Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Nghệ thuật của sự Tàn độc

Những vần văn của Tanizaki vẫn sống. Có lẽ Akutagawa, cháy rụi ở tuổi còn quá trẻ, biết rằng những vần văn của ông đang tiến gần về cõi chết.

Đăng từ

on

ART OF CRUELTY
Ian Buruma

Ra đời hơn kém nhau khoảng mười năm, hai truyện ngắn The Tattooer (Xâm mình) (1910) của Tanizaki Jun’ichiro và Hell Screen (Bức bình phong địa ngục) (1918) của Akutagawa Ryunosuke có những nét tương đồng rõ rệt. Xâm mình kể về Seikichi, một nghệ sĩ xăm mình trong giai đoạn suy đồi thời kỳ Edo (tôi đoán là khoảng những năm 1840), một người có tham vọng – theo lời kể của tác giả – là khảm linh hồn anh lên lớp da của một người đàn bà tuyệt mỹ. Anh tiêu tốn rất nhiều thời gian để kiếm tìm tấm vải bạt người hoàn hảo cho kiệt tác đời mình, và khi bắt gặp đôi chân thanh tú của một thiếu nữ trà quán, anh biết đích đến đã gần kề. Bản năng mách bảo anh rằng, “Đây là bàn chân phải được tưới tắm bằng máu của đàn ông, bàn chân để chà đạp lên thân xác họ.”

Khi thiếu nữ với đôi bàn chân cám dỗ ghé thăm xưởng vẽ của anh, Seikichi cho cô xem bức tranh vẽ một nàng công chúa xinh đẹp – đang chứng kiến cảnh tù nhân bị hành quyết – trong trạng thái say mê. Thiếu nữ thú nhận rằng trong cô cũng dấy lên những xúc cảm tương tự như của nàng công chúa tàn nhẫn. Đôi mắt người thợ xăm lóe lên niềm vui thích. Seikichi bỏ thuốc cô và xăm trên làn da trắng mịn của cô ngày ngày đêm đêm. Khi cô tỉnh dậy từ cơn hôn mê, hình xăm chân nhện trên lưng cô dường như vừa di chuyển từ vai xuống eo. Người thợ xăm kiệt sức, linh hồn anh mắc kẹt vĩnh viễn trong tấm lưới của con nhện cái. Thiếu nữ hóa thân thành một con quỷ dâm dục, từng gã đàn ông một biến thành nô lệ của ả. Dù chuyện gì xảy ra, cái đẹp vẫn khiến cả hai ngây ngất.

*

Câu chuyện của Akutagawa cũng xoay quanh một nghệ sĩ – một họa sư cung đình của lãnh chúa quyền lực nhất Kyoto. Họa sư Yoshihide có sở thích vẽ những khung cảnh bạo lực và ác nghiệt; hắn khăng khăng đòi chứng kiến tận mắt từng tình tiết kinh hoàng trước khi vẽ lại thành tranh. Gã đệ tử xinh trai của hắn bị ép khỏa thân và tra tấn bằng rắn và chim cú, hoặc trói lại trong những tư thế đau đớn cùng cực.

Yoshihide, một người đàn ông u buồn và chết chóc, chỉ duy nhất yếu lòng trước cô con gái mà hắn thương yêu hết mực. Lãnh chúa của Yoshihide phải lòng cô gái xinh đẹp này, nhưng những lời tán tỉnh của ngài bị cự tuyệt.

Yoshihide nhận lệnh vẽ một bức bình phong khắc họa khung cảnh địa ngục. Hắn yêu cầu lãnh chúa một ân huệ: để truyền tải trọn vẹn sự rùng rợn của chủ thể trung tâm, hắn muốn được chứng kiến cảnh một chiếc xe bò bốc cháy, trong đó có một quý cô đang giãy giụa trước cái chết khiếp đảm cận kề. Lãnh chúa, với sự chờ mong thích ý, hứa hẹn sẽ dàn xếp được yêu cầu này. Một chiếc xe bò xuất hiện với một người thị nữ xiêm y lộng lẫy ở trong. Ngay khoảnh khắc chiếc xe bắt lửa, Yoshihide phát hiện – trong sự hỗn loạn vừa kinh hoàng vừa mê hoặc – rằng hắn đang chứng kiến chính con gái mình bị thiêu sống. Bức bình phong của hắn hiển nhiên là kiệt tác, được tất cả mọi người ca tụng. Vào ngày tác phẩm hoàn thành, Yoshihide treo cổ chết.

Cả hai câu chuyện đều lãng mạn và mỹ, tuy nhiên trong trường hợp của Tanizaki lại có đôi chút bóng bẩy và đồi trụy. Nó phi luân lý – không phải là trái luân lý – như lời phán quyết của Oscar Wilde rằng không có nghệ thuật luân lý hay trái luân lý, chỉ có nghệ thuật tốt hay tồi. Đúng vậy, trong cả hai tác phẩm, nghệ thuật vị nghệ thuật được đẩy tới giới hạn tận cùng. Không có gì – kể cả cái chết – là quá đà để hi sinh cho chữ mỹ.

Ai đó có thể bị lừa phỉnh mà nhận thấy những đặc trưng Nhật Bản trong hai tác phẩm này – một cảm giác mỹ học không bị trói buộc bởi phẩm hạnh Thiên Chúa Giáo. Quan điểm này được một số nhà phê bình Nhật Bản ủng hộ; họ chỉ ra rằng những giá trị mỹ học của Tanizaki không phải là lời công kích đến đức hạnh hay nhân văn, mà nó hoàn toàn bàng quan trước những quan tâm kể trên. Điều này trái ngược với giới “suy đồi” Tây phương, những kẻ cứ bận bịu chống đối cùm chân tôn giáo nên chẳng bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi đó. Cũng có thể suy đoán rằng những nghệ sĩ trưởng thành trong nền văn hóa nặng nề lễ nghĩa sẽ trở nên ám ảnh với những xúc cảm chân thật; lòng thành của họ chỉ có thể được kiểm nghiệm thông qua những thái cực bạo liệt – ví như tự tử đôi là chứng nhân duy nhất của tình yêu bền bỉ, và tương tự thế.

Nhưng tôi không cho rằng mỹ học của sự tàn độc trong những tác phẩm của Tanizaki và Akutagawa mang đậm chất Nhật. Khi viết Xâm mình, Tanizaki là một độc giả nồng nhiệt của Oscar Wilde, và điều đó hiện hữu. Sự ám ảnh của ông với hình tượng femme fatale1 (độc phụ) – ít nhất là trong những tác phẩm thời kỳ đầu – bị chi phối bởi Flaubert, Baudelaire và Wilde cũng nhiều như bởi văn chương Nhật Bản.

*

Tôi nghĩ rằng nhận xét này cũng đúng với Akutagawa. Tác phẩm của ông thường đặt bối cảnh trong một giai đoạn lịch sử Nhật Bản, nhưng tri giác văn chương của ông bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các tác giả Tây phương. Trong Cogwheels (Những bánh răng), một ghi chép u buồn về căn bệnh điên đang dần phôi thai, được dịch nhuần nhuyễn bởi Cid Corman và Susumu Kamaike, Akutagawa liên tục đề cập đến văn chương Tây phương, khiến những ảo giác của ông bị nhuốm màu mê sách lạ thường, hệt như thể ông đang sống cạnh những bóng ma văn học.

“Khi ngồi trong phòng, tôi từng nghĩ về việc gọi điện đến một bệnh viện tâm thần nào đó. Nhưng bước chân đến đó nghĩa là tôi chết. Sau nhiều phút chần chừ, tôi quyết định đọc Tội ác và trừng phạt để sao nhãng chính mình. Tuy nhiên, trang văn mà tôi tìm đến là của Anh em nhà Karamazov. Đó là đoạn văn Ivan bị hành hạ bởi Pháp Quan Ác Quỷ. Ivan, Strindberg, de Maupassant, chính tôi, trong căn phòng này…”

Tôi không có ý nói hai người này thiếu sáng tạo, hay là văn chương của họ không phản ánh được văn hóa và xã hội Nhật. Nhưng tôi nghĩ rằng có những phương thức tưởng thưởng hơn để tiếp cận những tác gia trác tuyệt này (tôi hơi ngần ngừ khi dùng từ trác tuyệt để miêu tả Akutagawa, nhưng không với Tanizaki) hơn là việc tìm kiếm cái gì mới là kết tinh chất Nhật. Ví dụ, vì sao hai tác giả với lý lịch tương đồng, có lối thưởng thức văn chương khởi điểm giống nhau, lại kết thúc ở hai thái cực đối lập?

Cả hai người đều được sinh ra tại “hạ thành” Tokyo. Cả hai đều bị quyến rũ bởi phương Tây, dù chưa ai đặt chân đến đó. Cả hai người đều thoát ly (nếu đó là từ ngữ chính xác) khỏi vấn đề chính trị và xã hội vào chủ nghĩa mỹ học. Nhưng Akutagawa từ chối những ảo tưởng ma quỷ để đến với những bài viết tự truyện duy ngã luận mà những nhà phê bình văn học Nhật thích phân loại là văn học tinh khiết nhất. Ở đây, văn học tinh khiết là văn học không cốt truyện, thuần túy tập trung vào những biến chuyển vụn vặt trong tâm trạng tác giả và những chi ly tiểu tiết trong cuộc đời không mấy biến cố của anh ta.

Trái lại, Tanizaki luôn là một tác giả nổi tiểng không biết ngượng cùng khẩu vị kịch nghệ, tư tưởng đa dâm và ảo tưởng lố bịch không bao giờ ngã ngựa đến tận khi ông chết ở tuổi 79 vào năm 1965. (Akutagawa tự sát vào năm 1927 khi ông 35 tuổi.) Trong một bài luận về Tanizaki, Mishima Yukio từng bình luận rằng người dì xinh đẹp của ông sẽ có nét vui vẻ trầm lặng khi nghe người ta đề cập đến những tác phẩm “suy đồi” của Tanizaki. Mishima viết, “Văn chương của Tanizaki đầu tiên hẳn là rất ngon lành, như ẩm thực Pháp hoặc Trung Hoa.”

Chủ thể văn chương chính của Tanizaki là tình dục, đặc biệt là ác dâm, dẫn đến hứng thú của ông với bàn chân của các quý cô, trong khi Akutagawa càng càng càng chìm đắm trong chủ nghĩa ái kỷ, thiếu thốn giá trị chung, kinh tởm với bản thân, và cuối cùng là cái chết. Những ám ảnh đa dạng ấy hiện diện rõ ràng trong hai truyện ngắn tường thuật ở trên. Nhân vật nam chính của Tanizaki – Seikichi – biến nàng thơ của mình trở thành một ả quái vật, nhưng đồng thời tìm thấy sự thỏa mãn nhục dục. Họa sư của Akutagawa tạo ra được kiệt tác đời mình, nhưng phải hi sinh người duy nhất hắn thương yêu. Nỗi ám ảnh của ông hóa thân thành sự ghê tởm, cuộc đời của ông trở nên vô nghĩa và chẳng đáng sống.

*

Những cuốn sách đang được bàn luận ở đây trước nhất nó thú vị bởi giá trị văn chương. Điều này đặc biệt chính xác trong trường hợp của Akutagawa. Những bài luận về thời thơ ấu với kết nối lỏng lẻo của Tanizaki có hiệu quả tốt hơn trong tiếng Nhật so với tiếng Anh. Paul McCarthy đã thực hiện một bản dịch xuất sắc, nhưng ông đã đúng khi cảnh báo trong phần dẫn dắt rằng các độc giả phương Tây có thể bối rối trước kết cấu chương hồi, vô tổ chức của tác phẩm – kết cấu này rất được các độc giả Nhật yêu thích, nhưng không thường gặp trong văn chương phương Tây đương đại. Tuy nhiên, những bài luận của Tanizaki là một bản hướng dẫn vô giá về cá tính của ông. Đây là bức chân dung tuyệt diệu của một nghệ sĩ viết như một đứa trẻ (người ta đã đúc kết rằng, theo cách nào đó, Tanizaki mãi mãi vẫn là một đứa trẻ). Ắt hẳn, sự hoài cổ về tuổi thơ là sợi dây xuyên suốt trong hầu hết những cuốn sách của ông. Đồng thời, thiên hướng gợi tình cũng là một phần quan trọng trong hồi ký thơ bé của Tanizaki, hẳn nhiên phải vậy.

Cứ thế, chúng ta biết đến những trò chơi con trẻ được hưởng ứng bởi Tanizaki và những người bạn, như là “trò bóng rổ”. Những cậu bé học sinh nhỏ tuổi cùng nằm xuống trong những cái rổ được đặt tên là “buồng ngủ của gái bán hoa”, giả vờ như họ là khách quan và gái nhà thổ trong nhà chứa hạng sang. Thời bấy giờ, có rất nhiều vụ án mạng gớm guốc xảy ra, thu hút được sự say mê của giới trẻ. Một trường hợp như thế – sau đó được dàn dựng thành một vở kịch nổi tiếng và được Tanizaki ưa thích – là vụ sát hại một gái quầy bar giải nghệ bởi người chồng pháp lý của cô. Tình tiết nổi bật là mặt cô đã bị con dao rạch đến biến dạng. Những bức ảnh chụp lại gương mặt này, cùng với hình ảnh của những diễn viên nổi tiếng, được trưng bày tại hội chợ địa phương. Một câu chuyện khác, khiến Tanizaki thậm chí còn hài lòng hơn, là việc tình thế đảo ngược khi nàng geisha thời thượng O-ume đâm chết tình nhân với một con dao nhà bếp. Mẹ của Tanizaki kết luận, “Tôi nghĩ nàng ta hẳn là hình mẫu của thế gian khi bàn về một ‘người phụ nữ thực thụ’!” Tanizaki trưởng thành chắc chắn là đồng ý.

Sự tôn sùng phụ nữ của Tanizaki được khơi nguồn từ mẹ ông, người dĩ nhiên là một mỹ nhân. Mọi người, kể cả chính ông, đều kể rằng ông là một cậu bé bám mẹ và một đứa bé hay khóc đến không tưởng. Dẫu đã qua những tháng năm chập chững, Tanizaki vẫn không cưỡng lại được bầu ngực của mẹ mình. Ông cho rằng nguyên nhân không phải là do vị sữa mẹ, mà vì “hương thơm ngọt ngào và hơi ấm dịu dàng từ bầu ngực Mẹ.” So sánh với mẹ của Akutagawa, một người đàn bà điên:

“Mẹ tôi là một người điên. Tôi chưa bao giờ trải nghiệm được cái gì gần với tình mẫu tử từ bà. Bà luôn luôn ngồi một mình trong nhà chính ở Shiba, mái tóc vấn vít quanh răng lược, thổi phù phù qua một tẩu thuốc thân dài. Gương mặt và thân hình bà rất nhỏ nhắn. Tôi không giải thích được, nhưng gương mặt bà luôn có màu tro, không có dấu hiệu sức sống nào.”

Ta còn nghe kể lại, một nguồn cảm hứng khác của Tanizaki là bức tranh Đức Mẹ Madonna thuộc quyền sở hữu của ông nội ông – thành viên Nhà thờ Dòng chính Nga. “Với lòng tôn kính không thể diễn tả thành lời, ngắm nhìn đôi mắt của Đức Mẹ Đồng Trinh đầy ân cần và từ ái, tôi cảm thấy như mình không muốn rời xa bà.”

*

Nagai Kafu – tiểu thuyết gia, dịch giả Baudelaire, một người cống hiến cả đời mình cho đời sống nhà thổ – khen ngợi những tác phẩm thời kỳ đầu của Tanizaki, đặc biệt là Xâm mình vì phong cách, sự tinh tế và “vẻ đẹp sâu sắc, bí ẩn nảy mầm từ sự kinh khủng xác thịt.” Thế nhưng Paul McCarthy – một người phô diễn sự sành sõi đáng nể với gu gợi tình của Tanizaki – lại có vẻ bối rối trước ý nghĩa chính xác trong cách diễn đạt của Kafu. Với tôi, những gì Kafu muốn nói khá rõ ràng. Bất cứ khi nào sự tôn sùng phụ nữ của Tanizaki nhuốm màu nhục dục, những nữ thần thanh tao ấy sẽ biến thân thành những con quỷ. Họ vẫn đẹp khó tả, và thậm chí còn đẹp hơn, có lẽ chính bởi những kinh hoàng mà họ gây ra.

Một khía cạnh thú vị trong hình mẫu femme fatale của Tanizaki là những cô gái ấy thường bị Tây hóa, xấc xược, màu sắc, và hơi thô tục. Điều này khiến nhà phê bình người Nhật Eto Jun bình luận rằng sự tôn sùng mang tính khổ dâm của Tanizaki là phép ẩn dụ cho Nhật Bản hiện đại. Nhật Bản tôn thờ Tây phương, hệt như cách những nam nhân của Tanizaki liếm chân những mụ nữ thần phản trắc. Nhưng Eto, người bị ám ảnh bởi Tây phương kể từ vụ chiếm đóng sau chiến tranh, hẳn nhiên là sẽ nói thế. Sự thật là, sự tôn thờ của Tanizaki rất lưng chừng nước đôi. Phương Tây, tựa như những tình nhân tàn độc, quyến rũ nhưng nguy hiểm. Ông từng so sánh văn hóa phương Tây như một thứ thuốc phiện vừa ngọt ngào vừa chết người. Trong những năm tuổi trẻ, ông từng bộc lộ ham muốn bị giết chết bởi thứ thuốc này. Về sau, khi ông rời khỏi Tokyo vào thập niên 1920, Tanizaki ngày càng hướng mình về Nhật Bản truyền thống của thời thơ ấu – vẫn còn sót lại ở Kyoto.

Thậm chí trong những câu chuyện về thời thơ ấu, những người phụ nữ Tây phương đĩ điếm vẫn xuất hiện như những sinh vật sinh ra từ trí tưởng tượng hơn là thứ gì khác. Tanizaki mô tả một nhóm những quý cô Anh Quốc trẻ tuổi trong một tổ chức mang tên Đại Học viện Văn hóa Âu châu, thiết lập tại đặc khu ngoại quốc ở Tokyo. Những quý cô quyến rũ này dạy tiếng Anh ở tầng một, nhưng có một khu tầng hai bí ẩn, nơi những học sinh nhỏ tuổi người Nhật bị cấm đặt chân đến. Một người bạn của Tanizaki mô tả – sau một cú nhìn trộm – rằng nó như một cái sào huyệt xa hoa. Có tin đồn lan truyền rằng khi những quý ông Nhật Bản giàu có đến thăm khu nhà, công việc của những quý cô này đa dạng hơn là chỉ dạy tiếng Anh.

Mặc cho những tôn thờ của ông nội mình dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh, Tanizaki chưa bao giờ thờ phụng tôn giáo hay là một người mộ đạo. Và cũng mặc cho những hiểu biết uyên thâm về văn chương Nhật, Trung và phương Tây, ông cũng không phải là một tác gia đặc biệt tài trí. Thực vậy, chính vì cái tiếng tăm rằng ông đam mê chủ nghĩa khoái lạc đến hết thuốc chữa, ông không được giới trí thức coi trọng. Văn chương của Tanizaki không có đủ thống khổ và tự vấn lương tâm để được đánh giá là “văn chương tinh khiết.”

Mặt khác, Akutagawa khiến họ hài lòng hơn; tác phẩm của ông luôn có đủ đầy thống khổ và tự vấn lương tâm. Ông chết với một quyển Kinh Thánh cạnh giường. Thế nhưng, ông chưa bao giờ – như cách người ta thường nói – tìm thấy Chúa. Trong Những bánh răng, một ông lão đã đề xuất rằng Thiên Chúa Giáo có thể là giải pháp cho nỗi đau của ông:

 “Nếu tôi có thể trở thành…”

 “Chẳng có gì khó đâu. Chỉ cần cậu tin vào Chúa, và Christ Con Trai Chúa Trời, và những phép màu mà Christ tạo ra…”

 “Ác quỷ thì tôi tin đấy…”

 “Vậy thì tại sao không tin vào Chúa? Nếu cậu tin vào bóng tối, tôi chẳng hiểu vì sao cậu không thể tin vào ánh sáng.”

 “Bởi vì có một số loại bóng tối chẳng hề có chút ánh sáng nào.”

Có thể lý do Akutagawa bị thu hút bởi Thiên Chúa Giáo một phần là do những giá trị mỹ học, tương tự như Oscar Wilde, cả hai người đều thưởng thức khía cạnh nghi thức và hình tượng tôn giáo. Nhưng tôi nghĩ mọi chuyện còn hơn thế. Mặc dù Akutagawa chưa bao giờ là một văn hào chính trị, ông hiển nhiên nhận thức được đi kèm với hiện đại hóa kiểu Tây phương là một sự rối loạn tín ngưỡng. Cũng không hẳn là ông có một nỗi khao khát phản động với Nhật Bản thuyền thống, còn lâu mới thế. Theo như ông nghĩ, Nhật Bản truyền thống cũng sụp đổ rồi. Điều ông đang tìm kiếm là một đặc tính tín ngưỡng vạn năng có thể cứu rỗi ông khỏi cái cảm quan cô lập dẫn đến chủ nghĩa duy ngã bệnh hoạn và thói ái kỷ thuần túy. Donald Keene tóm tắt chuẩn xác: “Người ta có thể vượt qua thói ái kỷ nhờ ơn trên, chứ không phải nhờ sự chiêm nghiệm cẩn trọng từ bất cứ luật lệ ứng xử nào.”

*

Những mô tả ngắn gọn của Akutagawa về sự thống khổ tinh thần dẫn đến kết cục tự tử là một bộ tài liệu xúc động. Ta cảm nhận được sức sống đang cạn dần từ người đàn ông này, chẳng để lại gì ngoài trí tuệ – lạnh băng, minh bạch đến kinh hoàng – những khi ông không chìm đắm trong những cơn hoang tưởng. Trong A Fool’s Life (Cuộc đời một kẻ ngốc), ra đời như bức thư tuyệt mệnh không lâu trước khi ông tự sát, Akutagawa so sánh mình với Icarus, trí tuệ của ông được gắn với đôi cánh nhân tạo bởi Voltaire:

 “Mở ra đôi cánh nhân tạo này, anh dễ dàng bay đến trời cao. Tắm mình trong ánh sáng lý luận, niềm vui và nỗi buồn nhân thế chìm dần dưới mắt anh. Vượt qua những thị trấn bẩn thỉu, đánh rơi sự chế nhạo và giễu nhại, anh bay vút lên những khoảng không vô định, hướng thẳng đến mặt trời. Cứ thế với đôi cánh nhân tạo, cháy xém bởi sức chói của mặt trời, một người Hy Lạp cổ đại đã rơi xuống biển, chết. Hình như anh đã quên điều đó rồi…”2

Tất cả những phân tích trên đâu đó ám chỉ rằng Akutagawa là một nhà văn sâu sắc hơn quý ngài Tanizaki thích hưởng lạc, kẻ dành quá nhiều thời gian cho những ám ảnh xác thịt hơn cho Voltaire, Icarus và sức sáng chói của mặt trời. Nhưng tôi tự hỏi điều này liệu có đúng không. Tôi tự hỏi liệu Tanizaki, thông qua sự hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa gợi tình, liệu có tiến gần với cốt lõi loài người hơn là Akutagawa không. Và điều quan trọng hơn là, Tanizaki đã truyền tải được điều này trong văn chương của mình. Những vần văn của Tanizaki vẫn sống. Có lẽ Akutagawa, cháy rụi ở tuổi còn quá trẻ, biết rằng những vần văn của ông đang tiến gần về cõi chết. Có lẽ đó là lý do ông không thể sống tiếp được nữa.

Hết.

Chú thích:

  1. Femme fatale (độc phụ) là danh từ ám chỉ hình mẫu phụ nữ có ngoại hình quyến rũ và bí ẩn lạ lùng, mê hoặc đàn ông nhưng thường mang trong mình những dụng ý nguy hiểm và thâm độc.
  2. Trích từ Cuộc đời một kẻ ngốc, Phạm Bích và Đỗ Nguyên dịch, NXB Văn học.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Ian Buruma, tại The New York Review of Books.

Xem tất cả những bài viết của Aki-ten tại đây.


Tìm hiểu về tác giả Tanizaki Jun’ichiro



3 bình luận

3 Bình luận

  1. Pingback: Đời du nữ – Câu chuyện của một ả đàn bà nghiện đàn ông – Bookish

  2. Pingback: Chữ Vạn của Tanizaki Junichiro, vị văn sĩ tôn thờ những nữ thần trần tục – Bookish

  3. Pingback: Từ Sách đến Phim: Ring (1998) – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Đẹp là một nỗi đau: Hai ý niệm song hành về những vẻ đẹp đầy khổ đau

Đăng từ

on

Người đăng

Đêm buông thõng một tiếng thở dài. Giữa thinh không, thành phố ngủ vùi trong cơn mưa đầu mùa lạnh lẽo. Mưa hối hả xối ướt những con đường. Mưa lạnh căm. Và tịch mịch. Trong căn phòng nhỏ với từng nỗi ngổn ngang đang ngập ngụa trong lòng, tôi đọc đến trang bốn trăm bốn mươi, và cũng là trang cuối cùng của một cuốn sách – đã khiến tôi phải nhọc lòng nghĩ ngợi nhiều đến vậy. Đẹp là một nỗi đau, ôi những điều xa xôi diệu vợi nào đó giữa cuộc đời, tôi đã tìm thấy được, trong cuốn sách này. Và đêm nay, khi trang sách cuối cùng khép lại, lòng tôi bỗng chộn rộn những xúc cảm lạ thường. Một hành trình dài, tôi đã vừa khép lại, với chính mình, với cuốn sách này, như thể tôi vừa khám phá ra một thế giới của cái đẹp – nhưng đầy đau đớn, hay chính thế giới của những sự đau đớn – nhưng vẫn đẹp đẽ vô cùng?

*

Đẹp là một nỗi đau, cuốn sách ấy thật lạ kì làm sao! Lạ kì như cái cách mà tác giả đã đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Khi nghĩ về tựa đề của cuốn sách, một câu hỏi thảng thốt bất chợt vang lên trong tôi: Tại sao đẹp lại là một nỗi đau? Tôi đi tìm câu trả lời ấy, qua từng chương của cuốn tiểu thuyết này. Nó đưa tôi đi xa, xa mãi, đến những vùng miền kì lạ của đất nước Indonesia thời bấy giờ, khi chiến tranh và hiện thực khắc nghiệt cứ đeo bám lấy số phận của từng người, từng người một…

Cuốn sách bắt đầu bằng một sự kiện quái dị: Dewi Ayu – một người đàn bà đã chết cách đây hai mươi mốt năm bất ngờ đội mồ sống dậy, bằng xương bằng thịt trong cơ thể của một con người, chứ không phải những hồn ma vất vưởng đã lăn trôi bất tận giữa xứ sở này từ bao lâu. Bà rời khỏi nghĩa trang, bà bước đi, bà ghé ngang qua những phố phường, rồi lại trở về căn nhà xưa cũ của bà khi còn sống. Bà bỗng xuất hiện giữa cuộc đời, một lần nữa, như chưa hề có chuyện đã chết vùi giữa mộ địa bao nhiêu năm qua. Sự kiện ấy đã khiến cho rất nhiều người dân trong vùng sợ hãi và bỏ chạy tán loạn. Họ biết rõ Dewi Ayu là ai, họ biết Dewi Ayu sao lại chết, và họ biết Dewi Ayu có sức ảnh hưởng lớn thế nào đến tất cả mọi người. Nhưng họ không biết sao bà lại trở về. Và liệu rằng, ngay lúc này, Dewi Ayu thật sự vẫn còn sống, hay chỉ là một hồn ma đáng sợ trong thế giới tâm linh nhỏ bé của con người? Chưa ai biết, chưa ai hiểu, nhưng sự trở về của bà đã mở ra vô vàn những câu chuyện nối đuôi nhau tiếp diễn một cách lạ kì, như một sợi dây dài được đan xen nhau bằng các chuỗi mắt xích của quá khứ, hiện tại – và cả tương lai.

Trong thành phố này, không ai là không biết đến Dewi Ayu, người đàn bà xinh đẹp sở hữu nhan sắc tuyệt trần làm tất cả đàn ông say đắm. Bà lớn lên trong một gia đình mà mối quan hệ giữa các thành viên lại là một chuỗi những rắc rối lạ kì. Thật khó khi phải nói ra, nhưng có lẽ, những khổ đau từ ban sơ đã bắt đầu ngủ ngầm trong giai đoạn này, trong chính những thứ tình cảm tội lỗi, trong chính những phiền não của các thế hệ ông bà, cha mẹ của bà. Phải chăng, vì lẽ đó, kể từ khi còn nhỏ, bà đã là một cô bé có những suy nghĩ và hành động khác biệt so với tất cả mọi người. Bà mạnh mẽ, gan dạ, hiếu động và thông minh. Nhưng những điều đó dường như đã không giúp ích được gì cho bà. Bởi thời cuộc! Thời cuộc của chiến tranh. Rồi mọi thứ bỗng chốc xảy ra một cách đột ngột không báo trước. Bà không còn được gặp lại ông bà. Bà không còn có người giúp việc kề cận. Bà bỗng cô độc. Và bị rời xa ngôi nhà quyền quý của mình. Và bị trở thành gái điếm trong nhà thổ – một cách thường tình như bao cô gái khác cũng bị bắt đi. Chiến tranh đến trong cuộc đời của tất cả mọi người dân nơi này.

Từ đó trở đi, Dewi Ayu trở thành một gái điếm vô cùng nổi tiếng. Bà đẹp, đẹp lắm. Một vẻ đẹp làm tất thảy mọi đàn ông say đắm. Ai cũng khao khát được âu yếm, vuốt ve, nâng niu bà, và hơn hết, là được ngủ cùng bà – bằng những cuộc làm tình bất tận. Điều đó dễ thôi, bà chẳng cần quan tâm gì hết, miễn là họ có tiền, và đưa cho bà, vì bà làm nghề gái điếm đấy thôi. Gái điếm! Một cái nghề “sung sướng” trong mắt của những kẻ hoan lạc, nhưng thật ra lại vô cùng “bạc bẽo” trong lòng của những kẻ bi thương. Vì đâu mà bà làm gái điếm? Vì đâu mà bà lại phơi bày tấm thân và vẻ đẹp tuyệt sắc của mình cho mọi loại đàn ông trên đời, dù là lão già héo úa hay đứa trẻ vừa mới mộng tinh, dù là gã cô đơn hay là kẻ đã có gia đình? Bà muốn vậy chăng? Không không. Vì số phận, số phận đó thôi. Số phận đã sắp đặt và an bày lên mảnh đời của bà. Và số phận trôi đi trong cái guồng quay luân hồi không bao giờ dừng lại. Bà chỉ đứng nhìn số phận và lặng lẽ sống cùng nó. Và đợi trả thù!

*

Trong những tháng ngày làm nghề gái điếm, bà đã có con. Những đứa con của bà đều là con gái, và chúng xinh đẹp, như bà. Hoặc thậm chí, là đẹp hơn cả bà. Một lần nữa, sự ra đời của những đứa trẻ này làm cho cuộc sống của người dân trong thành phố náo loạn. Chúng lớn lên, mặn mà và kiều diễm. Chúng biết xinh đẹp và cũng biết yêu thương. Chúng xinh đẹp trong mắt của mọi gã đàn ông. Và chúng yêu thương trong những xúc cảm chân thành của một người phụ nữ. Thời gian trôi đi, cùng với bao thăng thầm xứ sở, chúng lại có gia đình, có con cái. Những tưởng hạnh phúc sẽ theo chúng lâu dài. Vì chúng đẹp. Một vẻ đẹp rạng ngời trên trái đất. Nhưng than ôi. Đó lại là một thảm bi kịch. Những người chồng của chúng, những đứa con của chúng, những mối quan hệ kì lạ của chúng – đều là khổ đau. Sự khổ đau hiện hữu từng ngày, từng phút, từng giây, và cả từng sát na ngắn ngủi, trong cuộc đời của chúng. Và khổ đau nối đuôi nhau, theo đến đời những đứa con của chúng. Trải dài. Bất tận.

Suốt cả một hành trình dài của cuốn sách, thứ hiện lên rõ ràng và xuyên suốt nhất, chính là vẻ đẹp, và hơn hết là vẻ đẹp của những người phụ nữ. Những người phụ nữ ấy là ai? Là Dewi Ayu, là Maya Dewi, Alamanda, Adinda – ba đứa con gái của bà, là Nurul Aini và Rengganis Xinh Đẹp – hai đứa cháu ngoại của bà, là công chúa Rengganis trong truyền thuyết, là các số phận không tên khác. Tất cả họ, tất cả những vẻ đẹp của họ – đều được phơi bày cặn kẽ trước cuộc đời như công thức chung của những người phụ nữ đẹp. Ai cũng đẹp. Ai cũng làm người khác mê mẩn. Ai cũng sở hữu thứ nhan sắc vượt trên mọi ý niệm về cái đẹp là gì. Nhưng rồi được gì, khi mà đằng sau đó, tất cả những gì họ có được, là sự khổ đau. Mà sự khổ đau này từ đâu ra? Từ chính vẻ đẹp.

Vì sao vẻ đẹp lại gây ra đau khổ? Vì con người chấp vào vẻ đẹp đó, cho rằng nó vĩnh hằng, nó bền vững, nó luôn trường tồn và ở đó mãi mãi. Mà quên mất rằng, cái đẹp chỉ là một khái niệm mong manh giữa cuộc đời. Cái đẹp chỉ là giả tạm. Rồi cái đẹp sẽ tan biến. Sẽ tan đi. Sẽ theo thân xác nằm dưới nắm mồ. Và chôn vùi vào đất. Thế là xong.

Nhưng không ai tin điều đó. Trước mắt họ, cái đẹp vẫn là nhất. Họ làm tất cả mọi chuyện, dù đúng dù sai, thậm chí cả giết nhau, chỉ vì cái đẹp. Đó lại là một câu chuyện khác, của những gã đàn ông đam mê cái đẹp xuất hiện trong cuốn sách này. Thế hệ ông bà, cha mẹ của Dewi Ayu, cái đẹp đã vô tình tạo dựng nên những mối quan hệ đau lòng, những cuộc tình oan trái mà từ đó trở thành mầm mống của các chuyện bi thương về sau. Rồi họ, Shodancho, Maman Gendeng, Kliwon, Krisan – những gã đàn ông của thế hệ sau này, vẫn cứ thế tiếp tục xuôi theo cái vòng tròn luẩn quẩn của một kiếp người say đắm cái đẹp. Họ yêu bằng cái đẹp hiện hữu. Họ cho cái đẹp là tuyệt vời. Họ không thể nào cưỡng lại được cái đẹp. Và cái đẹp đã thống trị họ – cả thể xác lẫn tinh thần. Họ lao vào làm tình với những người phụ nữ đẹp, mà không cần biết đó là mối quan hệ gì. Họ chỉ yêu và yêu như thể nếu không yêu thì sự sống sẽ ngừng lại. Họ khao khát vẻ đẹp trong tình yêu. Nếu phải làm mọi thứ để có được vẻ đẹp trong tình yêu, họ sẽ làm mà không màng suy nghĩ. Và họ đã làm như vậy, với nhau, trong nỗi thống khổ và dày vò vô hình đáng sợ. Làm sao tin được khi con rể lại chính là người đã từng ngủ với mẹ vợ, gã em trai lại đem lòng yêu chị họ của mình nhưng lại làm tình với một người chị họ khác, rồi em vợ lại là người từng làm tình với chị vợ của mình… Rồi các mối quan hệ mà người đời vẫn gọi là “loạn luân” và phi đạo đức cứ thay phiên nhau xuất hiện đầy rẫy trong cuốn sách này. Đến tội nghiệp. Và trơ trọi. Tất cả những câu chuyện ấy, đều là vì cái đẹp mà ra.

*

Một yếu tố khác mà tôi muốn đề cập đến, chính là sự “hoang đường” trong cuốn sách này. Một sự hoang đường thực tế và vô cùng hợp lý. Đó là khi tác giả lồng ghép những chất liệu hư cấu (mà nhỡ đâu nó có thể là sự thật thì sao?), khi cho phép các yếu tố quỷ dị vào câu chuyện của mình. Những hồn ma có năng lực phép thuật, cách thức người chết sống lại, những người có khả năng gọi hồn và trò chuyện cùng ma quỷ… Dù những điều ấy, với thực tại, nó vốn không có thật, nhưng trong thế giới của những con người mà chuyện kì lạ nào cũng có thể xảy ra, thì tại sao nó lại không thể xảy ra? Chính những điều mơ hồ quỷ dị ấy đã làm cho cuốn sách thêm phần hấp dẫn, và lôi cuốn, và thu hút độc giả qua từng chương.

Tôi đã từng chê cuốn sách này. Tôi đã bỏ dở. Tôi đã khiên cưỡng khi nghĩ về những nhân vật lạ kì trong cuốn sách và nghi ngờ cái cách mà tác giả bày trí cho sự hiện diện của mỗi người. Tại sao lại có quá nhiều nhân vật với quá nhiều cái tên và câu chuyện khiến độc giả không thể mường tượng và xâu chuỗi lại được? Tại sao mọi thứ lại khó hiểu và rắc rối ngay từ những trang đầu như thế. Tại sao nội dung lại không liên quan gì đến tựa đề cuốn sách? Tại sao và tại sao? Và cuối cùng, khi cuốn sách khép lại, tôi bỗng vỡ òa ra. Hóa ra, mọi thứ đều có những nguyên nhân của nó. Mọi nhân vật xuất hiện đều đầy đủ, vừa vặn và vẹn tròn. Họ bổ sung cho nhau. Họ tôn vinh vẻ đẹp của nhau. Và họ cũng làm nhau đau khổ. Mối tương quan lạ kì này thật khó hiểu. Cái đẹp thường phải song hành cùng hạnh phúc. Nhưng cuốn sách đã đưa ra những tình tiết dẫn dắt bất ngờ, những biểu tượng ẩn dụ đầy tinh tế, để chỉ ra và kết luận một điều, “đẹp là một nỗi đau”.

Khi cuốn sách khép lại, tôi bỗng lặng người đi. Cả vô vàn muôn sự đau khổ. Trong ngần ấy thời gian sống của một kiếp người, họ đã làm gì, ngoài việc theo đuổi cái đẹp giả tạm, để rồi khi lần lượt những nhân vật chủ chốt đều chết đi, đầy đau thương, vì cái đẹp, và họ nhận ra rằng, đẹp chính là một nỗi đau, khi mà Krisan bị bắn chết sau khi làm tình với dì ruột của mình – một cô gái xấu xí đến rợn người mang trên mình cái tên kiều diễm – Đẹp! Trớ trêu thay, đến khi Krisan nhận ra được điều ấy, thì đã chẳng còn ai ở lại trên cõi đời…

“Đẹp là một nỗi đau”, tôi không biết phải dùng hơn bất kì thứ ngôn ngữ nào để lột tả được các lớp nghĩa đằng sau nó. Tôi chỉ có thể cảm nhận những sự trống rỗng, bệ rạc, và nặng nề – qua từng số phận đầy đau thương kia. Cái đẹp như một lời nguyền bám dính lấy từng thế hệ của gia đình nhà Dewi Ayu. Cái đẹp mang đến những đau khổ tột cùng. Và cái đẹp lần lượt giết chết những ai tham đắm nó – trong tội lỗi, và trong luân hồi. Rồi cái đẹp có dừng lại ở đó không? Rồi oán hận có dừng lại ở đó không? Hay vẫn cứ trôi đi, và tiếp diễn.

Thật sự là tôi đã bị ám ảnh đôi chút về cuốn sách này, khi cơn mộng sâu ập đến vào một đêm nào đó tôi cảm thấy mình trơ trọi giữa cuộc đời. Không phải vì cuốn sách có những điều quỷ dị, mà là vì tôi thương cảm sâu sắc đến số phận của mỗi nhân vật. Ôi sao ai cũng đau khổ thế này? Ôi sao ai cũng bi thương thế này? Nhưng tôi biết phải làm gì hơn. Vì đó là sự lựa chọn của họ. Họ đã chọn cái đẹp. Họ đã lao đầu theo cái đẹp. Họ chưa nhận ra rằng, đẹp là một nỗi đau…

Với tôi, cuốn sách này vượt trên cả một chương tiểu thuyết về cái đẹp và sự khổ đau. Nó còn chứa đựng cả văn hóa, cả lịch sử, cả nền chính trị đương thời và các tập tục cũng như đời sống tinh thần của xứ sở Indonesia. Nó phản chiếu hình ảnh và tái hiện những tâm tư phức tạp trong mỗi con người. Nó phơi bày, nó soi rọi linh hồn đất nước, và, nó đẹp. Nhưng xin, nó hãy đẹp, nhưng đừng là nỗi đau…

Và như thế, trong tôi, cuốn sách khép lại giữa đêm. Đêm tịch mịch. Ngoài kia, biết bao người nữa, còn bao người nữa, đang lao đi, lao đi, và chôn vùi trong sự đau khổ vô minh, bởi những thứ họ thấy được, chỉ là cái đẹp.

“Sao anh muốn em?”
“Vì anh yêu em?”
“Anh yêu một người đàn bà gớm ghiếc?”
“Ừ.”
“Vì sao?”
“Vì đẹp là một nỗi đau.”

Vì đẹp là một nỗi đau…

Hết.

Lâm Lâm

Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Review Đẹp là một nỗi đau

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Người lớn, trẻ con và Hoàng tử bé

Đăng từ

on

Người đăng

Khi còn bé, chúng ta suy nghĩ mọi thứ khác so với chúng ta phiên bản trưởng thành đến nỗi đánh mất đi nhiều thói quen hay ho. Là trẻ con, chúng ta nhìn qua lăng kính trong veo không gợn chút bụi trần, và hầu như không phải đắn đo giữa được và mất. Đến một thời khắc nào đó, con người khi đã đủ trưởng thành lại bùi ngùi nhớ lại bản thân mình ngày xưa với biết bao tiếc nuối… Đọc Hoàng tử bé, độc giả không tránh khỏi những suy nghĩ ấy: giờ đây, những thứ mộc mạc, giản dị của ngày bé chẳng thể trở về giản dị, mộc mạc nữa rồi, vì cuộc sống khắc nghiệt của người lớn phức tạp hơn nhiều.

Tuổi thơ và những điều con trẻ

Nhân vật xưng “tôi” ngày nhỏ thích vẽ. Trong một lần nhìn thấy bức tranh con trăn nuốt chửng cả một chú voi khổng lồ, bạn nhỏ ấy đã họa lại theo cách của mình, nhưng có vẻ không được tán dương lắm. Con trăn no căng bụng bị nhìn nhầm thành chiếc mũ, nên cậu vẽ cho hở bụng và không quên họa con voi to tướng vào chỗ hở của bụng trăn. Khi ấy, “người lớn” thi nhau bảo cậu hãy bỏ giấc mộng vẽ vời đi. Chẳng ai hiểu cậu vẽ gì cả.

Cậu bỏ thật…

Nhưng bức tranh ấy có ý nghĩa gì nhỉ? Tôi nghĩ mãi, và tạm chấp nhận với câu trả lời: con trăn chính là cuộc sống của “người lớn”. Nó nuốt chửng cả đứa trẻ thơ dại còn sót lại trong mỗi chúng ta. Đáng buồn là, chẳng ai thèm đoái hoài hay lo lắng về quá trình khó lòng cưỡng lại ấy. Chúng ta dường như đang quay mặt lại với chính mình ngày xưa: giản đơn, hiền lành và đầy mơ mộng.

Người kể chuyện là một người đàn ông cô đơn. Mỗi lần người khác cười ông vẽ “chiếc mũ” vớ vẩn, ông lại từ chối đứa trẻ sống trong tim mình bằng cách sống “người lớn” hơn: trí tuệ, hiểu biết và sõi đời.

Ông vẫn là một tâm hồn cô độc, quanh quẩn với chính mình, vòng quanh thế giới bao la nhưng mãi đến khi gặp Hoàng tử bé từ hành tinh B612 thì ông mới phần nào nguôi ngoai. Hai tâm hồn cô đơn, gặp nhau và tạo thành một mối dây liên kết vô hình. Của một đứa trẻ với một người già. Của một cư dân Trái Đất với kẻ sống ở nơi chỉ toàn núi lửa và lác đác vài bông hoa…

Người lớn đánh giá một vật xấu hay đẹp, đánh giá một người có đáng được lắng nghe hay không, cũng chỉ sòng phẳng qua những phương tiện vật chất. Trong thế giới mà tiền bạc là tất cả, chẳng ai để ý đến bông hoa nhỏ bé có thể bị con cừu ranh mãnh ăn mất bất cứ lúc nào.

Hoàng tử bé và chuyến phiêu lưu nhỏ

Lúc trò chuyện với chú phi công, Hoàng tử bé có vẻ rất lo lắng cho bông hoa hồng của mình. Cô quạnh trên hành tinh quê nhà, bông hoa lắm lời và kiêu kì có thể được xem như người bạn duy nhất của cậu. Đoạn miêu tả bông hồng sao mà giống lời miêu tả chị em phụ nữ của cánh mày râu quá: kiêu hãnh, không chịu công nhận tình cảm, lại còn vô cùng điệu nữa. Hoàng tử yêu bông hoa ấy, và bông hoa đó cũng yêu hoàng tử. Đó là lý do bông hoa cố tỏ ra vẻ mình yếu đuối: muốn được cậu che chở và chăm sóc.

Lồng ghép vào đó là câu chuyện về cây bao báp ăn nát cả hành tinh. Phải chăng, tác giả ngụ ý rằng, chuyện gì hôm nay làm được thì chớ để ngày mai, không thôi bao báp ăn mất đất, đến không còn chỗ mà sống. Triết lý giản đơn ấy, ngày nhỏ chắc hẳn rằng đã được mẹ và cô bảo ban hàng chục, hàng trăm lần, nhưng không hiểu sao khi đọc truyện, tôi mới thấy nó rõ ràng và đáng suy ngẫm đến thế.

44 lần ngắm mặt trời lặn. Vì buồn quá nên thích ngắm mặt trời lặn. Chẳng phải, vì cô đơn, lạc lõng quá nên buồn sao? Vì vậy, chú phi công kết luận: “Cái ngày 44 lần ngắm ấy, hẳn là cậu phải buồn lắm?” Cậu im lặng không đáp. Một đứa trẻ mà buồn thì sẽ như thế nào nhỉ?

Hoàng tử bắt đầu chán chường với bông hoa “nói nhiều”. Cậu muốn thoát khỏi hành tinh nhỏ bé của mình, thoát khỏi “vùng an toàn” và chu du khắp những vì sao. Nhưng sau đó, rõ ràng cậu lại hối hận vì đã đánh giá bông hồng qua cái sự “nói nhiều” ấy. Cậu nhận thấy mình có tình cảm sâu đậm với bông hoa. Cuộc phiêu lưu của cậu ra khỏi “vùng an toàn” chính là một cuộc dạo chơi của tâm hồn thơ bé đến với thế giới hiện thực tàn khốc của người lớn. Ở đó, có biết bao loại người khác nhau, nhưng dù là ai thì cậu cũng cảm thấy “người lớn thật là khó hiểu”, “kỳ lạ” và “buồn cười”.

Đó là một ông vua trị vì vương quốc không có lấy một thần dân. Ông trị vì trong cô đơn và mòn mỏi, với những triết lí cũng khá là hợp lí: “Cần phải yêu cầu người ta làm cái điều gì người ta có thể thực hiện được…” Tuy nhiên, vì quá cứng nhắc nên ông ta có vẻ bị động và bất lực, khi cậu quả quyết rời khỏi hành tinh. Một ông vua mà không có thần dân, thì còn gì là vua nữa?

Đó là một ông hợm hĩnh, coi cả thế giới là “cộng đồng người hâm mộ” của mình, và mình là cái rốn của vũ trụ. Loại người như thế này thì công nhận, ngoài đời nhiều thật. Bạn cứ thử làm việc nhóm nhưng chọn nhóm một cách ngẫu nhiên xem. Thế nào bạn cũng phải chán ngán như khi Hoàng tử bé chán ngán trò chơi vỗ tay… Cái tôi quá lớn xua đuổi người khác đi mất chứ chẳng thể giữ nổi chân ai cả.

Đó là một ông nát rượu. Vì quá bất lực với cuộc đời, quá hèn nhát mà ông chỉ trốn vào men rượu. Tại sao? Vì ông nghiện rượu. Đó là một vòng luẩn quẩn không lối thoát, nhất là khi bạn chỉ biết than thân trách phận mà chẳng buồn hành động chút xíu nào để làm cuộc đời bạn tốt hơn.

Đó là nhà buôn nghiện tính. Tính mãi, tính mãi, luôn miệng nói mình bận lắm, mình toàn làm những việc cao cả, những thứ nghiêm túc thôi. Nhưng để làm gì nhỉ? Tính tổng số sao mình sở hữu. Hoàng tử bé đã chỉ ra một điều mà ít ai để ý: rằng nhà buôn ấy, tính toán bận rộn thế thì chẳng ích lợi gì cả, rằng ông ta cũng không làm gì được cho các ngôi sao cả. Cuộc sống thực tại cũng vậy. Có rất nhiều người bận vùi đầu vào những thứ vô bổ, tưởng chừng nghiêm túc nhưng chả hề có ích; lại có người mải mê kiếm tiền mà quên hưởng thụ, quên mục đích cuộc sống của mình là gì, dẫn đến đời sống tinh thần nghèo nàn, thui chột; cũng có người có nhiều lắm, nhưng không cho đi, không giúp đỡ người khác, nên cuộc sống vô cùng tẻ nhạt.

Lại có ông nhà địa lý mọt sách, suốt ngày rúc vào sách vở chứ chẳng đi thực tế hay khám phá gì cả. Riêng có người đốt đèn chăm chỉ, cần mẫn là đáng để Hoàng tử bé kết thân. Có cảm giác, tác giả đang miêu tả bản thân như người đốt đèn đó: làm một việc khiêm nhường nhưng có ích cho đời. Đó là người duy nhất ngoài vũ trụ mà cậu muốn kết thân.

Vậy bạn trẻ à, bạn là cư dân của hành tinh nào mà tôi đã đề cập nhỉ?

Mong rằng bạn không cần phải phật lòng với tôi vì đã khiến bạn chột dạ.

Vậy còn Trái Đất thì sao?

Con rắn, cái giếng, con cáo và hoa hồng

Cách nói ví von đầy ẩn ý như thế, khiến những con người đã-từng-là-trẻ-con không khỏi trăn trở: rắn, cáo, hoa hồng nhưng đâu phải là rắn, cáo, hoa hồng thôi; giếng nhưng sâu thẳm, nó là gì nữa?

Con rắn ban đầu thấy Hoàng tử bé là đã ra chiều dụ dỗ. Nó bảo, nọc độc nó là để người bị cắn trúng trở về với nơi được sinh ra – thật là tráo trở biết bao. Thì ra, con người với nhau nhưng giả dối lắm, nên hay dùng những mỹ từ cao cả để che đậy tội lỗi. Cuối cùng, chính con rắn ấy đã trút hết nọc độc vào em và bỏ đi. Em ngây ngô, nhưng không hề ngây ngô chút nào.

Cậu gặp một con cáo, khao khát được thuần hóa. Con cáo đó, chính là nhân loại. Nhân loại khao khát yêu và được yêu, dù có đau khổ, dù có nếm mật nằm gai. Romeo và Juliet vẫn đến với nhau và yêu nhau bằng cả mạng sống, và chắc hẳn tiểu thuyết của Nicholas Sparks bán chạy cũng là do nhân gian nào có ai từ chối tình yêu cả một đời. Thế là cậu phát hiện ra, mình đã “được” hoa hồng kia thuần hóa. Cậu yêu bông hoa ấy. Và cậu nghĩ mình có trách nhiệm với thứ mà mình đã thuần hóa. Chậc, những người yêu nhau, thương nhau đều có trách nhiệm giữ cho người kia an toàn và hạnh phúc mà nhỉ?

Con cáo đau khổ khi phải chia xa Hoàng tử bé, nhưng nó không hối hận vì đã van nài cậu thuần hóa nó. “Lúa mì, vốn dĩ vàng óng, sẽ khiến tớ nhớ đến cậu.” Thật đáng nể, tác giả dạy trẻ con về tình cảm tự nhiên của con người quá tài tình!

Còn đây là bài học mà tôi tâm đắc nhất:

Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Con mắt thường mù lòa trước điều cốt tử… Chính thời gian mà cậu dành cho bông hồng của cậu mới khiến bông hồng của cậu quan trọng đến thế.

Hoàng tử bé của chúng ta cũng phát hiện rằng, 5000 bông hoa hồng trên trái đất giống hệt như bông hoa của cậu, nhưng với cậu, đóa hoa đó là duy nhất. “Nhưng chỉ riêng mình nàng thôi, nàng đã quan trọng hơn tất cả các cô, bởi lẽ chính nàng đã được tôi tưới nước cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi chắn bình phong cho… Bởi lẽ đấy là bông hồng của tôi.”

Đọc đến đây, tôi chợt ganh tị với một bông hoa hồng nhỏ bé…

“Điều khiến cho sa mạc đẹp, hoàng tử nói, chính là nó giấu một cái giếng ở đâu đó…”

Em biết mình muốn làm gì, và cần phải làm gì để đi đến điểm dừng cuối cùng ấy. Không như những người trên tàu hỏa, chen lấn, xô đẩy, nhưng ông lái tàu chẳng biết họ đi tìm cái gì cả.

Vậy bạn thân mến, bạn đã biết mình đến thế giới này để làm gì chưa? Nếu chưa, thì bạn cần phải học hỏi Hoàng tử bé nhé! Cậu đi tìm giếng nước và khoan khoái uống nước do chú phi công múc lên. Cậu gắn liền làn nước mát ngọt và tiếng dây kéo cót két với chú phi công. Vì vậy, có lẽ sau này mỗi lần cậu khát nước hoặc nghe tiếng dây, thấy cái giếng, cậu sẽ nhớ tới chú phi công. Nhưng có lẽ, cậu không còn lần sau nữa.

Cậu đã tặng chú phi công cái gì nhỉ?

Những ngôi sao biết cười.

Đứa trẻ trong cơ thể già cỗi khô cằn.

Một lời gợi nhớ, rằng những thứ vô hình cần được cảm nhận bằng trái tim.

Lời kết

Tác giả truyện, Antoine de Saint-Exupéry là một phi công, và đã có kinh nghiệm tham gia làm nhiệm vụ trong Thế chiến thứ hai. Giấc mơ được bay lượn của ông được gởi gắm qua nhân vật “tôi” trong truyện, cùng với việc Hoàng tử bé bay lượn từ hành tinh này sang hành tinh khác. Kết thúc của truyện cũng khá buồn, nhưng tôi vẫn muốn hiểu theo cách riêng của mình. Tôi thấy bản thân không đủ mơ mộng và lạc quan để tưởng tượng cảnh Hoàng tử bé trở về quê nhà, tận tay chăm bón cho cô hoa hồng đỏng đảnh. Hoa chờ cậu một năm rồi, đã úa tàn rồi. Còn cậu, cậu cũng chẳng thể thoát khỏi lưỡi hái tử thần, và rời khỏi thế gian một cách nhẹ nhàng. Nhưng cậu, với một tâm hồn thánh thiện và tinh khiết, đã khiến cho chú phi công kia thay đổi quan điểm sống, khiến chú luôn nhớ đến cậu, thương nhớ cậu, vì chí ít, cậu cũng đã cứu mạng chú ấy, khiến chú ấy sống thật với bản thân, với “đứa trẻ mình đã từng là”. Hoàng tử cũng đã thỏa được mong muốn trở về với hoa hồng yêu dấu, dù là mãi sau khi cả hai đều lìa khỏi cõi đời. Tôi hoàn toàn tin rằng, cậu đã ra đi vô cùng thanh thản. Cậu ra đi vì tình yêu, dù bản thân cũng chẳng biết định nghĩa tình yêu là gì…

Truyện ngắn gọn nhưng dư âm thì còn mãi với thời gian. Mong rằng, những bài học quý giá về cuộc sống, về thành và bại, hữu hình và vô hình, tình yêu và tình bạn, sự sống và cái chết, tất cả đều sẽ đồng hành với tôi trong suốt quãng đời còn lại. Đều là những bài học đắt giá mà tác giả đã đúc rút được từ cuộc đời truân chuyên của mình, nên tôi rất trân trọng.

Ngày 31.07.1944, máy bay của Saint-Exupéry mất tích trên Địa Trung Hải. Tôi nghĩ, ông đi tìm Hoảng tử bé đấy. Ắt hẳn là ông đã tìm được em.

Hết.

Gia Bảo

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Những điều chúng ta có thể học (và không nên học) từ “Dịch hạch” của Albert Camus

Từ Liesl Schillinger, về thảm họa, lây nhiễm và tình trạng con người.

Đăng từ

on

Người đăng

WHAT WE CAN LEARN (AND SHOULD UNLEARN) FROM ALBERT CAMUS’S THE PLAGUE

Liesl Schillinger

Thông thường, một câu hỏi như thế này thường mang tính lí thuyết: Chuyện sẽ ra sao nếu thị trấn của bạn, tiểu bang của bạn, đất nước của bạn, bị tách biệt khỏi phần còn lại của thế giới, người dân bị ép ở yên trong nhà khi một căn bệnh truyền nhiễm đang lây lan, lây nhiễm cho hàng ngàn người và làm hàng ngàn người nữa phải cách ly? Bạn sẽ đối phó như thế nào nếu dịch bệnh phá vỡ nhịp sống thường nhật, trường học đóng cửa, bệnh viện dần trở nên quá tải và các cuộc tụ họp xã hội, các sự kiện thể thao, các buổi hòa nhạc, hội nghị, lễ hội và kế hoạch du lịch bị trì hoãn vô thời hạn?

Năm 1947, khi 34 tuổi, Albert Camus, nhà văn người Pháp gốc Algeria đã đưa ra câu trả lời đáng kinh ngạc và chi tiết cho câu hỏi trên trong cuốn tiểu thuyết Dịch hạch. Cuốn sách ghi chép lại sự xuất hiện đột ngột và ra đi chậm chạp của một trận bệnh dịch hạch giả tưởng tại thị trấn ven biển Oran của Algeria vào tháng Tư trong thập niên 1940 (năm cụ thể không rõ). Khi căn bệnh xâm nhập vào thị trấn, dịch bệnh kéo dài, làm đảo lộn cuộc sống và tâm trí người dân, cho đến tháng Hai năm sau, khi nó rời đi nhanh chóng và kỳ lạ như cách nó đến, “quay trở lại hang ổ tối tăm nơi mà nó đã lén lút xuất hiện”.

Dù bạn đã đọc Dịch hạch hay chưa, ngay lúc này ta cần đọc hoặc đọc lại cuốn sách trong thời điểm cả quốc gia và quốc tế căng thẳng, khi một căn bệnh mới mang tên COVID-19, gây ra bởi chủng mới của vi-rút corona, đang càn quét toàn cầu. Kể từ khi chủng mới của vi-rút corona xuất hiện vào cuối năm ngoái tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc (thành phố đã bị phong toả từ tháng Một), nó đã phát triển không ngừng, xâm chiếm hơn một trăm quốc gia, làm người dân và thị trường tài chính chao đảo, buộc các thành phố, khu vực, và cả nước Ý sống dưới sự cách ly. Tuần này, nơi làm việc, trường học và trường cao đẳng đã đóng cửa hoặc làm việc online ở nhiều thị trấn của Mỹ (bài viết gốc được đăng vào ngày 13.03.2020), các sự kiện bị hủy bỏ và du lịch không thiết yếu đã bị cấm. Dịch đã được nâng cấp thành đại dịch. Bạn có thể thấy mình có nhiều thời gian để đọc sách hơn bình thường. Tiểu thuyết của Camus có sự tương đồng và nhiều bài học để cung cấp trong thời buổi này.

Trước khi bạn cầm cuốn sách này lên, hãy yên tâm rằng dù dịch COVID-19 có thể đáng sợ, nhưng nó không tài nào có sức tàn phá như bệnh dịch hạch của Camus. Vào thế kỷ 14, bệnh dịch hạch, còn được gọi là “Cái Chết Đen” đã giết chết gần một phần ba dân số trên lục địa châu Âu. Khi nó hoành hành khắp London vào năm 1656 và 1657, nó đã giết chết gần một phần tư dân số. Trong trường hợp bạn chưa biết, bệnh dịch hạch vẫn còn tồn tại đến ngày nay, không chỉ ở châu Á và châu Phi, mà còn ở phía Tây Nam nước Mỹ. Nó được truyền bởi bọ chét từ loài gặm nhấm bị nhiễm bệnh, gây sốt cao, nôn mửa và sưng đau, có tên là “sưng bạch hạch” (về sau gọi là “thể hạch”). Ngay cả khi được điều trị bằng kháng sinh, nó có tỷ lệ tử vong là 10%; và nếu không được điều trị, tỉ lệ lên tới 90%. Vi-rút corona lại không hề giống như thế.

Khi Camus viết cuốn tiểu thuyết này, không có dịch hạch ở Oran. Tuy nhiên, nó đã tàn phá thành phố này vào thế kỷ 16 và 17. (Từng có một đợt dịch bùng phát kéo dài một tháng tại Oran vào năm 2003.) Nhưng nếu Dịch hạch mô tả các triệu chứng và hậu quả của căn bệnh theo đúng nghĩa đen và phương diện lâm sàng, thì những con vi khuẩn soi dưới ống kính của tác giả không có quá nhiều yếu tố thuộc về mặt sinh lý, mà là phân tích dưới góc độ xã hội học và triết học. Mặc dù tiểu thuyết theo dõi sự tiến triển của một dịch bệnh cụ thể ở một thành phố, quốc gia và khung thời gian cụ thể, chủ đề thực sự của Camus lại vượt ngoài phạm vi thời gian và địa điểm.

Mục đích của ông là ẩn dụ: ông đang đề cập đến bất kì căn bệnh truyền nhiễm nào có thể thống trị bất kì xã hội nào, từ một căn bệnh như dịch tả, cúm Tây Ban Nha, AIDS, SARS, hoặc, vâng, COVID-19; đến một hệ tư tưởng mục ruỗng, như Chủ nghĩa Phát-xít, hay Chủ nghĩa Toàn trị, có thể đầu độc cả nhân loại. Camus đã nhìn thấy Đức Quốc Xã tràn vào Paris năm 1940 trong Thế chiến thứ hai. Cùng thời điểm ông đang viết Dịch hạch, ông là tổng biên tập tờ Combat, tạp chí ngầm của Kháng Chiến Pháp, những người đóng góp bài vở bao gồm André Malraux, Jean-Paul Sartre và Raymond Aron. Ông nhìn thấy mối liên hệ giữa nhiễm trùng thể chất và nhiễm trùng tâm lý, và cuốn sách của ông đã nối chúng lại với nhau.

*

Khi câu chuyện bắt đầu, những con chuột đang lảng vảng trong bóng tối của Oran, đầu tiên là từng-con-một, sau đó thành “từng bầy”, hết sức kì lạ, chúng lăn ra chết trên mặt đất hay trên các con đường. Người đầu tiên gặp phải hiện tượng này là bác sĩ địa phương tên Rieux, người đã báo với người gác cổng của mình, Michel, để giải quyết sự phiền nhiễu trên, và bất ngờ khi Michel tỏ ra “căm giận” thay vì ghê tởm. Michel tin chắc rằng lũ trẻ hư đốn đã vứt những con chuột chết trên hành lang nhà mình như một trò chơi khăm. Giống như Michel, hầu hết các công dân Oran đều lý giải sai những điềm báo sớm; họ đã bỏ lỡ ý nghĩa to lớn của chúng. Trong một thời gian, hành động duy nhất họ thực hiện là tố cáo bộ phận vệ sinh địa phương và phàn nàn về chính quyền. “Về phương diện này, cư dân của chúng ta cũng giống như mọi người khác, chỉ biết lo cho bản thân”, người kể chuyện phản ánh. “Họ là những người theo chủ nghĩa nhân văn: họ không tin vào bệnh dịch.” Camus cho thấy thật dễ dàng để nhầm lẫn dịch bệnh với một sự phiền toái.

Nhưng sau đó, Michel ngã bệnh và qua đời. Khi Rieux chăm sóc cho ông, ông đã nhận ra những dấu hiệu của bệnh dịch hạch, nhưng lúc đầu, ông tự thuyết phục mình rằng: “Không được phép làm mọi người sợ hãi, như thế sẽ chẳng được gì cả.” Các quan chức Oran đều đồng ý. Tỉnh trưởng (giống như thị trưởng hoặc thống đốc, ở thuộc địa Algeria) “tin chắc rằng đó là một báo động sai.” Một quan chức cấp thấp, Richard, khẳng định căn bệnh này không nên được xác định chính thức là bệnh dịch hạch, mà nên được gọi đơn thuần là “một loại sốt đặc biệt”. Nhưng khi tốc độ và số ca tử vong tăng lên, Rieux không chấp nhận cách nói giảm nói tránh đó và các nhà lãnh đạo thị trấn buộc phải hành động.

Camus đề xuất rằng, các nhà chức trách chỉ có trách nhiệm giảm thiểu mối đe dọa của dịch bệnh cho đến khi các dấu hiệu đã trở nên quá rõ ràng, rằng phản ứng chậm chạp còn nguy hiểm hơn là phản ứng thái quá. Ông viết, hầu hết mọi người đều có chung thiên hướng này – đó là điểm yếu của con người: “Mọi người đều biết rằng dịch hạch có cách tái xuất trên thế giới, nhưng bằng cách nào đó chúng ta thấy khó tin vào những thứ từ trên trời rơi xuống đầu mình.”

Chẳng mấy chốc, thành phố bị đóng cửa và áp đặt trạng thái cách ly, tách biệt những cư dân Oran với nhau và với thế giới bên ngoài. “Điều đầu tiên mà bệnh dịch hạch mang đến thị trấn của chúng tôi là lưu vong”, người kể chuyện viết. Một nhà báo tên Rambert, bị mắc kẹt ở Oran sau khi cánh cổng đóng lại, đã cầu xin Rieux cấp giấy chứng nhận sức khỏe để anh ta có thể trở lại với vợ mình ở Paris, nhưng Rieux không thể giúp anh ta. “Có hàng ngàn người như anh đang bị mắc kẹt trong thị trấn này,” ông nói. Giống như Rambert, người dân sớm cảm nhận được sự vô nghĩa của việc nhai đi nhai lại nỗi khổ sở của bản thân, bởi vì dịch hạch xóa đi “tính độc đáo trong cuộc sống mỗi người” ngay cả khi nó nâng cao nhận thức của mỗi người về sự yếu đuối và bất lực của mình để lên kế hoạch cho tương lai.

Thảm hoạ này là của chung cộng đồng: “Một cảm giác, bình thường vốn rất cá nhân, như nỗi đau của sự chia li với những người mình yêu thương đột nhiên trở thành cảm giác mà tất cả cùng chia sẻ,” Camus viết. Nỗi đau này, cùng với nỗi sợ hãi, trở thành “tai hoạ lớn nhất của thời kỳ lưu đày kéo dài.” Bất cứ ai gần đây đã phải hủy bỏ một chuyến công tác, một lớp học, một bữa tiệc, một bữa ăn tối, một kỳ nghỉ hoặc một cuộc hội ngộ với người thân, có thể cảm nhận sự hợp lí khi Camus nhấn mạnh về sự sụp đổ cảm xúc thời kỳ bệnh dịch: cảm giác của sự cô lập, sợ hãi và mất đi công việc. Chính điều này, “lịch sử của những gì mà nhà sử học bình thường đã ngó lơ”, là những điều cuốn tiểu thuyết của ông ghi lại, và cuốn tiểu thuyết vi-rút corona đang được ghi vào cuộc sống người công dân hiện tại.

Nếu bạn đã đọc Dịch hạch, bạn sẽ bị ám ảnh nhất với những dằn vặt về thể xác mà người kể chuyện của Camus, dù có vẻ vô tư, nhưng miêu tả vô cùng trực quan. Có thể bạn chú ý nhiều hơn đến bong bóng và các hố vôi hơn là bức tranh tường thuật về những người dân bình thường, bị mắc kẹt trong những vết sưng phồng do dịch bệnh, người đã chiến đấu với cảm giác bị cô lập bằng cách mặc quần áo, đi dạo một cách vô mục đích dọc theo đại lộ Oran, và tràn ra khỏi nhà hàng, sẵn sàng tránh xa nếu một đồng nghiệp ngã bệnh, bị cuốn vào “cơn khát khao điên cuồng về cuộc sống thịnh vượng giữa thảm hoạ”: sự an ủi của cộng đồng. Người dân thị trấn Oran không có sự trông cậy mà người dân ngày nay có được, ở bất cứ thị trấn nào: tìm kiếm cộng đồng trong thực tế ảo. Hiện tại, khi đại dịch đang xâm chiếm và tồn tại trong thời đại kĩ thuật số, người ta đã áp dụng một bộ lọc mới sống động cho cái nhìn sắc sảo của Camus về bối cảnh cảm xúc của sự lây lan.

Ngày nay, sự lưu đày và cô lập của dịch bệnh 2.0 đang có được các sắc thái riêng, đặc điểm riêng của chúng, tái tạo lại hình ảnh của Camus. Khi chúng ta đi bộ dọc theo những con phố, đi đến cửa hàng tạp hóa, chúng ta phản xạ theo thói quen phòng ngừa mà các phương tiện truyền thông xã hội khuyến cáo: rửa tay, nhún vai và cười toe toét thay cho bắt tay, thực hiện giãn cách xã hội. Chúng ta có thể thực hiện công việc của mình từ xa để tránh lây nhiễm cho người khác hoặc tránh bị nhiễm bệnh, chúng ta có thể tránh xa các bữa tiệc, buổi hòa nhạc và nhà hàng, đặt hàng các ứng dụng giao hàng. Nhưng trong bao lâu? Camus biết câu trả lời: chúng ta không thể biết.

Giống như những người đàn ông và phụ nữ sống trong thời kỳ gián đoạn gần một thế kỷ trước, những người mà Camus đã mô phỏng lại để minh họa cho chủ đề không thể tránh khỏi của mình, tất cả những gì chúng ta có thể biết là sự gián đoạn này sẽ không kéo dài mãi mãi. Nó sẽ đi, không thể giải thích được, khi nó đã vừa ý. Và một ngày, những thứ khác sẽ xuất hiện. Và khi đó, cuốn tiểu thuyết của ông đã cảnh báo từ lâu, và giờ đây cho chúng ta thấy rõ hơn, chúng ta phải cẩn thận để hiểu chính xác những điềm báo. “Có rất nhiều bệnh dịch cũng như chiến tranh trong lịch sử”,  Camus viết, “Tuy nhiên, luôn luôn có những tai họa và cuộc chiến làm mọi người ngạc nhiên.”

Hết.

Chan Trang lược dịch.

Bài viết gốc được Liesl Schillinger thực hiện, đăng tại Literary Hub.

Ảnh đầu bài: Fanpage Nhã Nam


Bài viết có thể bạn sẽ thích




Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!