Từ Sách đến Phim

Ring (1998)

The Ring và sự trì hoãn suốt 10 năm.

Published

on

tặng South

The Ring và sự trì hoãn suốt 10 năm

Ring (1998) là phim tôi đã luôn muốn xem nhưng không có can đảm để xem một mình. Tôi vẫn còn nhớ vào mùa hè năm lớp 10 hay 11, hoặc thậm chí có thể là năm cấp 2, một người bạn đã rủ tôi xem phim The Ring (2002) phiên bản của Mĩ vì bạn ấy không dám xem phim này một mình. Một buổi chiều tối nào đó, tôi đã qua nhà bạn ấy và thưởng thức bộ phim này trên máy tính của bạn. Tôi nhớ rằng lúc đó mình đã rất hoảng sợ. Tôi thường xuyên la hét và đoạn cuối phim kinh điển làm tôi thót tim. Nhưng cảm giác khi đó là dù rất sợ nhưng thấy đã, có một chút gì đó hưng phấn khi đã vượt qua được cả bộ phim.

Tuy vậy, khi về nhà một mình, tối đó tôi đã mất ngủ. Và tôi bị ám ảnh bởi bộ phim gần hai, ba tháng sau đó. Tôi thấy sợ khi đứng trước bất kì chiếc tivi màu đen nào chưa được bật lên. Thậm chí, điều buồn cười hơn là tôi còn rất sợ những vòng tròn mà khi ấy, tôi lại đang học hình học ở trường, phải sử dụng compa và giải toán với hình tròn rất nhiều. Thế là tôi cố gắng giải quyết những bài toán hình học ngay khi còn ở trường để về nhà chỉ làm toán số học. Lỡ như có hôm nào không kịp giải một bài toán hình nào đó có liên quan đến hình tròn, đến lúc tối về nhà mới làm, tôi sẽ cảm thấy lạnh run gáy ở phía sau khi bắt đầu dùng compa xoay đường tròn, tôi thường xuyên phải quay đầu ra sau để kiểm chứng nỗi sợ hãi của mình.

Tôi rất yêu toán học và nỗi ám ảnh The Ring đã đem lại cho tôi có nguy cơ khiến tôi không thể tập trung giải quyết những bài toán phức tạp liên quan đến hình tròn. Khoảng thời gian ấy, tôi đã phải luôn tự động viên mình liên tục bằng câu nói của Hamlet trong đầu: “Con ma đáng sợ nhất chính là trí tưởng tượng của con người.” Dần dần, tôi lại quen với hình tròn và có thể giải toán bình thường. Nhưng đó là cả khoảng thời gian dài ám ảnh đến mức đến bây giờ, sau rất nhiều năm, tôi vẫn còn nhớ được ngày ấy mình đã bị nỗi sợ đó ảnh hưởng đến cuộc sống như thế nào.

Sau đó, tôi có tìm hiểu và biết được bản The Ring của Mĩ chỉ là bản làm lại từ Ring – hay Ringu theo cách đọc tiếng Anh của người Nhật. Rất nhiều người nói với tôi rằng bản Ring (1998) mới là đỉnh cao của nỗi sợ hãi, The Ring của Mĩ so ra chẳng là gì so với bản gốc, rằng khi xem The Ring thì họ không sợ nhưng xem Ring họ lại rất sợ. Nhận xét này khiến tôi trì hoãn việc xem Ring đến tận 10 năm trời. Và có lẽ, tôi sẽ không bao giờ có thể xem Ring nếu như không có sự trợ giúp của bạn tôi. Tôi muốn cảm ơn bạn rất nhiều vì đã giúp tôi mở chiếc hộp Pandora khiến tôi luôn lấn cấn bấy lâu nay trong lòng để rồi khi mở ra, tôi nhận thấy bên trong chiếc hộp đó, không chỉ có những thứ ghê sợ mà người ta vẫn thường nói, không chỉ có tai họa và tai họa; bên trong chiếc hộp đó còn có tình người, sự ấm áp mà tôi đã không ngờ tới.

Cảm xúc của tôi ngay khi vừa xem xong Ring không phải là nỗi sợ hãi tràn ngập mà là… chưng hửng. Tôi chưng hửng vì hóa ra phim không đáng sợ như tôi đã hình dung suốt 10 năm qua. Thậm chí, tôi còn có cảm giác ngược lại với rất nhiều người là Ring của Nhật không đáng sợ bằng The Ring của Mĩ. Nghe có vẻ vô lí nhưng sự thật là thế. Ring không khiến tôi la hét nhiều, tim đập nhanh, tay chảy mồ hôi lạnh, mắt chỉ muốn nhắm lại ở một số phân đoạn như bản The Ring của Mĩ. Tôi tự hỏi rằng có phải nguyên nhân là do tôi đã xem bản của Mĩ trước nên biết hết nội dung và không còn sợ do hồi hộp khi xem bản của Nhật nữa? Hay là do tôi đã chờ đợi một dịp để xem phim này quá lâu nên nỗi sợ hãi về phim mà tôi tưởng tượng trong đầu qua năm tháng đã lớn hơn rất nhiều so với nỗi sợ thực tế trong phim? Hoặc là tôi đã bị những hình ảnh đáng sợ nhất trong Ring ám ảnh quá đủ sau khi xem xong The Ring? Dù vậy, tôi không hề cảm thấy thất vọng khi bộ phim không khiến tôi sợ hãi như mong đợi bởi tôi đã tìm ra được những vẻ đẹp khác trong phim. Chính vì lí do đó, trong bài viết này, tôi sẽ không viết nhiều về nỗi sợ hãi Ring đã mang lại cho tôi, tôi sẽ viết về những vẻ đẹp khác mà mình đã tìm thấy khi xem phiên bản gốc của Nhật.

Cảnh báo: Bài viết tiết lộ một số tình tiết quan trọng của phim.

Những tình cảm ấm áp trong thế giới đáng sợ

Ring mở đầu bằng phân cảnh có Takeuchi Yuko (Tomoko) trò chuyện cùng một người bạn về việc cô đã xem một cuốn băng kì lạ. Phân cảnh này khiến tôi rất phấn khích vì nghĩ rằng Yuko đóng vai chính nhưng hóa ra lại không phải, nàng đã chết ngay sau đó. Việc này là do tôi bị nhầm lẫn thông tin, không hiểu sao tôi luôn có cảm giác Yuko đóng vai chính trong phim này. Nhưng Ring là một trong những phim đầu tiên nàng đóng, khi ấy nàng chỉ mới 18 tuổi, tôi được nhìn thấy khuôn mặt nàng thời còn trẻ, nàng thật đáng yêu. Tuy nhiên, sự tiếc nuối của tôi cũng không kéo dài bởi ngay sau đó là sự xuất hiện của Reiko – nhân vật chính trong phim do Matsushima Nanako thủ diễn. Lần đầu tiên nhìn khuôn mặt nàng trên khung hình tôi đã ngỡ ngàng bởi nàng quá đẹp. Tôi tự nhủ tại sao mình có thể không biết đến một diễn viên Nhật xinh đẹp như thế này? Sau khi xem xong Ring, tôi đã tìm kiếm thông tin và biết được hóa ra nàng là diễn viên chính trong Kaseifu no Mita – một trong những phim truyền hình có rating cao nhất ở Nhật với tập cuối đạt mốc rating đến 40%. Trong Ring, đôi lúc Nanako diễn hơi cường điệu ở một số đoạn như sợ hãi hay lo lắng cho Yoichi. Tuy vậy, xét trên mặt bằng chung của phim thì nàng diễn khá ổn.

Bây giờ, tôi sẽ bàn đến điều khiến tôi bất ngờ nhất trong Ring. Đó chính là Hiroyuki Sanada, anh thủ vai Ryuji – chồng cũ của Reiko trong Ring. Hiroyuki không phải là gương mặt xa lạ với tôi. Trước Ring, tôi đã xem những phim anh đóng như: 47 Ronin, The Wolverine, Speed Racer… Đó là những vai diễn của anh sau Ring và tôi đã không có nhiều ấn tượng với anh từ những phim này. Chính vì thế, khi xem Ring – phim anh đóng nhiều năm trước đó, tôi cảm thấy rất bất ngờ với diễn xuất và sắc thái anh đã tạo ra cho nhân vật. Chưa bao giờ, tôi lại thích một nhân vật nam trong phim đến thế kể từ sau nhân vật Sakutaro do Kusanagi Tsuyoshi thủ diễn trong 1778 Stories of Me And My Wife. Nhân vật Ryuji trong Ring do Hiroyuki diễn toát ra thần thái điềm đạm, bình tĩnh, ít nói nhưng chân thành và đáng tin cậy. Lần đầu tiên khi anh xuất hiện, tôi đã nghĩ sao anh có vẻ lạnh nhạt với vợ cũ như thế, anh nghe chuyện của Reiko với thái độ bề ngoài dường như thờ ơ. Thế nhưng, anh lẳng lặng xem hết cuộn băng nguyền rủa đó, anh bảo Reiko chép ra một bản để mình tự nghiên cứu, anh xem thật kĩ cuộn băng ở nhà, trả đi trả lại những đoạn cần lưu ý, bình tĩnh phân tích giọng nói mang ngữ âm địa phương và những chữ Hán hiện trên màn hình đúng như phong cách một giáo viên toán học. Anh luôn có mặt lúc Reiko cần đến, anh lúc nào cũng mang lại cho tôi cảm giác an toàn, vững chãi. Tình yêu của anh là như thế. Không nói nhiều, chỉ lẳng lặng hành động. Trong Ring, có hai cảnh anh làm tôi xao xuyến: cảnh anh ngồi trên thuyền với Reiko, khi cô hoảng sợ, anh đã ôm cô vào lòng; cảnh anh không hề sợ hãi, bình tĩnh trèo xuống giếng để tát cạn nước, tìm xác của Sadako, khi anh thấy Reiko có dấu hiệu mệt và cô ngất xỉu, anh đã động viên cô, nói cô phải nghĩ đến Yoichi. Tôi đã suy nghĩ một người đàn ông tuyệt vời như thế tại sao Reiko lại li dị? Nhưng rồi, tôi không khó khăn lắm để tìm ra câu trả lời. Tôi nghĩ rằng có lẽ nguyên nhân là do năng lực đặc biệt anh sở hữu và chính sự trầm tĩnh, ít nói của anh khiến Reiko đôi khi không hiểu được anh đang nghĩ gì, cô khổ sở vì không thể cảm nhận tình yêu của anh một cách rõ ràng. Có lẽ là như thế. Tôi đã rất mong cùng với việc tìm hiểu về Sadako và cách phá giải lời nguyền, Ring sẽ phần nào hé lộ sâu hơn về mối quan hệ giữa Ryuji và Reiko. Nhưng cuối cùng, phim không nói rõ nguyên nhân họ li dị cũng như họ đã yêu nhau như thế nào. Tuy vậy, với bấy nhiêu việc mà Ryuji làm cho Reiko, thậm chí đến cuối cùng việc anh hi sinh vì cô đã đủ khiến tôi cảm nhận tình yêu của anh, khiến tôi thấy rằng Ring không chỉ là một phim kinh dị, Ring còn có một chủ đề nữa là tình yêu – điều tôi đã không cảm nhận được khi xem bản The Ring của Mĩ.

Tôi luôn hi vọng rằng sau khi đã cùng nhau vượt qua một chuyện kinh khủng như thế, Ryuji và Reiko sẽ quay lại với nhau. Thế nhưng, cái chết của anh đã chấm dứt tất cả. Thậm chí trước khi anh chết, tôi đã biết được hai người không thể quay lại với nhau qua chi tiết anh nhìn tấm bảng ghi bài giải toán học mà cô học trò đã cố tình sửa sai rồi mỉm cười và sửa lại cho đúng. Dường như trong khoảng thời gian anh li dị với Reiko, anh đã nảy sinh mối quan hệ với người học trò ấy. Khi anh chết, người học trò khóc rất nhiều. Tôi không giận anh vì đã tiến thêm một bước bởi anh là người quá cô độc, anh thậm chí còn bị chính con trai của mình lẩn tránh. Chỉ là, tôi buồn một chút vì cuộc sống vẫn luôn cứ tiếp diễn. Nhưng Ryuji không bỏ đi hoàn toàn. Anh vẫn ở bên Reiko. Anh tiếp tục soi sáng vấn đề nàng hoang mang ngay cả khi đã qua đời.

Ring không chỉ có tình cảm giữa vợ và chồng, giữa mẹ và con, phim còn có tình người. Phân cảnh Reiko xuống giếng tìm xác Sadako trong tuyệt vọng để rồi khi phát hiện ra mái tóc và bộ xương khô, cô đã khóc rất nhiều. Cảnh cận quay bộ xương khô của Sadako với dòng nước chảy ra từ trong hốc mắt khi ấy đã khiến tôi thấy buồn thương cho Sadako nhiều hơn là giận dữ. Cái ác của Sadako là cái ác có lí do. Chính cha ruột của cô đã giết cô, bỏ mặc cô đến chết ở giếng sâu hoang lạnh này. Không một ai phát hiện ra và cứu cô. Cô đã chết dần chết mòn dưới giếng. Ta làm sao có thể trách cô được khi cô đem lòng thù ghét loài người, muốn giết càng nhiều người càng tốt? Những dòng nước chảy ra từ hốc mắt ấy như thể Sadako đang khóc. Và Reiko đã ôm cô vào lòng. Như một người mẹ. Như một người bạn. Như một người muốn cứu chuộc lại lỗi lầm của con người. Tôi đã cảm nhận được sự ấm áp ở phân cảnh đó. Nhưng Sadako không cảm nhận được. Bấy nhiêu đó không đủ để nguôi đi lòng thù hận trong cô. Cô vẫn tiếp tục giết người, tội ác vẫn tiếp tục diễn ra. Cảnh cuối phim Ring như một sự thỏa hiệp của Reiko trước cái ác để cứu con mình khiến thông điệp phim càng trở nên mạnh mẽ hơn. Đôi khi, chúng ta sẵn sàng phạm tội ác vì nghĩ rằng mình có lí do chính đáng. Và cái ác đã cứ tiếp diễn rồi nhân rộng lên theo cách như thế.

Ở đoạn đầu của phim, Ring liên tục đánh lừa khán giả về nhân vật chính thực sự. Ngay từ những phân cảnh đầu tiên, người xem dễ có cảm giác Tomoko là nhân vật chính, cô sẽ tự mình hóa giải lời nguyền. Nhưng rồi, cô chết ngay sau khi vừa xuất hiện vài phút. Và Reiko xuất hiện. Reiko thực sự là nhân vật chính của phim nhưng sau đó nàng lại nhờ đến sự giúp đỡ của Ryuji. Kể từ khi Ryuji xuất hiện, ta lại có cảm giác anh mới là nhân vật chính vì Reiko khá thụ động, cô hoàn toàn dựa dẫm vào anh. Nhưng ở những phân đoạn sau cùng, Reiko lại là người chủ động/hay bị buộc phải chủ động để giải quyết vấn đề. Như vậy, cô quả thực là nhân vật chính. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ có cảm giác lẽ ra Ryuji mới là nhân vật chính.

Ring của Nakata

Điều khiến tôi không sợ Ring của Nhật bằng The Ring của Mĩ là phiên bản của Nhật không cố gắng dọa ma khán giả chỉ vào ban đêm. Thông thường, một phim kinh dị sẽ tập trung thời lượng vào ban đêm – thời điểm được cho rằng linh hồn ma quỷ hoạt động nhiều nhất để kể chuyện, tạo sự sợ hãi cho khán giả. Những phim kinh dị mà tôi đã xem có thời lượng nghiêng hẳn về ban đêm chiếm đến mức khoảng 80%, trong khi những cảnh ban ngày có lẽ chỉ vào khoảng 20%. Nhưng Ring thì không như thế. Thời gian câu chuyện diễn ra trong Ring dường như chia đều cho cả ngày và đêm. Ring không khiến người xem hoảng sợ bằng cách cho Sadako thoắt ẩn thoắt hiện để dọa ma trong bóng tối, thậm chí cảnh gây sợ hãi quan trọng nhất của Ring còn diễn ra vào ban ngày với ánh nắng chói chang hắt bên ngoài khung cửa sổ. Ngược lại, Ring chủ yếu dùng thủ pháp time bomb để tạo cảm giác hồi hộp cho khán giả với những mốc thời điểm đếm ngược mà Reiko sẽ chết, Ryuji sẽ chết, Yoichi sẽ chết. Làm phim kinh dị nhưng lại không lạm dụng đến máu me, bóng tối, những cảnh gây sợ hãi kinh điển – tôi cho rằng đây là những điểm nổi bật đáng khen của đạo diễn Hideo Nakata. Ring dưới bàn tay của Nakata giống như phim trinh thám có pha yếu tố tình cảm, siêu nhiên huyền bí nhiều hơn là kinh dị thuần túy. Tôi rất thích cách Nakata xử lí cảnh Reiko ở dưới giếng. Tôi nhớ rằng trong phiên bản Mĩ, đạo diễn Gore Verbinski đã cố xử lí cảnh này theo hướng ghê rợn hơn và những đoạn hồi tưởng trước đó về cuộc đời Sadako thì cũng đầy cảnh máu me. Nhưng Nakata không xử lí như thế. Cái kinh sợ của Ring sạch sẽ và gợn lạnh. Chính vì vậy, dù Ring của Nakata không khiến tôi sợ bằng The Ring của Verbinski nhưng tôi lại thích phiên bản của Nakata hơn.

Điểm đánh giá: 7.5/10

Hết.

Kodaki


Có thể bạn sẽ thích?




Từ Sách đến Phim

The Lobster – Cô đơn hay không cô đơn?

Published

on

By

The Lobster thuộc dòng phim dystopian pha trộn với black comedy. Trình bày một thế giới giả tưởng với nhiều qui luật riêng, The Lobster thoạt tiên khiến người xem dễ có chút choáng ngợp và bỡ ngỡ ở những bước đầu làm quen với nó. Trong thế giới chủ lưu của The Lobster, không ai được phép cô đơn, không ai có quyền cô đơn, việc tìm người phối ngẫu trở thành nhiệm vụ xã hội mà nếu như ai đó cố tình vi phạm hay phớt lờ sẽ bị trừng phạt. Những người cô đơn sẽ được đưa đến khách sạn. Tại đây, trong vòng 45 ngày, họ phải tìm cho mình một người bạn đời, nếu không, họ sẽ bị biến thành loài vật mà họ đã chọn. Những sự kiện đầu tiên tuần tự diễn ra với rất ít điểm nhấn cảm xúc dành cho nhân vật tựa như lối kể chuyện chỉ có những đoạn tường thuật khách quan mà không có những đoạn miêu tả nội tâm chi tiết. Lối kể chuyện ấy phần nào gợi nhớ đến cách kể chuyện cổ tích với những nhân vật được miêu tả chung chung, có thể có tên hoặc không có tên, tập trung vào tình tiết hơn là nhân vật. Phân nửa đầu tiên của The Lobster – tức là khi David còn ở trong khách sạn đã chọn lối kể chuyện gần giống như vậy với rất nhiều nhân vật không được đặt tên nhằm tạo ra sự biểu trưng hay cảm giác về sự đại diện tập thể, sự không chú trọng vào cá thể đạt mức cao nhất. Điều này cũng thích hợp với không khí ngột ngạt trong môi trường toàn trị, độc tài ở khách sạn.

The Lobster có thể được chia thành ba hồi với: hồi một là màn làm quen thế giới khách sạn cho đến khi David bỏ đi, hồi hai là màn làm quen thế giới trong rừng cho đến khi David lại muốn bỏ đi lần nữa nhưng lần này là với người con gái anh yêu, hồi ba tập trung vào giải quyết vấn đề ở cuối hồi hai. Tuy nhiên, tôi vẫn thích liệt The Lobster vào phim cấu trúc hai hồi chung với một phim kinh điển của loại cấu trúc này mà tôi đã từng xem là Muholland Drive. Nếu như Muholland Drive là sự phản chiếu hai mặt của thế giới tưởng tượng và thế giới thực, xoay quanh giữa cái đã-có-thể-là và cái đã-thực-sự-là thì The Lobster là sự phản chiếu giữa hai thế giới đều thực như nhau và đều phi lí như nhau, xoay quanh giữa cái phải-là và cái không-thể-là. Thế giới ở khách sạn và thế giới ở rừng dường như đối nghịch nhau một cách triệt để: một nơi hầu như bị bó buộc trong không gian nội thất với những căn phòng, những dãy hành lang và một nơi với không gian mở rộng là những cánh rừng, con sông; một nơi cấm người ta độc thân và một nơi cấm người ta yêu. David đã đến với thế giới ở rừng như một sự cứu rỗi nhưng rồi anh cũng sớm nhận ra nơi ấy chẳng khác gì ở khách sạn, nó chỉ là dạng thức khác của khách sạn. Cả hai nơi đều tồn tại dựa trên một điều cấm lớn nhất mà thoạt tiên, người ta tưởng mình sẽ nhận được quyền lợi từ điều được phép của cái ngược lại với điều cấm. Trong những buổi họp mặt, theo chỉ thị của người quản lí, các nhân viên khách sạn nhấn mạnh đến ích lợi của một mối quan hệ, của hôn nhân, của việc luôn có một người bên cạnh, họ đưa ra những tình huống cho thấy rằng ở một mình rất bất lợi. Tuy nhiên, khi tình trạng độc thân trở thành điều gần như tội lỗi thì điều ngược lại với nó – tình trạng hôn nhân cũng không thể khiến người ta thực sự vui vẻ, bình yên như nó vốn là nữa. Ngược lại, thế giới ở rừng cũng đi theo hướng tương tự như thế. Có thể nói, thế giới trong The Lobster được vận hành theo thuyết nhị nguyên mà ở đó, con người bị buộc phải chọn một người bạn hay một nhóm, một tập thể để đứng ở phía cực họ tin là đúng và cùng nhau chống lại phía cực họ tin là sai. Đó là thế giới không cổ vũ cho sự đơn lẻ cá nhân dù tập thể có phi lí đến đâu chăng nữa. Wai Chee Dimock viết trên tờ Los Angeles Review of Books đã có ý so sánh The Lobster với những tác phẩm của Samuel Beckett. Tuy nhiên, khi xem The Lobster, tôi lại nhớ đến không khí phi lí kiểu Kafka. Cụ thể là, phim khiến tôi nhớ đến The Castle.

Như bất kì tác phẩm điện ảnh nào có khuynh hướng văn học, The Lobster sử dụng voice over ở mật độ dày đặc để kể chuyện. Phim không tiết lộ thân phận người kể chuyện ngay từ đầu khiến hồi một của phim (theo cách chia hai hồi của tôi) chìm trong tính trần thuật và không khí hư cấu rõ rệt. Ta có cảm giác những sự kiện trên phim nằm ở thì quá khứ rất xa và David là nhân vật từ sản phẩm tưởng tượng của một cô gái nào đó. Chính cảm giác này đã phần nào khiến tôi bồi hồi khi biết được cô gái kể chuyện từ đầu phim chính là người yêu David, đồng thời cũng là người David yêu. Vậy là, trong thế giới ấy, David có thực, cô gái có thực, họ không cô đơn, họ đã tìm thấy nhau – điều này như một phát kiến mới mẻ, lớn lao khiến tôi cảm thấy ấm áp. Như thế, cũng có thể chia phim thành hai hồi với hồi một là quá khứ gần, hồi hai là hiện tại. Bắt đầu từ hồi hai, chúng ta không còn nhân vật kể chuyện theo kiểu nhà tiên tri nữa. Từ lúc ấy, cả nhân vật lẫn ta đều không biết điều gì sắp xảy ra. Ta nhập cuộc trở lại với sự hồi hộp và lo lắng hơn cho họ.  

The Lobster sử dụng tông màu teal and orange nhưng không theo lối giống những phim bom tấn. Tông màu teal của phim nghiêng về green hơn là cyan và được dùng kèm ánh sáng đánh theo kiểu high-key khiến tông màu xanh bàng bạc như có lẫn chút màu vàng chanh. Dù cảnh nội hay cảnh ngoại, ngày hay đêm, phim đều cố gắng duy trì tông màu xanh ấy khiến cho cảm giác về một thế giới phi lí trở nên rõ rệt hơn. Hơn nữa, chính vì màu background không được thay đổi nhiều, người xem có thể dễ dàng thâm nhập vào sự buồn chán, đơn điệu, khắc nghiệt của thế giới ấy. Green vốn luôn là màu gợi cảm giác quái dị, u buồn như làn da xanh xao của một cô gái ốm nặng vì bệnh và trong The Lobster, màu xanh ấy đã phát huy triệt để tác dụng của nó. Bản thân bộ phim cũng như một con người yếu ớt đang bị bệnh, không thể tìm được phương thuốc cứu chữa cho mình. David có lẽ đã nghĩ rằng chỉ cần thoát khỏi khách sạn là ổn. Nhưng trên thực tế, anh chỉ thoát từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm đặc hơn của khu rừng. Khi một lần nữa, anh cùng người con gái anh yêu tìm cách thoát khỏi khu rừng, hai người băng qua cánh đồng cỏ lau vàng, đi trên một xa lộ vắng người với con đường mở rộng trước mắt, màu xanh buồn bã ấy vẫn đuổi theo họ. Rồi họ vào một quán cà phê, trong không gian bị nhốt kín, khi họ ngồi ở chiếc bàn bên khung cửa sổ lớn đến mức có thể thấy được gần như toàn bộ cảnh vật bên ngoài, một lần nữa, màu xanh buồn bã như lời nhắc nhở về thế giới phi lí vẫn vây lấy họ. Cả hai đã không thể vượt qua sức mạnh quyền năng của nó. Tất cả chỉ là sự lặp lại.  

The Lobster kết thúc bằng sự chờ đợi. Cái chờ ban đầu dường như có vẻ điềm nhiên của cô gái bị cắt ngay lúc ta có cảm tưởng cô đang bắt đầu bồn chồn, lo lắng rằng liệu người cô chờ đợi có quay trở lại với cô hay không. Câu trả lời sẽ là có hoặc không tùy mỗi người. Với tôi, tôi nghĩ rằng anh sẽ không quay trở lại, anh sẽ chạy trốn và cả hai lại tiếp tục đơn độc. Tuy nhiên, cho dẫu anh quay trở lại, liệu rằng khi đôi mắt cả hai không còn đón nhận ánh sáng nữa, họ có thể ở bên nhau lâu dài trong thế giới khắc nghiệt, tàn nhẫn như thế hay không? Vậy nên, dù câu trả lời là thế nào, tương lai phía trước của họ vẫn khó thoát khỏi thứ nỗi buồn kéo dài dằng dặc năm này qua tháng nọ. Những viễn cảnh gợi lên từ kết thúc ấy khiến tôi xót xa. Cùng với Léon: The professional, The Lobster trở thành một trong số những phim hiếm hoi mà tôi đặc biệt thích kết thúc phim. Một bộ phim hay không phải lúc nào cũng sẽ có một cảnh kết thúc gợi mở nhiều cảm xúc và suy nghĩ như thế. Với tôi, The Lobster là viên ngọc quí của điện ảnh đương đại những năm gần đây. Sau The Lobster, tôi sẽ cố gắng tìm thời gian để xem những phim còn lại của đạo diễn Yorgos Lanthimos.

Điểm đánh giá: 9/10

Kodaki

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Vĩnh Biệt Mùa Hè… chỉ mới cách đây một năm

Vĩnh biệt mùa hè khiến tôi bất ngờ vì kết thúc. Cấu trúc vòng tròn tưởng chừng đã nhàm chán nhưng dùng trong phim đắt giá quá.

Published

on

By

Vẫn như Em còn nhớ hay em đã quên?, Vĩnh biệt mùa hè khiến tôi bất ngờ vì kết thúc. Cấu trúc vòng tròn tưởng chừng đã nhàm chán nhưng dùng trong phim đắt giá quá. Nó thể hiện sự so sánh, đồng thời cũng là quá khứ và hiện tại xen kẽ. Nó thể hiện nỗi buồn, sự luyến tiếc giữa kí ức và thực tế.

Cảnh đầu phim, tôi cứ nghĩ là hiện tại vì có vẻ như rất liền mạch khi Hằng ngồi buồn trong lớp một mình rồi nghe tiếng gọi của Hạ mà chạy ra ngoài sân trường. Không ngờ đến kết phim mới biết, đó chỉ là hồi ức của cô. Chi tiết để liên kết hai cảnh đầu và cuối phim giúp khán giả biết đó thực ra chỉ là một nằm ở bàn học: bàn học khắc hình bông hoa có bốn cánh là bốn chữ H. Ở đầu phim, Hằng phủi bụi trên bàn học, người xem thấy hình ảnh bông hoa. Ở cuối phim, khi Hằng ngước nhìn xuống bàn, vẫn là bông hoa đó, sáng rõ trên lớp bàn đã quét đi một phần bụi, rồi cô rơi nước mắt xuống bàn, ướt bông hoa. Nếu không nhờ chi tiết cái bàn kết nối, có thể người xem sẽ cảm thấy mơ hồ hơn, không đủ nhận biết, sẽ chỉ nghĩ cảnh đầu phim khi Hằng ngồi trong lớp học một mình là thực sự thuộc về quá khứ chứ không phải kết thúc khi cô hồi tưởng. Nhờ cái bàn, bông hoa ấy, người xem – hay là tôi mới biết được hóa ra hai cảnh đầu và cuối phim diễn ra cùng một khoảng thời gian. Khi biết được tiếng gọi ở đầu phim chỉ nằm trong trí tưởng tượng của Hằng để làm cái cớ nhớ về quá khứ, dù là quá khứ rất gần, có thể chỉ mới là mùa hè của cách đây một năm trước thì người xem càng thêm xót xa. Chỉ một chi tiết nhỏ như thế mà tạo dư âm cảm xúc đến khi dòng chữ credit hiện ra, đến tận từng giây cuối cùng. Một lựa chọn điện ảnh rất thông minh của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Về cách thể hiện, điểm tôi thích nhất ở phim này chính là ở đó.

Phim Việt Nam thời kì thập niên 90 hay quá. Sao tự nhiên hết thời kì phim mì ăn liền, có khoảng thời gian phim Việt Nam xem chán quá chừng, tôi cũng không hiểu nổi. Thời đó, tôi thấy Việt Nam làm phim cũng ngắn gọn súc tích. Không nói điện ảnh hay phim video tape, phim truyền hình cũng ngắn thôi, khoảng chừng 10 – 11 tập. Nói chung lúc nào xem cũng thấy vừa vặn, không thấy dài lê thê như phim truyền hình Việt Nam bây giờ, phim nào ít nhất cũng 30 tập, chán chết. Dần dần tôi đã nhớ lại rồi, có thời hồi nhỏ tôi rất thích xem phim truyền hình Việt Nam: Những nẻo đường phù sa, Người đẹp Tây Đô, Giao thời... Xem mà kiểu hồi hộp chờ đợi, trông ngóng mỗi ngày luôn, bỏ tập nào là tiếc hùi hụi tập đó. Còn bây giờ, tôi không xem được nữa, thấy mất kiên nhẫn kinh khủng. Dù tôi thích một số phim của Vũ Ngọc Đãng nhưng vừa rồi xem đến tập 4 của Vừa đi vừa khóc là phải chịu thua đầu hàng vì dài dòng quá. Từng tập thoại nhiều ơi là nhiều mà diễn biến không bao nhiêu. Cảm giác ngồi đợi nói hết một đoạn thoại trong khi nội dung không nhiều thật mỏi mòn. Không phải chỉ với Vừa đi vừa khóc, nhiều phim truyền hình Việt Nam khác cũng câu giờ bằng thoại.

Diễn viên Việt Nam hồi xưa sao đẹp thế nhỉ. Tôi xem phim này vì Lê Công Tuấn Anh mà rồi thấy Việt Trinh thời trẻ đẹp quá, Thiệu Ánh Dương mặt cũng rất cưng. Phim Việt Nam thập niên 90 có nhiều diễn viên đẹp thật. Có thể việc lồng tiếng hạn chế một phần diễn xuất của họ, khớp miệng không tự nhiên nhưng ánh mắt của họ thật tuyệt vời. Như ánh mắt của Việt Trinh trong Vĩnh biệt mùa hè thật buồn, còn Thiệu Ánh Dương thì ánh mắt đúng kiểu bất cần đời.

Kodaki

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Chơi Vơi – Khi nỗi đau không thể gột rửa

Tôi hiểu sự cô đơn của Duyên khi muốn một người nào đó chạm vào cơ thể cô để cô cảm nhận cơ thể mình. Nhưng không khí của phim chưa cho người ta thấy sự cô đơn ấy là điều gì đó hệ trọng khiến cô phải vội vàng quyết định mọi thứ như vậy, khiến cô phải khóc rồi yêu rồi đau…

Published

on

By

Tôi vừa xem xong Chơi vơi và cảm thấy khá thất vọng. Bởi vì đọc nhiều lời khen của báo chí nên tôi đã rất kì vọng vào phim. Chơi vơi không sâu như tôi nghĩ. Phim không gợi một chút cảm xúc nào đặc biệt trong tôi. Mặc dù, tôi hiểu rằng điện ảnh nghệ thuật không cần nhất thiết phải gợi cảm xúc, nhưng có lẽ ít nhất cũng cần phải gợi suy tư. Nhưng Chơi vơi cũng không gợi chút suy nghĩ nào trong tôi. Tôi không hiểu vì sao nhiều người xem phim này lại nhận xét nó khó hiểu nhưng tôi thấy chẳng có gì khó hiểu. Mọi thứ cứ bày tuồn tuột ra trước mắt người xem đó thôi. Đôi khi, phim còn nói quá nhiều nữa và quá rõ nữa. Đâm ra tôi cảm thấy hơi buồn cười. Đây đúng là kịch bản đầu tay, viết hồi còn trẻ của Phan Đăng Di. Nội dung còn non quá. Nỗi đau chưa tới. Sau này Bi, đừng sợ hay hơn nhiều. Nhưng cách Bùi Thạc Chuyên bố cục câu chuyện, không khí trong Chơi vơi cũng chẳng hay. Tôi biết ông muốn tạo cảm giác chơi vơi đúng như tên phim, mọi thứ chẳng có gì rõ ràng cả, cứ lơ lửng thế, không biết rồi sẽ tới đâu. Tuy nhiên, sự chơi vơi này giống như thứ hình ảnh minh họa cho cảm xúc hơn là một thực thể sống với những tâm trạng ngổn ngang của nó. Với tôi, nó chẳng gợi được chút chiều sâu và suy nghĩ nào cả. Ừ thì, tôi vẫn thấy nhân vật buồn, có gì điều gì đấy làm cuộc sống của họ chán nản, rơi vào vòng buồn tẻ, rơi vào những nỗi đau mà họ không hiểu tại sao họ lại có nó; nhưng chẳng có gì chạm vào tôi được cả. Tôi hiểu sự cô đơn của Duyên khi muốn một người nào đó chạm vào cơ thể cô để cô cảm nhận cơ thể mình. Nhưng không khí của phim chưa cho người ta thấy sự cô đơn ấy là điều gì đó hệ trọng khiến cô phải vội vàng quyết định mọi thứ như vậy, khiến cô phải khóc rồi yêu rồi đau. Mọi thứ trong phim cứ giả giả. Quả thực, cuối cùng phim cũng tạo được cảm giác Chơi vơi nhưng chẳng có một điểm nhấn nào đọng lại trong lòng tôi cả. Tôi nghĩ rằng chỉ cần một chi tiết để mọi thứ lóe sáng thôi là tất cả sẽ khác. Nhưng những khoảnh khắc đó không có.

Trong phim, tôi chỉ thích nhất mỗi câu thoại của cô bé có người cha chơi đá gà.

"Em thích tắm vòi sen, cảm giác những làn nước qua khuôn mặt mình dễ chịu lắm, có không khí cho mình thở. Em không thích tắm trong bồn đâu. Hồi nhỏ, bố cứ dìm mạnh đầu em xuống bồn nước làm em sợ."

Cô bé ấy khi gặp Hải, đã vào nhà tắm của anh, nhìn vòi sen say sưa và thử tắm trong đó, thử cảm giác dễ chịu mà cô hằng mường tượng. Để rồi kết thúc cuối phim, cô lại về với bồn tắm làm từ hộp nhựa dơ bẩn ở nhà mình, lại hít thở một hơi thật sâu trước khi vùi đầu mạnh xuống nước... Có lẽ là buồn và nghẹt thở lắm phải không em? Chỉ mỗi chi tiết nhỏ đó làm tôi thấy xúc động và thấy kịch bản hay. Chỉ chuyện tắm vòi sen hay tắm trong bồn nước không ngờ có thể làm người ta đau đớn như vậy. Vòi sen là một nguồn nước nhẹ nhàng, thanh thản, trong khi bồn nước thì cứ phải vục mình trong đó, úp đầu xuống dưới nước thật sâu mới mong gột rửa thật sạch toàn bộ cơ thể...

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng