Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: Bên nhau trọn đời – Trong dáng em cúi đầu

Tôi tình cờ biết em vào những ngày giữa tháng Một năm nay. Những ngày đó tôi đã bị dìm trong nỗi buồn như đang ở dưới đáy nước sâu bơ vơ không điểm tựa.

Đăng từ

on

Tôi muốn đọc Dostoevsky ngay tức khắc để thực hiện điều đã tự hứa với chính bản thân mình cách đây bốn năm. Tôi muốn đọc Dostoevsky để đỡ tủi hờn. Tôi muốn đọc Dostoevsky để tiến gần hơn đến điểm ảo ảnh không thể chạm vào được nữa. Tôi muốn Dostoevsky cho tôi câu trả lời của bốn năm vừa qua, của những gì tôi đang phải trải qua… Nhưng tôi không có sức lực để đọc Dostoevsky. Vẫn là những lí do như bốn năm trước: độ dài, cảm giác sợ hãi khi chạm phải một điều gì đó quá nặng nề, quá sâu… và giờ đây còn có thêm lí do nữa là sợ chạm phải vết thương ngày cũ. Thế là vào tháng Một, tôi vẫn chưa đọc Dostoevsky. Tôi chỉ biết lang thang trên News Feed của Facebook suốt ngày nhìn cuộc sống sinh động của mọi người trôi qua trước mắt. Và rồi tôi bắt gặp em. Tôi không nhớ hình ảnh đầu tiên của em mà mình nhìn thấy nhưng tôi nhớ được cảm giác lúc đó. Khi đang lướt trang vùn vụt qua những hình ảnh, tin tức, status, note… ngón tay lướt chuột của tôi đã dừng lại khi thấy hình em. Tôi dừng một lúc lâu để ngắm nhìn em. Rồi tôi lại click vào hình để có thể nhìn em gần hơn một chút, kĩ hơn một chút. Khuôn mặt khả ái này dường như có gì đó vừa thân quen lại vừa xa lạ. Em trông giống một người tôi đã biết từ lâu. Suy nghĩ một lúc, tôi mới nhận ra em có nét giống Gakky những lúc mặt cúi nghiêng hoặc cười mỉm. Tôi muốn xem phim em đóng để kiểm nghiệm điều này nhưng Bên nhau trọn đời là một phim truyền hình được chuyển thể từ tiểu thuyết ngôn tình mà tôi thì lại không mặn mà lắm với thể loại này. Chẳng lẽ chỉ vì muốn kiểm nghiệm một điều như thế mà mất thời gian xem hết 34 tập phim. Thế là sau khi phim chiếu, tôi chần chừ mãi hơn một tuần vẫn không xem. Tôi cố gắng dành thời gian đó để đọc sách nhưng rồi tôi phát hiện chữ không thể trôi vào đầu mình được nữa. Trong khi đó, hình ảnh em vẫn hiện trên News Feed của tôi, thỉnh thoảng tôi lại nghĩ đến em, đến ánh mắt buồn da diết đó… Vì sao ánh mắt ấy lại buồn như thế? Tôi bị cuốn hút bởi khuôn mặt buồn của em còn hơn cả khuôn mặt tươi cười.

Bên nhau trọn đời Đường Yên

Đến một ngày, khi không thể nào kiềm chế được nữa, tôi bắt đầu xem Bên nhau trọn đời tập 1. Tôi nghĩ rằng cứ thử xem tập 1 như thế nào và có thể là chỉ xem tập 1 thôi. Nhưng chỉ trong tập 1, tôi lại bắt gặp ánh mắt đó. Tôi cứ xem đi xem lại nhiều lần phân cảnh Mặc Sênh tình cờ gặp Dĩ Thâm ở siêu thị, ánh mắt em nhìn Dĩ Thâm lúc đó chứa thật nhiều cảm xúc: sững sờ, hoang mang, buồn bã, có chút gì đó chờ đợi, có chút gì đó sợ sệt vì lo lắng người ấy sẽ lạnh nhạt với mình, đồng thời cũng có chút gì đó là niềm vui nhỏ bé thoáng qua khi gặp lại người xưa. Tôi không biết làm sao em có thể diễn được ánh mắt như thế nếu như em không thật sự sống với nhân vật? Trong phim, có rất nhiều cảnh Mặc Sênh buồn bã; ở những phân đoạn như thế, ánh mắt buồn của em có thể giống nhau, có thể không giống nhau nhưng ánh mắt Mặc Sênh nhìn Dĩ Thâm trong lần đầu tiên gặp gỡ sau bảy năm xa cách thì tuyệt nhiên không giống với bất cứ ánh mắt buồn nào của Mặc Sênh sau này. Chính điều đó mà ánh mắt ấy càng quí giá, càng đáng trân trọng, là cảm xúc duy nhất thuộc về khoảnh khắc ấy. Và tôi có thể hiểu rằng em đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình vì quả thực đó chính là một cảnh quan trọng trong câu chuyện này, một khoảnh khắc đáng nhớ với cả hai nhân vật. Đó là lần đầu tiên, tôi thấy đầu em khẽ cúi xuống một chút. Khi Dĩ Thâm lạnh lùng lướt qua em, em không biết làm gì khác ngoài việc đó. Chỉ một cử chỉ nhỏ ấy thôi cũng cho tôi biết rằng em cô đơn, em buồn bã, em tự ti về bản thân mình đến nhường nào.

Bên nhau trọn đời Đường Yên

Và sau đó, tôi đã thấy em cúi đầu rất nhiều lần: những khi em gặp trắc trở trong công việc, những khi em bị sếp hay đồng nghiệp chỉ trích, những khi em bị Dĩ Thâm nạt… Không hiểu sao mỗi khi nhìn em cúi đầu tôi lại thấy… rất thích. Tôi chưa bao giờ thích nhìn thấy ai cúi đầu như vậy. Tôi cũng chưa bao giờ nghĩ mình sẽ thích nhìn bất cứ ai cúi đầu. Nói rằng mình luôn muốn nhìn thấy mọi người tươi cười, hạnh phúc thì nghe có vẻ giả tạo nhưng nếu xét đến việc thích nhìn thấy một cảm xúc tiêu cực nào đó thì trước đây, tôi nghĩ rằng mình thích nhìn thấy ai đó khóc. Tôi thích việc ấy không phải vì tôi thích khi nhìn ai đó buồn mà vì tôi thích khi biết người đó không cần phải kiềm chế cảm xúc lúc ở bên cạnh tôi, vì người đó đã tin tưởng cho tôi thấy lúc bản thân yếu đuối nhất, vì khi có thể nhìn thấy một ai đó khóc và đặc biệt là lúc thường người đó lại tỏ ra rất mạnh mẽ thì nghĩa là mối quan hệ giữa tôi và người đó đã trở nên thân thiết hơn. Vì những điều đó mà tôi thích khi có thể nhìn thấy một người khóc trước mặt tôi. Còn cúi đầu thì tôi đã từng nghĩ mình sẽ không thích. Đơn giản vì khi một ai đó cúi đầu nghĩa là người đó đang rất sợ hãi, rất tự ti, rất e dè, cũng có thể là rất buồn… Nhưng nỗi buồn khi cúi đầu rất khác với nỗi buồn khi khóc. Khi cúi đầu, dường như người ta đang muốn thu mình lại, muốn trốn tránh người đối diện, không muốn cho người đối diện thấy những cảm xúc của mình; trong khi khóc thì lại phơi bày hết tất cả nỗi buồn cho đối phương biết. Vậy nên, tôi không thích khi nhìn thấy người khác cúi đầu với mình những lúc buồn. Điều đó nghĩa là họ đang trốn tránh tôi hoặc tôi không thể cho họ cảm giác thoải mái để bộc lộ bản thân. Nhưng vì sao mỗi lần nhìn em cúi đầu, tôi lại cảm thấy thích đến như thế? Dường như dáng vẻ ấy đã chạm đến một điều gì đó sâu trong tâm trí tôi. Cách em cúi đầu dù với nguyên do gì, trong bất cứ trạng huống nào cũng đều không hề cho tôi cảm giác em là người yếu đuối. Có thể em đang là người yếu thế trước mặt mọi người do sự tự ti và cô độc nhưng yếu đuối thì không. Một chút cũng không. Ngược lại, tôi cảm nhận được sự mạnh mẽ sau chính cử chỉ có lẽ dễ bị đánh giá là yếu đuối ấy. Thực tế, tôi khá bất ngờ trước những hành động của em. Với kinh nghiệm xem phim thần tượng từ khoảng mười năm trước, tôi nhận thấy nhân vật nữ chính thường là những cô gái hiền lành, ngây thơ, vô tư, thẳng thắn. Những cô gái ấy nếu đặt trong hoàn cảnh của em thường sẽ phản ánh bằng cách nói thẳng những suy nghĩ của mình, những uất ức của mình mà không chút e dè sẽ làm mất lòng đối phương; nhờ chính sự vô tư đó, chẳng những đối phương không ghét mà ngược lại còn yêu mến. Đó là cách các cô gái ấy thu phục lòng người trong những bộ phim đó. Lúc đầu, trong dáng vẻ em cúi nhìn ấy, tôi đã lầm tưởng em cũng giống các cô gái ấy. Nhưng dần dần tôi phát hiện ra em không hề giống những cô gái ấy. Trong công việc, khi đồng nghiệp hay sếp chỉ trích em, bất kể là em đúng hay em sai, người ta có hiểu lầm hay không, phản ứng đầu tiên của em cũng đều là cúi đầu im lặng, không giải thích nhiều. Dáng vẻ đó không hoàn toàn là dáng vẻ của người yếu thế, tôi cảm nhận đó còn là dáng vẻ của người có trách nhiệm, người sẵn sàng nhận lỗi trong phạm vi công việc của mình cho dù lỗi ấy có thể đến từ nguyên nhân khách quan. Và quả thực, em đúng là như thế. Em không thẳng thắn nói ra những suy nghĩ của mình hay cố gắng tranh cãi lí lẽ khi bị chỉ trích nhưng em lặng lẽ tìm những giải pháp và làm nốt các phần việc còn thiếu sót. Tôi thật sự thích hình ảnh em những lúc đó. Quả thực, đó chính là hình ảnh của người trưởng thành đã trải qua nhiều mất mát trong cuộc đời: dù có những mặc cảm nhất định về bản thân nhưng lại là người điềm tĩnh, có thể kiểm soát tốt cảm xúc của mình, không tranh chấp lí lẽ những chuyện không đáng, biết nhu biết cương.

Bên nhau trọn đời Đường Yên

Dáng vẻ em cúi đầu trước bạn bè hay đồng nghiệp trong công ty cũng khác với dáng vẻ em cúi đầu trước Dĩ Thâm. Khi bị Dĩ Thâm nạt, em sẽ giật mình, có khi run bắn cả người lên và lúc cúi đầu thì hai vai sẽ so lại nhiều hơn, đầu cũng cúi sâu hơn. Nếu như dáng vẻ em cúi đầu trước đồng nghiệp giống như dáng vẻ của người trưởng thành sẵn sàng nhận lỗi, không thèm tranh chấp thì dáng vẻ em cúi đầu trước Dĩ Thâm lại giống dáng vẻ của một đứa trẻ sợ hãi khi biết mình đã phạm phải lỗi lầm rất lớn và đồng thời cũng có dáng vẻ cam chịu của người phụ nữ khi đứng trước người đàn ông mình yêu. Hai dáng vẻ cúi đầu đó rõ ràng khác nhau. Vì vậy, tôi không hề thấy nhàm chán khi nhìn em cúi đầu.

Em biết không, những ngày này tôi lại nhớ đến mùa hè cách đây mười mấy năm, mùa hè khi tôi học lớp 8. Tôi nhớ da diết mùa hè năm đó. Bây giờ, nếu có thể quay ngược thời gian thì tôi sẽ chọn mùa hè năm đó. Lúc ấy, tôi còn nhỏ, tôi còn khỏe mạnh, tràn đầy sức sống, không chút bệnh tật, dù có một nỗi buồn rất lớn luôn đeo bám mỗi ngày nhưng tôi biết mình muốn làm điều gì và tôi say mê làm theo điều ấy mà chẳng hề bận tâm kết quả sẽ ra sao. Mùa hè năm ấy tôi đã học tiếng Trung cùng chị tôi trong một ngôi trường nằm cạnh nhà thờ. Tôi không bao giờ muốn quên không khí những buổi tối đi học đầu tiên, những bài giảng đầu tiên, những khái niệm đầu tiên về tiếng Quan Thoại, những nét bút đầu tiên tôi say sưa tập viết chữ Hán… Ở thời điểm đó, việc học tiếng Trung đã cứu rỗi tôi rất nhiều: mùa hè của tôi trở nên sinh động hơn, có gì đó để yêu da diết, có gì đó làm động lực để cố gắng. Tôi còn nhớ mỗi lần tập viết xong một trang giấy, tôi đều ngừng lại ngắm nhìn một chút trước khi qua trang mới và nghĩ rằng chữ Hán thật đẹp. Dù chỉ là ba tháng hè ngắn ngủi, tôi còn nhớ ngày đó mình đã yêu chữ Hán giống như một người bạn, một người tình, một người quan trọng mà chỉ cần mỗi ngày tôi có thể biết thêm chút gì về người đó là tôi rất vui, mỗi lần học thêm được chữ mới là tôi lại phấn khích vô cùng. Chữ Hán thật đẹp em nhỉ… Có lẽ cũng nhờ ba tháng hè chăm chỉ học tiếng Trung ấy mà sau này nhiều năm, khi bắt đầu học tiếng Nhật, tôi không quá bỡ ngỡ khi bắt đầu học những chữ Hán người Nhật sử dụng. Ngược lại, càng học tôi càng nhớ tiếng Trung vô cùng. Lúc bắt đầu học, mỗi lần bắt gặp một chữ quen thuộc tôi luôn nghĩ từ này trong tiếng Trung đọc như thế này, tại sao người Nhật lại đọc thành như thế này? Tôi mang tâm trạng đó khoảng một năm đầu tiên khi học tiếng Nhật và sau đó thì dần dần tôi mới hết tâm trạng này. Nguyên nhân tôi chỉ học tiếng Trung ba tháng là vì khi vào lại năm lớp 9, mẹ muốn tôi nghỉ học để tập trung ôn thi tốt nghiệp. Tôi đã luôn tự nhủ khi tốt nghiệp cấp 2, việc đầu tiên mình làm sẽ là tiếp tục học tiếng Trung. Nhưng rốt cuộc, tôi đã dừng lại cho đến bây giờ. Và ba tháng ngắn ngủi đó trở thành ba tháng duy nhất tôi học tiếng Trung. Cũng vì hối tiếc sự dở dang đó mà khi bắt đầu học tiếng Nhật, tôi đã quyết tâm phải học đến nơi đến chốn, không thể để có thêm một sự dang dở nào nữa.

Bên nhau trọn đời Đường Yên

Quay lại mùa hè năm nay.

Bây giờ, tôi đã khác với tôi của mùa hè năm lớp 8 rất nhiều. Tôi yếu đuối hơn, sức khỏe kém hơn, bệnh nhiều hơn, ngủ nhiều hơn, làm việc ít hơn, động não suy nghĩ cũng ít hơn, buồn nhiều hơn, tự ti nhiều hơn. Vậy nên, tôi cần nhiều nguồn năng lượng hơn, cần nhiều niềm an ủi hơn, cần nhiều sự ấm áp hơn. Và tôi đã tìm được em giữa tháng Một năm nay lúc tôi đang tuyệt vọng nhất. Khi xem phim của em, tôi đã phần nào có được điều tôi cần. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra nhờ ngắm nhìn em vào tháng Một, tôi đã có năng lượng để bắt đầu đọc Dostoevsky suốt từ tháng Hai đến tháng Năm: Lũ người quỉ ám, Là bóng hay là hình, Bút kí dưới hầm, Tội ác & Trừng phạt… Tôi đã muốn đọc nốt Anh em nhà Karamazov…, đọc hết tất cả những tác phẩm của Dostoevsky mà tôi có thể đọc bằng tiếng Việt trước sinh nhật năm nay. Nhưng cuối cùng, tôi đã không thực hiện được điều đó. Vẫn còn hai tác phẩm của Dostoevsky tôi chưa đọc. Tháng Sáu, tháng Bảy tôi đã mệt nhoài. Tôi đọc những quyển sách khác. Và tháng Tám thì tôi đổ gục hoàn toàn. Không còn một chút năng lượng để đọc sách nữa dù lòng rất muốn. Tôi lại nhớ đến em. Không chịu nổi nữa. Và tôi lại tự dễ dãi cho phép bản thân mình giải trí. Tôi biết rằng một khi tôi quyết định xem phim truyền hình giải trí, tôi sẽ trải qua những tâm trạng như thư giãn, say mê rồi sau đó là buồn bã, hối tiếc giá như mình đã dành thời gian đó để đọc sách hoặc nếu có xem phim thì cũng phải xem phim điện ảnh nghệ thuật cho đỡ tiếc. Nhưng trải qua tháng Một gian khó năm nay và tháng Hai đến tháng Năm miệt mài đọc Dostoevsky, tôi biết rằng có thể tôi sẽ chẳng học được gì khi xem một phim truyền hình giải trí nhưng tôi sẽ có được sự ấm áp, nguồn năng lượng tôi cần phải có để tiếp tục những điều tôi muốn làm. Có lẽ đó cũng là giá trị của một tác phẩm giải trí: nó khiến ta hoàn toàn thư giãn. Nhưng tôi sẽ cố gắng để bản thân mình không lún sâu vào sự dễ dãi như lúc trước nữa. Chỉ là mệt quá dừng chân nghỉ lại một lúc thôi. Nó là những trạm dừng của tôi, không phải bến đỗ. Tôi phải luôn ghi nhớ điều này. Và tôi sẽ lại đọc sách vào tháng Chín, những cuốn sách tôi đã muốn đọc từ lâu, những cuốn sách không phải cho tôi sự giải trí, thư giãn, cảm xúc mà là suy nghĩ, tra vấn, học hỏi. Chúng ta sẽ lại tạm chia tay nhau. Và năm sau chúng ta gặp lại.

Bên nhau trọn đời Đường Yên

Những ngày hè cuối cùng của năm nay đã gần kết thúc.

Trong dáng em cúi đầu, tôi thấy một nỗi buồn ấm áp, một hạnh phúc nhỏ bé đang khẽ rơi vào lòng mình.

Đường Đường… cảm ơn em vì đã đến.

Hết.

Freegene


Bài viết cùng chủ đề



1 Bình luận

1 Bình luận

  1. Pingback: Ngôn tình & Đam mỹ: Khi độc giả trở thành dịch giả – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Từ sách đến phim: Tản mạn về tiểu thuyết “Mắt biếc” và chuyển thể điện ảnh

Đăng từ

on

Người đăng

Mắt biếc là tiểu thuyết thành công của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, ra mắt vào năm 1990 và đã đi vào lòng nhiều thế hệ người đọc ở cả Việt Nam và quốc tế. Cuối năm 2019, độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã được mãn nhãn với sự ra mắt của bộ phim Mắt biếc được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên. Theo cá nhân tôi đánh giá, đây là một bộ phim thành công trong việc cụ thể hóa hình tượng các nhân vật trong nguyên tác một cách khá hợp lý; bối cảnh và kỹ thuật quay phim cũng rất ấn tượng… Tuy nhiên, đối với những người đã đọc và yêu mến nguyên tác thì bộ phim vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận lại.

Hà Lan có từng yêu Ngạn hay không?

Trong chuyển thể điện ảnh, tình cảm của Hà Lan đối với Ngạn đã được đoàn làm phim khẳng định rõ ràng qua phân cảnh trong rừng sim, trước lúc mà Hà Lan lên thành phố. Cụ thể hơn, nhân vật Hà Lan trong phim đã có những biểu cảm ngại ngùng, chờ mong, thất vọng… trong cái khoảnh khắc mà Ngạn “suýt” hôn mình. Điều đó chứng minh rằng Hà Lan chắc chắn đã từng yêu Ngạn. Vậy còn trong nguyên tác, khi mà những biểu cảm đó chưa từng xuất hiện thì sao? Hãy cùng phân tích tiểu thuyết gốc để trả lời câu hỏi này nhé.

Cũng như trong phim, Hà Lan và Ngạn trong tiểu thuyết có một tuổi thơ êm đềm và gắn bó. Chưa biết giữa họ có tình yêu hay không, nhưng phải khẳng định rằng Hà Lan và Ngạn có một tình bạn thân thiết, và tình bạn đó đã tiến thêm một bước nhỏ nữa bằng những lời hát nồng nàn của Ngạn. Giữa Hà Lan và Ngạn đã manh nha tồn tại một chút gì đó “trên tình bạn nhưng dưới tình yêu”; họ đã biết tìm những khoảng không gian cho riêng nhau, cảm thụ tình cảm của nhau…

“Tôi về làng với Hà Lan. Tất nhiên chúng tôi đi chung với cả một đám bạn. Nhưng dọc đường, hai đứa tôi cố tình đi tụt lại phía sau. Thoạt đầu, bạn bè còn dừng xe lại chờ. Về sau, thấy chúng tôi không có vẻ gì muốn tiến lên phía trước, tụi nó chán quá, liền vọt thẳng. Còn lại hai đứa, tôi với Hà Lan thong thả đạp xe đi. Sau một tuần lễ vùi đầu vào học tập, ngày thứ bảy là một ngày thảnh thơi tuyệt diệu. Chiều loang nắng, chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau, lòng êm đềm và thanh thản.”

Sỡ dĩ tôi cho rằng mối quan hệ này “trên tình bạn, dưới tình yêu” là dựa vào phân tích các phản ứng của của nhân vật Hà Lan trong nguyên tác. Cụ thể hơn, Hà Lan trả lời rằng cô đã biết những bài hát mình được nghe là của Ngạn sáng tác, nhưng biểu cảm lúc đó lại là hờ hững, là “tỉnh khô”. Hơn nữa, Hà Lan còn có phản ứng trốn chạy vào nhà khi Ngạn hát những câu từ yêu thương “rõ ràng” hơn bình thường.

“Một mình anh đang ngồi

Không dưng em bước tới

Anh bỗng thành song đôi.”

Nếu nói Hà Lan trốn vì ngại ngùng thì quá gượng ép. Rõ ràng Hà Lan tuy đã hiểu tình cảm của Ngạn, nhưng cô chỉ muốn tình cảm đó dừng ở một mức độ mập mờ và không muốn Ngạn tiến xa hơn nữa. Phản ứng của Hà Lan có thể là biểu hiện của một phức cảm rất nguyên thủy và thường thấy ở con người, cái cảm giác thỏa mãn khi được người khác giới yêu thương hay khi được nghe những ngôn từ chỉ thuộc về bản thân mình, cho dù bản thân chưa chắc đã có thể đáp lại tình cảm đó.

Dựa vào những phân tích trên, cá nhân tôi cho rằng Hà Lan vẫn chưa từng yêu Ngạn trong nguyên tác. Tình cảm của Hà Lan đối với Ngạn tuy vẫn có tồn tại, nhưng chỉ ở một mức độ mông lung, không rõ ràng, không đến mức độ của tình yêu. Tâm lý Hà Lan trong nguyên tác hoàn toàn phù hợp với tâm lý thực tế của một cô bé mới lớn và vẫn còn lạ lẫm với chuyện yêu đương. Đó là phản ứng nên có ở một thiếu nữ thích thú khi lần đầu nếm được tình yêu từ một người khác giới, và chính việc tình cảm của Hà Lan thay đổi quá nhanh từ khi gặp Dũng đã chứng minh tình cảm của cô dành cho Ngạn là ở mức độ nào rồi.

Về tình cảm giữa Trà Long và Ngạn

Theo tôi, Trà Long và Ngạn là hai nhân vật ít có sự thay đổi giữa chuyển thể điện ảnh với nguyên tác nhất. Dưới góc nhìn của một độc giả yêu mến nguyên tác, tôi đánh giá cao khi đoàn làm phim đã truyền tải khá chính xác tình cảm của hai nhân vật này. Vậy nên ở phần tản mạn này tôi xin phép phân tích chung về tình cảm của hai nhân vật, không có sự so sánh, đối chiếu giữa hai phiên bản.

Như chúng ta đã biết, Trà Long là con gái của Hà Lan với Dũng, cô bé được gửi về quê từ lúc còn tấm bé. Không chỉ vì hoàn cảnh kinh tế, mà còn vì Hà Lan lúc này rất muốn quên Dũng. Làm sao Hà Lan có thể quên đi khi luôn giữ kết tinh máu thịt của Dũng bên mình? Vậy nên cô đã chọn cách rời xa con và dùng công việc để quên dần những lầm lỡ của tuổi thanh xuân. Còn Ngạn, anh đã chọn quê hương từ rất lâu và thời điểm này Ngạn đã chứng minh điều đó. Ngạn trở về ngôi làng Đo Đo yên bình và thân thuộc, nơi có những kỷ niệm đẹp nhất của riêng anh, và cũng ở nơi này, Ngạn tìm thấy một hình ảnh nho nhỏ để bám víu vào – đó chính là Trà Long.

Ban đầu, tình cảm của Ngạn đối với Trà Long rất gần với tình cảm cha con. Hay nói đúng hơn, Ngạn mong muốn được thay Dũng làm cha của cô bé Trà Long tội nghiệp. Cái hi vọng nhỏ nhoi về một gia đình ba người đã nhen nhóm trong Ngạn từ lúc mà Trà Long được sinh ra, và Ngạn đã thực sự cố gắng để điều đó thành hiện thực. Ngạn đã ở bên cạnh, đã yêu thương và chăm lo cho Trà Long như với đứa con ruột của chính mình, và có lẽ Trà Long cũng từng rất muốn Ngạn làm được điều đó.

Từ lúc lên lớp năm, Trà Long đã đủ thông minh và tò mò để tìm hiểu về người cha ruột và không ai có thể trả lời cho cô bé. Với sự thông minh của mình, Trà Long có lẽ đã hiểu rằng cha ruột mình là một người cha không xứng đáng, thế nên mỗi khi Hà Lan về thăm, Trà Long đều cố gắng để cả ba người Hà Lan-Ngạn-Trà Long được ở bên nhau. Hành động của Trà Long đã chứng minh cho mong muốn của cô bé, mong muốn Ngạn trở thành một người cha thực thụ của mình.

Mọi thứ thay đổi từ lúc Trà Long lớn lên thành thiếu nữ. Cô bé ngày càng giống mẹ “như hai giọt nước”, giống đến mức khiến Ngạn đôi lúc lầm lẫn giữa cả hai. Khi ngắm nhìn một khung cảnh quen thuộc đầy kỷ niệm sẽ thường kích động tâm trí hồi tưởng về những ký ức liên quan, trường hợp của Ngạn chính là như vậy. Hơn thế nữa, bên cạnh Ngạn còn có một bản sao của Hà Lan. Như vậy làm sao mà Ngạn có thể dằn lại được sự rung động của trái tim? Làm sao còn có thể coi Trà Long là cô con gái nhỏ bé của mình? Đúng vậy, Ngạn đã yêu Trà Long dưới cái bóng của Hà Lan và chắc chắn anh đã hoảng sợ khi nhận ra điều đó. Tình cảm này là không đúng đắn đối với Ngạn và anh buộc phải bỏ chạy để bản thân không phải phạm sai lầm.

Với Trà Long, cô bé yêu thương Ngạn vì một mặc cảm tội lỗi. Trà Long đã quá hiểu tình cảm của Ngạn dành cho mẹ mình và còn hiểu hơn nữa việc tình cảm đó sẽ không có kết quả. Cô bé chỉ muốn bù đắp cho Ngạn những tổn thương mà Hà Lan mang lại chứ không hẳn là tình yêu. Có lẽ, Ngạn đã nhận ra điều đó khi quyết định trốn chạy Trà Long – cũng chính là trốn chạy chính bản thân mình.

Tại sao đoàn làm phim lại thêm nhân vật Hồng?

Hồng là nhân vật không hề tồn tại trong tiểu thuyết gốc của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Đoàn làm phim muốn nhấn mạnh một điều gì đó, một ý nghĩa nào đó khi thêm nhân vật nữ phụ này vào bộ phim – vậy ý nghĩa tồn tại của nhân vật này là gì? Nó có đủ lớn để nhân vật tồn tại hay không?

Như Xuân Diệu đã từng than thở:

“Yêu, là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?”

Trong tình yêu ai mà chẳng một lần đơn phương. Không có ai bắt buộc Ngạn phải yêu thương Hà Lan và cũng không có sức mạnh nào có thể làm điều ngược lại. Đối với Hồng cũng vậy, Hồng chỉ tồn tại như một phần của chuyến tàu tình yêu trái ngang, nơi mà những toa tàu nối đuôi nhau trong một hành trình vô định. Hà Lan mãi chạy theo bóng hình của Dũng, Ngạn nối đuôi theo mắt biếc của đời mình trong nỗi khổ đau, Hồng dõi theo Ngạn… và những người mà cô đã từ chối là những toa tàu ở đằng sau, sau nữa, kéo dài nỗi khổ đau đến một điểm vô cùng.

Có ai đã từng tưởng tượng một viễn cảnh khác, khi mà Ngạn có thể từ bỏ tình yêu với ngôi làng Đo Đo để làm việc ở thành phố, để ở bên cạnh Hà Lan cái lúc mà cô đang dùng công việc để quên đi nỗi đau của mình. Nếu Ngạn có thể làm như vậy thì liệu Hà Lan có chấp nhận anh hay không? Câu trả lời đã được đoàn làm phim đáp lại bằng nhân vật Hồng, khi mà Hồng đã có thể từ bỏ tương lai để quay về Đo Đo cùng Ngạn. Hồng không yêu ngôi làng của mình quá nhiều như Ngạn và cô trở về chỉ vì có Ngạn ở đó (điều này được chứng minh qua lời bộc bạch cuối cùng của Hồng trước khi ra đi). Cuối cùng, Ngạn không thể chấp nhận Hồng, và có lẽ nếu Ngạn làm theo cách của Hồng thì Hà Lan cũng sẽ không chấp nhận Ngạn.

Như vậy, có thể thấy mục đích mà đoàn làm phim thêm nhân vật Hồng vào chuyển thể điện ảnh là để nâng cao, để nhấn mạnh phần nào giá trị ý nghĩa của nhân vật Ngạn. Hơn thế nữa, nhân vật Hồng là một nhân vật cần thiết để hiển thị rõ cái thứ được coi là nghịch lý của tình yêu, cái thứ mà chúng ta vẫn thường gọi là “đơn phương” một cách đầy đớn đau, đầy ảm đạm.

Tản mạn về cái kết

Cái kết là phần mà cá nhân tôi không thích nhất trong chuyển thể điện ảnh. Đoàn làm phim “không cho” Hà Lan lấy chồng như nguyên tác và dẫn đến tình tiết nhân vật này bỗng nhiên chấp nhận tình cảm của Ngạn ngay lúc biết tin anh lên tàu quyết định ra đi. Ý tưởng của đoàn làm phim có thể là người ta chỉ biết trân trọng khi đã mất đi, đây là một ý tưởng hay – nhưng không phù hợp và phần nào đã làm giảm giá trị mà nguyên tác muốn truyền tải.

Với một chuyển thể điện ảnh dạng chiếu rạp thì đây vẫn là một đoạn kết hợp lý, nó phù hợp với phần lớn những người yêu thích phim và chưa đọc qua nguyên tác. Cái kết không quá buồn và tuyệt vọng, lại phần nào tạo ra một cái kết mở để người xem có thể tự dự đoán tương lai của Ngạn và Hà Lan. Có thể Hà Lan sẽ đi theo và tìm được Ngạn, có thể là một ngày nào đó Ngạn quay về thăm và thấy Hà Lan vẫn chờ, cũng có thể cả hai sẽ liên lạc được với nhau qua thư từ để rồi tìm về với nhau… rất nhiều chuyện “có thể” xảy ra khiến cái kết giảm đi nhiều sự hụt hẫng và đến gần với nhiều người xem hơn là cái kết theo đúng nguyên tác mang lại.

Việc thay đổi cái kết tỷ lệ cao là sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho nhà làm phim. Thế nhưng, cái mất đi ở đây là giá trị cốt lõi của nguyên bản, cái giá trị khiến cho độc giả phải đọc đi đọc lại, cái cảm giác buồn rười rượi và day dứt khó quên sẽ khó mà đạt được ở phiên bản điện ảnh này. Dĩ nhiên, chuyển thể điện ảnh của đạo diễn Victor Vũ vẫn là một sản phẩm nghệ thuật đáng khen trên nhiều phương diện, việc ấn phẩm đưa nguyên tác đến rộng rãi người xem hơn cũng là một điểm thành công rất đáng để những độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đón nhận phiên bản chuyển thể này.

Hết.

Nguyễn Đình Duy Lộc


Nếu bạn yêu tác giả Nguyễn Nhật Ánh…


Đọc bài viết

Trà chiều

Quan điểm của một nhà nhân khẩu học về đại dịch Corona: Hồ sơ tuổi tác, hiệu quả của các biện pháp và dòng chảy lây nhiễm

Một cuộc thảo luận về hiệu quả của việc đóng cửa trường học, lịch sử bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng không cân xứng đến các nhóm tuổi khác nhau và những gì mà các nhà nhân khẩu học biết được về dân số đang già hóa.

Đăng từ

on

Người đăng

A DEMOGRAPHER’S VIEW OF THE CORONAVIRUS PANDEMIC

Isaac Chotiner phỏng vấn C. Jessica Metcalf

C. Jessica Metcalf, giáo sư sinh thái học, sinh học tiến hóa và phụ trách quan hệ công chúng tại Đại học Princeton, là một nhà nhân khẩu học chuyên nghiên cứu về sự lây lan của bệnh truyền nhiễm. Liên quan đến các chính sách y tế, công việc của cô hiện nay có vai trò đặc biệt quan trọng khi các nhà khoa học và quan chức chính phủ đang tìm mọi cách để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19, chủng mới của virus Corona.

Gần đây, tôi đã hai lần trò chuyện điện thoại1 với Metcalf về công việc của cô và cách các nhà nhân khẩu học đối phó với sự lây lan chóng mặt của dịch bệnh này. Cuộc thảo luận xoay quanh lý giải liên quan đến hiệu quả việc đóng cửa trường học, lịch sử bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng không cân xứng đến các nhóm tuổi khác nhau và những gì mà các nhà nhân khẩu học biết được về dân số đang già hóa.

Isaac Chotiner (I. C.): Với tư cách là một nhà nhân khẩu học, điều gì chủ yếu làm quan tâm đến virus Corona?

C. Jessica Metcalf (J. M.): Có rất nhiều yếu tố rủi ro gắn liền với virus Corona, và tôi cảm thấy dường như chúng ta biết thêm những điều mới mẻ và khác biệt về nó mỗi ngày. Nhưng một dấu hiệu rõ rệt có vẻ đang xuất hiện là quỹ đạo tuổi tác liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Người già dường như có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Với tư cách là một nhà nhân khẩu học, điều này cho tôi đòn bẩy để thử nghiệm và dự đoán hậu quả sẽ xảy đến khi virus càn quét qua nhiều quốc gia khác nhau, vì một trong những điểm khác biệt nhất giữa các quốc gia trên thế giới là hồ sơ tuổi tác. Dĩ nhiên là cũng có hàng triệu điểm khác biệt khác. Năng lực vận hành của hệ thống y tế thường đi theo hướng khác, nhưng nó cung cấp cho bạn một phép chiếu. Ý tôi là, các nước có độ tuổi trung bình lớn hơn thường là các nước phát triển hơn, cũng có hệ thống y tế hoạt động tốt hơn, vì vậy, mặc dù gánh nặng có thể lớn hơn, họ sẽ có khả năng đáp ứng tốt hơn.

I. C.: Nhân khẩu học có thể đem đến chỉ dẫn gì trong cách thức chống lại virus? Làm cách nào mà nhân khẩu học giúp phòng chống sự lây lan?

J. M.: Nhân khẩu học là một chiếc ô rất rộng. Tự gọi mình là nhà nhân khẩu học cũng có nghĩa là bạn có thể làm bất cứ điều gì – đúng, bởi vì mọi thứ đều sinh ra và chết đi. Có thể nói, rất nhiều công cụ được dùng để nắm bắt và mô tả những biến đổi của bệnh truyền nhiễm, ở quy mô nào đó, là công cụ nhân khẩu học. Ví dụ, tôi không biết liệu rằng anh đã từng nghe nói về mô hình nổi tiếng – rất nổi tiếng ở trong một cộng đồng rất nhỏ – là mô hình có thể nhiễm bệnh – đã nhiễm bệnh – hồi phục chưa.

I. C.: Đúng là tôi chưa từng nghe thấy.

J. M.: Một trong những cách cổ điển mà ta có thể dùng để mô tả sự bùng phát đại dịch là bạn lấy thế giới và bạn chia tách nó thành các “lớp” chứa nhiều cá nhân. Đặc biệt đối với dịch bệnh quy mô lớn và mới mẻ như lần này, hầu hết các cá nhân trên thế giới đều nằm trong lớp dễ mắc bệnh. Sau đó, theo thời gian, nếu họ tiếp xúc với cá nhân đã nhiễm bệnh và họ cũng bị lây, họ sẽ chuyển vào lớp bị nhiễm. Sau một khoảng thời gian, họ sẽ hồi phục. Chỉ cần định nghĩa đơn giản này (mà từ đó ta có thể viết thành mô hình toán học) mô tả dòng chảy của các cá nhân giữa các lớp khác nhau, bạn có thể nhìn nhận chuyên sâu về tốc độ lây lan của dịch bệnh và những gì bạn có thể trông đợi trong tương lai. Từ đó, bạn cũng có thể đánh giá những thứ như hồ sơ tuổi tác bị nhiễm bệnh.

I. C.: Cô có thể miêu tả một chút về công việc của mình, và sự tương tác của với các chuyên gia y tế là như thế nào không?

J. M.: Tôi chủ yếu là người thống kê và dựng mô hình toán học, vì vậy những gì tôi làm là làm việc với dữ liệu mà người khác đã thu thập, sau đó xử lý dữ liệu đó thông qua các lý thuyết và mô hình chúng tôi có, để thử nghiệm và hiểu rõ hơn các quy trình mà chúng tôi thấy. Ví dụ, trận đại dịch xảy ra ở Vũ Hán cho thấy sự tăng trưởng theo cấp số nhân ở giai đoạn đầu, và các mô hình mà chúng tôi tạo lập cho phép xác định các đặc điểm chủ chốt của đợt bùng phát, chẳng hạn như số ca nhiễm mới tính trên mỗi cá nhân truyền nhiễm, và cả khoảng thời gian nối tiếp hoặc thời gian ngăn cách các cá nhân lây bệnh cho nhau. Về cơ bản, chúng tôi cố gắng kết nối các bằng chứng hiện hữu, với giả thiết rằng cơ chế mà chúng tôi nghi ngờ đang diễn ra là đúng.

Tôi cũng làm một số công việc ngoài văn phòng nhất định. Có một khoảng thời gian tôi trưởng thành ở Madagascar, vì vậy tôi làm việc chặt chẽ với các sinh viên hệ sau tiến sĩ và thạc sĩ, những người làm rất nhiều việc, ví dụ như nghiên cứu cách thức bệnh dại lây truyền khắp Madagascar, hoặc hiểu cách mầm bệnh gia cầm lây lan trong quần thể dân số này.

I. C.: Có điều cụ thể về đại dịch này đặc biệt gây chú ý trong vài tuần qua không?

J. M.: Dường như quy luật “tiiếp xúc theo tuổi tác” là một trong những yếu tố quyết định người bị nhiễm bệnh thường nằm trong độ tuổi nào. Nguyên nhân là vì chúng ta có xu hướng tiếp xúc với những người cùng độ tuổi, và điều đó dẫn đến tập trung truyền nhiễm trong các nhóm tuổi cụ thể. Thường thì bạn có xu hướng nói chuyện với người bằng tuổi, và khi bạn khoảng hai mươi hay ba mươi tuổi, bạn bắt đầu nói chuyện với những người nhỏ tuổi hơn vì mọi người bắt đầu có con. Nếu bạn định lượng mức độ tiếp xúc, bạn cũng thấy rằng trẻ em dường như có mức tiếp xúc với nhau cao hơn nhiều so với bất kỳ nhóm tuổi nào khác. Và điều đó có nghĩa chúng là một trung tâm “truyền dẫn” bệnh quan trọng.

Đó là kết luận thường gặp, nhưng không phải là những gì chúng ta thấy hiện nay. Chúng tôi không biết chắc tất cả mọi thứ vì dữ liệu vẫn đang được cập nhật. Chúng tôi không biết liệu có phải trẻ em, dù hoàn toàn không xuất hiện triệu chứng, nhưng vẫn có khả năng truyền bệnh hay không. Tôi nghĩ vẫn còn rất nhiều câu hỏi thú vị ở ngoài kia, nhưng điều đó thực sự ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ về những việc như đóng cửa trường học để kiểm soát dịch bệnh.

I. C.: Việc đóng cửa trường học nói riêng khiến cô có suy nghĩ gì?

J. M.: Trong đại dịch cúm năm 2009, một trong những biện pháp được thực thi là đóng cửa trường học. Nó có khả năng giảm lây nhiễm, có thể làm giảm rủi ro trong dân số nói chung. Và một trong những điểm nhấn tuyệt đối trong tình thế như vậy là cố gắng “làm phẳng đường cong”2, vì một trong những mối quan ngại thực sự là áp lực khổng lồ lên hệ thống y tế. Nếu chúng ta nghĩ rằng trẻ em là một trung tâm truyền nhiễm quan trọng, thì có một cách để giảm thiểu lây nhiễm là đóng cửa trường học. Nhưng, nếu trẻ em không phải là một trung tâm truyền nhiễm, thì đây không phải là một chiến lược hiệu quả. Vì vậy, nó là một câu hỏi quan trọng. Và tôi nghĩ việc tính toán những điều này là vô cùng khó khăn, bởi việc đóng cửa các trường học áp đặt rất nhiều lên chi phí kinh tế và ảnh hưởng đến xã hội, những chi phi này có tác động mang hướng giới tính. Đó là việc những bà mẹ phải ở nhà để chăm sóc những đứa trẻ. Có rất nhiều chi phí đi kèm với lựa chọn đóng cửa trường học.

I. C.: Còn luận điểm rằng chúng ta nên áp dụng bất kỳ hình thức cách ly xã hội khả dĩ vì bất kỳ loại tụ tập đông người nào đều vô cùng tồi tệ trong thời điểm hiện tại, điều gì đưa ra kết luận đó?

J. M.: Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta nên cân nhắc việc cách ly xã hội trong thời điểm hiện tại; chúng ta nên cố gắng giảm bớt sự lây lan càng nhiều càng tốt. Tôi không biết bạn bao nhiêu tuổi, nhưng bạn và tôi có lẽ không thuộc nhóm có nguy cơ cao. Nhưng nó không phải là về rủi ro cá nhân – mà là về giảm thiểu rủi ro trong dân số. Tôi nghĩ, chắc chắn là bạn nên rửa tay nhiều hơn trước đây, rửa tay trong hai mươi giây thật cẩn thận, và sau đó suy nghĩ về việc bạn sử dụng bao nhiêu phương tiện giao thông công cộng, mức độ mà bạn có thể giữ cho mình một chút khoảng cách xã hội, có lẽ là một điều thực sự tốt. Càng kéo dài thời gian càng tốt. Rất nhiều hội thảo khoa học mà tôi đang cân nhắc tham dự vừa bị hủy bỏ tại miền Bắc nước Ý, và tôi nghĩ rằng đó là bước đi đúng đắn.

I. C.: Quay lại lịch sử trong một phút, bạn có thể nghĩ ra một ví dụ nào đó mà người già đặc biệt dễ bị tổn thương như lần này không?

J. M.: Có một ví dụ về bệnh giun chỉ hay còn gọi là bệnh mù lòa đường sông3. Tôi lớn lên ở nhiều nơi ở Châu Phi, và căn bệnh này là một thứ gì đó xuất hiện từ từ theo tuổi tác. Điều đó có nghĩa là, ở một số vùng, hầu hết người lớn tuổi cần các cậu bé hoặc trẻ em dẫn đường vì họ không thể nhìn thấy nữa, họ đã bị mù. Tôi nghĩ rằng đó là hình mẫu của bức tượng trước trụ sở Tổ chức Y tế Thế giới. Việc kiểm soát được bệnh mù lòa đường sông ở nhiều nơi trên thế giới là một chiến thắng đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại ở một số nơi.

Ảnh: The Lancet

I. C.: Ngành nhân khẩu học có cách nào để giúp ngăn chặn dịch bệnh trong tương lai không?

J. M.: Đó là một câu hỏi thú vị. Tôi nghĩ rằng, liên quan đến cách thức nhìn nhận thế giới, nhân khẩu học khiến ta nhận ra dân số đang ngày càng già hóa, đi kèm là một loạt các thách thức trong mọi phương diện, từ hệ thống y tế đến hồ sơ bảo hiểm. Tôi không nghĩ rằng đây sẽ là đại dịch cuối cùng. Một trong những điều đáng sợ về đại dịch cúm năm 1918 là nó ảnh hưởng đến những người trẻ tuổi hơn, những người dường như chịu tỷ lệ tử vong cao hơn. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu cách thức và dấu vết mà đại dịch sẽ giao với quỹ đạo tuổi tác của dân số. Theo thời gian, hầu hết các quốc gia sẽ chuyển từ tình trạng các ca tử vong đa số do bệnh truyền nhiễm gây ra (thường xuất hiện ở độ tuổi rất trẻ), sang viễn cảnh các ca tử vong đa số do những “bệnh tuổi già” gây ra như đột quỵ, bệnh tim hoặc những bệnh tương tự (xuất hiện ở những năm cuối đời). Các quốc gia khác nhau đang ở những giai đoạn khác nhau trong bước chuyển ấy. Thật khó để nói trước điều gì sẽ xảy ra khi ta đối mặt với đại dịch tiếp theo; chúng ta không thể phỏng đoán được. Mỗi một đại dịch mà ta từng đối mặt thật sự đã làm ta ngạc nhiên. Vì vậy, tôi không chắc chắn lắm, nhưng tôi biết rằng những đại dịch tiếp theo sẽ tương tác với bước chuyển giao nhân khẩu học của từng quốc gia theo những phương thức thú vị.

I. C.: Trong quá khứ, có những đại dịch nào đặc biệt ảnh hưởng những người trẻ tuổi?

J. M.: Bệnh sởi có tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm bệnh là hai mươi phần trăm ở những vùng lãnh thổ có tình trạng suy dinh dưỡng hoặc tương tự. Chúng ta đã có loại vắc-xin thực sự rẻ tiền và hiệu quả, mang lại cho bạn khả năng miễn dịch suốt đời, thường được coi là giao dịch “hời” nhất trong lĩnh vực y tế công cộng. Một khi bạn đã tiêm vắc-xin, bạn sẽ không bao giờ bị nhiễm bệnh. Nhưng nếu bạn đang bị bệnh, bạn sẽ không bao giờ bị tái nhiễm vì nó bảo vệ bạn suốt đời. Và điều đó có nghĩa là tất cả các ca nhiễm đều tập trung ở độ tuổi nhỏ, và tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh thực sự rất đáng kinh ngạc.

I. C.: Chúng ta đã và đang chứng kiến một loạt các phản ứng trước chủng mới của virus Corona trên toàn thế giới. Có phản ứng nào đặc biệt làm cho bạn lo lắng (với tư cách một nhà nhân khẩu học) không? 

J. M.: Điều làm tôi vô cùng lo lắng là tình trạng quá tải của hệ thống y tế. Bạn có thể ước tính số lượng giường bệnh trên cả nước tương quan với độ tuổi trung bình của quốc gia đó, và phép tính này, ít nhất là ở châu Âu, đang gia tăng – rất hợp lý phải không? Nếu dân số già chiếm tỉ lệ lớn tại quốc gia bạn, bạn có thể cần thêm giường bệnh. Có lẽ là bạn vốn đã có số lượng giường bệnh lớn, nhưng liệu chúng chỉ đơn thuần làm gia tăng chi phí hay sẽ khiến yêu cầu về nguồn lực vượt khỏi tầm kiểm soát, đây vẫn là một câu hỏi mở, đặc biệt khi ta đang trải qua một sự kiện tàn khốc như vậy.

Hết.

Chú thích:

  1. Những cuộc đối thoại của chúng tôi đã được chỉnh sửa để đảm bảo yêu cầu về độ dài và sự rõ ràng.
  2. Nguyên văn “flatten the curve”, được dùng để đề cập các biện pháp làm chậm tỉ lệ lây lan của virus. Điều này không có nghĩa là tổng số lượng người bị nhiễm bệnh nhất thiết phải giảm xuống, nhưng các ca bệnh sẽ không xuất hiện cùng một lúc.
  3. Nguyên bản văn “onchocerciasis or river blindness” là bệnh suy giảm thị lực hoặc mù vĩnh viễn do giun xoắn Onchocerca.

Vũ Phương Thùy lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Isaac Chotiner, đăng tại The New Yorker

Ảnh đầu bài: Chris McGrath / Getty


Bài viết có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Trà chiều

Một lít nước mắt: Những khác biệt giữa phim và đời thực

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Đăng từ

on

Người đăng

Hôm qua lại tiếp tục hủy hoại sức khỏe. Thức trắng đêm để đọc cho hết 44 trang A4 quyển nhật kí 1 Litre of Tears của Aya. Nhức đầu gần chết. Hôm nay tỉnh dậy, tôi vẫn còn thấy mệt mỏi. Nhưng bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh của Kiwi rất truyền cảm. Dù sao, bản tiếng Anh cũng mới đi được đến gần cuối chương ba của cuốn nhật kí thôi. Còn đến những năm chương mà các fan chưa dịch xong. Ôi! Muốn đọc tiếp quá. Trong thời gian chờ đợi các fan quốc tế dịch, tôi sẽ dịch ra tiếng Việt trước những gì đã có trong tiếng Anh cho mọi người đọc và tranh thủ xem một vài phim Sawajiri Erika đóng.

Chị hai đã quá khinh thường trình độ đọc của tôi. Hôm qua, lúc thấy tôi cầm xấp giấy chị mới in xong để tôi dịch, chị đã nói:

“Sao em không đọc trực tiếp trên máy tính luôn?”
“Để chi? Đọc trên máy tính nhức mắt lắm. Giờ in ra giấy rồi, em đọc cái này đỡ hơn chứ.”
“Nhưng mà trên máy tính thì dò từ điển cũng tiện lợi hơn. Chứ còn đọc như vậy mà cầm cuốn từ điển dò thì mệt lắm đó.”
“Òa. Chị khinh thường em quá à. Em tự biết lượng sức mình. Em sẽ đọc một mạch luôn, không dò gì cả đâu vì những từ trong này chủ đề chính cũng chỉ xoay quanh cuộc sống hằng ngày thôi. Đâu phải từ chuyên môn về một lĩnh vực nào đó hay là từ cổ. Cỡ như Angel Sanctuary thì mới khiến em phải bó tay và ngồi dò chứ cái này thì em sẽ đọc ngon ơ cho mà xem.”

Nói là làm. Hôm qua, tôi ngồi đọc một mạch hết 44 trang A4 luôn. Tính ra A5 là 88 trang. Không ngờ tôi đã đọc nhiều như thế. Đó là lần đầu tiên tôi đọc được chừng đó trang tiếng Anh trong vòng ba tiếng đồng hồ. Hơi chậm hơn so với đọc tiếng Việt. Nếu đọc tiếng Việt mà trong ba tiếng đồng hồ thì chắc sẽ nhiều hơn. Dù sao, tôi cũng vui vì như thế là đã cải thiện hơn được rất nhiều về trình độ đọc so với một năm trước đây. Phải cố gắng hơn nữa. Phấn đấu để làm dịch giả mà. Vậy nên, tôi đã cố gắng để không cần dò từ điển dù cũng có một vài từ không hiểu nhưng nhìn chung tôi vẫn nắm được nội dung. Và tôi thật sự sốc sau khi đọc ba chương đầu tiên. Phim hư cấu nhiều chi tiết không có trong nhật kí. Khi phát hiện ra điều đó, tôi lại càng thương Aya hơn. Tội nghiệp Aya quá. Dưới đây là một số điểm khác biệt mà tôi đã lưu ý:

1

Không hề có Asou Haruto. Lúc xem phim, tôi thấy chuyện tình của hai người thật đẹp. Nhưng thực ra, chuyện này tôi cũng đã phát hiện ngay từ khi xem phim rồi. Vì trong phim có đoạn trích lại nhật kí Aya:

“Nếu như không có căn bệnh này thì tôi đã biết được tình yêu như thế nào rồi. Tôi chỉ muốn yêu và được yêu một ai đó. Tôi muốn có một ai đó để dựa vào. Chẳng lẽ tôi lại không có cả quyền tự do để yêu thương sao?”

Nếu như Asou-kun là có thật thì sao Aya phải viết như thế. Các nhà làm phim tạo ra Asou như một sự an ủi cho Aya. Nếu có thật thì đỡ khổ cho Aya nhiều hơn vì trước khi chết đã biết được cảm giác yêu một người là như thế nào. Nhưng tiếc rằng… đó chỉ là hư cấu. Tội nghiệp Aya quá. Trong phim, nghe cách hai người gọi tên nhau cũng đau lòng. Lúc đầu thì Asou gọi Aya là Ikeuchi còn Aya gọi Asou là Asou-kun. Gọi bằng họ thật khách sáo. Lúc sau, khi đã thân nhau rồi thì Asou gọi Aya là Aya nhưng Aya vẫn mặc cảm, vẫn gọi Asou là Asou-kun mà không dám gọi là Haruto. Thật đau lòng. Đến khi gần chết, cô vẫn cương quyết giữ khoảng cách như thế.

2

Không hề có Kawamoto-senpai. Chuyện này không biết là vui hay buồn. Theo cảm nhận cá nhân của tôi thì có lẽ sẽ đỡ đau lòng hơn cho Aya rất nhiều. Kawamoto là senpai kiểu gì kì cục quá. Lúc Aya bị ngã cứ trơ mắt ra mà nhìn. Đáng lẽ chỉ cần một cái ôm là xong chuyện. Đã vậy, hẹn người ta đi chơi mà sau khi biết người ta bị bệnh thì thất hứa.

3

Aya không hề giỏi bóng rổ. Điểm này trong phim cố tình sửa lại có lẽ là để khán giả cảm thấy bi đát hơn khi Aya bị bệnh. Aya vốn học rất yếu môn thể dục. Điểm thể dục trong lớp luôn bị tụt. Năm lớp 8 thì B, lớp 9 thì C và lớp 10 là D. Nhưng trong phim không đề cập đến điều này: Aya thích môn Anh Văn. Thực tế, vì không giỏi thể thao nên Aya rất chăm học và có tiếng là thông minh. Điểm môn Nhật ngữ và Anh văn bao giờ cũng đứng đầu lớp.

4

Aya thích đọc sách. Điểm này trong phim cũng không đề cập đến. Và Aya có ước mơ trở thành nhà văn. Nhưng tội nghiệp Aya quá khi phải thốt lên câu: “Con muốn làm nhà văn nhưng vốn kiến thức của con về xã hội ít quá thì làm sao con có thể viết một cuốn tiểu thuyết được hả mẹ?” Khi đọc đến đoạn ấy, tôi tự nhủ với lòng là vì tôi có sức khỏe nên sẽ cố gắng chăm chỉ tìm hiểu cuộc đời này, cố gắng để thực hiện ước mơ của tôi và của cả Aya nữa.

Sau đó, mẹ Aya mới bảo: “Con hãy nghĩ đến những công việc nào có thể làm ngay tại nhà được. Chẳng hạn như dịch thuật.” Càng đọc, tôi càng phát hiện nhiều điểm giống nhau giữa tôi và Aya. Do đó, phần nào tôi cảm thấy tội lỗi, trong khi Aya cầm bút còn khó khăn, tôi thì gõ máy lia lịa… thế mà cũng lười viết. Từ sau khi viết xong truyện dài gần đây nhất, tôi cảm thấy hơi nản một chút. Tôi đã nói với mọi người là sẽ gác bút để thi đại học, sau đó nếu thi đậu, tôi sẽ viết tiếp. Tôi đã nghĩ ra được thêm nhiều cốt truyện lắm rồi, có nhiều cảm hứng lắm rồi, nhưng lại lười. Một phần nữa cũng vì tôi cảm thấy còn phải đọc thêm nhiều sách để cải thiện trình độ viết văn và truyền tải tư tưởng đến người đọc. Nói chung, tôi nghĩ là mình cần phải học hỏi thêm nhiều nữa rồi hẵng viết. Bên cạnh đó, bây giờ tôi cũng muốn chuyển qua viết review phim, truyện để rèn luyện cách cảm nhận, cách nhập tâm vào cảm xúc cùng nhân vật. Có như vậy thì khi viết truyện chính thức tôi mới thấu hiểu được cảm xúc của nhân vật do tôi tạo ra chứ không chỉ đơn thuần là lớp vỏ bề ngoài. Sẵn đây, tôi cũng giải thích với mọi người luôn vì cũng có nhiều người hỏi tôi rằng: “Sao em siêng viết blog thế?” Thực ra, không phải là tôi thích blog hay thích viết blog. Tôi cũng không tâm niệm blog là để liên kết tâm tư mọi người lại với nhau. Chỉ đơn thuần là tôi xem blog giống như nơi lưu trữ lại những gì mình đã viết.

5

Không hề có buổi hoà nhạc chung với cả lớp, buổi Aya đi xem Hiroki đá bóng… rất nhiều thứ phim đã hư cấu thêm. Đọc nhật kí rồi mới thấy, phim dựng từ nhật kí như thế là quá hay. Tuy những tình tiết trong phim không có thực nhưng rất cảm động, rất hợp lí. Yêu các nhà làm phim của 1 Litre of Tears quá. Ở đây, hư cấu nhưng không bóp méo sự thật mà là để an ủi và tôn vinh sự thật.

6

Có một chi tiết rất quan trọng trong nhật kí nhưng các nhà làm phim đã không đưa vào. Lúc đọc nhật kí, tôi đã bàng hoàng. Đó là chi tiết Aya bị mất ba cái răng lớn ở đằng trước. Thử nghĩ xem, một cô gái khi đang băng qua đường, đập mặt trực tiếp xuống đất, máu chảy từ trên trán rất nhiều mà không bị gãy cái răng nào mới là chuyện lạ. Lúc phát hiện mình đã vĩnh viễn mất ba cái răng, Aya buồn vô cùng:

“Căn bệnh của tôi còn tệ hại hơn cả ung thư nữa.
Nó hủy hoại đi sắc đẹp tuổi trẻ của tôi.
Tôi muốn nhanh chóng quay trở lại là Aya trước kia. Tôi cất gương soi vẫn thường hay để trên bàn. Như vậy thì tôi sẽ không nhìn thấy tôi xấu xí của bây giờ nữa…”

Người con gái nào lại chẳng tự soi gương để chăm sóc vẻ đẹp của mình. Thế mà… Aya phải cất gương đi để trốn tránh sự thật khi cô mới 16 tuổi – cái tuổi còn quá trẻ mà thân thể đã như một “người già 50 tuổi” (theo lời Aya).

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!