Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Thư chết – Ai chết cơ?

Ngay từ cái tựa: Thư chết. Ta đã biết văn phong chính của tác giả sẽ là gì rồi. Thư chết, cộc lốc, lỗ mãn và dường như đem tới sự chán chường khi phải tiếp cận. Thư sao mà chết? Người viết thư chết hay người nhận thư chết?

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Từ bao giờ mà tôi không còn đọc nhiều các tác phẩm văn học Việt Nam một cách thuần túy nữa. Tôi đã đọc Walt Whitman để nói về Xuân Diệu khi mà thơ Cách mạng của ông làm tôi có cảm giác như Tố Hữu đi hái hoa bắt bướm trong vườn Thiên Đàng, tôi cũng đọc Balzac để luận về Vũ Trọng Phụng khi mà cuộc đời ông này nghe mà tiếc thay phu quý phụ vinh, lại nghe danh trốt-kít, chống cộng, cờ bạc làm tôi không dám đụng tới nhiều hơn là một số tác phẩm “là người Việt thì phải đọc”. Rõ ràng, đó chỉ là một sự biện hộ cho việc ngại đọc văn học với ngôn ngữ mẹ đẻ thuộc về mấy chục năm trước đã thành xa lạ với tôi. Một cách nào đó, dịu dàng, tàn nhẫn tôi đã sơ sài đánh giá họ bằng những nhân vật mang tính nguồn gốc và to mặt hơn. Và sau mấy năm, vài tháng trước đọc văn của một số nam văn sĩ, nữ văn nhân hiện đại tôi mới biết ước gì mình chưa đọc và để dành thời gian cho họ. Với motif quen thuộc đến nản và chăm chăm cắn phập vào chủ nghĩa hiện thực mà bỏ quên việc mình đang viết sách chứ không phải đang đi cà khịa, Mối chúa của Đãng Khấu tuy có vẻ ngon nghẻ (vì có lúc bị cấm!!?) nhưng không dễ ăn, sự liên tục cách tân nghệ thuật và phá đảo mọi mặt trận thể loại của Hồ Anh Thái dường như chùng chùng xuống và kết thúc bằng du ký Chốc lát những bến bờ ế lịch sử. Nguyễn Ngọc Tư, làm một cú ngã để đời với Cố định một đám mây không biết màu mè để làm chi. Nói như vậy, để ta thấy, để tìm được một câu chuyện thực sự ổn về mặt lối viết ở thời điểm này trong nước là khó khăn. Ta buộc phải dòm ra những hi vọng đang ở bên kia đại dương, ở Ocean Vuong, ở Monique Truong. Nhưng trên mặt bằng chung văn học Việt kiều, Linda Lê có lẽ là cái tên được dịch thuật và phê bình (thử search tên bà và tôi đã bất ngờ, bạn thì sao?) ưu ái và đưa vào Việt Nam sớm nhất. Với toàn bộ tình yêu đầu, cuốn đầu tiên tôi đọc là Tiếng nói đem cho tôi những ấn tượng nhất định để tới Thư chết thì rõ ràng tôi hợp với loại sách bỏ túi của bà. Vậy thì văn phong bà có gì đặc biệt hơn so với văn học trong nước? Và thứ gì đã làm nên điều đó, có thể điểm qua một vài ý chính tôi rút ra được từ tác phẩm này.

1. Cốt truyện đơn giản và sự bài trí khôn khéo – sự tác động không ngừng nghỉ của xuất thân và ảnh hưởng văn chương.

Cốt truyện không thể đơn giản hơn và có thể nói là hơi tầm thường với những cuốn sách xây dựng lớp lang bi kịch và gỡ thắt sau này của chính bà: một người con đi với mẹ và người chú điên sau một cuộc xuất ngoại, chính là bà, và người bố ở nhà chết trong cô độc và thương nhớ con. Tôi nghĩ thật là mạo hiểm khi để cho một cuốn sách quá mỏng sở hữu một cốt truyện nhạt nhòa như thế. Tôi cứ sợ sệt rồi khi mà không đủ sức nâng cao nội dung thì bà sẽ biến nó thành một cuốn tản văn nước mắt thay mưa. Khoan hãy bàn tới những đặc điểm giúp bà đi với một cốt truyện như thế, tôi đã bước đầu đúng khi nó có những hối hận quặn ruột khi lỡ quá nhiều hẹn hứa, tưởng tượng về ngày xưa với người cha đó. Rồi thì trong quá trình tưởng nhớ thì đi suy xét chính bản thân mình. Nỗi đau đó mang dáng vẻ lý trí nhiều hơn, với cú pháp hùng biện bậc thầy, đem đến sự dàn trải, có tầng thứ nhưng giăng mắc. Bên cạnh đó, xuất hiện một số đặc điểm. Thứ nhất, sử dụng tiết chế chi tiết đinh giàu tính cốt cán trong việc thay đổi nhận thức, đó là những lá thư, mà chỉ có những lá thư cuối cùng mới thực sự là thư chết, mà khi nó xuất hiện luôn đem lại sự bất an và thế đổi chiều ngoạn mục. Những lá thư trước giờ bà phúc đáp sơ sài trở thành vật phẩm quý giá nhất của người chết để lại, biến sự lần lữa thành cơn điên trở về quê nhà và đánh thức bố dậy, biến cảm xúc ngập ngụa khi chìm đắm trong mê say ái tính với Nhà Xác thành cơ hội bóc tách những sự lợi dụng và chiếm hữu của gã, biến Linda Lê từ người cai trị cảm xúc thành kẻ bị trị và người chết sống hơn người sống. Cao hơn, một chi tiết đinh tiếp theo nó dính dáng nhiều tới nhân vật Nhà Xác. Tôi không coi Thư chết là một tác phẩm thuần hồi ký, thay vì đó tôi gọi nó là bán hồi ký. Vậy thì sự xuất hiện của Nhà Xác cũng không có gì được cho là chắc chắn. Nhưng tại đây, trong không gian cốt truyện thì có vẻ Nhà Xác là cái tôi thứ hai của Linda Lê. Nàng vừa muốn vuốt ve, dâng hiến và hi sinh mình để lao vào đòi hỏi một chút tí tình cảm từ cái tôi này, vừa đòi hỏi và căm thù nó. Ngược lại, cái tôi thứ hai trong vai Nhà Xác lãnh đạm lao vào những cuộc tình không-cần-cho-gì và cũng căm ghét chính mình đồng thời. Cái tôi này thể hiện nỗi đau về quá khứ của bà. Ngoài việc đưa trân trọng người bố vào trong tác phẩm thì nỗi đau xa xứ khi mới chỉ 14 tuổi, sự cô đơn trong xã hội khác biệt và những ký ức đen tối là nguyên nhân dẫn tới hai hoạt động lý trí về hay không về, đi hay ở, buông hay thôi mà đúc kết lại câu hỏi lớn hơn về mặt cảm xúc: rốt cục thì sự hối hận rơi vào tình thái nào? Ngăn cản hay vượt qua ngăn cản. Đến khi mà người cha mất thì ta đồng thời tìm được kẻ thắng qua một cuộc tranh đấu trầy da tróc vẩy. Thứ hai, phát triển những hình ảnh mang tính ấn tượng và gam đậm và hành động không rõ động lực, trong một câu chuyện mang màu lợt lạt tĩnh tại dễ trôi tuột và nhuốm đậm màu hồi tưởng thì cú pháp này khá cần thiết nếu Linda muốn người đọc mình thoát khỏi vài cái ngái ngủ. Xét trên phương diện tưởng tượng trước, ta bị hấp dẫn bởi kiểu ảo tưởng đầy vẻ cổ tích của Linda Lê: bố cô được chôn bên bờ nước, mà cô chỉ cần đào lên rồi truyền người chút hơi ấm thì người sẽ tỉnh lại và họ sống như xưa. Hoặc cũng hấp dẫn thay cảnh rượt đuổi bởi người bố trong tâm trí Linda Lê, đó là cuộc rượt đuổi ám ảnh khi người bị rượt lại muốn được rượt, còn người rượt thì không. Ở mặt thực tại, dễ dàng ta cũng bị ấn tượng bởi những hành động cực kỳ hấp dẫn và điên rồ của người cậu điên, tin vào trận hồng thủy, phá phách và mót rác, dùng nước đái như nước thần, căm ghét đến muốn chặt đầu người bố, chỉ trích người mẹ ốm yếu nhu nhược, thái độ khác biệt theo từng giai đoạn với người cháu. Và không chỉ để yên một mặt của hành động được đề cập tới làm một nhiệm vụ không thôi, Linda Lê tiếp tục đu bám nó và phát triển theo hai hướng: hoàn thiện sự đặc biệt của người chú và ý nghĩa trong việc tạo lối thoát thứ ba (đề cập ở phần dưới). Ta cảm thấy người chú thực sự được chú ý sau những cơn điên rồ là ngồi lên phản nhìn xa xăm và nghĩ về thứ gì đó, và người chú này là chìa khóa để câu chuyện Linda được giải quyết và cho đến cuối cùng thì ta biết cô ta sẽ tìm cho bằng được người chú này. Chính thế, câu chuyện của Linda Lê sẽ có sức bậc, độ dài hơi trong khi chỉ thừa kế một cốt truyện không có gì cần phát triển hay quá đặc biệt để tốn giấy mực miêu tả cách vận hành (thể dynastic).

Đọc văn Linda Lê, ta nhận ra từ vài dòng đầu tiên thủ pháp để dòng ý thức trôi miên man tràng giang đại hải từ trang này qua trang khác mà không dùng một dấu xuống dòng, hạn chế hết sức dấu câu, các câu tạo cảm giác thắt dây cho nhau và nếu như xuống dòng, các liên kết giới sẽ vỡ và bản thân ngữ nghĩa câu cũng thay đổi đi nhiều. Đối thoại trực tiếp và chính xác hoàn toàn không có trong Thư chết khóa chặt đường giải thoát khỏi sự bí bách cho độc giả. Nỗ lực gìn giữ chính xác và kế thừa một cách tôn thờ thần tượng của bà là Thomas Bernhard làm tôi trân trọng. Nhưng nếu Thomas chia nhỏ nội lực của mình ra để đi phê phán (hoặc chửi chợ), và suốt ngày vuốt ve cho cái hình tượng bóng mịn của mình thì học trò của ông, phá hủy tất cả những nhánh sông bên cạnh để dồn vào một ý chính: thể hiện một mực cái cảm xúc tôi tớ của nhà văn. Ta bắt gặp những cạnh đa diện, những hành trình song song trong hơn nửa trăm trang đầu. Ban đầu, nhân vật “tôi” hối hận vì những bức thư hứa lèo, nhưng sau đó, là trách cứ, là giận bố vì sao đã không tin vào những lời của mình. Rõ ràng, càng đọc người ta càng nhận ra sự vô lý và tập hợp dần lại những đổ vỡ để bộc lộ tinh tế cái xung đột cá nhân. Chi tiết quá khứ êm đềm luôn được nhắc lại cùng với một số “có vẻ là tình tiết” luôn được xen kẽ đưa vào giữa những dòng tâm tư tràn lan ấy dường như Linda viết ra để mà chiều lòng độc giả của mình. Làm cho người ta dễ thở trước cái sướt mướt, nhai đi nhai lại, ngồi lê đôi mách ở các câu văn có cấu trúc tương tự xuất hiện bâng quơ trong các trang. Đó có thể là chi tiết với người cha, nhưng đó thường là với người cậu, là người mà bà tin tưởng chứa sự trong sạch và thanh tao nhất của sự thật, dường như bà phát điên lên khi thấy mình tôn thờ cái điên trong ông cậu này như thế nào. Tiếp cận một cách cực kỳ sướt mướt, và đọc văn dường như có vài câu giống với tản văn miên man tình trường, thế mà cách thể hiện đó qua ngôn ngữ lại là một sự lách nhẹ qua biên giới sến và tình.

2. Nguồn gốc và đặc trưng thi pháp của Linda Lê – Vừa lãng mạn bay bổng vừa sợ sệt đôi cánh mỏng.

Ngay từ cái tựa: Thư chết. Ta đã biết văn phong chính của tác giả sẽ là gì rồi. Thư chết, cộc lốc, lỗ mãn và dường như đem tới sự chán chường khi phải tiếp cận. Thư sao mà chết? Người viết thư chết hay người nhận thư chết? Quá nhiều câu hỏi đặt ra bởi vì thiếu dữ kiện và cụm danh từ quá xa lạ. Bấy nhiêu thôi, Linda đã thể hiện rằng mình sẽ không nuông chiều cảm xúc của độc giả, mà đi vuốt ve niềm đau dĩ vãng của mình nhiều hơn. Bà đi hết tác phẩm, cho người đọc thấy quá nhiều tâm tư cùng dòng chảy ồ ạt của biểu cảm, song, người ta lại nhận ra mình quá thiếu dữ kiện để hiểu là, bà này đang thực sự kể về nỗi đau nào đây? Và nỗi đau của bà sao không nhất quán, và thật thiếu logic? Thật sự không có sự logic để thiếu, chúng bổ trợ và nắm tay nhau để hỗ trợ chứ không theo một dây chuyền như bà đã lừa chúng ta dựa dẫm vào từ đầu. Bất kỳ ai khi mới đọc văn Linda trong giai đoạn này cũng vậy, nhưng thực sự, bà chỉ làm công việc bày tỏ, còn giải thích, thích thì bà sẽ giải còn không thì thôi. Vậy đấy.

Đến với Thư chết vì ấn tượng y như Tiếng nói, sách mỏng, bìa ấn tượng, bị cho ném vào trong tận đáy tủ vì tản văn ngôn tình chiếm hết chỗ (dày thế!). Khi William Faulkner đã hành tôi rã rời với giọng văn rối rắm và tôi nhận ra cách tiếp cận những bộ mặt văn học kinh điển bằng cách tóm lược là một bước nhảy cóc trật khớp háng, tôi vớ lên Thư chết đọc qua một buổi chiều mưa lụt. Nếu như khi đọc một vài tác phẩm trước đây của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đó là cảm giác hân hoan khi được gợi mở những diễn tiến của câu chuyện, thì ở đây, ta thường đọc một cách nhọc nhằn, vì văn phong quá đỗi ám ảnh và nặng nề, đôi khi lại lâm vào tình trạng khó hiểu và thủ pháp dòng ý thức trôi cùng với hồi tưởng. Mà ở đó, ấn tượng được cho nghe chuyện quá khứ được thả trên cảm xúc triền miên của tác giả như một cái bè cho bấu víu. Và tôi phải nói trước hết, tôi chưa đọc xong cuốn sách mỏng chưa đầy trăm trang này khi viết ý đầu tiên, nhưng tôi cảm nhận, dường như đọc thêm cũng chẳng làm gì, tôi đã hiểu bà như hiểu chính bản thân mình rồi. Có tiếp tục chẳng qua chỉ là bước đi thong dong của một kẻ đã qua lò lửa và đi cưỡi ngựa xem hoa trên văn chương lặp lại đó. Motif đặt ra câu hỏi vô hình và dường như không có câu trả lời thỏa đáng, “người chết có tha thứ cho chúng ta không?”, “người chết có biết giận không?”, “người chết mới chết hay chúng ta mới thực sự chết”? Nhưng đừng vội đánh giá quy chụp chữ “lặp lại” là nhằm chán. Mỗi lần lặp lại của Linda Lê đem tới cho chúng ta một sự khác biệt về cấu tứ câu văn về sau. Mà ta bắt gặp được tư tưởng phân luồng rõ ràng, trong cách thể hiện đôi khi rối rắm. Chúng ta chia được ba nhánh riêng rẽ của Thư chết trong trường cảm xúc về người cha: ân hận trong thương cảm – liên tục hồi tưởng – cảm giác được tháo dỡ và tàn dư của sự tha thứ ảo tưởng, và ta tiếp tục có một nhánh mới trong trường cảm xúc về Nhà Xác: tâm thế bắt buộc và sẵn sàng trao tất cả trong sự bao dung (quá khứ) – căm hận (quá khứ gần hơn, khoảng ở giữa cuốn sách, khi đan xen trong trường cảm xúc thứ nhất) – lý trí và cảm thức phân tích hành động (hiện tại). Ở mỗi giai đoạn của cảm xúc lại đem tới một hồi ức khác nhau, đi cùng với văn phong kiểu dài dòng, stream-consciousness và rất đặc biệt, đó là kiểu “kế thừa sự hùng biện và bóc tách tất cả sự việc xảy ra bằng lý trí từ thế kỷ XVII”1 , vậy để hiểu rõ về tính chất này của Linda Lê, ta phải đi ngược thời gian về đặc trưng văn học của thời điểm này, đó là Pháp với “chủ nghĩa cổ điển” (classicisme) đem lại sự xung đột của những thứ duy lý không phù hợp với tính đẹp xuất hiện trong một cá thể. Sự đề cao lý trí cũng như đòi hỏi cân bằng về cái Tôi – Ta trong văn chương bậc cao cấp và thấp cấp. Ở đây, có sự xung đột trong hình ảnh người cha tâm lý với cái đẹp chung: rõ ràng theo sự miêu tả của Linda Lê một cách khách quan khi nói về người đã chết: hút thuốc nhiều, nghèo đói, gồng gánh, luôn làm dịu lòng người khác, bình tĩnh nhưng lại xấu xí, thấp cổ bé họng và thường xuyên đau ốm. Đó là sự xung đột thứ nhất, thứ hai, đó là sự đấu tranh của lý trí và tình cảm mà Linda Lê tự tạo dựng nên một mặt trận tình cảm ảo tưởng và không được xác thực: đó là cảnh giường bệnh với người cha gần đất xa trời luôn mong mỏi con mình về, nỗi nhớ đến phá tung những cảnh ký ức, mua kẹo về cho người con giờ đã đi xa khuất nẻo, biến thành con người cô độc bậc nhất, bí ẩn bật nhất. Sự coi trọng về mặt cảm xúc được đẩy lên cao trào, tuy nhiên, điều đó chưa từng được làm rõ, ngoại trừ một vài lá thư “chết” mong muốn con mình trở về những không làm rõ lý do. Ta còn bắt gặp phong cách của Linda Lê trong vở bi kịch Le Cid, viết năm 1636 với Corneille (1606-1684). Rõ ràng, hai tác phẩm đều không đề cập và làm rõ cái ác trong mỗi nhân vật nhằm tạo xung đột, mà đem lại sự mâu thuẫn về mặt lý trí – tình cảm, tình yêu – danh dự, chung – riêng kế thừa của các án sử thi Homerè bất hủ. Nhưng trong khi Corneille để cho hai nhân vật của mình là chàng Rodrigue và nàng Chimèane giải quyết theo phương án bi kịch anh hùng, tức là chọn lý trí, danh dự và cái chung thì Linda Lê đào thêm một ngả đường chọn nữa, đó là bỏ lửng, không để cho nhân vật biểu cảm lựa chọn giữa Sirius hay Nhà Xác, Nhà Xác hay ông bố, bằng cách mài nhẵn làm vô lý sự lựa chọn và xóa mờ không tuyệt đối sự đối lập giữa hai phương án.

Marine Landrot (who?) từng ví von văn phong bà như một bài điếu văn khổng lồ mà ở đó có sự tịnh tiến và đỡ đần nhau trong việc phản ánh, dịu dàng và sắc sảo2. Bài điếu văn này làm nên sự giống nhau kì lạ của Linda Lê với văn chương Mỹ (bà di cư sang Pháp) và khác biệt hoàn toàn với một số nhà văn Việt Nam. Rõ ràng, khi đọc những áng văn trong nước thời điểm này, tác giả đi dàn dựng mọi thứ đón đầu nhân vật của họ, cảm xúc được dồn nén và thể hiện từ những biến cố ép buộc, sự rối rắm là cần thiết và bị động thì ở Linda Lê, ngược lại. Con người đi tìm cảm xúc nguyên sơ và chính cảm xúc ấy lại thỏa mãn con người trên con đường xuất hiện lý trí (như trường cảm xúc đối với Nhà Xác đã nói trên). Linda Lê hoàn toàn chủ động trên mọi cục diện cảm xúc của mình và có lẽ, một vài phút điên như cảm thấy thế giới sụp đổ hay tiếc người cũ hối hận là không cần thiết và không bắt buộc xuất hiện, là sự đi tìm một cách thú vị và hân hoan.

3. Vì thứ gì khác?

Xét cho cùng, làn gió văn chương Việt đón nhiều luồng sinh khí từ khắp nơi bên rìa đại dương. Những luồng tư tưởng mới được sát nhập và thoát khỏi cái bóng tư duy chậm và thụ động của nhà văn Việt. Ở trong con người tác giả, như một con gấu núp trong hang, nhưng đó không phải là cái hang của Plato, con gấu này là chúa tể trong cái hang đó và làm chủ được tất cả những thứ mình làm. Thực sự, “là vì văn chương hay còn gì khác” Linda Lê không cần trả lời và những người đưa văn bà trở về với quê nhà cũng không cần quan tâm. Bởi vì có một thứ chúng thuộc về thứ nguyên (origin) như những ám ảnh của quá khứ không cần gồng gánh, con chữ kế thừa từ thầy Bernhard của mình, còn cảm xúc căn nguyên của bà sẽ là độc tôn và duy nhất của bà, chúng ta có thể mua về và đọc, nhưng tôi tin bà sẽ luôn độc tôn làm giá chối từ mọi nỗ lực tìm hiểu điều gì làm bà có những cảm xúc quá mới mẻ mà đôi khi dù được phân luồng và chia nhánh cũng khó mà nắm bắt được.

Hết.

Chú thích:

  1. http://www.evene.fr/livres/livre/linda-le-in-memoriam-29682.php?critiques
  2. Bài phỏng vấn Linda Lê của Marine Landrot: ‘Linda, trong tiềm thức’ đăng trên tạp chí Télérama số ngày 1/9/2007.

Gia Bin


Xem tất cả những bài viết của Gia Bin tại đây.


1 Bình luận

1 Bình luận

  1. Trần Văn Quốc Việt

    Tháng Tám 28, 2019 at 3:24 sáng

    Chưa đọc Linda Lê .-.
    Hôm nào phải thử đọc mới được :3

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

20 điều bạn chưa biết về truyện cổ Grimm

Đăng từ

on

Người đăng

Đã hơn 200 năm kể từ ngày xuất bản các tác phẩm Hansel và Gretel, Rumpelstiltskin và 200 câu truyện khác như Kinder- und Hausmärchen hay Children’s and Household Tales của Jacob và Wilhelm Grimm vào năm 1812.

Hầu hết tất cả chúng ta đều biết đến truyện cổ Grimm. Nhưng bạn có biết trong phiên bản Grimm gốc của Cô bé Lọ Lem, các cô chị ghẻ đã cắt bỏ một phân bàn chân để mang vừa chiếc giày? Hay người muốn giết hại Bạch Tuyết chính là mẹ ruột chứ không phải mẹ kế?

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Giáo sư Maria Tatar ở đại học Havard – biên tập viên, dịch giả, người chú giải cho ấn bản 20 năm của The Annotated Grimm Brothers đã tiết lộ một số sự thật bất ngờ về truyện cổ Grimm.

1. Jacob và Wilhelm Grimm không hề có dự định viết truyện cổ tích cho trẻ con. Đây chỉ là một phần của dự án học thuật để khẳng định và bảo vệ tinh thần của người dân Đức.

2. Nhưng Edgar Taylor, một người Anh, đã dịch và xuất bản những câu chuyện này ở Anh vào năm 1823, và được trẻ con vô cùng yêu thích. German Popular Stories (tạm dịch: Những câu chuyện nổi tiếng ở Đức) trở nên nổi tiếng và tạo cảm hứng cho anh em nhà Grimm biên tập lại tuyển tập sách dành cho đối tượng gia đình. Điều này đã làm nên lịch sử khi ngày nay những câu chuyện của họ giúp củng cố thêm nền văn chương và văn hóa phổ biến ở phương Tây.

3. Anh em nhà Grimm không đi lang thang khắp làng quê, cũng không đương đầu với rừng rậm hay thời tiết khắc nghiệt để lượm lặt những câu chuyện của người nông dân từ mọi ngóc ngách. Nguồn truyện của họ chủ yếu đến từ những người phụ nữ trung lưu, có học thức, đặc biệt giỏi giang. Rất nhiều người đến nhà Grimm và kể lại chuyện của họ một cách thoải mái nhẹ nhàng, ngoại trừ một người lính nghỉ hưu kể câu chuyện của mình để đổi lấy quần áo cũ.

4. Anh em nhà Grimm tiếp tục bổ sung và chỉnh sửa bộ truyện, tái bản lần thứ bảy vào năm 1857. Đó là nền tảng cho mọi phiên bản truyện cổ Grimm được xuất bản ngày nay và bao gồm 210 truyện. Ngoài những chuyện ma thuật quen thuộc, quyển sách này cũng có nhiều thần thoại về tôn giáo, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

5. Khi nhận thấy tuyển tập truyện được các độc giả trong gia đình đón nhận, tác giả chỉnh sửa thêm cho phù hợp với đối tượng trung lưu. Một trong những điều đầu tiên Wilhelm thực hiện chính là bỏ các chi tiết gợi cảm. Trong ấn bản đầu tiên của Rapunzel, chính vì Rapunzel mang thai nên mụ phù thủy mới biết đến sự viếng thăm của hoàng tử. Cô nói “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao quần áo của con lại bị chật, con không mặc vừa nữa”. Trong ấn bản lần thứ 7, không có một chi tiết nào ám chỉ đến hoạt động tình dục của Rapunzel. “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao kéo mẹ lên lại khó hơn kéo hoàng tử?

6. Một trong những câu chuyện mà Grimm loại bỏ sau ấn bản đầu tiên là Hans Dumm. Câu chuyện kể về người đàn ông có khả năng biến phụ nữ có thai chỉ bằng việc ước điều ước.

7. Anh em nhà Grimm cũng thay đổi truyện theo nhiều hướng khác, như bổ sung các chi tiết về đạo Kitô giáo, từ ngữ dân gian, và nhấn mạnh vai trò giới tính mà khán giả của họ chấp nhận. Họ trau chuốt và mở rộng các cảnh bạo lực, thường chọn các phiên bản xấu xa hơn là kết thúc có hậu.

8. Trong vài phiên bản của Rumpelstiltskin, Rumpelstiltskin trốn thoát bằng một cái thùng hay chỉ đơn giản là bỏ chạy, như trong ấn phẩm đầu tiên. Tuy nhiên, trong ấn bản năm 1857, ông ấy la hét và “trong cơn thịnh nộ, ông đã dậm chân phải mạnh đến nỗi nó văng đến tận eo. Sau đó, quá giận dữ, ông nắm chân trái bằng hai tay và xé cả người thành hai mảnh.”

9. Trong bản Cô bé Lọ Lem của Pháp, Lọ Lem tha thứ cho hai người chị kế và tìm chồng tốt cho họ. Nhưng trong phiên bản của Grimm thì khác. Đầu tiên, cả hai người chị cắt bỏ phần bàn chân để thử giày, và hoàng tử chỉ phát hiện họ không phải cô gái chàng tìm khi một chú bồ câu nói rằng chân họ bị chảy máu. Khi hoàng tử tìm được Lọ Lem, những chú chim bồ câu này đã khoét mắt của những người chị kế.

10. Không hề có bà tiên! Đúng vậy, trong phiên bản Grimm của Cô bé Lọ Lem, một cây phỉ nhỏ bé được Lọ Lem tưới bằng nước mắt đã cho nàng váy để tham dự dạ tiệc.

11. Đừng lo về việc phải hôn một con ếch. Trong Hoàng tử ếch của Grimm, con ếch biến thành hoàng tử không phải vì nụ hôn mà khi công chúa ném nó vào bức tường trong phòng ngủ. Ngay lập tức, nàng được diện kiến hoàng tử và cả hai cùng đi ngủ. Trong các phiên bản về sau, tác giả nhà Grimm đã “đứng đắn” hơn khi sửa đổi thành chi tiết “tại buổi đấu thầu của cha cô”, hoàng tử trở thành “người chồng và bạn đời” của cô gái.

12. Người mẹ kế ác độc trong Bạch Tuyết và Hansel và Gretel ban đầu là mẹ ruột của họ. Anh em nhà Grimm cho rằng họ nên bảo vệ tình mẫu tử thiêng liêng trước độc giả của mình.

13. Vì ý định ban đầu của Grimm nhằm bảo vệ nền văn học dân gian của Đức, Đức quốc xã đã cố gắng chiếm đoạt Children’s and Household Tales cho mục đích ý thức hệ của mình.

14. Các tác giả như Margaret Atwood, Angela Carter và Anne Sexton đã chỉnh sửa và chuyển thể truyện cổ Grimm thành truyện ngắn, thơ và tiểu thuyết. Điều này có tác dụng tích cực đến việc phân tích chuyện cổ tích và ảnh hưởng của chúng, đặc biệt là ảnh hưởng lên các điều kiện giới tính.

15. Khi truyện cổ tích ra đời, các dị bản cũng ra đời. Trên thực tế, Tatar cho biết, không hề có “bản gốc” của một câu chuyện cổ tích. Vậy nên khi Jon Scieszka viết một bài chế giễu The Stinky Cheese Mann và Other Fairly Stupid Tales, ông đã thay đổi từ ngữ nhưng vẫn giữ cốt truyện. Truyện cổ tích thu hút các giá trị văn hóa về thời gian và địa điểm, và các phiên bản khác nhau cho chúng ta biết nhiều giá trị khác nhau của người kể, cũng như cách họ dựa vào các giá trị để kể nên câu chuyện của mình.

16. Đúng là một sự trùng hợp thú vị khi các anh em nhà Grimm kể chuyện cổ “grim”. Trong tiếng Đức và tiếng Anh, “grim” có nghĩa là tàn bạo, độc ác, tức giận hoặc khắc nghiệt.

17. Nhưng các câu chuyện có thật sự tàn bạo đến vậy? Theo Tatar, hầu hết 210 câu chuyện đều kết thúc có hậu. Truyện The Children Who Played Butcher With Each Other là một ngoại lệ.

18. Hầu như tất cả các câu chuyện đều ca ngợi sự khôn ngoan, can đảm và kiên cường.

19. Mùa hè năm ngoái, một nhà lưu trữ người Đức đã khám phá ra 500 câu chuyện cổ tích “mới” đã được Franz Xaver xon Schonwerth – một đồng nghiệp của anh em nhà Grimm, sưu tập trước đây. Tatar cho biết, trong tuyển tập đó có các phiên bản nam của Cô bé Lọ LemCông chúa ngủ trong rừng, và Bạch Tuyết. Liệu anh em nhà Grimm có biết đến các phiên bản này và loại chúng ra khỏi tuyển tập của mình? Chúng ta không bao giờ biết được…

20. Phiên bản mới nhất của truyện cổ Grimm là của Philip Pullman, mang tên Grimm Tales for Young and Old. Ngoài việc kể chúng ta nghe những câu chuyện hấp dẫn một cách mềm mỏng và rõ ràng, Pullman còn đưa ra một số thông tin nền tảng của từng câu chuyện. Rất đáng để bạn đọc thử.

Hết.

Anh Thư dịch

Nguồn: thestar.com


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

The Fix – Quốc gia tái thiết: Hy vọng vẫn còn

“The Fix” gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trong cuốn The Fix – Quốc gia tái thiết, tác giả Jonathan Tepperman đôi lần lặp đi lặp lại trạng thái “Thế giới đang bước đi trên một lưỡi dao cạo”, và vô hình chung, đây không hẳn là sự trùng hợp. Một cách vui vẻ để nhìn nhận, đứng trước mạng lưới thông tin dày đặc được cập nhật 24/7 về tình hình thế giới hiện nay, đôi khi hình tượng hạt dẻ mà chú lười Sid trong Kỷ băng hà (Ice Age) vô ý cắm vào tảng băng để từ đó vũ trụ thành ra nứt nẻ lại hiện ra. Cho đến ngày nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á hay Mùa xuân Ả Rập vừa tạm nguôi đi; thì ngay lập tức mùa hạ kinh hoàng năm 2014 khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra Biển Đông lại đến. Không những thế, sự lớn mạnh của Nhà nước Hồi giáo cực đoan IS, đại dịch chết chóc Ebola, sự thiếu hụt tài nguyên khí đốt, Hy Lạp phá sản hay Chủ nghĩa bản địa bài ngoại ở những nơi di dân chạy trốn chiến tranh Vùng Vịnh… cũng giáng những nỗi kinh hoàng lên đời sống con người. Ở ngay những thời khắc này, chính các sự kiện ấy là thứ hạt dẻ làm nứt vũ trụ, chỉ khác lần này không còn nằm trên màn ảnh 2D và được Disney tạo ra (sự thật rằng nó vừa mua đứt 21st Century Fox); mà đó đã dần thành hình trong thế giới thực – một thế giới của con người, vì con người; và dĩ nhiên, do con người.

The Fix tuy nhiên là một tập hợp những điều tươi sáng hơn thế. Cuốn sách gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình. Lấy 10 chủ để nổi bật nhất nền địa – chính trị những năm vừa qua, Jonathan Tepperman một cách tài tình dẵn dắt người đọc qua những câu chuyện tái thiết của các quốc gia thuộc 4 châu lục; băng qua tình cảnh bất bình đẳng của Brazil, nạn tham nhũng ở Singapore, chủ nghĩa Hồi giáo Cực đoan ở Indonesia, những vết thương nội chiến của Rwanda hay lời nguyền tài nguyên của Bostwana. Bên cạnh đó, ông cũng lần mò đi tìm nguyên nhân lý giải vì sao Canada mở rộng cánh tay với người tị nạn, cách Hàn Quốc tăng trưởng – tăng trưởng nữa – tăng trưởng mãi để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, cách Mexico khởi động lại guồng máy chính phủ, cách Mỹ bùng nổ cách mạng Đá phiến hay phương pháp tháo gỡ nút thắt của New York sau vụ khủng bố 11/9. Nhìn nhận một cách khách quan, The Fix cắt ngang sự ảm đạm như một tia nắng (Adam Grant), và mang một chút hy vọng cho những ai vẫn đang mong muốn những điều tốt đẹp hơn – dĩ nhiên là thực tế hơn.

Trong vai trò Trưởng ban biên tập của Văn phòng Bộ ngoại giao, Jonathan Tepperman tiếp cận đọc giả dưới góc nhìn của một chuyên gia lành nghề. Như một bác sỹ giải phẫu tận tụy từng vấn đề, bằng kinh nghiệm và các mối quan hệ cá nhân, The Fix cung cấp cho người đọc những thông tin đúng đắn, thức thời, đôi khi ngay cả tuyệt mật từ chính những người trong cuộc; và chính yếu tố này làm nên tính thực tế và sinh động cho cuốn sách. Lấy ví dụ như trường hợp cách Mexico tháo gỡ guồng máy chính phủ ngay giữa những cuộc chống đối bè phái, mà theo Jonathan viết, đó đều là những “hoàn cảnh vụn trộm” hay những “cuộc dàn xếp bí mật” giữa 3 đảng phái nhà nước; và nếu không dùng bất cứ một mối quan hệ nào để tiếp cận những cá nhân chủ chốt từng tham gia các hội nghị trên, khó lòng để hiểu được cách chúng vận hành gỡ rối ra sao. Do đó, cá nhân người viết ở góc độ nào và đóng góp ra sao ít nhiều tạo sự thức thời cho cuốn sách này.

Và có một thực tế đa số những cuốn non-fiction ăn khách ngày nay được viết bởi những nhà báo lăn xả hơn những chuyên gia trong ngành. Có thể kể đến như Bad Blood của John Carreyrou, The Shock Doctrine của Naomi Klein, Secret Formula của Frederick L. Allen hay Seven Days in the Art Work của Sarah Thornton,… Đơn giản là vì, dưới góc độ của một nhà báo, nó đòi hỏi người viết cung cấp những thông tin giật gân, có thể gây bất ngờ hay chính những điều ngay cả người đọc không thể màng tới; và cũng chính lẽ đó, chưa chắc là những thông tin chính xác. Trong khi đó, Jonathan Tepperman giữ vững vai trò hai mang của mình – ông tìm tòi như một nhà báo, nhưng khẳng định như một chuyên gia. Cách xây dựng của ông đi từ những điều nhỏ nhặt nhất, như thể cách giải quyết bất bình đẳng ở Brazil bằng chính sách Bolsa Família, khi hỏi tổng thống Lula của nước này đâu là mấu chốt của vấn đề, ngài tổng thống đã không ngần ngại trả lời: “Người hiểu rõ nhất người nghèo thật sự cần gì là những người như mẹ ông – ấy là bản thân người nghèo”. Rõ ràng nhận thấy, Jonathan bằng cách tiếp cận trực tiếp và thức thời làm cho vấn đề một cách sáng tỏ, không đi vòng tránh né, đoán già đoán non hay tin tưởng vào những nhận định ở phía phủ định để phù hợp với con đường xây dựng cuốn sách như trường hợp của nhiều nhà báo khác.

Ảnh: Foreignpolicy.com

Cạnh đó, với các vấn đề trong cuốn sách này, Jonathan không chỉ nêu ra vấn đề, trình bày những cách giải quyết; ông cùng đó nêu bật điểm yếu hay cách áp dụng ra sao vào các nền chính trị khác. Do đó với The Fix, người đọc không mang cảm giác đây là cuốn sách tâng bốc giả tạo những sáng kiến cá nhân; khi một cách thẳng thắn, những điểm yếu của cai trị độc tài, của chủ nghĩa thực dụng, của lối từ bỏ cái hoàn hảo lấy cái có thể chấp nhận được vẫn tồn tại trong này. Jonathan không dè chừng, không sợ hãi và phơi bày chúng như những điểm yếu cần có của muôn mặt vấn đề. Đơn cử như chương về cách mạng Đá phiến của Mỹ, ông không ngần ngại chỉ ra đâu là lý do tuy nằm trên một mỏ đầy những trầm tích đá phiến với một hàm lượng gấp rất nhiều lần Mỹ nhưng lục địa già lại từ chối cơ hội khai thác này, để rồi vẫn bị Nga nắm chui khi phụ thuộc nhập khẩu hơn 1/3 khí đốt từ đất nước này. Hay bởi những đặc tính rất Trung Quốc: ngại mạo hiểm, ưa đi tắt đón đầu và thiếu nguồn khích lệ thị trường tự do đã khiến công cuộc khai thác đá phiến ở đây giậm chân tại chỗ cho đến ngày nay.

Ở một mặt khác, ông không tôn vinh quá đà hay cố lý tưởng hóa bất cứ một cá nhân hay đường lối, chính sách nào. Chẳng hạn như ngay khi vừa cho thấy một nước Mỹ sẵn sàng nghiên cứu những đường hướng mới trong cuộc cách mạng đá phiến, ông liền quay ngoắc phê phán lối thụ động đối mặt với khủng bố trong cơn ảo danh chống phá giữa các đảng phái làm tê liệt nghị trường Washington; để chính bộ máy địa phương như New York phải căng mình đứng ra lo liệu. Hay một mặt khác, ông không ngần ngại cho thấy lối cai trị độc tài của Lý Quang Diệu để đưa Singapore ra khỏi con đường tham nhũng; hay Park Chunghee tiếp tay những chaebol (tập đoàn gia đình) dần dần làm lũng đoạn kinh tế Hàn Quốc khi chỉ vừa khởi sắc. Đây đều không phải những điều đáng khen hay nên học tập trong một thế giới tiến gần đến dân chủ hóa, tự do hóa ngày nay; nhưng với những bước phát triển ngay từ bữa đầu, đây thực sự là cuộc tiểu phẫu đi sâu vào lòng vấn đề, không vòng tránh, không giảm nhẹ. Một lối viết dũng cảm, mạnh mẽ và phơi bày.

The Fix mang trong bản thân thế mạnh không chỉ của những chính sách cứu vớt khỏi cơn bĩ cực chính trị; mà còn chứa trong mình câu chuyện lịch sử của từng quốc gia dính líu ít nhiều trong này. Jonathan bằng cách nghiên cứu sâu rộng đi thẳng vào những mâu thuẫn, cách nó hình thành; đôi khi là những tập quán, phong tục tồn tại xa xưa ở những vùng đất ta chưa từng biết. Ông đi sâu vào nghiên cứu các gacaca (toà án hương thôn của Rwanda), kgotla (phiên giải quyết giữa các tù trưởng Bostwana), đặc điểm Hồi giáo cực đoan nửa vời của Indonesia hay khởi thủy một nền Canada trắng của Canada,… Do đó, nhìn chung, The Fix phù hợp người đọc ở nhiều góc nhìn. Nếu không quá chú trọng đến cách những quốc gia tái thiết – vì có lẽ đó là việc của những người chuyên trách hơn – thì cuốn sách này cho ta góc nhìn tuy chỉ một giai đoạn nhỏ, nhưng đều là những thời khắc chính trị quan trọng của những nơi chốn này. Quốc gia tái thiết đứng giữa hai bờ quá khứ – tương lai. Nếu thấy quá xa trước tương lai bất định, cứ nhảy ngược trở về quá khứ để xem cuộc nội chiến giữa 2 tộc người Tutsi và Hutu ở Rwanda tạo nên hơn 130.000 tội phạm diệt chủng và cần hơn 200 năm mới xử lý hết. Hay quay về thời khắc Singapore vừa được trao trả độc lập, với sự đồi bại và tội ác ngút trời: hội tam hoàng và những hội kín người Hoa công khai điều hành ổ hút và nhà thổ, tay chân chém giết tranh giành địa bàn khắp các đường phố,…

Thế nhưng không thể nói The Fix không có điểm yếu. Thứ nhất, nhìn chung các vấn đề trong cuốn sách này đều là các case study, do đó chúng đều là những giải pháp chỉ trên bề mặt, không một hướng đi cụ thể. Tuy Jonathan đã rất cố gắng đúc kết rất nhiều điểm chung, rất nhiều phương hướng có thể soi rọi cho những nền chính trị khác; nhưng nó là điều bất khả cho nền chính trị của các đất nước quá khác xa nhau. Nhưng như một bài học cuối cùng ông đúc kết lại, đôi khi ta phải từ bỏ cái hoàn hảo để lấy cái có thể chấp nhận được; và ở riêng điều này, The Fix tỏ ra có tác dụng. Không hoàn toàn vô ích khi học hỏi Canada về cách dang tay hỗ trợ và giữ lại người tị nạn hay cách chính quyền thành phố New York tự cứu lấy mình khỏi những lo toan khủng bố đè nặng.

Thứ hai, điểm yếu ở tính địa phương. Ở đây, hầu như 10 bài viết đều gắn liền với 10 cá nhân tổng thống xuất sắc – những người đoán đầu và chịu thử thách. Cùng đi với đó là những hoàn cảnh chính trị mà như Jonathan đôi khi thừa nhận, là rất đặc biệt, có một không hai. Chính những điều này làm nên tích chất manh mún của mỗi vấn đề. Như thể ở trường hợp Indonesia: ta không thể nói lực lượng Hồi giáo ở những khu vực vùng vịnh như Iran, Iraq hay Syria không có đường lối cứng rắn như ở Indonesia để rồi áp dụng bài học ấy ở các nước này. Hay một Bắc Triều để vươn mình phát triển như Nam Triều của ngày hôm nay, thì đào đâu ra các chaebol – gia độc gia đình để được nhà nước dù cho độc tài rót vốn, miễn thuế hay thúc đẩy phát triển? Cho nên nhìn chung, với những case study rất nhỏ và cụ thể tỏ tường thế này, một góc nào đó cho thấy The Fix vẫn chỉ là câu trả lời cho những vấn đề thức thời. Nó không bao quát, không làm nên định lý chung, không thành quỹ tích cho những đường đi vì một thế giới sẽ đẹp đẽ hơn.

Và điều cuối cùng, phụ thuộc tâm lý hơn bất cứ vấn đề nào khác của cuốn sách này. Rằng, con người với một bản chất luôn thích khám phá, bóc trần những điều tăm tối hơn là hy vọng. Dẫu cho phần đầu Jonathan một cách tinh quái nêu bật lên những lần ranh hiểm nguy trước khi đi vào giải quyết, nhưng với thời lượng quá chông chênh nhau đâm ra thiếu đi tác dụng. Không thể trách ai, chỉ trách ông quá lạc quan viết nên cuốn sách e quá tươi sáng cho những con người ủ dột của ngày hôm nay.

Đồng hồ tận thế (Doomsday Clock) vừa nhích thêm 20 giây đến khoảng cách diệt vọng của xã hội loài người, làm giảm khoảng cách xuống còn 100 giây đến thời điểm nửa đêm của ngày cuối cùng. Theo đó, Nhóm nhà Khoa học Hạt Nhân Mỹ cho rằng, hai hiểm họa diệt vong là chiến tranh hạt nhân và biến đổi khí hậu thúc sẽ đẩy càng nhanh quá trình diễn tiến. Chúng còn tăng lên khi có hàng loạt các mối đe dọa khác, khi chiến tranh thông tin trên không gian mạng đang làm ảnh hưởng khả năng đối phó một cách hiệu quả của xã hội. Và The Fix, với nguồn thông tin đầy ắp của mình, lướt qua như một tia sáng cho thấy vẫn có thể phần nào kiểm soát tình hình chừng nào chúng ta vẫn còn cố gắng và xắn tay áo lên để rồi hành động. Như đoạn mở đầu của ông trong cuốn sách này, rằng:

“Từ bỏ hy vọng tất nhiên là nỗi cám dỗ – nhất là vào thời điểm dường như có quá nhiều điều bất ổn xảy ra với thế giới này. Tuy nhiên, vấn đề với nỗi tuyệt vọng là nó chẳng có ích gì. […]

May thay cho chúng ta, nó cũng dư thừa nữa. Không một thử thách nào (dù có vẻ nghiêm trọng đến mấy) là thật sự không thể vượt qua. Giải pháp cho sự bế tắc […] đã có sẵn ngoài kia.

Bạn chỉ cần phải biết nhìn vào đâu để sửa sai mà thôi.”

Hết.

Ngô Thuận Phát

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết sau:


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

“Thế giới mới tươi đẹp”: Nơi hạnh phúc là cội nguồn của bất hạnh

Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu.

Đăng từ

on

Người đăng

Cốt truyện kể gì?

Trong tác phẩm Thế giới mới tươi đẹp, Aldous Huxley đã xây dựng một xã hội tương lai thuần túy dựa trên sự hạnh phúc – bất chấp hệ quả về mặt đạo đức. Ở tương lai tưởng tượng ấy, khoa học phát minh ra những viên soma giúp người ta lâng lâng và quên đi những nỗi buồn đau, giống như một loại ma túy đỉnh cao của thời đại. Xã hội với tôn chỉ là “hạnh phúc”, nơi công nghệ tiên tiến trở thành công cụ chính để hoàn thành quá trình sinh sản nên các thú vui xác thịt tồn tại chỉ để thỏa mãn tình dục chứ không hề vì mục đích duy trì nòi giống. Người dân hoàn toàn bị lệ thuộc bởi sự thao túng về tâm trí của các lãnh đạo cấp cao. Huxley đã liên tưởng và cường điệu những tệ nạn xã hội trong tương lai một cách đặc sắc, với nguyên nhân lý tưởng là sự sai trái này bắt nguồn từ sự mất tự do và trách nhiệm cá nhân trong một cộng đồng. Không ai trong số họ dám chống đối và thách thức hệ thống cấp cao lãnh đạo. Tất cả mọi người đều tin rằng họ cùng nhau đoàn kết làm việc vì “lợi ích chung”. Vị thần của xã hội này là Ford – là biểu tượng của sự phi nhân hóa và mất cá tính của loài người. Nhìn tổng quan, ưu thế đặc biệt của quyển sách này chính là cốt truyện phi logic đến khó tin nhưng lại phản ánh góc nhìn tương lai khá thú vị.

Aldous Huxley

Tại sao một xã hội không đói nghèo, không bệnh tật, không chiến tranh lại không hề tốt đẹp?

Những khái niệm và quy tắc mà cuốn sách đưa ra thực lòng là rất kỳ quặc, đến nỗi mà nó làm tâm trí tôi bị lẫn lộn, lan man đủ thứ điều về cuộc sống. Nếu thực sự cái thế giới kinh khủng ấy trở thành đời sống thực thì mọi chuyện sẽ như thế nào? Những việc như những đứa trẻ được nhà nước tạo gen và nuôi dưỡng, những từ như “cha” và “mẹ” được coi là lời tục tĩu khiến tôi cảm thấy lo sợ. Cảm thấy lo sợ vì nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào mức phát triển liên tục của các tầng lớp cao nhất, khi mà giai cấp xã hội được chia ra quá rõ ràng và những người thấp cổ bé họng thì cam chịu từ trong tiềm thức. Nhìn lướt qua thì thấy nơi đó thật tốt đẹp nhưng nếu xem xét kỹ thì nó hoàn toàn mất đi nhân tính, bất công và đàn áp tinh thần của người dân. Tình yêu và nghệ thuật đã trở thành thứ xa xỉ bởi người ta chỉ chú trọng đến tình dục rẻ tiền; những “phim đen hạng sang” rải rác khắp mọi chốn để thay thế cho dòng phim truyền thống. Ở đó, tình dục và sinh sản đã được tách ra và phụ nữ không còn sinh con nữa, tình dục đã trở thành một trò giải trí nhàm chán và được khuyến khích làm hàng ngày với nhiều người khác nhau. Các tư tưởng đạo đức đã thay đổi và giống như cả xã hội đang cổ vũ những người trẻ hãy cứ trần truồng để thực hiện “trò chơi tình ái” trong các bụi cây, bụi rậm ven đường nào đó. Nếu sống trong một xã hội như thế này, chắc tôi cũng phát điên mà la lên để đòi “quyền được bất hạnh”, để kiếm tìm lại những đam mê và sáng tạo mà bản thân đã đánh mất đi bởi sự chuyên chế và áp bức của một xã hội tàn bạo từ trong ý thức và bộ máy chính trị.

Thực chất, “thế giới tươi đẹp” ấy đã quay trở lại thời phong kiến cổ xưa vì việc kết hợp vô lý giữa khoa học công nghệ và hạnh phúc xác thịt. Tôi có cảm giác như những người lãnh đạo trong xã hội này đã áp đặt chế độ ngu dân cho toàn thể con người, họ không cho bất kỳ ý tưởng cá nhân nào bộc phát, họ không cho bất kỳ sự tiến hóa nào vượt ra khuôn khổ đã định sẵn bởi gen và thụ thai trong ống nghiệm. Và chính sách thực dân cũng được áp dụng từ trong tâm tưởng khi Alphas, Betas nắm giữ quyền lực và đại diện cho đẳng cấp của trí tuệ và thể chất còn Gammas, Deltas và Epsilons thì lại chịu chế độ nông nô. Tất cả những sự tốt đẹp ấy chỉ mang vẻ hào nhoáng bên ngoài, chỉ là mọi người bị ép buộc là hài lòng với sự ổn định đầy dối trá và những thú vui thể xác bần hèn ấy mà thôi. Làm gì có thứ hạnh phúc mà chúng ta phải hy sinh chủ nghĩa tự do và suy nghĩ cá nhân để vun đắp cho nó chứ? Sự nguy hiểm của công nghệ như một mầm mống len lỏi qua từng ngày và qua quyển sách này thì mọi thứ trở nên kinh hoàng biết bao. Một ngày nào đó, khi ánh bình minh của con người chợt tắt, nhường chỗ cho công nghệ, máy móc ngự trị thì khi đó đời sống tự nhiên sẽ bị che lấp bởi những thứ cứng ngắt và tẻ nhạt. Khi gán ghép khoa học vào yếu tố phi đạo đức, rõ ràng, tác giả đã làm bật lên được sự đáng sợ ẩn sau những tiện ích của nó. Sự phản đề của tác giả về niềm tin phổ biến của quần chúng vào công nghệ như một phương thuốc tương lai cho các vấn đề gây ra bởi bệnh tật và chiến tranh đã hoàn toàn hiệu quả.

Lời kết

Sự thành công của quyển sách này một phần vì đã đánh bật niềm tin của chúng ta rằng công nghệ có sức mạnh để thay đổi cả thế giới, khi Huxley cho thấy nó có tiềm năng trở nên nguy hiểm đến cỡ nào. Khi John đòi “quyền được bất hạnh” thì Mustapha đã thể hiện quyền ấy kèm theo những căn bệnh như ung thư, giang mai, ăn uống đói khổ và cả sự sợ hãi về tương lai. Nhưng rõ ràng, khi đọc đến khát vọng chân thực nhất của người Hoang dã, “Nhưng tôi không muốn thoải mái. Tôi muốn Thượng đế, tôi muốn thơ ca, tôi muốn nguy hiểm thật sự, tôi muốn tự do, tôi muốn lòng tốt. Tôi muốn tội lỗi.” – thì chúng ta đều cảm nhận được đây chính là những ước muốn thể hiện bản chất thẳm sâu trong loài người. Bởi lẽ việc loại bỏ tất cả những điều khó chịu và nỗi buồn trong cuộc sống đã vô tình làm loại bỏ cả những thú vui thực sự trong cuộc sống.

Đây là một cuốn sách thực sự phức tạp và tôi phải thú nhận rằng có một số phần tôi đọc mà chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, may mắn thay, ý nghĩa xuyên suốt câu chuyện thì tôi đã thấu hiểu được. Có lẽ, một phần ý tưởng của tác giả bắt nguồn từ Chiến tranh thế giới thứ nhất với việc đánh dấu sự kết thúc của những giấc mơ phi lý theo chủ nghĩa lãng mạn trong văn học, giống như một số kế hoạch không tưởng ngoài đời thực sắp được đưa ra với những hậu quả tai hại. Chế độ Cộng sản ở Nga và Đức Quốc xã đều bắt đầu như những tầm nhìn phi logic như thế. Thế giới mới tươi đẹp không hề miêu tả những tình tiết máu me, rùng rợn giống như truyện kinh dị hay những tình huống bi thương, bất hạnh như tiểu thuyết tình cảm. Thế nhưng, cảm giác ám ảnh và lo sợ mà nó mang lại thực sự rất mạnh mẽ, vì nó khiến người ta rờn rợn khi nghĩ về thế giới, con người trong truyện. Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu. Hạnh phúc đã được lái sang một nghĩa mà nếu ai trải qua cũng có thể gọi đó là hạnh phúc cấp thấp giả tạo nhất.

Hết.

Trần Nguyễn Phước Thông

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!