Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Nghệ thuật của sự Tàn độc

Những vần văn của Tanizaki vẫn sống. Có lẽ Akutagawa, cháy rụi ở tuổi còn quá trẻ, biết rằng những vần văn của ông đang tiến gần về cõi chết.

Published

on

ART OF CRUELTY
Ian Buruma

Ra đời hơn kém nhau khoảng mười năm, hai truyện ngắn The Tattooer (Xâm mình) (1910) của Tanizaki Jun’ichiro và Hell Screen (Bức bình phong địa ngục) (1918) của Akutagawa Ryunosuke có những nét tương đồng rõ rệt. Xâm mình kể về Seikichi, một nghệ sĩ xăm mình trong giai đoạn suy đồi thời kỳ Edo (tôi đoán là khoảng những năm 1840), một người có tham vọng – theo lời kể của tác giả – là khảm linh hồn anh lên lớp da của một người đàn bà tuyệt mỹ. Anh tiêu tốn rất nhiều thời gian để kiếm tìm tấm vải bạt người hoàn hảo cho kiệt tác đời mình, và khi bắt gặp đôi chân thanh tú của một thiếu nữ trà quán, anh biết đích đến đã gần kề. Bản năng mách bảo anh rằng, “Đây là bàn chân phải được tưới tắm bằng máu của đàn ông, bàn chân để chà đạp lên thân xác họ.”

Khi thiếu nữ với đôi bàn chân cám dỗ ghé thăm xưởng vẽ của anh, Seikichi cho cô xem bức tranh vẽ một nàng công chúa xinh đẹp – đang chứng kiến cảnh tù nhân bị hành quyết – trong trạng thái say mê. Thiếu nữ thú nhận rằng trong cô cũng dấy lên những xúc cảm tương tự như của nàng công chúa tàn nhẫn. Đôi mắt người thợ xăm lóe lên niềm vui thích. Seikichi bỏ thuốc cô và xăm trên làn da trắng mịn của cô ngày ngày đêm đêm. Khi cô tỉnh dậy từ cơn hôn mê, hình xăm chân nhện trên lưng cô dường như vừa di chuyển từ vai xuống eo. Người thợ xăm kiệt sức, linh hồn anh mắc kẹt vĩnh viễn trong tấm lưới của con nhện cái. Thiếu nữ hóa thân thành một con quỷ dâm dục, từng gã đàn ông một biến thành nô lệ của ả. Dù chuyện gì xảy ra, cái đẹp vẫn khiến cả hai ngây ngất.

*

Câu chuyện của Akutagawa cũng xoay quanh một nghệ sĩ – một họa sư cung đình của lãnh chúa quyền lực nhất Kyoto. Họa sư Yoshihide có sở thích vẽ những khung cảnh bạo lực và ác nghiệt; hắn khăng khăng đòi chứng kiến tận mắt từng tình tiết kinh hoàng trước khi vẽ lại thành tranh. Gã đệ tử xinh trai của hắn bị ép khỏa thân và tra tấn bằng rắn và chim cú, hoặc trói lại trong những tư thế đau đớn cùng cực.

Yoshihide, một người đàn ông u buồn và chết chóc, chỉ duy nhất yếu lòng trước cô con gái mà hắn thương yêu hết mực. Lãnh chúa của Yoshihide phải lòng cô gái xinh đẹp này, nhưng những lời tán tỉnh của ngài bị cự tuyệt.

Yoshihide nhận lệnh vẽ một bức bình phong khắc họa khung cảnh địa ngục. Hắn yêu cầu lãnh chúa một ân huệ: để truyền tải trọn vẹn sự rùng rợn của chủ thể trung tâm, hắn muốn được chứng kiến cảnh một chiếc xe bò bốc cháy, trong đó có một quý cô đang giãy giụa trước cái chết khiếp đảm cận kề. Lãnh chúa, với sự chờ mong thích ý, hứa hẹn sẽ dàn xếp được yêu cầu này. Một chiếc xe bò xuất hiện với một người thị nữ xiêm y lộng lẫy ở trong. Ngay khoảnh khắc chiếc xe bắt lửa, Yoshihide phát hiện – trong sự hỗn loạn vừa kinh hoàng vừa mê hoặc – rằng hắn đang chứng kiến chính con gái mình bị thiêu sống. Bức bình phong của hắn hiển nhiên là kiệt tác, được tất cả mọi người ca tụng. Vào ngày tác phẩm hoàn thành, Yoshihide treo cổ chết.

Cả hai câu chuyện đều lãng mạn và mỹ, tuy nhiên trong trường hợp của Tanizaki lại có đôi chút bóng bẩy và đồi trụy. Nó phi luân lý – không phải là trái luân lý – như lời phán quyết của Oscar Wilde rằng không có nghệ thuật luân lý hay trái luân lý, chỉ có nghệ thuật tốt hay tồi. Đúng vậy, trong cả hai tác phẩm, nghệ thuật vị nghệ thuật được đẩy tới giới hạn tận cùng. Không có gì – kể cả cái chết – là quá đà để hi sinh cho chữ mỹ.

Ai đó có thể bị lừa phỉnh mà nhận thấy những đặc trưng Nhật Bản trong hai tác phẩm này – một cảm giác mỹ học không bị trói buộc bởi phẩm hạnh Thiên Chúa Giáo. Quan điểm này được một số nhà phê bình Nhật Bản ủng hộ; họ chỉ ra rằng những giá trị mỹ học của Tanizaki không phải là lời công kích đến đức hạnh hay nhân văn, mà nó hoàn toàn bàng quan trước những quan tâm kể trên. Điều này trái ngược với giới “suy đồi” Tây phương, những kẻ cứ bận bịu chống đối cùm chân tôn giáo nên chẳng bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi đó. Cũng có thể suy đoán rằng những nghệ sĩ trưởng thành trong nền văn hóa nặng nề lễ nghĩa sẽ trở nên ám ảnh với những xúc cảm chân thật; lòng thành của họ chỉ có thể được kiểm nghiệm thông qua những thái cực bạo liệt – ví như tự tử đôi là chứng nhân duy nhất của tình yêu bền bỉ, và tương tự thế.

Nhưng tôi không cho rằng mỹ học của sự tàn độc trong những tác phẩm của Tanizaki và Akutagawa mang đậm chất Nhật. Khi viết Xâm mình, Tanizaki là một độc giả nồng nhiệt của Oscar Wilde, và điều đó hiện hữu. Sự ám ảnh của ông với hình tượng femme fatale1 (độc phụ) – ít nhất là trong những tác phẩm thời kỳ đầu – bị chi phối bởi Flaubert, Baudelaire và Wilde cũng nhiều như bởi văn chương Nhật Bản.

*

Tôi nghĩ rằng nhận xét này cũng đúng với Akutagawa. Tác phẩm của ông thường đặt bối cảnh trong một giai đoạn lịch sử Nhật Bản, nhưng tri giác văn chương của ông bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các tác giả Tây phương. Trong Cogwheels (Những bánh răng), một ghi chép u buồn về căn bệnh điên đang dần phôi thai, được dịch nhuần nhuyễn bởi Cid Corman và Susumu Kamaike, Akutagawa liên tục đề cập đến văn chương Tây phương, khiến những ảo giác của ông bị nhuốm màu mê sách lạ thường, hệt như thể ông đang sống cạnh những bóng ma văn học.

“Khi ngồi trong phòng, tôi từng nghĩ về việc gọi điện đến một bệnh viện tâm thần nào đó. Nhưng bước chân đến đó nghĩa là tôi chết. Sau nhiều phút chần chừ, tôi quyết định đọc Tội ác và trừng phạt để sao nhãng chính mình. Tuy nhiên, trang văn mà tôi tìm đến là của Anh em nhà Karamazov. Đó là đoạn văn Ivan bị hành hạ bởi Pháp Quan Ác Quỷ. Ivan, Strindberg, de Maupassant, chính tôi, trong căn phòng này…”

Tôi không có ý nói hai người này thiếu sáng tạo, hay là văn chương của họ không phản ánh được văn hóa và xã hội Nhật. Nhưng tôi nghĩ rằng có những phương thức tưởng thưởng hơn để tiếp cận những tác gia trác tuyệt này (tôi hơi ngần ngừ khi dùng từ trác tuyệt để miêu tả Akutagawa, nhưng không với Tanizaki) hơn là việc tìm kiếm cái gì mới là kết tinh chất Nhật. Ví dụ, vì sao hai tác giả với lý lịch tương đồng, có lối thưởng thức văn chương khởi điểm giống nhau, lại kết thúc ở hai thái cực đối lập?

Cả hai người đều được sinh ra tại “hạ thành” Tokyo. Cả hai đều bị quyến rũ bởi phương Tây, dù chưa ai đặt chân đến đó. Cả hai người đều thoát ly (nếu đó là từ ngữ chính xác) khỏi vấn đề chính trị và xã hội vào chủ nghĩa mỹ học. Nhưng Akutagawa từ chối những ảo tưởng ma quỷ để đến với những bài viết tự truyện duy ngã luận mà những nhà phê bình văn học Nhật thích phân loại là văn học tinh khiết nhất. Ở đây, văn học tinh khiết là văn học không cốt truyện, thuần túy tập trung vào những biến chuyển vụn vặt trong tâm trạng tác giả và những chi ly tiểu tiết trong cuộc đời không mấy biến cố của anh ta.

Trái lại, Tanizaki luôn là một tác giả nổi tiểng không biết ngượng cùng khẩu vị kịch nghệ, tư tưởng đa dâm và ảo tưởng lố bịch không bao giờ ngã ngựa đến tận khi ông chết ở tuổi 79 vào năm 1965. (Akutagawa tự sát vào năm 1927 khi ông 35 tuổi.) Trong một bài luận về Tanizaki, Mishima Yukio từng bình luận rằng người dì xinh đẹp của ông sẽ có nét vui vẻ trầm lặng khi nghe người ta đề cập đến những tác phẩm “suy đồi” của Tanizaki. Mishima viết, “Văn chương của Tanizaki đầu tiên hẳn là rất ngon lành, như ẩm thực Pháp hoặc Trung Hoa.”

Chủ thể văn chương chính của Tanizaki là tình dục, đặc biệt là ác dâm, dẫn đến hứng thú của ông với bàn chân của các quý cô, trong khi Akutagawa càng càng càng chìm đắm trong chủ nghĩa ái kỷ, thiếu thốn giá trị chung, kinh tởm với bản thân, và cuối cùng là cái chết. Những ám ảnh đa dạng ấy hiện diện rõ ràng trong hai truyện ngắn tường thuật ở trên. Nhân vật nam chính của Tanizaki – Seikichi – biến nàng thơ của mình trở thành một ả quái vật, nhưng đồng thời tìm thấy sự thỏa mãn nhục dục. Họa sư của Akutagawa tạo ra được kiệt tác đời mình, nhưng phải hi sinh người duy nhất hắn thương yêu. Nỗi ám ảnh của ông hóa thân thành sự ghê tởm, cuộc đời của ông trở nên vô nghĩa và chẳng đáng sống.

*

Những cuốn sách đang được bàn luận ở đây trước nhất nó thú vị bởi giá trị văn chương. Điều này đặc biệt chính xác trong trường hợp của Akutagawa. Những bài luận về thời thơ ấu với kết nối lỏng lẻo của Tanizaki có hiệu quả tốt hơn trong tiếng Nhật so với tiếng Anh. Paul McCarthy đã thực hiện một bản dịch xuất sắc, nhưng ông đã đúng khi cảnh báo trong phần dẫn dắt rằng các độc giả phương Tây có thể bối rối trước kết cấu chương hồi, vô tổ chức của tác phẩm – kết cấu này rất được các độc giả Nhật yêu thích, nhưng không thường gặp trong văn chương phương Tây đương đại. Tuy nhiên, những bài luận của Tanizaki là một bản hướng dẫn vô giá về cá tính của ông. Đây là bức chân dung tuyệt diệu của một nghệ sĩ viết như một đứa trẻ (người ta đã đúc kết rằng, theo cách nào đó, Tanizaki mãi mãi vẫn là một đứa trẻ). Ắt hẳn, sự hoài cổ về tuổi thơ là sợi dây xuyên suốt trong hầu hết những cuốn sách của ông. Đồng thời, thiên hướng gợi tình cũng là một phần quan trọng trong hồi ký thơ bé của Tanizaki, hẳn nhiên phải vậy.

Cứ thế, chúng ta biết đến những trò chơi con trẻ được hưởng ứng bởi Tanizaki và những người bạn, như là “trò bóng rổ”. Những cậu bé học sinh nhỏ tuổi cùng nằm xuống trong những cái rổ được đặt tên là “buồng ngủ của gái bán hoa”, giả vờ như họ là khách quan và gái nhà thổ trong nhà chứa hạng sang. Thời bấy giờ, có rất nhiều vụ án mạng gớm guốc xảy ra, thu hút được sự say mê của giới trẻ. Một trường hợp như thế – sau đó được dàn dựng thành một vở kịch nổi tiếng và được Tanizaki ưa thích – là vụ sát hại một gái quầy bar giải nghệ bởi người chồng pháp lý của cô. Tình tiết nổi bật là mặt cô đã bị con dao rạch đến biến dạng. Những bức ảnh chụp lại gương mặt này, cùng với hình ảnh của những diễn viên nổi tiếng, được trưng bày tại hội chợ địa phương. Một câu chuyện khác, khiến Tanizaki thậm chí còn hài lòng hơn, là việc tình thế đảo ngược khi nàng geisha thời thượng O-ume đâm chết tình nhân với một con dao nhà bếp. Mẹ của Tanizaki kết luận, “Tôi nghĩ nàng ta hẳn là hình mẫu của thế gian khi bàn về một ‘người phụ nữ thực thụ’!” Tanizaki trưởng thành chắc chắn là đồng ý.

Sự tôn sùng phụ nữ của Tanizaki được khơi nguồn từ mẹ ông, người dĩ nhiên là một mỹ nhân. Mọi người, kể cả chính ông, đều kể rằng ông là một cậu bé bám mẹ và một đứa bé hay khóc đến không tưởng. Dẫu đã qua những tháng năm chập chững, Tanizaki vẫn không cưỡng lại được bầu ngực của mẹ mình. Ông cho rằng nguyên nhân không phải là do vị sữa mẹ, mà vì “hương thơm ngọt ngào và hơi ấm dịu dàng từ bầu ngực Mẹ.” So sánh với mẹ của Akutagawa, một người đàn bà điên:

“Mẹ tôi là một người điên. Tôi chưa bao giờ trải nghiệm được cái gì gần với tình mẫu tử từ bà. Bà luôn luôn ngồi một mình trong nhà chính ở Shiba, mái tóc vấn vít quanh răng lược, thổi phù phù qua một tẩu thuốc thân dài. Gương mặt và thân hình bà rất nhỏ nhắn. Tôi không giải thích được, nhưng gương mặt bà luôn có màu tro, không có dấu hiệu sức sống nào.”

Ta còn nghe kể lại, một nguồn cảm hứng khác của Tanizaki là bức tranh Đức Mẹ Madonna thuộc quyền sở hữu của ông nội ông – thành viên Nhà thờ Dòng chính Nga. “Với lòng tôn kính không thể diễn tả thành lời, ngắm nhìn đôi mắt của Đức Mẹ Đồng Trinh đầy ân cần và từ ái, tôi cảm thấy như mình không muốn rời xa bà.”

*

Nagai Kafu – tiểu thuyết gia, dịch giả Baudelaire, một người cống hiến cả đời mình cho đời sống nhà thổ – khen ngợi những tác phẩm thời kỳ đầu của Tanizaki, đặc biệt là Xâm mình vì phong cách, sự tinh tế và “vẻ đẹp sâu sắc, bí ẩn nảy mầm từ sự kinh khủng xác thịt.” Thế nhưng Paul McCarthy – một người phô diễn sự sành sõi đáng nể với gu gợi tình của Tanizaki – lại có vẻ bối rối trước ý nghĩa chính xác trong cách diễn đạt của Kafu. Với tôi, những gì Kafu muốn nói khá rõ ràng. Bất cứ khi nào sự tôn sùng phụ nữ của Tanizaki nhuốm màu nhục dục, những nữ thần thanh tao ấy sẽ biến thân thành những con quỷ. Họ vẫn đẹp khó tả, và thậm chí còn đẹp hơn, có lẽ chính bởi những kinh hoàng mà họ gây ra.

Một khía cạnh thú vị trong hình mẫu femme fatale của Tanizaki là những cô gái ấy thường bị Tây hóa, xấc xược, màu sắc, và hơi thô tục. Điều này khiến nhà phê bình người Nhật Eto Jun bình luận rằng sự tôn sùng mang tính khổ dâm của Tanizaki là phép ẩn dụ cho Nhật Bản hiện đại. Nhật Bản tôn thờ Tây phương, hệt như cách những nam nhân của Tanizaki liếm chân những mụ nữ thần phản trắc. Nhưng Eto, người bị ám ảnh bởi Tây phương kể từ vụ chiếm đóng sau chiến tranh, hẳn nhiên là sẽ nói thế. Sự thật là, sự tôn thờ của Tanizaki rất lưng chừng nước đôi. Phương Tây, tựa như những tình nhân tàn độc, quyến rũ nhưng nguy hiểm. Ông từng so sánh văn hóa phương Tây như một thứ thuốc phiện vừa ngọt ngào vừa chết người. Trong những năm tuổi trẻ, ông từng bộc lộ ham muốn bị giết chết bởi thứ thuốc này. Về sau, khi ông rời khỏi Tokyo vào thập niên 1920, Tanizaki ngày càng hướng mình về Nhật Bản truyền thống của thời thơ ấu – vẫn còn sót lại ở Kyoto.

Thậm chí trong những câu chuyện về thời thơ ấu, những người phụ nữ Tây phương đĩ điếm vẫn xuất hiện như những sinh vật sinh ra từ trí tưởng tượng hơn là thứ gì khác. Tanizaki mô tả một nhóm những quý cô Anh Quốc trẻ tuổi trong một tổ chức mang tên Đại Học viện Văn hóa Âu châu, thiết lập tại đặc khu ngoại quốc ở Tokyo. Những quý cô quyến rũ này dạy tiếng Anh ở tầng một, nhưng có một khu tầng hai bí ẩn, nơi những học sinh nhỏ tuổi người Nhật bị cấm đặt chân đến. Một người bạn của Tanizaki mô tả – sau một cú nhìn trộm – rằng nó như một cái sào huyệt xa hoa. Có tin đồn lan truyền rằng khi những quý ông Nhật Bản giàu có đến thăm khu nhà, công việc của những quý cô này đa dạng hơn là chỉ dạy tiếng Anh.

Mặc cho những tôn thờ của ông nội mình dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh, Tanizaki chưa bao giờ thờ phụng tôn giáo hay là một người mộ đạo. Và cũng mặc cho những hiểu biết uyên thâm về văn chương Nhật, Trung và phương Tây, ông cũng không phải là một tác gia đặc biệt tài trí. Thực vậy, chính vì cái tiếng tăm rằng ông đam mê chủ nghĩa khoái lạc đến hết thuốc chữa, ông không được giới trí thức coi trọng. Văn chương của Tanizaki không có đủ thống khổ và tự vấn lương tâm để được đánh giá là “văn chương tinh khiết.”

Mặt khác, Akutagawa khiến họ hài lòng hơn; tác phẩm của ông luôn có đủ đầy thống khổ và tự vấn lương tâm. Ông chết với một quyển Kinh Thánh cạnh giường. Thế nhưng, ông chưa bao giờ – như cách người ta thường nói – tìm thấy Chúa. Trong Những bánh răng, một ông lão đã đề xuất rằng Thiên Chúa Giáo có thể là giải pháp cho nỗi đau của ông:

 “Nếu tôi có thể trở thành…”

 “Chẳng có gì khó đâu. Chỉ cần cậu tin vào Chúa, và Christ Con Trai Chúa Trời, và những phép màu mà Christ tạo ra…”

 “Ác quỷ thì tôi tin đấy…”

 “Vậy thì tại sao không tin vào Chúa? Nếu cậu tin vào bóng tối, tôi chẳng hiểu vì sao cậu không thể tin vào ánh sáng.”

 “Bởi vì có một số loại bóng tối chẳng hề có chút ánh sáng nào.”

Có thể lý do Akutagawa bị thu hút bởi Thiên Chúa Giáo một phần là do những giá trị mỹ học, tương tự như Oscar Wilde, cả hai người đều thưởng thức khía cạnh nghi thức và hình tượng tôn giáo. Nhưng tôi nghĩ mọi chuyện còn hơn thế. Mặc dù Akutagawa chưa bao giờ là một văn hào chính trị, ông hiển nhiên nhận thức được đi kèm với hiện đại hóa kiểu Tây phương là một sự rối loạn tín ngưỡng. Cũng không hẳn là ông có một nỗi khao khát phản động với Nhật Bản thuyền thống, còn lâu mới thế. Theo như ông nghĩ, Nhật Bản truyền thống cũng sụp đổ rồi. Điều ông đang tìm kiếm là một đặc tính tín ngưỡng vạn năng có thể cứu rỗi ông khỏi cái cảm quan cô lập dẫn đến chủ nghĩa duy ngã bệnh hoạn và thói ái kỷ thuần túy. Donald Keene tóm tắt chuẩn xác: “Người ta có thể vượt qua thói ái kỷ nhờ ơn trên, chứ không phải nhờ sự chiêm nghiệm cẩn trọng từ bất cứ luật lệ ứng xử nào.”

*

Những mô tả ngắn gọn của Akutagawa về sự thống khổ tinh thần dẫn đến kết cục tự tử là một bộ tài liệu xúc động. Ta cảm nhận được sức sống đang cạn dần từ người đàn ông này, chẳng để lại gì ngoài trí tuệ – lạnh băng, minh bạch đến kinh hoàng – những khi ông không chìm đắm trong những cơn hoang tưởng. Trong A Fool’s Life (Cuộc đời một kẻ ngốc), ra đời như bức thư tuyệt mệnh không lâu trước khi ông tự sát, Akutagawa so sánh mình với Icarus, trí tuệ của ông được gắn với đôi cánh nhân tạo bởi Voltaire:

 “Mở ra đôi cánh nhân tạo này, anh dễ dàng bay đến trời cao. Tắm mình trong ánh sáng lý luận, niềm vui và nỗi buồn nhân thế chìm dần dưới mắt anh. Vượt qua những thị trấn bẩn thỉu, đánh rơi sự chế nhạo và giễu nhại, anh bay vút lên những khoảng không vô định, hướng thẳng đến mặt trời. Cứ thế với đôi cánh nhân tạo, cháy xém bởi sức chói của mặt trời, một người Hy Lạp cổ đại đã rơi xuống biển, chết. Hình như anh đã quên điều đó rồi…”2

Tất cả những phân tích trên đâu đó ám chỉ rằng Akutagawa là một nhà văn sâu sắc hơn quý ngài Tanizaki thích hưởng lạc, kẻ dành quá nhiều thời gian cho những ám ảnh xác thịt hơn cho Voltaire, Icarus và sức sáng chói của mặt trời. Nhưng tôi tự hỏi điều này liệu có đúng không. Tôi tự hỏi liệu Tanizaki, thông qua sự hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa gợi tình, liệu có tiến gần với cốt lõi loài người hơn là Akutagawa không. Và điều quan trọng hơn là, Tanizaki đã truyền tải được điều này trong văn chương của mình. Những vần văn của Tanizaki vẫn sống. Có lẽ Akutagawa, cháy rụi ở tuổi còn quá trẻ, biết rằng những vần văn của ông đang tiến gần về cõi chết. Có lẽ đó là lý do ông không thể sống tiếp được nữa.

Hết.

Chú thích:

  1. Femme fatale (độc phụ) là danh từ ám chỉ hình mẫu phụ nữ có ngoại hình quyến rũ và bí ẩn lạ lùng, mê hoặc đàn ông nhưng thường mang trong mình những dụng ý nguy hiểm và thâm độc.
  2. Trích từ Cuộc đời một kẻ ngốc, Phạm Bích và Đỗ Nguyên dịch, NXB Văn học.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Ian Buruma, tại The New York Review of Books.


Đọc tất cả những bài viết của Aki-ten.


Tìm hiểu về tác giả Tanizaki Jun’ichiro



Phía sau trang sách

Chuyện xứ Dran xưa: Sao có thể còn bồi hồi hơn thế?

Published

on

Xứ Dran, ôi cái tiếng gọi thân thương bỗng hiện lên thật rõ trong từng trang hồi ức được viết bởi một con người yêu Dran như yêu chính linh hồn mình. Dran là ấu thơ, Dran là tuổi trẻ, Dran là chứng nhân của vạn thứ đổi dời. Dẫu bể dâu đã nhuốm màu lên từng trang lịch sử, dẫu thị trấn đã chuyển mình theo dòng chảy cuộc đời, nhưng (mong rằng) Dran vẫn là Dran yêu dấu, của bao thế hệ con người ở đây, trên mảnh đất cao nguyên lặng lẽ này. Dran, đó đâu chỉ là một danh xưng. Và hơn thế nữa, Dran là tình yêu, là nguồn sống, là cả một quê hương xứ sở đầy tha thiết bồi hồi...

(Mà cái sự tha thiết bồi hồi nào cũng đẹp, đẹp đến nỗi xót xa, khi đôi lần nhắc nhớ nhau nghe về một Dran xưa chỉ còn nằm lại trong từng trang hồi ức...)

Đã từng có một thời như thế, Dran là một thị trấn nhỏ nằm lặng lẽ và khiêm nhường giữa đất trời cao nguyên. Dran hoang sơ và vắng lặng. Dran chẳng có gì ngoài những xóm cùng thôn - những ngôi nhà nhỏ đơn sơ và thưa thớt. Chính những xóm nhỏ “lèo tèo” co cụm thành “một nhúm” ấy, đôi khi lại khiến người ta nhầm lẫn về một mảnh đất nghèo nàn, lạc hậu, tẻ nhạt và vô vị giữa đời. Thế nhưng, phải là dân Dran, phải yêu xứ Dran, phải sống và trải qua những tháng ngày ở Dran, thì người ta mới biết, Dran không hề bé nhỏ bao giờ.

Dran rộng lắm. Rộng từ những con đường. Rộng từ những lối đi. Rộng từ cây đa đến giếng nước giữa làng. Cây đa chẳng biết bao nhiêu tuổi nhưng đã sống cùng với làng rất lâu. Cây đa là nơi “bọn trẻ con” xứ Dran tập trung đến. Cứ đến tầm chiều, “bọn trẻ chúng tôi” lại tề tựu về đây, lại bắt đầu những cuộc vui bất tận. Những cuộc vui không toan tính, không muộn phiền, hay chẳng thêm một chút lo âu nào. Những trò chơi tuổi thơ. Những nụ cười tuổi thơ. Những tháng ngày tươi đẹp của tuổi thơ. Tất cả những thứ ấy đã tô điểm và đắp bồi cho tâm hồn của người con xứ Dran một niềm nhớ bồi hồi tha thiết, khi thời cuộc qua đi, đến một chiều ngoảnh đầu nhìn lại, bỗng thấy sao tuổi thơ vụt mất rồi. Tuổi thơ vụt qua tán cây già trước ngõ. Cây đa ngày ấy liệu có còn. Và cái sự hồn nhiên năm tháng ấy đâu rồi. Bạn bè ơi! “Bọn trẻ con” mà tôi đã nhắc đến, ôi chẳng phải đấy là những người mà tôi gọi là ông, là chú, những người đã sống và đã ra đi, đã gửi lại cho mảnh đất này một niềm thương nhớ về linh hồn xứ sở hay sao...

Giếng nước, như lời kể của chính nhà văn, đó giống như hiện thân của đời sống thị dân Dran ngày ấy. Giếng nước nằm ngay giữa ngã ba, miệng giếng vuông còn nước thì trong vắt. Giếng như nơi tụ họp của dân làng. Giếng bắt đầu những câu chuyện thường nhật. Ai muốn biết gì cứ đến giếng mà nghe. Người dân kể nhau chuyện ai yêu thương ai, ai ra sao và ai thế nào. Sao cũng được cả, chỉ cần thỏ thẻ, chỉ cần tâm tình và nhắc nhớ về một điều gì đó trong đời. Ôi cái xứ sở lạ kì làm sao, khi những người dân ấy lại trở nên thân tình và thắm thiết, chỉ nhờ vào cái giếng nước giữa làng. Nhưng giếng ơi, cũng giống như cây đa ngày ấy, giếng có còn đó không, hay chỉ là một hình hài ngủ quên trong kí ức. “Thời gian trôi đi. Làng tôi như mơ. Làng tôi ngu ngơ trở nên phố thị nửa quê nửa tỉnh. Làng tôi ngày xưa, giờ đây đâu còn bình yên...” Bỗng có chút gì đó nhoi nhói, ở trong lòng...

Rồi lại lần trong từng hồi ức của nhà văn, tôi bỗng thấy trước mắt mình là cả một xứ sở thu nhỏ. Ở đó, tôi biết về lịch sử xứ Dran, về con người xứ Dran, về ẩm thực xứ Dran, hay về cả những câu chuyện vụn nhặt. Xứ Dran xưa ngây ngô hiền hậu thế. Xứ Dran không có điện. Xứ Dran đi lại bất tiện vô cùng. Xứ Dran buồn thiu trong lớp sương mù phủ. Dân xứ Dran nào biết thư giãn, giải trí là gì. Nhưng xứ Dran không phủ phục nghèo khó. Xứ Dran vẫn chuyển mình từng ngày, để mà thay đổi, để mà tiến bộ, để mà cải thiện đời sống thị dân. Tất cả, đều nhờ vào những người dân nơi đây, hay những người dân đến từ vùng khác nhưng lại trót phải lòng chốn này.

Chuyện người xứ Dran là những câu chuyện dài, nếu có kể chắc rằng sẽ nhiều lắm. Nhưng chung quy lại, những câu chuyện ấy, đều là để làm bật nổi lên tính cách và đức hạnh của người dân nơi đây. Những con người vượt nghèo lam lũ. Những con người vất vả mưu sinh. Những con người biết yêu thương và biết cho đi không toan tính. Ai cũng có hàng tá vấn đề cần giải quyết trong đời. Nhưng họ đã sống với nhau bằng tình yêu thương. Họ sẵn sàng tha thứ cho nhau dẫu đã có lần từng thù hằn ghét bỏ. Họ mở lớp mang con chữ về làng. Họ cưu mang nhau những lần loạn lạc. Họ nỗ lực và phấn đấu học hành để không thua bất cứ đứa trẻ thành phố nào. Họ mở hiệu sách để buôn bán nhưng lại phóng khoáng cho độc giả mượn sách về đọc. Họ dựng đoàn kịch để phục vụ đời sống tinh thần của người dân. Họ lạc quan, họ tích cực (dẫu cho đời vẫn đầy muộn phiền thôi)... Ôi bao nhiêu nếp sống và nếp nghĩ, họ đã sống giữa đất trời cao nguyên ấy như một loài hoa mạnh mẽ và đẹp đẽ vô cùng.

Đi cùng với con người xứ Dran chính là thứ ẩm thực đặc sắc và tinh tế được bộc lộ rất rõ qua lời kể rất chi tiết của tác giả. Những thức quà quê đơn sơ và giản dị, những thức quà quê bé nhỏ và bình thường, ấy vậy mà, chỉ trong phút chốc, khi cái trăn trở về một niềm thương nhớ quê xa lại thao thức ở trong lòng, cái thứ ẩm thực bình thường ấy lại trở nên đặc biệt đến lạ. Dân xứ Dran yêu làm sao món bánh căn ấm nóng, ăn giữa chiều se lạnh cuối mùa hay giữa đêm bãng lãng mờ sương. Dân xứ Dran nhớ làm sao món nem nướng thơm lừng, đôi khi lại xao xuyến với món chè ngọt lịm hay món đậu hủ quen thuộc. Rồi bánh bèo, bánh hỏi, rồi bắp nếp mỡ hành... Những thức quà quê dẫu bình thường với biết bao nhiêu người, nhưng lại chính là tình yêu thương xứ sở của người dân xứ Dran. Bởi ăn ở Dran chắc chắn sẽ khác với những nơi khác. Ở Dran, họ tìm thấy được tình yêu quê hương - được đắp bồi bởi những con người xứ sở này.

“Vừa ăn vừa hít thở cái không khí trong lành của quê nhà. Ăn như thể cái ngon tăng lên gấp bội khiến người ta cứ mãi canh cánh bên lòng, để rồi khi thiếu đi là nhớ, nhớ da diết, nhớ phát cuồng. Bấy giờ quà mọn trộn lẫn với nỗi nhớ đã thành tình quê.

Nhớ quà đồng nghĩa với nhớ quê. Ai xa quê mà chẳng nhớ? Cái nỗi nhớ ấy nó đeo đẳng theo ta suốt cuộc đời không thể nào quên.

Tôi đợi bạn, hãy đến nhé.

Bienvenue à Dran.”

Nỗi nhớ quê đẹp đẽ đến vô cùng. Tôi bỗng nghĩ về đôi ba lời hát. Khi bé, mẹ dạy tôi hát rằng:

“Ngày mai con khôn lớn
Bay đi khắp mọi miền
Con đừng quên con nhé
Ba mẹ là quê hương.”

Ba mẹ là quê hương. Là quê hương. Mà quê hương thì bao giờ cũng đẹp. Đẹp hơn nữa, khi quê hương có mẹ.

Nhưng mẹ thì đã xa rồi...

Tôi xúc động lắm, khi đọc đến chương này. Bên dòng Mai Nương. Cả chương chỉ viết về người mẹ. Là mẹ của tác giả. Nhưng đó cũng là những người mẹ ở Dran. Người mẹ ngược xuôi gánh con chạy giặc. Bom rơi và lửa đạn. Người mẹ đau lòng nhìn đứa con bé bỏng của mình nhắm mắt ở sau lưng. Người mẹ lam lũ và vất vả. Người mẹ nghèo khó chẳng có gì. Nhưng người mẹ yêu con, yêu con hơn bao giờ hết. “Mẹ đã bỏ tôi mà đi”. “Tôi đi tìm mẹ”. Và tôi đã tìm được rồi đấy. Hình ảnh mẹ hiền hòa sống lại trong lòng tôi. Mẹ ơi, mẹ ơi. “Món cá nướng của mẹ tôi.” Tôi nhớ mẹ, nhớ cả câu hát thuở hôm nào...

“Một bông hồng cho anh
Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn mẹ...”

Đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn. Vui sướng trong những tháng ngày hạnh phúc, được cùng mẹ sống giữa quê hương, giữa yên bình đất trời.

Nhưng thời gian vô thường luôn là một quy luật của cuộc sống. Mẹ đã bỏ tôi mà đi. Dran xưa cũng bỏ tôi mà đi. Tôi ở đây phải chăng là nỗi lòng của những người xứ Dran thuở ấy. Rồi năm tháng lặng lẽ vùn vụt ngang qua kẽ mắt. Thị trấn vươn mình thành những phố hào hoa. Thị trấn có còn bình yên và khiêm nhường như xưa nữa. Đâu đó một ngày nhà gỗ bị thế chỗ bởi gạch ống cao tường, những cánh diều không thể bay lên trời vì sức nặng iPad, những thức quà quê bị quên lãng bởi thực phẩm công nghiệp, hay sắc vàng của hoa dã quỳ cũng trở nên lạnh lẽo tẻ nhạt bởi những chiếc xe ủi vô hồn...

Rồi một ngày, một ngày nào đó, chẳng ai biết được chi. Bởi thế nên, hãy cứ trân trọng những ngày mình đang sống. Những ngày khi mình vẫn còn tỉnh táo để nhận ra mình vẫn là mình, phố vẫn là phố, và những ban sơ chân thành lúc ban đầu vẫn luôn là một kí ức đẹp đẽ sống mãi trong lồng ngực.

Để Dran xưa hay là Dran nay vẫn đẹp một cách lặng lẽ, và an yên...

Đẹp như những trang thơ trong sách...

Trời cao mây trắng bay
Bướm vàng nghiêng đôi cánh
Im im chiều cô quạnh
Nghe chừng như ngất ngây

Hết.

Lâm Lâm

*

Đọc tất cả bài viết của Lâm Lâm

*

Trong khuôn khổ chương trình Tháng Phương Nam Khuyến Đọc 2020 (từ ngày 25.09 đến 25.10), tác phẩm Chuyện xứ Dran xưa hiện đang được giảm giá 20% khi đặt mua tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và website nhasachphuongnam.com.

Bên cạnh đó, rất nhiều tác phẩm văn học, tản văn Việt Nam như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, Sài Gòn - Chuyện đời của phố,… cũng nằm trong chương trình ưu đãi.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

William Faulkner đã dạy cho tôi cách viết văn như thế nào

Hay lời giới thiệu mới cho “Âm thanh và Cuồng nộ”

Published

on

Nhân kỷ niệm 123 năm ngày sinh của người thầy dạy tôi viết, cùng với nhạc The Carpenters.

Văn chương Mỹ thế kỷ XX có hai người khổng lồ xuất hiện như bằng chứng cho sự phát triển rực rỡ về tất cả điểm nhìn mà một nhà văn có thể khai thác được thông qua phương pháp nhìn cổ điển cùng sự chán chường cùng cực của hậu thế hệ nhạc Jazz, và vô tình hoặc hữu tình thay, họ đều là những nhà văn được trao giải Nobel với lý do tương đồng - công lao không thể thay thế trong việc định hình phong cách và sự phức tạp trong tiểu thuyết hiện đại hậu kỳ: Ernest Hemingway (tất nhiên), và William Faulkner (rất ngạc nhiên). Nói như thế để làm tỏ tường rằng, so với Mr. Papa thì Faulkner vẫn chưa nhận được sự nhìn nhận đúng đắn và dẫu cho có thì sự đúng đắn ấy chưa đủ tính xung đột để xiển dương nhà văn và tác phẩm, ít nhất là ở Việt Nam. Tới nay, chỉ có 7 tiểu thuyết trong số 13 cuốn tất cả được dịch sang tiếng Việt một cách chính chuyên và không phải dưới dạng sách ngầm, sách chui, hoặc tôi không biết, đó là: Cọ hoang, Âm thanh và Cuồng nộ, Khi tôi nằm chết, Thánh địa tội ác (mới được tái bản sau nhiều lần thét một mức giá vô cùng học sinh, sinh viên, cho những tầng lớp bình dân muốn học vụ, từ phía các account facebook khơi dậy tinh thần ham đọc sách của giới trẻ bằng cách chuyển hóa việc đọc thành một việc thiêng liêng và hợp thời: sưu tầm bản sách quý, bên cạnh sưu tầm các phiên bản S100, S500 mà một nghìn năm nữa tôi cũng không dám bước chân vào), Bọn đạo chích, Nắng tháng Tám và hình như chỉ có một chiếc truyện ngắn duy nhất trong số hơn 900 trang truyện ngắn được Random House ấn hành năm 1934 (lúc này William vẫn còn tiếp tục viết) đó là Bông hồng cho Emily. Đáng chú ý thay, ba cuốn sách quan trọng và sáng giá bậc nhất của ông là A Fable (được giải Pulitzer, trước Bọn đạo chích, rất kinh tế cho các nhà in), Absolom, Absolom! (được đánh giá ngang hàng với Âm thanh và Cuồng nộNắng tháng Tám) và Go Down, Moses vẫn chưa có ai thèm dịch, hoặc có đủ khả năng và kiên tâm để dịch. Trong khi đó, hầu như tất cả tiểu thuyết của Ernest Hemingway đều đã được xuất hiện ở Việt Nam ngay cả trước 75 và nghe đâu là trước luôn 65, chưa kể các tuyển tập truyện ngắn hùng hậu rải khắp nhà sách đất nước. Đặc biệt, Ông già và Biển cả được đưa vào chương trình lớp 12 cũng là dịp để các mầm non Tổ quốc có cơ hội tiếp cận với cây đại thụ trong nền văn chương của một đất nước mà các em thầm ngưỡng mộ chiều dài của quý, hay một ban nhạc, một người nổi tiếng, xinh đẹp nào đó, hoặc nhân vật Francis Scott Fitzgerald của nhà văn Gatsby, hoặc muôn vàn các phong trào và thuật ngữ mà các em hằng ao ước lĩnh hội hết.

Chỉ có một lý do cốt yếu mà tôi dùng để giải đáp thắc mắc cho sự vô danh của thầy tôi (dĩ nhiên là tôi đang nói về Faulkner, tôi chưa bao giờ coi Hemingway là thầy) là sự sinh sau đẻ muộn và bực dọc của ông ta. Nếu như người dịch mọi miền thế giới có thể xử lý Ernest Hemingway với vốn tiếng Anh trung tầm và khả năng ngữ pháp tầm sư phạm và được lay động con tim với trận Thế chiến II lịch lãm và con người lao động đánh đúng gót chân Achilles của dân ta, thì nếu như không nhân một đợt thiếu thốn tiền của mà viết nên Thánh địa tội ác, William sẽ vô danh. Cuốn tiểu thuyết sáng giá nhất của ông ta, thứ đem lại cho ông ta sự tung hê nhiệt tình của lớp lớp thế hệ văn chương Mỹ và lấn sang cả La-tinh - Âm thanh và Cuồng nộ, ông ta lại ngạo nghễ trả lời nó là sự thất bại rực rỡ nhất của ông, dù miệng bảo là yêu thích nhất nhưng chưa bao giờ hài lòng về nó

Âm thanh và Cuồng nộ hấp dẫn người ta ngay từ cái global-brand danh giá, một trong những văn bản khó đọc nhất thế kỷ XX, rõ ràng là như thế. Dấu hiệu đầu tiên ta có thể thấy, tựa đề được William thuổng từ một đoạn thơ trong Macbeth mô tả một người điên. Đúng vậy, ban đầu ý định của William chỉ là muốn viết một truyện ngắn dưới góc nhìn của một kẻ khờ dại, nhìn lên cái quần nhỏ bị dính bùn của một đứa bé gái lúc trèo lên cây và nghĩ đó là hình ảnh tuyệt diệu nhất xuyên suốt văn bản. Đó là lý do trong bản hòa tấu Âm thanh và Cuồng nộ, nhịp moderato lại để vào tay một thằng khờ, nỗi ô nhục của gia đình Jason Compson trình bày. Đó là Benjamin, hay trước đó là Maury. Đặt bối cảnh vào ngày 7/4/1928 nhưng không phải là như thế, vì bản chất dở khùng dở điên nên ý niệm về không gian và thời gian trong Benjamin-thằng khờ bị tháo dỡ đến vô cực, đó là sự giao thoa của tất cả sự kiện vụt qua như một cơn gió và trở lại ở những phần sau đó. William Faulkner chặn đứng tất cả các sự ý thức của nhân vật trong một dòng ý thức miên man nhưng đứt đoạn, đứt đoạn nhưng vẫn miên man. Với Benjy, tính từ bị triệt tiêu đến số cực tiểu, thay vào đó là động từ nguồn và danh từ phổ quát. Nhưng nhà văn tự nhận truyện ngắn chủ ý mình viết không đạt (trong bài phỏng vấn với Frederick L. Gwynn và Joseph L. Bronte) nên Quentin ở chương thứ hai là một sự nỗ lực phát triển câu chuyện mang tính chữa cháy.

Chương của Quentin lùi người đọc về mốc thời gian 2/6/1910, từ Jefferson đổi sang Harvard. Tuy Quentin là người tỉnh táo và có học vấn nhất nhưng chương của anh vẫn giàu nỗ lực phá bỏ không gian và thời gian. Ở chương này, cảm hứng chính cho ông chính là khúc bi ca của những số phận lạc lối mà Quentin chính là đại diện: anh ta chết chìm trong suy tư trước hiện thực của mình, anh ta không đủ khả năng để đối diện với nó. Thế nên ở chương này, Quentin cũng chẳng khá khẩm hơn Benjy là mấy, anh vẫn dở khùng dở điên, tự tiện phá dỡ mọi hình thức ngữ pháp và lối điệu cổ điển, để bước vào một thế giới ảm đạm nơi anh đối thoại với mình từng phút một ý nghĩ sự loạn luân và bi quan chủ nghĩa do cha anh gán cho từ thủa tấm bé. Ở thế giới đó, biểu mẫu lại xuất hiện dưới dạng sự vật phổ quát song lại mang nhiều suy tư và ẩn ý hơn Benjy: cổ mẫu nước, đồng hồ, chuông, em bé người Ý, bóng,... Nhưng William vẫn thấy mình thất bại trong việc tái tạo lại cảm giác ban sơ mà hình ảnh đứa bé gái trèo lên cây để lộ quần nhỏ dính đầy bùn đánh thức ông, thế là ông để Jason xuất hiện. Jason đưa người đọc quay lại trước chương của Benjy một ngày và chương kể ngôi một duy nhất không có chữ in nghiêng, được trình bày tuần tự và dễ dàng như chính nhân cách khô khan và khốn đốn của nhân vật. Và cuối cùng, Faulkner bước vào câu chuyện ở ngôi ba chương cuối, nhưng đúng như ông vẫn bi quan chấp nhận, ba nỗ lực sau này biến truyện ngắn thành tiểu thuyết vẫn chưa đủ để Caddy hiện ra từ sương mờ mông lung của lớp lớp câu chữ được viết bằng một thứ từ vựng dễ hiểu nhưng chính ngữ pháp khiến chúng thăng hoa và bế tắc.

Có thể nói Âm thanh và Cuồng nộ là một cuốn sách đi từ thất bại này đến thất bại khác, đúng như nhà văn của nó luôn tự nhủ với chính mình qua các cuộc phỏng vấn công khai. Chủ ý của ông là tái hiện một nhân vật "bị ẩn" là Caddy qua bốn điểm nhìn, song, hết lần này đến lần khác lại không đạt mong muốn và thỏa mãn sự yêu quý của ông với nhân vật, người Faulkner gọi là người tình trăm năm. Ở chương đầu, William Faulkner trang bị cho người kể chuyện là Benjamin một ý định thực sự khôn ngoan: một kẻ khờ mang dáng dấp của Chúa Khổ Đau. Mọi cảm giác và tri nhận của nhân vật kể đều trong trắng và trinh bạch đến mức khùng dở. Thế nên sự mờ hóa (declearisation) phân hóa mạnh mẽ hơn bao giờ hết, ở đó người kể cũng không thể tự ý thức và nắm bắt nhân vật của mình, nâng sự tri nhận và khả năng đồng sáng tạo của độc giả lên mức tối đa và ghép hình lại tất cả mảnh vỡ mà nhà văn xáo lên, để tìm ra trong đó vẻ đẹp vô thường của vạn vật: lửa, cây hoa cà, mười lăm xu, quả bóng golf và những bí mật tăm tối mà nhân vật đã tri nhận nhưng không thể xử lí. Nhân vật là một kẻ khờ, rõ ràng, thế nên người đọc gặp khó khăn trong việc khái quát hóa câu chuyện, trao đổi với thế giới bên ngoài của Benjy chỉ qua những lời âu yếm của Caddy hay lời xua im và dọa mắng của các thành viên trong gia đình. Cách nhìn của Benjy với mọi thứ cũng tinh khiết như cách Chúa nhìn người khác, và đến đây, bắt dây sang nhân vật chi phối bốn chương, Caddy, thì có lẽ rằng Benjamin đối với Caddy như cái nhìn của Chúa với vẻ đẹp đã mất của loài người. Có nhiều bằng chứng cho thấy William Faulkner bị chi phối bởi tín ngưỡng miền Nam vào Chúa để tạo ra nhân vật này: Benjamin mãi mãi dừng lại ở tuổi 33, con số cho số tuổi thọ tương truyền của Chúa, con số linh thiêng và đặc biệt. Thế nên thế giới câm và thiểu năng cùng với những tri giác đột biến như nhìn lửa, ngửi mưa (một vết tích đỉnh cao của sự mờ hoa định dạng trong văn chương hậu hiện đại),… của Maury luôn chất chứa sự muôn màu và phản chiếu một cách chân thành nhất nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ, một Caddy biểu trưng trong cuộc sống đan xen vào nhau, đẹp và khó hiểu. Nếu Caddy trong Benjamin khởi sinh từ sự trong trắng và thành thật thì Caddy trong cách tự sự của Quentin được vớt ra từ bùn. Rõ ràng Quentin là kẻ thất bại bị hiện thực đẩy xuống hố, trong anh mang nỗi thống khổ của một con người khủng hoảng rất hiện sinh cùng phức cảm bi quan cực đoan. Những ý niệm của cha anh truyền lại biến thành hồn ma ám ảnh anh, mà thời gian, thói thường, bóng, nước cũng là vật anh tự biến thành nỗi ám ảnh riêng, dẫn đến cái chết bằng cách nhảy cầu. Caddy với Maury mang từ Mẫu nhưng sang Quentin mang chữ Dục, vì nàng góp phần ám ảnh trong Quentin suy nghĩ loạn luân và giết anh ta với thói sống quá phóng túng và tự hủy của mình. Càng về sau sự giải phóng cấu trúc và hỗn loạn càng ngày càng năng động: cắm thằng những câu không đầu không cuối được in nghiêng vào trong đoạn chữ viết bình thường, xuống dòng liên tục với chỉ một câu văn lạ lùng, cấu trúc bị tan biến, vô thức,… kết hợp cùng với hàng loạt các sự kiện chỉ được kể sơ sài và bôi mờ làm câu chuyện dường như không thể giải mã. Anh vào tiệm sửa đồng hồ và bị chế ngự bởi thời gian còn lại của mình do chính mình từ đặt ra, khao khát tìm một chiếc đồng hồ chạy đúng; anh thấy chiếc bóng mình ngả đổ sau khi bỏ tiết lang thang ngoại ô cùng với cuộc sống vẫn đang vui vẻ với lễ hội đua xuồng, và áo flannel, lần lữa với cái chết của mình; tiếng chuông báo hiệu các giờ học ngân nga trên Harvard là sợi dây ràng buộc một con người đã quá túng quẫn vào lại nếp gấp cõi cằn, sự hiểu lầm trước tiệm bánh mỳ với em bé người Ý ở Jefferson là sự ẩn dụ cho tình yêu đau đớn và trinh bạch nhưng quá tục tằn với người em gái Caddy, đây là những điều William Faulkner vẫn can tâm chối bỏ, tất cả những vật mẫu và “tầng băng nổi” ẩn lên không được ông gán ghép bất cứ ý nghĩa sâu xa nào, điều đó càng mời gọi sự giải mã từ bất cứ tay đọc nào, ở bất cứ thời kỳ nào và cách đọc ra sao.

Cần soi rọi hai điểm nhìn thú vị, nghệ thuật và khó tiếp nhận bậc nhất trong văn bản này bằng lý thuyết hệ hình hay mô thức (paradigm) của Thibaudet. Rõ ràng tuyến đường liên kết duy nhất của chương một và chương hai chính là sự phát triển về nỗi thống khổ và điểm nhìn chú trọng không gian và trải nghiệm riêng của hai nhân vật Benjy phát triển thành Quentin. Sự vận động đó diễn ra không ngờ trên một tuyến trình thời gian chạy từ những mảnh vỡ ngày 7/9/1924 (đây cũng chỉ là một cột mốc mù) trở ngược về 2/6/1910 cùng với nỗi buồn được biến thiên. Ở chương Benjy ngập ngụa nước mắt (ai cũng bảo anh ta nín, mọi lúc) là thanh âm của vĩnh viễn và đau đớn được chuyển dịch theo một đường thẳng qua phép đối xứng tâm và tâm là sự phức tạp trong cách biểu đạt của một thiên truyện tiếp cận theo tư duy hậu hiện đại, thì ở chương của Quentin, không có nước mắt nhưng cách kể cùng sự phá vỡ cấu trúc (cấu trúc tạo nên cảm giác nhịp nhàng, lặng yên) thành đa cấu trúc hoặc phi cấu trúc làm nên sự bất bình và hỗn độn, tức là hành động tượng trưng cho nỗi buồn của Benjy đến lượt Quentin đã thành nỗi khổ đau mông lung, không hành động cụ thể nhưng mờ ảo và tê tái.

Flannery O'Connor, một nhà văn theo đuổi trường phái Gothic miền Nam khác nói ông đã tạo ra sự dời về những điều nhà văn không được phép làm. Đó là sự thể nghiệm xô đổ phong cách cổ điển và cách tân từ Ulysses của James Joyce. Nếu như trong sách James luôn ẩn khuất một vở kịch ngầm đâu đó dưới bóng dáng tiểu thuyết thì William Faulkner lại quan tâm tới sự bẻ gãy quy luật cấu trúc và nhịp phách của âm vị học từ nguyên tạo ra. Khó mà đọc được William nếu ta không để mình bị ông thách thức và làm cho chán chường: cách đặt tên nhân vật giống nhau cùng các ngôi xưng thứ ba không rõ hướng vào ai, cách ghép nối các tính từ xuyên suốt và thi thoảng ném vào đó các trợ từ, trạng từ không liên quan, thách thức sự dịch và sự đọc nghiêm túc. Vậy nên William vẫn còn là một thứ quá cao siêu ở Việt Nam, nơi cấu trúc và hình thức vẫn còn in sâu từ thuở còn viết những bài văn nghị luận dối lòng. Văn chương của William đánh tan đi cách suy tư thông thường mà chúng ta có thể gán cho một nhà văn và tác phẩm của anh ta. Gia đình Jason Compson xuất hiện sơ sài lần đầu tiên trong chương đầu của truyện Lễ cầu siêu cho một nữ tu, và đưa đến cục diện ở Âm thanh và Cuồng nộ rồi sau đó thường xuyên xuất hiện khắp các truyện ngắn và tiểu thuyết. Thế nhưng trong các thiên truyện viết sau này, dòng họ của nhà này lại xuất hiện thêm nhân vật mới, đó là Nancy, một người giặt đồ thuê trong Mặt trời trong đêm ấy (mà trong Âm thanh và Cuồng nộ là tên của con ngựa rã xương trên mương), là Thomas Sutpen trong Absolom, Absolom! dưới cách kể của Quentin trong căn phòng kín cùng với một bà cô gia tên là Miss Coldfield (ông rất thích đặt tên các nhân vật lớn tuổi bằng cách ghép các từ đơn), v.v,... Chúng ta cũng cần quan tâm đến sự bẻ gãy tính logic nếu xem các tác phẩm của William Faulkner là hệ liệt và tuyến tính với nhau theo một cách sắp đặt nào đó nhất định. Bằng chứng là các sự kiện của các nhân vật được nhắc lại như Boon Hogganback trong Go down, MosesBọn đạo chích cùng địa vị với nhau, song hành động nếu trải ra trên một biểu đồ tuyến tính và logic thì không hoàn toàn tương hỗ; nhưng Quentin Compson trong Âm thanh và Cuồng nộ và Quentin Compson trong Absolom, Absolom! là tương đồng. Absolom, Absolom! đã mở rộng gia phả của nhà Compson thêm hai thế hệ, điều mà trong Âm thanh và Cuồng nộ chưa đề cập đến, thông qua những lời kể của Quentin với anh bạn cùng phòng Shreve của mình. Điều này là hoàn toàn hợp lý khi xét đến Âm thanh và Cuồng nộ, quan hệ của hai người này rất tốt và thường hay kể chuyện quá khứ cho nhau nghe. Nhưng nếu trải Âm thanh và Cuồng nộ bên cạnh Mặt trời trong đêm ấy viết cách đó khoảng nửa thập kỷ thì phi logic hẳn, Quentin đã tự tử ở tuổi 19 ở Harvard trong Âm thanh và Cuồng nộ bỗng nhiên sống dậy ở tuổi ba mươi hơn và kể chuyện quá khứ trong Mặt trời trong đêm ấy (!). Ta thử dời sự logic thông thường tạo ra bằng tam giác thao tác thời gian và không gian sang sự siêu logic cao hơn qua phương pháp nhìn nhận rơi vào hậu hiện đại: phương pháp giải cấu trúc (deconstruction) của Jacques Derrida. Đối chiếu tư tưởng với cách thể hiện, William Faulkner thể hiện sự xung đột trong cách chống lại nạn phân biệt chủng tộc sâu sắc ở miền Nam nước Mỹ những năm 30, 40 và cách thể hiện: cách gọi các nhân vật da màu của mình là Negro (một từ với hàm ý hơi miệt thị) và đẩy những con người này vào sự biến thái tư tưởng và thực dụng không thể chứa trong Red Leaves, Mule in the Yard mà về sau bị James Baldwin nhiệt tình công kích, đi vào sâu thế giới nội tâm nhân vật, rõ ràng tác giả luôn biện minh cho tình yêu tục tằn của anh Quentin bằng xử lí văn bản của anh này điên chẳng khác gì Benjamin, thậm chí còn hơn, nhưng kết cuộc nhà văn cũng ném anh ta vào cảnh tự tử với nỗi bi quan siêu thực,…

Đó là bằng chứng cho thấy cảm hứng trong các tác phẩm văn chương đầy thể nghiệm của William Faulkner vẫn rút ra từ trải nghiệm cá nhân của một nhóm nhân vật có thực trong cuộc sống muôn vẻ, một tuyên bố đi tuân theo lối đi của hiện thực chủ nghĩa, không tách rời với một áng văn hiện đại. Trong cuộc phỏng vấn với Joseph L. Fant và Robert Ashley, khi được hỏi về tác giả yêu thích, ông đã bảo rằng mình chỉ thích các nhân vật chứ không thích người tạo ra bọn họ lắm, và đó là Don Quixote trong tiểu thuyết cùng tên của Cervantes, bà y tá Sarah Gamp trong Martin Chuzzlewit của Charles Dickens, vài người của Balzac, Conrad,... Đó là những nhân vật mang tầm vóc thể hiện thời đại mạnh mẽ. Thật vậy, tất cả nhân vật của ông đều đại diện cho những lớp người ở miền Nam nước Mỹ trong thời kỳ đổ sập của các thái ấp giàu có và nạn phân biệt chủng tộc không thể nguôi ngoai. Dẫu khoác lên mình di sản của văn học lãng mạn và bánh răng đưa dòng ý thức xoay chuyển thì bọn họ vẫn là con người tượng trưng cho thời đại và cách thăng hoa của nhà văn gán cho họ. Quentin gục ngã, Jason loay hoay và tìm cách đứng dậy bằng cách cóp nhặt xu tiền, một mammy da đen là Dilsey vun đắp gia đình vì bà chỉ nghĩ đó là điều nên làm,...

Không có sự xuất hiện nào của William Faulkner trong cuốn sách Lịch sử văn học Mỹ của Lê Đình Cúc do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2007 là thỏa mãn. Cuốn sách viết dưới dạng tiểu dẫn bối cảnh văn chương Mỹ qua các giai đoạn: văn học dân gian, văn học thời thuộc địa (thế kỷ XVI -XVII), văn học thời cách mạng (1775-1820), văn học thế kỷ XIX với hai dòng là lãng mạn và hiện thực và cuối cùng là văn chương Mỹ thế kỷ XX, sau đó đi vào giới thiệu cụ thể từng đại diện mỗi thời kỳ. Và như tôi không ngờ đến, lão già một đời đưa miền Nam nước Mỹ hay Mississippi thành một lãnh thổ văn chương lại vô danh ở đây, trong khi những hậu duệ tốt và hậu duệ xấu của ông lại ít nhất được vài dòng nhắc tới: Flannery O'Connor, Thomas Pynchon, Carlos Onetti,... William Faulkner chỉ được nhắc sơ sài ở phần tiểu dẫn thời kỳ văn chương đầu thế kỷ XX nhân lúc nói về Ernest Hemingway và Francis Scott Fitzgerald với một hàm ý sai lầm sau: William Faulkner hoạt động dưới ngọn cờ của Ernest Hemingway. Ta thừa nhận rằng "Thế hệ bỏ đi" của Ernest Hemingway kế thừa từ người thầy viết-chẳng-ai-hiểu Gertrude Stein của mình (chữ này cũng không phải của bà nữa là) kéo đến Thế hệ Jazz là cảm hứng với yếu tố chủ đạo thể hiện sự chênh vênh và tự hứng của các tác phẩm sau này của Sinclair Lewis, kịch của Eugene O'Neill,... và cả tiểu thuyết và thơ đầu tay của William Faulkner, đặc biệt là sự xuất hiện của nhà văn Sherwood Anderson, người mê mẩn trường phái cực tiểu hay tối giản của Gertrude Stein và Hemingway, là người trực tiếp hình thành ý niệm về tiểu thuyết đầu tiên trong William Faulkner qua lời giới thiệu từ người bạn Stone lúc lông bông. Thế nhưng, nói bóng cờ của Ernest Hemingway cùng thuyết tảng băng trôi là thứ cốt yếu cần theo đuổi bên dưới lớp văn chương trùng điệp của William Faulkner là sai lầm. William Faulkner luôn nỗ lực chối bỏ tất cả các hình tượng biểu tượng trong truyện mình và gọi đó là các yếu tố phải xảy ra và không biết chúng tượng trưng cho điều gì. Đối với ông, biểu tự và vật mẫu xuất hiện vì chúng cần phải xuất hiện, như một thói đời lạ lùng mà nhà văn nghĩ ra để chải chuốt cho sở thích của mình. Như nhà văn đã nói, nếu anh ta là tất cả nỗi đau của anh ta, thì viết là nỗ lực giải tỏa bằng việc điều khiển nhân vật tượng trưng cho nhân vật có thật để tái hiện lại hình ảnh mà tác giả đã ấn tượng, như hình ảnh cô bé gan dạ trèo lên cây nhòm vào nhà trong đêm bà mất với chiếc quần lót lấm lem bùn đất; đó là Caddy, người tình trọn đời nhà văn ưu ái trong tất cả mọi văn bản mà nàng có mặt.

Chúng ta đang bị kẹt lại với William Faulkner trong thời đại này. Nếu như có ai đó hỏi tôi, dưới tư cách một người viết tham vọng ngạo nghễ rằng chúng ta nên làm gì với ông, chắc chắn tôi sẽ xua người ta dìm tượng đài của ông xuống sông để nước trôi đi tất cả. Bàn tay của ông đặt ở khắp mọi nơi trong địa hạt văn chương và đầy đủ những thần tượng mà ta ngưỡng mộ: sẽ không có một tác phẩm về Thế chiến kinh điển như Bẫy-22 của Joseph Heller nếu A Fable không ra đời, Khi tôi nằm chết là phiên bản đầu tiên để Carlos Fuentes học cách tường thuật trên giường bệnh và xáo tung mốc thời điểm và thời gian trong The Death of Artemio Cruz. Phương pháp tạo ra một địa điểm hư cấu để các nhân vật đại diện được trọn vẹn hoạt động của William Faulkner đã làm với hạt Yoknapatawpha được Marquez kế thừa tạo nên làng Macondo bất hủ hay Santa Maria của Juan Carlos Onetti. Đó là những bằng chứng cho thấy cách thức tiếp cận vấn đề có thể ảnh hưởng và lung linh như thế nào đến câu chuyện. Ngoài ra, trong các câu chuyện của William Faulkner, trải nghiệm đặt cạnh nhau những mảnh vỡ của không gian và thời gian cũng là điều đáng nói, như cách Henry James sắp đặt các điểm sáng cạnh nhau, những tình tiết được rút tỉa cẩn thận tạo cho người đọc cảm giác dễ chịu, thư giãn ở Tuổi hoa mộng, cách sắp xếp các tình tiết trong Âm thanh và cuồng nộ vỡ nát nhưng không phải là vô ý tứ, các thái độ dồn dập, nhiều hoạt động được đặt cạnh những trang giữa và về sau tạo nên nhịp điệu căng thẳng, cho độc giả cảm giác kết thúc giả khi lời kể Benjy chấm dứt mãi mãi.

Có một điều ta không thể chối cãi được rằng William Faulkner xứng đáng đặt bên cạnh Ernest Hemingway, thậm chí bên trên vì những thành tựu to lớn của ông trong cách định hình một lối viết thực sự thời thượng và trải nghiệm, điều mà chúng ta đang thấy Krasznahorkai László kế tục xuất sắc với cách tân giao thoa với triết học để thể hiện rõ ràng cái tôi và siêu tôi trong những trang văn nghẹt thở, không lối thoát đẩy ta vào một chuyến tàu đến vô cùng của ngôn ngữ, đặc biệt hấp dẫn trong Melancholy of Resistance hay một Toni Morrison với cách khai thác tư duy hình ảnh và đánh động bằng sự mô tả siêu thực trong chuyến phiêu lưu đi tìm lại sự đẹp đẽ của người da màu trong Bé Jar hay Yêu Dấu. Đó là lý do William Faulkner không còn khó hiểu với chúng ta nữa, khi chúng ta nhìn nhận văn chương của ông trên những phiến gạch mà những thần tượng mà chúng ta say đắm và đi cùng cách kế thừa thỏa đáng với phong cách viết văn tuyệt vời và những trải nghiệm hiện thực cổ điển bậc thầy của nhà văn lỗi lạc này.

Hết

Gia Bin

*

Đọc tất cả bài viết của Gia Bin

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thoát đến phương Tây: Số phận kẹt giữa những thế giới

Published

on

Có một loại giày vò khi ta sống trong những thành phố bất ổn về mặt chính trị. Một nơi không thực sự là nơi để sống. Một chốn quyết định cuộc đời ta thay cho chính ta. Một thành phố khiến ta phải kiềm hãm hay giấu đi những mong muốn, dập tắt đi ý tưởng, và nuốt chửng lấy niềm tin. Nó buộc ta sống dưới cái bóng của ai đó mà ta không thể chối từ. Để sinh tồn, cách người ta làm là ép bản thân làm quen với cuộc sống đó. Ở những thành phố như Cairo hay Lahore, nhiều người lựa chọn rời đi thay vì ở lại. Tưởng tượng về một cuộc sống “bình thường” ở nơi khác cũng đủ để thôi thúc người ta rời bỏ quê hương, ngay cả khi văn chương dạy ta biết rằng, cái giá cho những cuộc “trốn chạy” ấy vốn rất đắt. 

Những mâu thuẫn này bao trùm cuốn tiểu thuyết của Mohsin Hamid, Thoát đến phương Tây (Exit West). Cuốn sách lấy bối cảnh tại một thành phố không tên, đang đứng trước bờ vực bùng nổ nội chiến sau nhiều năm người dân bị áp bức. Hai nhân vật chính, Nadia và Saeed, gặp nhau trong bối cảnh chính trị bất ổn đó, thời điểm mà dạo phố, đi làm hay hẹn hò cũng có thể là một canh bạc của cuộc đời. Bởi súng có thể được bóp cò, bom có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Thoát đến phương Tây.

*

Saeed là một nhân viên tương đối bảo thủ làm việc tại một công ty quảng cáo sự kiện. Chàng trai ngoài 20 được miêu tả là “nghiêm túc ngay cả trong việc chăm sóc bộ râu”, “như phần lớn đàn ông trong thành phố: độc lập, trưởng thành, học hành tử tế, chưa kết hôn và có việc làm ổn định”. Saeed vẫn đang sống với bố mẹ, một người là giáo viên về hưu, một người là giáo sư đại học.

Trong khi đó, Nadia hiện đại, phá cách, sống một mình tại một căn studio trên tầng cao. Cô nàng là nhân viên công ty bảo hiểm, thường di chuyển quanh thành phố bằng chiếc xe đạp địa hình trong bộ áo choàng đen phủ từ đầu đến chân “để bọn đàn ông không giở trò mất dạy”. Độc lập, dữ dội và có phần bất thường là điều người ta hay nghĩ về Nadia. Trái ngược với Saeed, cô bị gia đình cắt đứt liên lạc vì quyết chuyển ra ngoài sống riêng. Trong khi Saeed dành buổi tối ở nhà với cha mẹ, nhìn ra bầu trời mặc dù nó “trở nên quá ô nhiễm cho việc ngắm sao”, Nadia thường xuyên tham dự các buổi biểu diễn ca nhạc, ăn chơi buổi đêm.

Bất ổn chính trị, như chiến tranh, cách mạng hay thậm chí là một cuộc xung đột dân sự, đều có thể thay đổi gần như hoàn toàn bộ mặt cuộc sống của chúng ta hằng ngày. Tiếng pháo hoa vang xa có thể là tiếng súng nổ, hay “Cái chết có thể bất ngờ ập đến khi bạn bước chân từ nhà ra đường. Ranh giới giữa sinh và tử đôi lúc chỉ là chiếc cửa sổ nhà bạn”.

Trong bối cảnh thành phố biến động đó, Hamid xây dựng một thế giới của người trẻ đầy khát vọng. Với ngòi bút chi tiết và sâu sắc, tác giả miêu tả hai nhân vật chính độc lập, mang cá tính riêng. Từ bối cảnh chung của thành phố, Thoát đến phương Tây khéo léo đưa người đọc vào từng cảnh đời riêng lẻ của mỗi nhân vật, buộc người ta phải chú ý vào những chi tiết, khoảnh khắc. Từ những số phận bất hạnh nhỏ nhoi, tác giả phóng ra cái nhìn toàn cầu về vấn đề của thời đại như nạn vượt biên, dân tị nạn,… Bằng cách này, Hamid tạo ra một câu chuyện được xây dựng tỉ mỉ, bao hàm nhiều tầng ý nghĩa, làm nổi bật lên nhiều thực tế chính trị - xã hội, cuộc đời – con người dù thực tế ông chỉ tập trung vào miêu tả hai nhân vật chính. Thế giới trong sách, dường như đang được tác giả gợi ý, là thế giới tương lai của con người chúng ta. Nếu vậy, câu hỏi được tác giả đặt ra: làm sao để ngăn cho nó không xảy đến, hoặc ít nhất giảm thiểu những thiệt hại mà nó gây ra?

Mối quan hệ giữa Saeed và Nadia chớm nở và phát triển khi chiến tranh bùng nổ và hiểm nguy rình rập mọi ngõ ngách của thành phố. Đối với Nadia, đó là anh họ của cô, người đã bị nổ tung cùng với 85 người khác bởi một chiếc xe tải chở đầy bom. Đối với Saeed, một viên đạn lạc giết chết mẹ anh khi bà đang kiểm tra chiếc xe của gia đình. Cha của Saeed ngay lập tức bắt đầu gọi Nadia là “con gái”. Trong thời loạn, mọi thứ vô lí nhất trở thành có lí.

Một đôi tình nhân đang ngồi cạnh biển Caspi, bắc Iran, 2008. Ảnh: Newsha Tavakolian

Những người trẻ tuổi, trừ khi trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, thường là những người đầu tiên rời đi. Nadia, đã đoạn tuyệt với gia đình, là người quyết tâm rời quê hương nhất để tìm lối thoát cho chính họ. Nhưng đến lúc lên đường, cha của Saeed từ chối. Giống như nhiều thế hệ trong gia đình, sống qua nhiều thập kỉ trong sự bất ổn chính trị nhưng vẫn không có cuộc chiến tranh nào chính thức diễn ra. Với cha của Saeed, tương lai mà ông hướng đến là sống một cuộc sống bình thường, quen thuộc, ngay cả khi tình hình xã hội có diễn biến xấu đến đâu.

Lưu vong, trong hoàn cảnh này, trở thành sự lựa chọn. Mỗi người cân đo đong đếm giữa rủi ro và lợi ích, giá trị của cuộc sống mà tự đưa ra quyết định cho riêng mình. “Nhà”, phức tạp và loạn lạc, vẫn không dễ để rời đi - dòng cảm xúc được tác giả đan xen một cách tinh tế xuyên suốt câu chuyện. Với người lớn tuổi, họ sống vì quá khứ nhiều hơn là vì tương lai. Trong khi đó, người trẻ tuổi mãnh liệt hơn, khao khát hơn để sống cuộc đời mình mong muốn.

Thoát đến phương Tây tràn ngập những mất mát mà chúng ta đã biết trước từ lâu rằng nó sẽ đến. Một số nhân vật được đề cập lướt qua ở ngôi thứ ba, sau được tác miêu tả một cách chi tiết hơn về số phận của họ, chứng minh rằng mỗi nhân vật đều có giá trị. Bằng cách này, độc giả như được trải nghiệm đến hai hành trình cảm xúc, với hành trình sau sâu sắc hơn hành trình đầu.

*

Mohsin Hamid được biết đến nhiều như một cây viết có sự kết hợp hoàn hảo giữa những xúc cảm phức tạp của đời thường và hiện thực chính trị. Các tác phẩm trước đây của Hamid bao gồm The Reluctant Fundamentalist (2007), là cuốn tiểu thuyết về sự kiện 11/9 được viết dưới góc nhìn của một người Pakistan trẻ tuổi – cảm thông cho những kẻ khủng bố dù bản thân là một người nhập cư được nước Mỹ đón nhận.

Mặc dù Thoát đến phương Tây được viết trong tình trạng bùng nổ cuộc khủng hoảng tị nạn ở khu vực Trung Đông và Brexit, nhiều giả thuyết cho rằng cuốn sách đã được tác giả ấp ủ ý tưởng từ lâu trước đó. Nguyên nhân có thể vì kinh nghiệm là một người tị nạn, một người dân của thế giới thứ ba của chính Mohsin Hamid, trong đó có hành trình di dân từ Pakistan đến Mỹ, Anh, rồi lại về phía Đông.

Sau khi rời bỏ quê hương, cuộc sống của người tị nạn cũng không dễ dàng hơn. Saeed và Nadia đến được một trại tị nạn trên đảo Mykonos ở Hy Lạp, song đó không là cuộc sống mà họ mong muốn. Tất cả đều phải đối mặt với bài toán sinh tồn: ai là người đàm phán giỏi hơn, người thuyết phục hơn, người có trực giác nhạy bén hơn về nguy hiểm sẽ là người sống sót.

Ở nửa sau tác phẩm, Hamid đưa các nhân vật của mình từ Mykonos đến London, nơi họ được cấp cho một chốn ở tử tế hơn và chia sẻ với nhiều người tị nạn khác. Tại đây, tác giả nêu bật lên những sự đối lập: đối lập trong chính hình ảnh người tị nạn – giữa xuất thân khá giả ở quê nhà và hoàn cảnh khốn khó ở hiện tại khi tha hương và cả sự đối lập giữa người dân địa phương và người tị nạn. Qua đó, ông đề cập đến những vấn nạn còn nhức nhối của thế giới hiện tại như phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa bản địa bài ngoại ngày càng trở nên cực đoan. Đó là khi khu Hyde Park và Kensington Gardens (London) tràn ngập lều trại thô sơ của người tị nạn. Đến mức, người Anh nói rằng dân cư hợp pháp tại đây chỉ chiếm thiểu số bởi hầu hết là người tị nạn và số người bản địa rất ít. Truyền thông địa phương cũng không ít lần đề cập khu vực này là “lỗ đen” của quốc gia, nơi thường diễn ra tệ nạn.

Hamid có hiểu biết sắc sảo không chỉ về cuộc khủng hoảng ở thời điểm hiện tại mà còn về thói đạo đức giả trong chính trị - điều đã dẫn đến sự hình thành của cả một nhóm dân tị nạn - thông qua những cuộc xâm lược, can thiệp và các chính sách. Những cánh cửa thần kì dẫn đến những nơi khác bị kiểm soát một cách cẩn thận. Trong khi có những người được phép đi nghỉ mát ở những khu vực bình dị của Mykonos trong những tháng hè, một số khác bị giam cầm trong rào chắn của các khu ổ chuột. Thế giới của Hamid là một nơi mà sự tách biệt, phân biệt chủng tộc, chia rẽ ngày một tăng lên.

Tóm lại, Thoát đến phương Tây là cái nhìn ngoạn mục, phức tạp, bao quát của tác giả Mohsin Hamid về tình trạng thế giới hiện nay. Bên cạnh cuộc khủng hoảng người tị nạn, thế giới còn đang đối mặt bài toán hóc búa về biên giới và sự phân chia giàu – nghèo. Thế giới qua ngòi bút của Hamid là một thế giới mà chủ nghĩa tư bản và bản đồ thuộc địa bắt đầu đi xuống. Câu chuyện về thành phố không được tác giả đặt tên của hai nhân vật chính trong sách cũng giống như câu chuyện của Syria, Iran, Ethiopia, Ai Cập hay những người lao động Ấn Độ ở vùng Vịnh, người Mexico ở Mỹ. Đó là câu chuyện của những số phận đang cố gắng xây dựng cuộc sống mới ở một quốc gia khác, một số vì chạy trốn chiến tranh, một số vì muốn rời khỏi quê hương độc tài và áp bức.

Hamid viết rằng "Khi chúng ta di dân, chúng ta muốn giết chết 'mình' trong cuộc sống cũ." Có lẽ những gì người di dân, người tị nạn thực sự cố gắng làm là quên đi quá khứ đau thương, nhưng nó vẫn luôn theo sau và ám ảnh họ trên bất kì nơi đâu họ đặt chân đến.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bản gốc do Yasmine El Rashidi thực hiện, đăng tại The New York Review of Books.

*

Trong khuôn khổ chương trình Tháng Phương Nam Khuyến Đọc 2020 (từ ngày 25.09 đến 25.10), sách Thoát đến phương Tây hiện đang được giảm giá 30% khi đặt mua tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và website nhasachphuongnam.com.

Bên cạnh đó, rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển và hiện đại khác như Những cảnh đời tỉnh lẻ, Nắng tháng tám, Thất lạc cõi người,Mùa xuân vắng lặng, Đừng nói chúng ta không lợi quyền, Lưỡng giới,… cũng nằm trong chương trình ưu đãi.

Đọc bài viết

Cafe sáng