Trà chiều

Ngôn tình & Đam mỹ: Khi độc giả trở thành dịch giả

Văn học mạng: thực sự có giá trị hay chỉ là trào lưu?

Published

on

Khoảng nhiều năm trở lại đây, dòng sách văn học lãng mạn mới của Trung Quốc xuất hiện nhiều trên kệ sách dành cho giới trẻ Việt Nam, mang tên văn học ngôn tình và đam mỹ. Hàng loạt đầu sách viết về tình yêu cùng những diễn biến tâm lý phức tạp khi đối mặt với tình yêu và cuộc sống hiện đại của thanh thiếu niên được xuất bản rầm rộ. Ít ai biết rằng nguồn gốc dẫn đến cơn sốt xuất bản này đến từ văn học mạng – nơi hàng nghìn bạn trẻ tự edit (tạm dịch là biên tập) tác phẩm nguyên bản tiếng Trung sang tiếng Việt dù không biết một chữ tiếng Trung nào, với mong muốn chia sẻ niềm đam mê đọc sách của mình đến với mọi người.

Thiếu sách đọc, độc giả tự làm dịch giả

Ngôn tình là sách viết về tình yêu giữa nam và nữ, đam mỹ viết về tình yêu giữa nam và nam. Một editor (người biên tập) biệt danh Nguyệt Cầm cho biết: “Ban đầu mình cũng chỉ là độc giả thôi, mình tìm đọc các tác phẩm ngôn tình và đam mỹ có sẵn trên mạng, cảm thấy rất thích thú và phù hợp với cảm xúc của bản thân. Sau đó mình tìm hiểu và phát hiện ra có nhiều bộ truyện hay mà chưa có ai edit sang tiếng Việt nên mình rất muốn làm. Mục đích chỉ là muốn chia sẻ câu chuyện hay ấy đến với nhiều người.” Từ đó, bạn bắt đầu các bước tìm hiểu trở thành một editor. Công việc edit một tác phẩm ngôn tình, đam mỹ Trung Quốc sang tiếng Việt là một quá trình đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn, vì hầu như các editor đều không biết tiếng Trung. Cũng vì lí do này mà các bạn tự gọi mình là người biên tập chứ không phải dịch giả.

Một editor trước hết phải tìm được bản thảo gốc bằng tiếng Trung của cuốn truyện mình muốn biên tập. Sau đó phải cài phần mềm Quick Translator – một phần mềm dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt vào máy, và thả bản thảo gốc vào phần mềm này để cho ra một văn bản tiếng Việt. Tuy nhiên văn bản dịch thô này có câu cú, ngữ pháp và ngôn từ rất lộn xộn. Lúc này người biên tập mới thực sự làm việc của mình là sắp xếp lại câu chữ của tác phẩm sao cho đúng nhất, thuần Việt nhất và chứa đựng rõ nét nhất văn phong của tác giả. Có một số trang web chứa nguồn bản thảo đã được Quick Translator dịch sẵn như tangthuvien.net, vnsharing.net v.v… editor chỉ việc vào đây lấy truyện về biên tập. “Trung bình khoảng vài ngày biên tập sẽ hoàn thành một chương truyện, còn tùy vào chương truyện ngắn hay dài và người biên tập chăm chỉ hay không nữa kia,” một editor khác tên Hạnh Như cho biết. Khi được hỏi động lực nào giúp các bạn chăm chú biên tập phi lợi nhuận như vậy, cả hai bạn đều cho biết hoàn toàn vì tình cảm yêu mến đơn thuần dành cho văn học mạng. Ngoài ra, yếu tố thiếu nhạy cảm của các nhà xuất bản khi không bắt kịp dòng chảy của văn học các nước cũng là một lí do khiến các bạn trẻ “tự mình dịch lấy” sách hay để đọc. Đây hoàn toàn là việc dấn thân vào một thế giới “văn học edit” mới vì dù không biết một chữ tiếng Trung nào, độc giả cũng có thể trở thành dịch giả.

Văn học edit phát triển mạnh mẽ với hàng nghìn editor đã đánh động cho các nhà xuất bản Việt Nam, và đó là lí do khiến hàng trăm đầu sách ngôn tình, đam mỹ xuất hiện ồ ạt trên kệ sách như Anh có thích nước Mỹ không?, Hẹn đẹp như mơ, Này những phong hoa tuyết nguyệt v.v… Đây là nguồn tìm kiếm sách hay mà các nhà xuất bản ngôn tình, đam mỹ thường “tham khảo và thử phản ứng của độc giả trước khi quyết định mua bản quyền về dịch lại, xuất bản ra thị trường,” đại diện Công ty Cổ phần Sách Bách Việt cho biết. Nói cách khác, văn học mạng đã dẫn đường cho ngôn tình, đam mỹ bước vào xuất bản nước ta.

Văn học mạng: thực sự có giá trị hay chỉ là trào lưu?

Các editor và các độc giả đều tự nhận định rằng ngôn tình và đam mỹ chỉ mang tính chất giải trí. Chúng là những câu chuyện nhẹ nhàng với văn phong giản dị, đôi khi hơi mơ mộng nhưng cũng chứa đựng nhiều bài học sâu sắc về cuộc đời, lại dễ khiến người đọc đồng cảm và giúp họ phần nào giải tỏa được cảm xúc của bản thân. Vì giá trị đó, một lợi ích không thể chối cãi của phong trào này là thúc đẩy lòng ham mê đọc sách trong giới trẻ và giúp nền văn học mạng phát triển. Nền văn học nước ta nhìn chung buồn tẻ vì người trẻ không hề đọc sách, thay vào đó họ đi cafe, xem phim, lướt web mua sắm… Việc những câu chuyện hay, giản dị, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người đến với nhiều độc giả sẽ khơi gợi ở họ hứng thú với sách và năng động hơn là biên tập sách.

Không chỉ vậy, nó còn giúp cho không ít người trẻ bắt đầu mày mò việc tự sáng tác truyện. Lê Thị Phượng Nhung, admin một diễn đàn có hoạt động tự sáng tác truyện sôi nổi cho biết: “Mình bắt đầu có hứng thú viết truyện từ sau khi đọc ngôn tình. Sau những lúc làm việc mệt mỏi, đối mặt với xã hội hiện thực thì ngôn tình nhẹ nhàng giúp mình thư thả hơn nhiều, có thêm niềm tin rằng vẫn còn có người tốt đang chờ đợi mình phía trước.” Cô cho biết việc yêu thích tiểu thuyết ngôn tình, đam mỹ… đã giúp mình có kiên nhẫn hơn trong việc sáng tác truyện dài: cứ mỗi ngày sau giờ làm, cô đều viết và mất khoảng một tuần cho một chương truyện chừng 10 trang A4. Đến nay, Nhung đã hoàn thành hơn 20 chương truyện. Quỳnh Vy, sinh viên năm cuối trường Đại học Mở – một tác giả được nhiều bạn trẻ yêu thích lại cho rằng điểm hấp dẫn ở thể loại tiểu thuyết này là “lời thoại và những đoạn đặc tả nội tâm dễ khiến người đọc đồng cảm với thực tế và dễ đi vào lòng người”. Tuy nhiên, cô cũng tự nhận ra những ảnh hưởng không tích cực khi đọc quá nhiều ngôn tình: “Ảnh hưởng đầu tiên là thế giới và tình yêu trong phần nhiều truyện đều quá đẹp, khi đọc xong hầu như ai cũng có cảm giác lâng lâng mơ mộng, với tầm lớn như mình thì đủ lý trí để kiểm soát nhưng một số các em nhỏ hơn dễ ảnh hưởng đến thế giới quan, có những ảo tưởng không thật về cuộc sống, hạn chế sự phấn đấu của cá nhân.”

Tình yêu đối với ngôn tình, đam mỹ và các hoạt động sôi nổi của các nhóm, hội, diễn đàn này phần nào giúp các bạn trẻ đam mê sáng tác hơn, đồng nghĩa với việc giúp cho văn học mạng Việt Nam có thêm yếu tố phát triển. Nguyễn Lệ Chi, Giám đốc Công ty sách Chibooks cho biết: “Việc các bạn trẻ tự edit truyện cho thấy nhu cầu đọc rất lớn đối với dòng văn học này, trong khi các nguồn xuất bản trong nước không đáp ứng kịp điều đó. Việc tự edit truyện và phát tán trên mạng cho thấy mặt tích cực là giúp độc giả nhanh chóng tiếp cận được tác phẩm hay đồng thời kích thích được hứng thú đọc sách đối với một dòng văn học nhất định. Mặt tiêu cực của việc làm này là chúng ta không thẩm định được chất lượng dịch của tác phẩm khi đến tay bạn đọc.”

Bên cạnh đó, nhiều nhóm edit vướng phải vấn đề rắc rối về tác quyền khi những tác phẩm họ edit được nhà xuất bản mua bản quyền từ chính tác giả để dịch lại và xuất bản. Tiểu Châu, một thành viên sáng lập một hội rất nổi tiếng trong cộng đồng giới trẻ tự edit truyện trên mạng cho rằng khi những nhà xuất bản đã mua bản quyền, các nhóm dịch cần phải tự giác xóa đi và ngừng phát tán bản dịch của mình trên mạng, hoặc chỉ lưu lại 20-30% nội dung để kích thích người đọc mua sách ủng hộ tác giả, ủng hộ vấn đề bản quyền.

“Văn học đam mỹ, văn học ngôn tình là hai thể loại nằm trong dòng chảy văn học lãng mạn đương đại Trung Quốc. Cả hai đều có nguồn gốc phát triển là văn học mạng. Ngôn tình là những chuyện kể  viết về tình yêu giữa nam và nữ, đam mỹ viết vể tình yêu giữa nam và nam. Bối cảnh và nhân vật trong hai thể loại này vô cùng đa dạng, ngoài hai bối cảnh chính là cổ đại và hiện đại còn có xuyên không (người hiện đại lạc về thời cổ đại và ngược lại), võng du (những câu chuyện phát sinh từ các trò chơi trên mạng), huyền huyễn (viết về thần tiên)… Đa số ngôn tình và đam mỹ là do các tác giả trẻ sáng tác, do đó thấm nhuần tư tưởng và tình cảm cùa thanh niên hiện đại Trung Quốc cũng như được thanh thiếu niên các nước cùng khu vực yêu mến.”

Hết.

Trang Trần – Kodaki


Bài viết cùng chủ đề


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng