đăng tại Psychology Today.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Muôn chuyện phức tạp của phụ nữ!



Trà chiều

Sinh ra trên đầu một cọng lông

Published

on

Triết học quen thuộc và gần gũi nhất với nhiều sinh viên Việt Nam là triết học Marx-Lenin. Karl Marx sống dậy chắc phải hết hồn trước sự thật này, vì ông từng tuyên bố: “Triết học dùng để nghiên cứu thế giới thực cũng tương tự như thủ dâm trong tình dục.”

“Triết học” (philosophy) là từ gốc Hy Lạp, nghĩa đen là “tình yêu dành cho trí tuệ”. Nhưng sau khi dự một lớp triết ở đại học, với những tư liệu sản xuất, kiến trúc thượng tầng, lượng đổi dẫn đến chất đổi… với đa số người, triết học trở thành “tình yêu dành cho sự chán ngắt”.

Ngoài Karl Marx, Lenin còn có Socrates, Plato…; ngoài đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa tư bản còn có cách để sống một cuộc đời ý nghĩa, làm thế nào để đương đầu với khổ đau… Triết học thật sự là một thế giới mầu nhiệm và thiết thân cho cuộc sống, hơn là một nhúm kiến thức học thuộc lòng để làm bài kiểm tra qua môn.

Nhà triết học trong cuốn Sophie’s World ví vũ trụ như con thỏ trắng vừa được lôi ra từ chiếc mũ ảo thuật, và tất cả con người thoạt tiên được sinh ra trên đầu những cọng lông thỏ và có thể chiêm ngưỡng trò ảo thuật kì diệu của thế giới. Nhưng càng lớn lên, con người càng tụt sâu xuống bộ lông thỏ và mất khả năng ngạc nhiên trước mọi sự. Thế giới trở nên hiển nhiên và cũ rích. Một đứa trẻ ra đời, hạnh phúc một tang gia, một tiếng chim hót, một con bướm bay, một giọt sương đọng trên lá chẳng còn làm ai mảy may xúc động. Cùng nhìn một thế giới nhưng người lớn thì buồn rầu, còn trẻ con thì sung sướng.

Triết học, vì thế, đưa người ta trở lại thành đứa trẻ, luôn trong trạng thái truy vấn và sửng sốt trước cuộc đời. Socrates – một trong những triết gia thông thái nhất của Hy Lạp cổ đại từng nói: “Có duy nhất một thứ tôi biết, đó là tôi không biết gì.” Không có gì mới dưới mặt trời, nhưng dưới con mắt hạn hẹp của con người, thế giới đầy những điều chưa biết.

Đặc biệt, trong thế giới công nghệ, với dòng thông tin luân chuyển vô tận, mọi thứ càng trở nên bớt chắc chắn: tin giả, thuyết âm mưu, ngụy biện, ngụy khoa học. Điều gì là đúng, điều gì là sai, làm cách nào mình tin một điều là đúng hay sai trở thành những câu hỏi khó trả lời. Thiếu một bộ hướng dẫn đạo đức để hành động đúng, mình dễ lẫn lộn giữa những giá trị thực và ảo, giữa những điều quan trọng và những thứ vụn vặt.

Đi làm để kiếm tiền, yêu đương để thấy mình có giá trị, làm việc tốt để được tán dương. Đến khi mất việc, mất người yêu, mất người hâm mộ, những gì mình từng tin là đúng, là cần thiết, là đáng để sống vì, đột nhiên trở nên vô giá trị, cuộc đời hóa thành bông hoa không màu. Lúc này, triết học có thể trở thành chốn nương nhờ. Triết học có thể giúp mình nhận chân những giá trị thực, truy tìm mục đích sống trong một thế giới giờ đây đã trở nên vô nghĩa lý.

Viktor Frankl – nhà thần kinh học, triết gia và là người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust đã tìm được sự an ủi từ triết học trong thời gian sống trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Trở đi trở lại trong cuốn tự truyện Man’s Search For Meaning của ông là câu nói của Nietzsche: “He who has a why to live for can bear almost any how.” Khi mình tìm được ý nghĩa trong những khổ đau không thể nào tránh khỏi thì cuộc đời vẫn đáng để sống.

Giới thiệu sách đọc để tìm “why” và leo lên lại sợi lông thỏ:

Sophie’s World – Jostein Gaarder (bản dịch tiếng Việt: Thế giới của Sophie): Một cuốn lịch sử triết học viết dưới dạng tiểu thuyết. Cô bé Sophie mười bốn tuổi bất ngờ nhận được một khóa triết học qua thư từ một triết gia bí ẩn. Vì những bài học trong sách viết để một cô bé có thể hiểu nên chắc ai đọc cũng hiểu.

A Little History of Philosophy – Nigel Warburton (mình nhớ là có bản dịch tiếng Việt): Một cuốn sơ lược về triết học viết rất hài. “Nếu bạn là một kẻ hoài nghi (skeptic) bạn sẽ cần những người bạn trung thành để giữ mình sống sót, vì bạn luôn tìm cách đâm đầu xuống vực vì không tin là mình sẽ chết.” (trích một câu trong sách)

A Short History of Nearly Everything – Bill Bryson (bản dịch tiếng Việt: Lược sử vạn vật): Cái tên nói lên nội dung rồi. Đây không phải là sách về triết nhưng đọc để thấy thế giới đầy những chuyện kì lạ và mắc cười. Billy là một trong những tác giả yêu thích nhất của mình: dí dỏm, duyên dáng và hài hước chết người. Aaa, mình dùng nhiều tính từ quá nhưng mà đọc đi chắc sẽ thích.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Chờ đợi ánh mặt trời

Hiện thực của chúng ta luôn có độ trễ, vậy tại sao không thể nhẫn nại với nhau hơn?

Published

on

Tháng Hai là thời gian lý tưởng để ngắm hoàng hôn ở Sài Gòn, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên Đán. Trời trong, ít khói bụi, nắng thường dịu và hiếm có mưa, độ ẩm không khí trung bình. Tôi chỉ cần tìm một địa điểm phù hợp, nơi có hướng nhìn về phía Tây thật thoáng đãng và an toàn, yên vị trong khoảng từ 5 giờ rưỡi tới 6 giờ tối. Nếu tôi ở lại thành phố này vào dịp Tết, ngắm hoàng hôn rơi xuống đường chân trời dường như là một nghi thức không thể thiếu. Và năm nay, tôi đã thông thạo các bước thực hành tới mức không còn phải đuổi theo ánh mặt trời nữa, tôi có thể chờ.

Mặt trời cách xa Trái Đất 147.86 triệu km; và ánh sáng từ mặt trời mất trung bình 8 phút 3, theo NASA, để tới được bề mặt hành tinh này. Vậy nên, ánh hoàng hôn mà tôi đang thấy đã là quá khứ của mặt trời. Giai đoạn hoàng hôn đẹp nhất thường diễn ra khá chóng vánh, dù có lẽ được cảm nhận tùy theo góc nhìn của từng người, nhưng cũng khó lòng nhiều hơn 20 phút. Hãy tưởng tượng, khi ta đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu dàng và trầm mặc của tấm nền cam thẫm trước mắt, mặt trời thực chất đã tiến sang phía kia địa cầu rồi. Khung cảnh ta đang thấy, xét theo nghĩa đen, chỉ là một ảo ảnh.

Hiện thực ta cảm nhận luôn có độ trễ, ít hoặc nhiều. Bởi ánh sáng phản chiếu từ sự vật mất thời gian để tới với thị giác, thị giác mất thời gian truyền tín hiệu cho não, còn não lại là bộ máy phân tích và xử lý dữ liệu cực kỳ cồng kềnh. Cảm nhận về hiện thực không chỉ lệch so với chính hiện thực, mà còn méo theo cách nhào nặn của sơ đồ cảm xúc và nhà kho ký ức của từng người. Với chừng ấy biến số, thật khó để nói hiện thực tóm lại là gì và bây giờ là bao giờ? Cảm ơn Shiba đã chia sẻ video được chèn link phía trước với chị.

Hiểu được điều này ở góc nhìn khoa học giúp tôi dễ thấm hơn cái gọi là “xỏ chân vào đôi giày của người khác”, dù làm sao tôi có thể xâm nhập ý thức của bất cứ ai để cảm nhận hiện thực trong não họ cơ chứ?

Lấy ví dụ, tôi từng bất an khi phải nhìn những vật thể có sự kết hợp của màu trắng và đỏ tươi do một kỷ niệm xấu thuở nhỏ; chấn thương tâm lý khiến tôi khước từ viên kẹo Alpenliebe vị sữa dâu, dù với đa số trẻ con, đó là món quà ngọt hấp dẫn. Bạn có khó hiểu khi một người tỏ ra sợ viên kẹo sữa dâu không? Nếu ta chấp nhận rằng hiện thực chủ quan của mỗi cá nhân đều là độc nhất và có độ vênh với hiện thực khách quan, mọi rối loạn tâm lý dường như đều trở nên hợp lý; không phải tính bất biến, đồng đều mà chính cái xáo động và khác biệt mới là bình thường – một bình thường mới.

Với tôi, hoàng hôn đẹp từ tận lúc mặt trời còn trên cao thế này cơ.

Càng nhìn rõ được điều này, tôi càng nhẫn nại. Tôi có thể ngồi đó, giữa khe hở thời gian, ở đường biên của mỗi tích tắc để tập quan sát trong thinh lặng. Mặt trời đang rơi xuống sau những tòa nhà của thành phố, các bạn tôi đang chạy trên bánh xe thời gian và vòng xoáy tiến hóa của họ, cũng như tôi. Tôi có thể chờ đợi mà không cảm thấy bứt rứt hay hối hả, cứ như tôi đã ở nơi thời gian dài ra gấp mười, hai mươi lần.

“Kỳ Lân ạ, cả thế giới này đang hối thúc em gấp gáp lên đi, đồng hồ sinh lý đang quay với tốc độ ngày một chóng mặt. Nhưng chị mong em sẽ không phải cuống cuồng chạy như bị ma đuổi sau lưng và cũng không phải nuối tiếc những ngày quá vãng. Chị mong em có thể cẩn thận ghé qua từng căn phòng trên hành lang ký ức đó, vặn tay nắm để ngó vào xem ở trong có đủ những món em cần chưa. Chị mong em có thể ở lại mỗi nơi lâu hơn chút, để lỗ hổng trong lòng dần được lấp đầy và hiện thực cảm nhận ấy hằn sâu vào tâm trí. Để sau này, dù em có ra khỏi hành lang ký ức và rẽ qua con đường hướng tới tương lai, cơ thể em sẽ đầy đặn như chưa từng bị rách một miếng nào cả; và chỉ cần em nhắm mắt lại, căn phòng ký ức sẽ luôn hiện ra trọn vẹn, huy hoàng hệt như ngày đầu tiên”.

Thời gian không tuyến tính. Trước đây – bây giờ – sau này có thật sự được đo bằng tuổi tác sinh lý của chúng ta không? Có phải chúng không tách biệt mà luôn song song, đan xen, va đập không ngừng?

Tôi sẽ có gấp mười, hai mươi, ba mươi lần thời gian… để tiếp tục suy ngẫm về chúng.

https://youtu.be/hvFoVGXVaxs

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Đuổi theo ánh mặt trời

Tôi đã dành nửa giờ đồng hồ của buổi chiều tháng Hai để đuổi theo ánh mặt trời.

Published

on

Hoàng hôn giống như tuổi 20, thường trôi qua chỉ trong chớp mắt. Mặt trời chỉ tròn lẳn và dịu dàng trong mười mấy phút của buổi chiều tàn. Thế nên tôi đã chạy, chạy như điên quanh những cung đường ngoằn ngoèo của quận 2. Tôi lên cầu và xuống cầu, áo khoác bay phần phật trong gió, mắt dõi theo ánh mặt trời.

Tôi đi chậm lại ở một đôi chỗ, nhưng đó vẫn chưa phải địa điểm thích đáng nhất. Có vài người dừng để chụp ảnh, nhưng tôi không. Tôi tự gào lên trong tâm trí: “Không phải chỗ này, đây chưa phải chỗ tốt nhất”. Và cứ thế phóng đi vội vã.

Đuổi theo ánh mặt trời, cho đến hôm nay, lần cuối cùng tôi làm việc này là lúc nào?

Tôi không thể nhớ nổi, cũng như đã quên đi rất nhiều điều quan trọng khác.

Mặt trời trôi dần về phía Tây, ánh sáng màu cam rực lên rồi tỏa ra khắp thiên không và trên mặt nước. Tầng trời cao hơn phủ sắc xanh lam dịu, mịn và xưa cũ như nước ảnh màu của những năm 70.

“Trong khoảng thời gian mặt trời nằm ở phần thấp trên đường chân trời, quãng đường các tia sáng mặt trời phải chiếu xuyên qua bầu khí quyển dài hơn 30%. Những ánh sáng có bước sóng ngắn như tím và xanh da trời bị tán xạ nhiều, chỉ còn những ánh sáng có bước sóng dài hơn như vàng, da cam, đỏ ít bị tán xạ được truyền đến mắt người”. Đây là cách lý giải dễ hiểu về màu sắc hoàng hôn của thuyết tán xạ Rayleigh.

Còn đây, là cách tôi biết mặt trời hôm nay sẽ trôi dần về phía Tây từ bao giờ.

Khi nhìn về phía quả cầu lửa giữa Thái Dương hệ ấy, tôi cảm thấy bản thân thật trơ trọi. Giống như khi ngước mắt lên nhìn bầu trời với hàng triệu ngôi sao vào đêm hay tình cờ bắt gặp trăng xanh trên đường về nhà. Trong khoảnh khắc, cuộc đời tôi trở nên thật kém nghĩa lý.

Vũ trụ đã hình thành từ hàng chục tỷ năm trước và vũ trụ sẽ còn đó sau khi tôi chết rất lâu nữa. Mọi suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng, trải nghiệm… của tôi ở hiện tại này rồi sẽ hóa thành tro bụi và rã ra từng phân tử trong chỉ một thế kỷ. 

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi không còn là tôi hôm nay. Tôi lại là cô bé mười tuổi ngẩn ngơ dùng chiếc điện thoại nắp gập của bố chụp ánh hoàng hôn rơi trên cánh đồng. Bố đã dùng tấm ảnh ấy làm hình nền trong thời gian dài. Sau đó ông rời bỏ tôi. Và giờ đây ông trở về. Nhưng bức ảnh xưa đã vĩnh viễn mất đi cùng một phần con người tôi, không thể vãn hồi được nữa.

Ánh mặt trời của buổi chiều tàn ngự trị trong mọi mảng ký ức rời rạc về tuổi thơ. Những ngày Hè muộn khi đài tiếng nói cất lên tiếng nhạc hiệu não lòng, hoàng hôn chảy xuống sau những tán cây rậm rạp. Tôi bám lấy bức tường màu vàng tróc lở và mải miết nhìn về phía đó, mồ hồi nhớp nháp trên trán.

Ánh sáng hoàng hôn lướt qua ống điếu và đôi bàn tay đồi mồi của ông nội, tràn lên bộ lông đen óng của con Mun và phủ thêm lớp màu đỏ rực trên khoảnh sân gạch nung. 

Vài năm sau, tôi chảy nước mắt với 40 lần hoàng hôn xoay vòng ở hành tinh B612 của Hoàng Tử Bé. Cậu thật cô đơn.

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi thấy rõ hơn bao giờ cảm giác lạc lõng trong thế giới này. Chỉ có tôi và mặt trời đang dần biến mất sau những tòa nhà, những dãy núi, những cánh đồng…

Nhưng cảm giác lạc lõng ấy không đi kèm với nỗi buồn. Không có nỗi buồn nào cả. Chỉ có sự thanh thản.

Dù là trên cây cầu của thành phố phồn hoa nhất hay giữa nghĩa địa của một làng quê, hoàng hôn nhắc tôi nhớ rằng số mệnh cuối cùng của con người là đơn độc. Chúng ta đi qua chặng đường dài với những mối liên kết tạm bợ và chết một mình. Phía trước và phía sau đều như thế, vòng tròn rắn cắn đuôi của Auryn hay vòng tròn loang nét mực của Karma, không có gì đổi khác.

Thế nên cuối cùng, tôi dừng lại ở nơi thích đáng nhất và nghe trọn vẹn bản The Sower with Setting Sun của Clint Mansell. 

https://www.youtube.com/watch?v=kJ8sg9akQNI

Tôi chụp một tấm ảnh khi đã nguôi đi hơi thở gấp gáp vì vội đuổi theo ánh mặt trời, thong thả đi một vòng quanh thành phố này trước khi về tổ.

Có lẽ tài năng lớn nhất của tôi chính là tự xoa dịu bản thân, tự làm lành với quá khứ và không chờ đợi bất kỳ sự hỗ trợ khách quan nào khác. 

Năm mới của tôi đã bắt đầu như thế. Một mình, đuổi theo ánh mặt trời.

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng