Trà chiều

Truyền thống tặng quà dịp Giáng Sinh: Một “phát minh” của ngành xuất bản sách

Sự hòa hợp hiếm hoi giữa tính đồng bộ và tính linh hoạt khiến sách in trở thành món hàng tặng hoàn hảo.

Published

on

HOW THE BOOK BUSINESS INVENTED MODERN GIFT-GIVING

Michael Bourne

Dân phương Tây ai cũng từng trải qua tình huống sau: Đêm nay là Giáng Sinh, và bạn đang trù tính quà tặng cho những cái tên cuối cùng trong danh sách. Có lẽ bạn cần một món quà để tặng cho gã sếp khó-chiều. Hoặc cho cậu cháu trai ba tuổi bạn chưa từng gặp mặt. Hoặc cho gã bạn trai mới của mẹ bạn – người mà bạn ước giá như mình không bao giờ phải gặp mặt. Hoặc có lẽ cho cả ba. Bạn lần mò trên mạng và lùng sục trong khu mua sắm. Bạn cân nhắc qua những hộp thủy tinh tại cửa hàng trang sức, thử nghiệm những thiết bị mới toanh tại phòng triển lãm công nghệ, nhưng bạn vẫn tắc tị và chẳng biết nên tặng cái chi.

Và đột nhiên bạn nhớ ra: Ồ, dĩ nhiên rồi, mình có thể đến nhà sách mà.

Nếu bạn cũng đang trải qua tình huống này trong mùa lễ hội cuối năm, lùng sục những giá sách tại nhà sách địa phương để tìm kiếm quà tặng, bạn có thể ít nhiều cảm thấy chút an ủi khi biết rằng, mình đang dự phần vào một truyền thống mang tính thương mại có lịch sử đến gần hai trăm năm.

Hóa ra, sách không chỉ là một trong những món quà Giáng Sinh đầu tiên được sản xuất đại trà; ngành kinh doanh sách còn đóng vai trò trung tâm trong việc biến Giáng Sinh trở thành một ngày lễ được thương mại hóa như ngày nay. Stephen Nissenbaum viết trong cuốn sách lịch sử xã hội The Battle for Christmas (tạm dịch: Cuộc chiến vì Giáng Sinh) rằng “Ngành xuất bản và bên bán sách là những người đi đầu trong việc tận dụng – và phát triển – mậu dịch Giáng Sinh. Và sách đi đầu trong công cuộc thương mại hóa Giáng Sinh; trong những ngày đầu, sách chiếm đến quá nửa trong hạng mục hàng hóa được quảng cáo với tư cách quà Noel.”

Bắt đầu từ những năm 1820, khi Giáng Sinh vẫn chủ yếu là một ngày kỷ niệm tôn giáo và yến tiệc, những nhà xuất bản đã tiên phong đưa ra ý tưởng lựa chọn hàng hóa sản xuất đại trà để làm quà tặng, phát minh ra một thể loại sách hoàn toàn mới là Gift Book (Sách Tặng), ra đời để tặng những người thân thương trong dịp Giáng Sinh. Gift Book thường là tuyển tập thơ, truyện hư cấu, tiểu luận và tranh vẽ, nội dung từng tập được đo ni đóng giày để thu hút một nhóm đối tượng nhất định. Nissenbaum viết, “Gift Book luôn sẵn có ở mọi mức giá và dành cho từng nhóm khách hàng mục tiêu tưởng tượng được – nhóm nhân khẩu học, tôn giáo, chính trị, và văn hóa. Có Gift Book dành cho trẻ em (thậm chí là bé trai và bé gái riêng biệt), trai trẻ, bà mẹ, những người ủng hộ sự dân chủ kiểu Andrew Jackson, người ủng hộ phái trung dung và bãi nô, thậm chí là khách hàng thành viên của các câu lạc bộ thoát y.”

Vào thời điểm bấy giờ, cái ý tưởng tặng quà không phải là đồ handmade thực sự quá mới mẻ và lạ lẫm, đến mức những nhà xuất bản Gift Book phải in mục “gửi tặng” đặc biệt tại trang sách đầu tiên để người mua có thể cá nhân quá món quà với một câu đề tặng, khẳng định cuốn sách dành cho ai và lý do nó được tặng. Nissenbaum ghi chú tỉnh bơ, “Có thể nói, Gift Book là đại diện cho sự ‘thương mại hoá lòng thành.’”

“Có thể nói, Gift Book là đại diện cho sự ‘thương mại hoá lòng thành.’”

Đến những năm 1860, khi hàng hóa sản xuất hàng loạt trở nên phổ biến hơn, mục đề tặng hóa ra lỗi thời, và ngày nay chẳng ai thèm xuất bản những tuyển tập văn chương dành riêng cho lễ hội nữa. Nhưng sách tặng Giáng Sinh vẫn là rường cột trong ngành xuất bản hiện đại, lý do tương tự như việc Gift Book trở nên phổ biến trong hai thế kỷ trước. Sách là hàng hóa nhỏ nhẹ, giá cả mềm, sản xuất đại trà với kích thước và hình dạng tương đương, tuy nhiên, bởi vì mỗi tựa sách là độc nhất, người tặng có thể chọn một cuốn sách phù hợp với gu thưởng thức của bất kỳ ai nằm trong danh sách tặng quà của mình. Sự hòa hợp hiếm hoi giữa tính đồng bộ và tính linh hoạt khiến sách in trở thành món hàng tặng hoàn hảo, phát biểu từ quan điểm thương mại.

Nhưng bí mật thực sự làm nên sự phổ biến trường tồn của sách trong dịp Giáng Sinh chính là cách sách đã giải quyết gọn gàng phương trình cảm xúc phức tạp nằm tại trọng tâm hành vi tặng quà. Bất cứ một món quà Giáng Sinh thành công nào cũng đưa cho người nhận một cái gì đó mà người ấy muốn, nhưng quà tặng cũng đồng thời có vai trò như bằng chứng hữu hình, minh chứng cho mối gắn kết cảm xúc giữa người tặng và người nhận.

“Sự hòa hợp hiếm hoi giữa tính đồng bộ và tính linh hoạt khiến sách in trở thành món hàng tặng hoàn hảo, phát biểu từ quan điểm thương mại.”

Thử ví dụ xem nào, bạn là bà nội có cậu cháu trai mơ ước trở thành nhà thiết kế thời trang. Bạn có thể mua quần áo cho cậu bé, nhưng bạn không chỉ cần biết số đo của cậu, bạn cần phải am hiểu gu thời trang của cậu – cái gì ngầu, cái gì không – và đây là điều mà đa số mọi người, không chỉ riêng các bà nội, khó khăn lắm mới phân biệt được.

Bạn có thể tặng cho cậu bé một phiếu mua hàng có thể sử dụng tại cửa hàng thời trang, và có thể đây là điều mà cậu bé muốn, nhưng theo tiêu chuẩn quà tặng thì món này quá đỗi bàng quan. Ý nghĩa của nó là “Bà yêu cháu, nhưng bà không hiểu cháu lắm. Tiền đây.” Nhưng sau một chuyến du ngoạn đến nhà sách, bạn có thể mua cuốn tiểu sử của nhà thiết kế cậu bé yêu thích, cùng với một vài sách về hoa văn thêu may và phiếu mua hàng dùng tại một cửa tiệm vải. Ở trang trong, bạn còn có thể cá nhân hóa quà tặng bằng dòng ghi chú, “Ngày nào đó trong tương lai, bà biết cả thế giới thời trang sẽ đọc những cuốn sách viết về cháu.”

Nhân đôi những viễn cảnh này qua những tập hợp người rộng lớn và đa dạng trên danh sách tặng quà của hầu hết mọi người trong ngày Giáng Sinh, bạn sẽ hiểu vì sao sách vẫn là một món quà Giáng Sinh phổ biến. Trong một nhà sách, bạn có thể tìm thấy quà cho bất kỳ ai: người dì cựu-rocker ngầu tại Seattle (Carrie Brownstein vừa ra mắt cuốn tiểu sử mới, Hunger Makes Me A Modern Girl (tạm dịch: Cơn đói làm nên cô gái hiện đại trong tôi), ngay mùa thu này); người họ hàng muốn trở thành nhà văn (tác phẩm 900 trang của Garth Risk Hallberg vừa nhận được các review tốt); bạn gái mới của anh trai bạn – người mà bạn hầu như chẳng biết chút gì, ngoại trừ chuyện chị ấy nướng bánh torte hạnh nhân siêu ngon (The Baking Bible (tạm dịch: Thánh kinh nướng bánh) của Rose Levy Beranbaum có vẻ ngon lành), và một đám cháu trai cháu gái tuổi đến trường (Percy Jackson của Rick Riordan không thể là lựa chọn sai được).

Dĩ nhiên, những giám đốc xuất bản và giám đốc bán hàng tại nhà sách nắm rõ điều này và đưa ra những kế hoạch tỉ mẩn trong mùa Giáng Sinh – một trong những mùa vụ bội thu nhất. Tại Powell’s Books ở Portland (Oregon) – một trong những nhà sách độc lập lớn nhất nước, doanh thu trong tháng Mười Hai gấp đôi mức trung bình những tháng còn lại, và ngày bận rộn nhất trong năm là ngày 22 hoặc 23 tháng Mười Hai, theo như Miriam Sontz, CEO của Powell’s. Đối với cả ngành, gần một phần tư doanh thu sách cả năm diễn ra trong tháng Mười Một và Mười Hai (Richard Rhorer, phó chủ biên tại Simon & Schuster trích dẫn số liệu từ Neilsen BookScan).

Nhân viên bán hàng Shawn Donley từng làm việc tại nhà sách Powell’s trong 14 năm. Anh tận mắt chứng kiến những cuộc tranh cướp mua quà Giáng Sinh hàng năm. Donley, người từng giám sát việc thu mua sách mới trong cửa hàng, nói “Thời điểm càng gần tới Giáng Sinh, bạn có thể cảm nhận sự tuyệt vọng cũng tới gần. Bạn có thể nhìn thấy điều đó trong mắt mọi người. Khi nhà sách mở cửa vào đêm Giáng Sinh, đó cũng là khi tâm bão đến. Mọi người chạy loạn xạ trong nhà sách, phát điên lên. Họ cứ chộp lấy bất cứ thứ gì.”

Để tận dụng đám đông lễ hội, nhà xuất bản phải sẵn sàng ra mắt sách mới từ những tác giả tên tuổi nhất ngay mùa Giáng Sinh (bắt đầu vào tháng Mười và kết thúc vào tháng Mười Một trong thế giới xuất bản); trong thời điểm này, không gian bán lẻ tiêu điểm trong đa số cửa hàng đều đã bị chiếm chỗ. Hầu như không có sách mới được phát hành trong tháng Mười Hai. Rhorer giải thích, “Chúng tôi phụ thuộc vào bên bình sách và phía truyền thông để thông báo cho khách hàng rằng có một cuốn sách mới vừa ra mắt, nhưng trong mùa lễ hội mọi người thường bị xao nhãng. Họ phải đi mua sắm, tiệc tùng, ăn tối, du lịch cùng gia đình, và thường rất khó để nắm bắt được sự tập trung của mọi người trong tháng này.”

Nhưng nếu dòng lũ người mua sắm Giáng Sinh nâng những con thuyền văn chương, ngành xuất bản biết rằng có một số sách bán chạy hơn hẳn những cuốn còn lại trong mùa lễ hội. Ví dụ, theo như Donley, 70 phần trăm tất cả sách nấu ăn đều được xuất bản trong quý cuối cùng trong năm hay trong mùa Giáng Sinh. Sách minh họa trưng bàn café cũng đồng thời là sách bán chạy, cũng như sách hài hước và sách dành cho trẻ em.

Tất cả những dòng sách trên, nói theo cách nào đó, là phiên bản đương đại của Gift Book thế kỷ 19, là những bản trích yếu với ngoại hình đẹp đẽ chứa đầy những thông tin giải trí và hữu dụng nhắm đến một phân khúc khách hàng tuyển chọn kỹ càng trong danh sách người nhận quà thường gặp. Cộng thêm một phần đề tặng, nêu ra sách dành cho ai và vì sao, bạn vừa du hành ngược về 1825.

Không phải sách nào cũng có thể làm quà tặng, và dĩ nhiên, những người trong ngành kinh doanh biết rằng một số dòng sách bán chạy lâu năm thường có xu hướng đi xuống trong mùa lễ hội. Ví dụ, sách ăn kiêng thường ì trệ trên kệ trong tháng Mười Hai, cũng như đa số sách self-help và đầu sách tài chính cá nhân. Rhorer nói, “Chẳng ai thích một món quà bảo rằng, ‘Đây, thu xếp lại đời sống tài chính của bạn cho ra hồn đi.’”

Sau mùa lễ hội, doanh thu bán hàng tại nhà sách một lần nữa tăng lên, nhưng bây giờ khách hàng đi mua sách cho chính mình, thường với phiếu mua hàng họ được tặng. Một vài năm trước đây, khi Kindle và iPad vẫn là những thứ mới mẻ, mọi người tặng cho nhau những thiết bị này và nhà xuất bản chứng kiến doanh thu bán hàng trực tuyến có bước tăng đột phá trong tháng sau Giáng Sinh, khi độc giả tải sách xuống thiết bị mới của họ. Xu hướng này có vẻ giảm dần khi thị trường thiết bị đọc trở nên bão hòa, nhưng tại Powell’s – địa điểm bán cả sách mới và sách cũ, doanh thu sách mới tăng trước mùa lễ hội và giảm sau đó. Donley giải thích, “Khi bạn mua sách cho ai đó làm quà, bạn không muốn tặng họ sách dùng rồi. Sau Giáng Sinh, khi người ta bước vào cửa hàng với phiếu mua hàng, họ mua cho chính mình, và như thế doanh thu sách cũ lại tăng lên.”

Vì vậy, Giáng Sinh này, nếu bạn thấy mình đang chọn sách minh họa bàn café tặng cho người thân yêu hoặc bộ boxset Dr. Seuss cho thành viên mới nhất trong gia đình, hãy nhớ rằng bạn đang tham dự một truyền thống thương mại tồn tại từ những ngày đầu tiên của lễ hội Giáng Sinh hiện đại.

Hết.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Michael Bourne, đăng tại Literary Hub.

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng