Trà chiều

Mọt sách chả phải là một loại cá tính đâu

Lịch sử ra đời của khái niệm “bookishness” (mọt sách), và nguyên nhân Marie Kondo có sức uy hiếp đến những người tin dùng từ này.

Published

on

LIKING BOOKS IS NOT A PERSONALITY
Hannah McGregor

Bạn có nhớ, vào năm 2017, từng tồn tại một xu hướng ngắn hạn là quay gáy sách vào trong chỉ để cho đẹp? Tài khoản Instagram của Apartment Therapy đã đăng một tấm hình chụp kệ sách có gáy sách quay ngược vào trong, và những phản hồi quá sức kịch liệt với hàng tá người lăng mạ xu hướng này là phản-tri-thức, thậm chí so sánh hành động trên với việc đốt sách, vào thời điểm ấy có vẻ như là ví dụ điển hình nhất cho khả năng nổi xung thiên của cộng đồng mọt sách online.

Cho đến khi Marie Kondo xuất hiện, uy hiếp những cuốn sách của ta, và mọt sách Internet chứng minh ước đoán của tôi trật lất rồi.

Dành cho những người lạc hậu, Marie Kondo là chuyên gia bài trí nhà cửa người Nhật; cô đạt đến đỉnh cao danh tiếng vào năm 2011 khi cuốn sách do cô chắp bút, The Life-Changing Magic of Tidying Up (Nghệ thuật bài trí của người Nhật), lọt vào danh sách bán chạy trên toàn thế giới. Cuốn sách quảng bá phương pháp KonMari: mọi người dọn dẹp nhà cửa bằng cách xếp chồng đồ đạc của mình lại, sau đó tự vấn rằng món nào trong số đó “khiến bạn cảm thấy hân hoan.” Năm 2019, Kondo đạt được những bước tiến cao hơn, từ nổi tiếng trong giới xuất bản đến nổi tiếng trên Netflix với sê-ri truyền hình thực tế tám tập Dọn nhà cùng Marie Kondo. Và bỗng nhiên, những luồng ý kiến trái chiều về đống bừa bộn bùng nổ trên Internet.

Ảnh: Business Insider

Cụ thể hơn, một nhóm phụ nữ da trắng đã đứng ra bào chữa cho đống bừa bộn nói chung và sách nói riêng, với một cách diễn đạt – thẳng thắn mà nói – là khá phân biệt chủng tộc. Tác giả nữ quyền Barbara Ehrenreich đã tweet (tweet này sau đó bị xóa) lời cáo buộc rằng thứ tiếng Anh pha khẩu âm Nhật của Kondo là dấu hiệu cho thấy vị thế thống trị của Mỹ đang dần sụp đổ, và theo sau với một câu tweet chẳng tốt đẹp gì hơn: “Tôi thú nhận: Tôi căm ghét Marie Kondo vì, nói theo quan điểm thẩm mỹ, tôi thiên về phe bừa bộn. Bàn về cách nói chuyện của cô ta: Tôi cảm thấy ổn khi cô ta không sử dụng tiếng Anh để giao tiếp với lượng khán giả Mỹ khổng lồ, nhưng điều này rõ ràng ám chỉ việc siêu cường quốc Mỹ đang xuống dốc.”

Cách Ehrenreich chú trọng vào khía cạnh thẩm mỹ của đống bừa bộn dường như là lời hiệu triệu đến những người cùng quan điểm, dẫn đến những bình luận phân biệt chủng tộc và bài ngoại tương đương. Nhưng điều khiến Kondo trở thành con dê tế thần của cộng đồng mọt sách Internet chính là lời khuyên của cô trong tập năm, rằng mọi người nên vứt bỏ những cuốn sách không còn khiến họ hân hoan nữa.

Độc giả nổi điên lên, cho rằng mục đích của sách không phải là hân hoan. Như tác giả người Canada Anakana Schofield viết trong tờ The Guardian: “Cái thước đo mục đích chỉ giới hạn trong việc ‘tạo ra niềm hân hoan’ nảy sinh nhiều vấn đề sâu xa khi áp dụng với sách… Văn học không tồn tại chỉ để đánh thức những xúc cảm dễ chịu hoặc vỗ về chúng ta với những điều khoái chá; nghệ thuật còn thách thức và khiến chúng ta bối rối, nhiễu loạn.”

Ngôn từ phân biệt chủng tộc trong biện hộ cho đống bừa bộn của Ehrenreich cũng xuất hiện trong biện hộ cho một thư viện cá nhân không gạn lọc của Schofield. Bà đề cập đến việc Kondo gõ nhẹ lên bìa sách với “cử chỉ đầu ngón tay tựa tiên nữ” như một phần của “địa hạt siêu linh, huyễn tưởng mà ta lỡ chân bước vào.” Trọng tâm lời chỉ trích của Schofield dường như xuất phát từ việc hiểu lầm ý nghĩa chữ “hân hoan” của Kondo, một sự hiểu lầm căn bản mà Ellen Oh, nhà sáng lập của We Need Diverse Books (tạm dịch: Chúng ta cần những quyển sách đa dạng hơn), gọi là chủ đích:

“Có một sự nhấn mạnh quá đà lên chữ ‘khiến ta hân hoan’ mà không hề hiểu rằng [Kondo] đang nói đến điều gì. “Tokimeki” thực ra không có nghĩa là hân hoan. Nó mang nghĩa rung động, vui sướng, nhịp đập trái tim. Chỉ cần cái định nghĩa cơ bản này là đủ để triệt tiêu lập luận của Schofield rằng sách không chỉ nên khiến ta hân hoan mà còn thách thức và đảo lộn chúng ta. “Tokimeki” ám chỉ rằng nếu một cuốn sách thách thức và đảo lộn chúng ta, đồng thời cho ta một phản ứng xác thực, tại sao chúng ta phải vứt bỏ chúng chứ?”

Có điều gì trong lời khuyên của Kondo, rằng người ta nên cân nhắc việc vứt bỏ một vài quyển sách một khi chúng biến thành đống bừa bộn gây căng thẳng, lại có sức uy hiếp, khiến những nhà nữ quyền da trắng trên mạng xã hội sinh ra những phán xét tệ hại như vậy? Việc này liên quan đến địa vị đặc thù do những người-yêu-sách-tự-phong gán cho sách, và cơn giận tương quan của họ khi những kẻ như Kondo đề xuất rằng sách chỉ là những vật thể ngang hàng với nội y và miếng lót ly. Đáp lại cơn giận của Schofield, vấn đề nằm ở việc quan điểm “phi lý” của Kondo khác biệt với quan điểm “phi lý” của Schofield, người cho rằng “cách đánh thức những quyển sách là mở nó ra và đọc to lên.” Cớ gì việc gõ nhẹ tay lên bìa sách là vớ vẩn, nhưng việc đối xử với sách hệt như chúng là một kho tàng ma thuật sẵn sàng được kích hoạt lại không vớ vẩn?

Chúng ta có thể dành cả ngày để phân tích sự bài ngoại, phân biệt chủng tộc, bài phương Đông và phân biệt giai cấp hiện diện trong những lời chê trách trên, nhưng tôi muốn tập trung vào cách mà những mọt sách tự phong phản ứng với chuyện liên tưởng sách là đống bừa bộn, sự giáng chức của chúng từ vật linh thiêng đến tầm thường – hay, chính xác hơn, sự khăng khăng rằng chúng chẳng có linh thiêng gì hơn những đồ vật khác. Đây là một cuộc hội thoại mà tôi cho rằng vừa tiêu biểu mà vừa khai sáng:


Brenna Clarke Gray (@brennacgray): Ok. Sách chỉ là đồ vật thôi.

They’re Taking Your Kids Next (@MidianiteManna): À, không. Đối với tôi chúng là những trải nghiệm. Nói vậy thì chẳng khác nào bảo một chuyến du ngoạn đến Paris chỉ là một đồ vật.

Brenna Clarke Gray: Ok.


Ngoài việc kinh ngạc trước kỹ năng né-tránh-khẩu-chiến-Twitter của học giả văn hóa đại chúng Brenna Clarke Gray, ta hãy xem xét việc gọi sách là một “trải nghiệm” liệu có ý nghĩa gì. Vị thế của sách như một đồ vật từng cùng lúc bị phủ nhận và gán cho quá nhiều trọng trách: bản in vật lý này là thế thân cho hành động đọc, đồng thời là chiến tích để phô diễn rằng bạn có quan hệ cảm xúc và tư duy đúng đắn với việc đọc. Người sở hữu sách đơn thuần có lẽ xem sách như một thứ có thể được tái sử dụng để trang trí hoặc cho đi khi chúng trở nên không cần thiết, nhưng độc giả thì biết sách chứa đựng cả thế giới – và bộ sưu tập sách của họ trở thành biểu tượng của đẳng cấp, dấu hiệu của sự thông thái cấp cao.

Chẳng có gì mới mẻ trong mối tương quan giữa việc yêu thích sách và đọc sách giữa thanh thiên bạch nhật. Đã có lịch sử lâu dài ghi nhận việc tiêu thụ sách như là điệu bộ xã hội. Như học giả người Mỹ Lisa Nakamura chỉ ra, trưng bày sách cho người khác xem từ lâu đã được xem là “một hình thức tiêu dùng công cộng để thiết lập và quảng bá hình ảnh một cá nhân ham đọc.” Nhưng văn hóa đọc đương đại đã mở rộng việc tiêu dùng công cộng ngoài phạm vi sách, rộng ra những hàng hóa phong cách sống. Nền văn hóa của chúng ta cắm rễ trong mối quan tâm cảm xúc sâu sắc dành cho sách, và người tiêu dùng đã học được cách thể hiện mối quan tâm này thông qua hành vi mua sắm. Ta có thể nhận thấy điều này trong lịch sử tiêu thụ sách, từ những người cuồng sách thời kỳ đầu đến lời đề xuất của Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-quyển-sách giúp bạn xây dựng một thư viện cá nhân vào giữa thế kỷ, đến những blog dành cho thế hệ millennial đã biến thói quen đọc sách thành một hành vi tiêu thụ. Theo tôi, một khi bạn am hiểu quá trình phát triển của thuật ngữ “mọt sách”, bạn sẽ hiểu chuyện gì đã xảy ra khi Marie Kondo nhăm nhe giải quyết những đống lộn xộn đầy sách.

Trong Loving Literature: A Cultural History (tạm dịch Đam mê văn chương: Một lịch sử văn hóa), Deidre Lynch đã lần theo dấu vết lịch sử lâu dài của nỗi ám ảnh về sách, hay bibliomania. Vào cuối thế kỷ 18, việc công nghiệp hóa ngành sản xuất giấy và sau đó là ngành in đã tạo ra một thị trường sách sống động đầy mới mẻ. Thị trường này chủ động đầu tư vào việc nhân tính hóa sách, biến sách trở thành một phần của “thế giới sống” để mọi người có thể yêu chúng (bằng cách mua chúng). Xuất hiện cùng lúc với đam mê tiêu thụ dành cho sách là sự biến đổi của không gian nhà cửa: “không gian bán-công cộng, thương mại của nhà cửa trước kia nay trở thành chốn trú ẩn cá nhân” – và việc đọc càng ngày càng trở thành một hoạt động riêng tư, hoạt động mà một quý ông trung lưu thực hiện trong ngôi nhà ấm áp, từ nguồn cung cấp là chính thư viện nhà anh ta.

Chú ý đến việc sử dụng giới tính chủ đích trên. Bibliophile (người cuồng sách) là một người đàn ông. Anh ta không tùy tiện thu thập sách; trái lại, anh để ý rất nhiều đến địa vị, giá trị và khả năng sưu tầm của chúng. Nhưng như Lynch đã chỉ ra, phụ nữ vẫn kết nối với văn hóa đọc, chỉ là không thông qua quyết định mua hàng. (Phụ nữ sẽ càng ngày càng chịu trách nhiệm cho những quyết định mua hàng tiêu dùng trong nhà trong thế kỷ 20, cũng là khi thị trường sách bắt đầu chủ động chuyển hướng sang độc giả nữ.) Vậy, một bibliophile nữ có chân dung như thế nào? Lynch đã mô tả một dạng album văn học rất giống với thế giới fan fictionfan art đương đại:

“Những tập bản thảo thơ nhà làm – một tổng hợp văn thơ tự sáng tác xen kẽ với các đoạn trích chép tay từ những nguồn đã được xuất bản, thỉnh thoảng lại kèm thêm những bài cắt dán từ báo chí và tạp chí định kỳ, tranh phong cảnh màu nước không chuyên (thi thoảng là kỷ niệm từ những chuyến du lịch), những bức chân dung giả tưởng của nhân vật tiểu thuyết và thơ ca (đặc biệt của Walter Scott), tranh pastel trên giấy gạo đạt đến trình độ chính xác về động vật học và thực vật học, vẽ sò biển, bươm bướm, và/ hoặc những bông hoa, nhiều những tác phẩm khác được thực hiện bởi một bàn tay nữ tính thời thượng; thiệp dán với hoa và dương xỉ ép, những nắm tóc, thiệp tưởng nhớ ai đó vừa qua đời.”

Xin hãy lưu tâm đến sự đối lập giữa một dạng thư viện tuyển tập sáng suốt (của bibliophile nam) và một dạng tương tác rất đỗi riêng tư và say mê (của bibliophile nữ). Tôi nghĩ rằng phương thức sau là hình mẫu đường hướng cho văn hóa đọc thế kỷ 21, đặc biệt khi mua sách trở thành một hoạt động phần nhiều là nữ tính.

Xu hướng bibliomania vào thế kỷ 19 vạch đường dẫn lối cho sự cố chấp của giới trung lưu thế kỷ 20 trong việc thu thập một thư viện đàng hoàng, như những gì Janice Radway phác thảo trong A Feeling For Books (tạm dịch Cảm xúc cho những quyển sách). Radway giải thích cách mà Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách (thành lập năm 1926) trở thành khuôn mẫu cho cuộc hôn nhân giữa thương mại và văn hóa trong nền văn hóa đọc tại Mỹ. Tổ chức này tận dụng sức mua đang bành trướng của người Mỹ sau Thế chiến thứ II, cũng như sự tăng trưởng của tầng lớp quản trị – lành nghề, những người mà Radway miêu tả là “lao động tri thức và chuyên nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển lượng lớn thông tin thiết yếu trong nền kinh tế tiêu dùng tích hợp.” Con cái của tầng lớp này được “dạy dỗ để trân trọng sách vở và hướng đến những ngành nghề tri thức,” nhưng cách thức họ được dạy dỗ để trân trọng sách có điểm khác biệt với những người cuồng sách thông thường trong thế kỷ trước. Radway nhấn mạnh, Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách, đầu tư rất nhiều vào ý tưởng một “người đọc tổng quát, thông minh.” Danh tính độc giả này liên quan chặt chẽ đến sự chú trọng mà ngành sách dành cho danh mục marketing con. Theo Radway, đây là khái niệm “đọc sách” theo cách hiểu của Câu lạc bộ:

“Tại Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách, nhiệm vụ đánh giá hàng ngày có nền tảng từ một lý thuyết ngầm liên quan đến việc đọc sách. Đọc sách không được coi là một hoạt động đồng nhất, và sách cũng không được đánh giá dựa theo một bộ tiêu chuẩn đơn nhất. Thay vào đó, việc đọc được cân nhắc là hành động tinh vi và hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Đôi khi người ta đọc để thư giãn, thỉnh thoảng người ta đọc để dễ ngủ, thỉnh thoảng người ta đọc để tìm hiểu cách thức ăn uống, và thỉnh thoảng người ta đọc để sống những cuộc sống khác, nghĩ những suy nghĩ khác, để cảm xúc được nồng nhiệt hơn… Để đo lường thành công của bất cứ cuốn sách nào, biên tập viên của Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách không chỉ đánh giá những đặc điểm từ bản thân văn bản, mà còn dựa vào việc cuốn sách đưa ra giá trị gì, có phù hợp với những điều độc giả tiềm năng yêu cầu không.”

Những điều trên rất hợp lý khi sử dụng trong chiến lược marketing, và chúng hiện diện rõ ràng trong cách thức Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách đưa ra các lựa chọn sách: gom lại tác phẩm kinh điển, phi hư cấu nặng nề cùng với tiểu thuyết lãng mạn nhẹ nhàng dưới cái cớ như là “nâng cao” trải nghiệm đọc nói chung. Hình tượng “người đọc tổng quát, thông minh” có quyền tự do đọc hết tất cả danh mục đóng vai trò sống còn với sự phát triển của văn hóa mọt sách đương đại; nó cho phép thị trường sách đạo đức hóa việc đọc và sách nói chung, đồng thời phản đối sự kiêu căng của một vài cuốn sách – hoặc thể loại – nhất định. Là độc giả thì tốt hơn việc không là độc giả, và (việc đọc) một thể loại này cũng không tốt hơn (việc đọc) một thể loại khác. Phương thức đọc sách này được Radway định nghĩa là có trình độ hiểu biết vừa phải, và nó rất liên quan đến những cảm xúc mà sách mang đến cho ta.

Beth Driscoll cho rằng cảm xúc vẫn là mục đích của những độc giả có trình độ hiểu biết vừa phải đương đại. Driscoll đưa ra tám đặc điểm với những người này: trung lưu, tôn kính, thương mại, trung gian, nữ tính, giải trí, chân thành, và cảm xúc. Chúng ta có thể thấy trong danh sách này, dấu vết của bibliophilia thế kỷ 18 và 19 đã chuyển biến thành văn hóa văn chương thời nay – mối liên kết giữa việc đọc và không gian trung lưu, những nỗ lực để diễn giải mối quan hệ tôn kính với một vật phẩm thương mại. Tất cả những điều này – nhận thức về tầng lớp, siêu-trung gian, liên kết giữa sùng kính và thương mại, sự nữ tính hóa việc tiêu thụ sách, và đặc biệt là hình tượng độc giả tổng quát, thông minh – tựu trung lại thành những cá nhân “mọt sách” thế kỷ 21.

*

Hãy bàn về từ “mọt sách” (“bookishness”). OED cho rằng từ này bắt nguồn từ thế kỷ 16; thời bấy giờ, nó có nghĩa là “nghiêm túc về việc đọc sách” hay “ham học hỏi” (không ngạc nhiên mấy). Mặc dù vậy, bên cạnh những định nghĩa trung lập trên, từng có thời gian thuật ngữ này mang ý nghĩa hơi miệt thị, ám chỉ những người bị ám ảnh bởi sách vở và tách rời khỏi thế giới thực. Cái cách từ “mọt sách” được sử dụng trong văn hóa đọc đương đại chẳng khác gì một sự tái khẳng định đắc thắng, một sự khăng khăng rằng mối quan tâm quá lố dành cho sách hẳn nhiên là một việc tốt. BookRiot, một công ty truyền thông mới ra đời năm 2011 như là một điểm đến văn hóa cho người yêu sách, là ví dụ để thấu hiểu được cách thức thuật ngữ này bị chuyển nghĩa.

Bài đăng vào ngày 30.05.2018 mang tên “Đến tuổi 35: Phiên bản mọt sách” cho ta biết rất nhiều về định nghĩa mọt sách của BookRiot. Bài đăng này vừa phản nghịch mà vừa soi sáng. Nó tập trung vào sự tiêu dùng lộ liễu – “bạn nên nhờ bạn đời củng cố nền căn phòng bạn dùng để chứa sách” – cũng như việc coi trọng số lượng hơn chất lượng, khuyên rằng bạn nên mua lại những cuốn sách ưa thích thời thơ bé, lấp đầy giá sách bằng tiểu thuyết lãng mạn, “sách lịch sử chèn cửa,” và một “tủ sách mà bạn biết chắc mình không bao giờ thèm đọc, nhưng bạn muốn khách viếng thăm biết rằng bạn sở hữu chúng.” Sự pha trộn giữa sách lãng mạn, lịch sử và kinh điển trong cùng một tủ sách (quá khổ) phản ánh tinh thần của những thành viên tổng quát, thông minh trong Câu lạc bộ Cuốn-sách-của-tháng, những người biết rằng chẳng quan trọng là bạn đọc cái gì, chỉ cần bạn đang đọc (hay đang mua) rất nhiều sách là được. Một bài đăng vào ngày 09.01.2019 đưa ra thử thách “Danh sách ước nguyện của dân mọt sách,” bao gồm việc du lịch đến một địa điểm mọt sách, gặp gỡ một tác giả mình yêu thích, và lan tỏa văn hóa đọc khắp cộng đồng của bạn “bằng cách giúp ai đó yêu thích việc đọc sách.” Bạn có thể thấy từ ngữ chuyển đổi ý nghĩa, từ việc “rất thích đọc sách” sang một thể loại phong cách sống hay là nhãn danh tính, trong đó việc “rất rất thích sách” (sách gì cũng được!) có thể trở thành toàn bộ danh tính của một người.

“Bạn có thể nhận thấy những từ này bắt đầu chuyển đổi thành nhãn danh tính, một cái nhãn mà trong đó ‘rất thích sách’ trở thành toàn bộ danh tính của một người.”

Theo tôi, một dạng biểu hiện danh tính mọt sách lý thú nhất xuất hiện trong mục “Book Fetish” (tạm dịch “Sùng Bái Sách”). Book Fetish là minh chứng cho việc mọt-sách nay gần như đã mở rộng ra phạm trù tiêu dùng. Rõ ràng, Book Fetish không viết về sách mà là về những thứ phụ kiện họ-hàng-gần-với-sách có sức hấp dẫn với người khác (đặc biệt là phụ nữ), những người tự nhận mình là mọt sách. Nhìn lướt qua, ta bắt gặp một loạt những đồ vật, gồm bút chì, sổ tay và bookmark (hiển nhiên rồi), nhưng còn có vải thêu chữ thập, ấm trà, áo thun, trang sức,… và còn nhiều hơn nữa.

Đặc điểm nổi bật của “thói bái vật” góp nhặt này là việc sách không chỉ là vật sở hữu thông thường – điểm này đưa ta quay lại với Marie Kondo và những lời chối bỏ mang tính gây hấn nhắm đến quan điểm của cô. Khá mỉa mai khi Book Fetish quảng cáo những vật-dụng-tiêu-dùng-không-phải-là-sách để quảng cáo cho cái ý tưởng rằng sách-không-phải-là-vật-dụng-tiêu-dùng. Để tôi giải thích rõ hơn: địa vị đặc biệt của sách – xuất phát từ tham vọng nhân tính hóa sách để phục vụ cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của thị trường sách thế kỷ 18 – phủ sóng khắp Book Fetish. Nhưng bản thân những bài viết này cũng chứng thực cho mối quan tâm sâu sắc mà nền văn hóa mọt sách dành cho thị trường sách: nó hân hoan tán tụng sự tiêu dùng sách lộ liễu, đồng thời những thứ phụ kiện để quảng cáo sự tiêu thụ sách lộ liễu của bạn.

*

Nakamura, khi viết về vai trò quan trọng của Goodreads trong văn hóa đọc đương đại, chỉ ra rằng những nền tảng này đã đẩy mạnh quá trình biến sách và độc giả trở thành một loại hàng hóa:

“Goodreads cho ta thấy cách thức những trang mạng xã hội về sách đã trở thành một loại hàng hóa, một loại hình kinh doanh khống chế nội dung từ tất cả người dùng, không thừa nhận nghĩa vụ pháp lý, giữ quyền xóa bỏ hồ sơ và dữ liệu người dùng mà không cần bất cứ lý do gì. Những tủ sách ta giữ gìn cẩn thận trên Goodreads một số chứa cả ngàn cuốn sách – có thể đột ngột biến mất bất cứ lúc nào.”

Tuy nhiên, những phong trào của cộng đồng mọt sách trực tuyến – từ mua sách trên Amazon đến đọc sách trên Kindle và rồi bình luận trên Goodreads – không hề biến sách thành một thứ hàng hóa tầm thường; thay vào đó, nó đã nâng sách lên một tầm cao mà những bibliophile thế kỷ 18 không bao giờ tưởng tượng nổi. Sự sát nhập của Goodreads vào đế chế Amazon đã khiến tình trạng trở nên trầm trọng hơn – bằng cách nào đó, địa vị đặc thù của sách nay góp phần tung hỏa mù, khỏa lấp mục đích thực sự của Amazon.

Tôi xin kết thúc bài viết bằng cách quay trở lại điểm xuất phát: vì sao quá nhiều người (da trắng) lại nổi điên lên trước ý kiến của Marie Kondo rằng sách cũng chỉ như bao thứ đồ vật khác mà thôi. Thứ tình yêu mãnh liệt mà những mọt-sách-tự-phong dành cho sách hoàn toàn không phải “lẽ thường”: nó là cao trào từ tập hợp những đổi thay kinh tế và văn hóa trong 300 năm qua, nhân tính hóa sách và đồng thời cũng ổn định tình hình tiêu thụ sách, biến việc-yêu-thích-sách trở thành danh tính người dùng rõ rệt, đến nỗi khi một quan niệm mới về sách xuất hiện, đề xuất một mối quan hệ mới giữa sách và người đọc, những cá nhân “mọt sách” này cảm thấy bị đe dọa đến gần như mất trí.

Hết.

Aki-ten lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Hannah McGregor, đăng tại Electric Lit.


Đọc tất cả những bài viết của Aki-ten.


Những bài viết có cùng chủ đề



1 Comment

1 Bình luận

  1. Pingback: Tại sao ta không nên đọc mọi thứ và không nên tin mọi thứ ta đọc? – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Một đốm diêm tàn

Ngày tuyển U22 giành huy chương vàng SEA Games và phủ kín sóng truyền thông, có một chuyện quan trọng khác xảy ra – Công ty Diêm Thống Nhất chính thức thông báo dừng sản xuất.

Published

on

Thật khó diễn đạt cảm xúc của tôi trong buổi sáng ấy. Làn sóng ký ức ập tới, ồ ạt vỗ vào từng góc não, lớp sau xô lớp trước. Mùi diêm sinh ngắn ngủi và mong manh đã góp phần định hình tuổi thơ. Từ ngọn nến sinh nhật đến câu đố vui trên báo Thiếu Niên Tiền Phong, từ tủ hàng của mẹ đến nơi bố ngồi xem thời sự, từ lúc ngây ngô đến khi nổi loạn.

Biểu tượng con chim bồ câu ngậm bông hồng, sải cánh bay trên nền trời xanh đã ăn sâu vào tâm khảm tôi, tưởng chừng không thể tan biến. Chúng đáng lẽ phải luôn hiện hữu trong thực tế, dù tôi mỗi năm lại già đi và cuộc sống vốn luôn đổi thay.

Đợt sóng ký ức dừng lại ở tuổi 20, nơi bức ảnh này ra đời. Đó là một ngày Hà Nội mùa Đông tại cà phê Cộng. Hộp diêm Thống Nhất trên bàn, ba ly nước, hai chiếc gạt tàn.

Và tôi sực nhớ ra nhiều điều khác, những mảnh rời rạc được chắp vá, tạo thành bức tranh quá vãng hoàn chỉnh. 20 tuổi, tôi từng coi Anything but Ordinary của Avril Lavigne là ca khúc phản thân.

“Sometimes I get so weird
I even freak myself out
I laugh myself to sleep
It’s my lullaby

Sometimes I drive so fast
Just to feel the danger
I want to scream
It makes me feel alive…”

Bị khùng bị điên là đặc quyền của tuổi 20 phải không? Chặng đường nào đã dẫn tôi rời khỏi Anything but Ordinary, những cuộc trò chuyện bất tận về truyện của Haruki Murakami, tình yêu và tình bạn trong năm tháng ấy?

https://www.youtube.com/watch?v=0pdOTyk5azQ

Gần đây, tôi có cuộc nói chuyện dài sau nhiều năm với một trong những người bạn thân ở tuổi 20. Haruki Murakami thật sự có biệt tài đưa mọi viễn cảnh mờ nhạt và tế vi nhất phô diễn trên câu chữ. Tôi đã quên gần hết nội dung cuốn Tazaki Tsukuru Không Màu, nhưng màn tái ngộ đập vào mặt tôi ký ức về một cuộc hội thoại trong sách. Chính là khi Tsukuru gặp lại Xanh, thành viên thuộc nhóm bạn tâm giao thời niên thiếu của anh, nay đã thành sales xịn trong hãng xe Lexus. Xanh phệ bụng, mỗi tuần đi đánh golf một lần để tiếp khách. Xanh chỉ làm việc với giới thượng lưu. Kết thúc của chương sách như sau:

“Khoảng thời gian ba mươi phút có thể là ngắn ngủi đối với hai người bạn cũ sau mười sáu năm hội ngộ. Chắc chắn còn nhiều chuyện chưa nói hết. Nhưng đồng thời, Tsukuru cũng cảm thấy giữa hai người đã gần như chẳng còn gì quan trọng để nói với nhau hơn nữa”.

Cái cách diêm Thống Nhất có thể khơi dậy tất cả những điều này mới thật sống động và kỳ quặc. Trong đêm, khi ngoài phố là tiếng reo hò và chiêng trống của đoàn xe đi bão, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: “Những người bạn năm 20 của tôi, các bạn có khỏe không?”.

P/S: Và sau đó, trước những than van và nuối tiếc của cộng đồng, Công ty Diêm Thống Nhất đã quyết định tiếp tục sản xuất diêm!

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Tình yêu không ai bán, nhưng chúng ta lại đang mua (rất nhiều)

Published

on

Nếu bạn tình cờ có người yêu và xài mạng Viettel vào những năm 2010, tình yêu lúc đó là 3k/100 tin nhắn/ngày, giới hạn 80 kí tự một tin nhắn có dấu hoặc 160 kí tự tin nhắn không dấu. 10 năm sau, tình yêu là khung chat mạng xã hội, online 15 phút trước nhưng không đọc, seen 3 giờ trước nhưng không trả lời.

Thời gian thay đổi phương tiện biểu đạt tình cảm, nhưng đồng thời cũng thay đổi cách thức diễn giải tình yêu.

Thời cổ đại, triết gia Hy Lạp Plato tin rằng dạng thức tình yêu cao nhất là không-lãng mạn, không-sex; như tình gia đình hay tình huynh đệ. Người ta không cưới vì yêu, vì yêu làm quái gì khi kiếm cái ăn nhét vào mồm và sinh con đẻ cái mới là vấn đề sống còn. Nhiều nền văn hóa xem tình yêu như một căn bệnh không may mà tất cả chúng ta đều phải trải qua để bước vào đời, như bệnh sởi (Mark Manson).

Mãi đến thế kỉ 19, khi chủ nghĩa Lãng mạn bước ra sân khấu thế giới, cảm xúc con người mới đột nhiên có giá trị. Những cặp đôi bắt đầu mơ màng về tình yêu thiêng liêng, hạnh phúc cùng nhau đến suốt kiếp. Tình yêu kiểu đại gia Gatsby: đốt tiền hàng tuần tổ chức tiệc tùng với hy vọng người trong mộng vô tình đặt chân đến nhà. Tình yêu kiểu bà Bovary: “Tình yêu, cô tin, phải đến, bất thần, với tiếng sét đinh tai và tia chớp chói lòa, một cơn bão từ trên trời giáng xuống đời mình, như một cuộc tàn phá, tước nát lý tưởng như chiếc lá và ném linh hồn của mình xuống đáy vực sâu.”

Các nhà sinh hóa thế kỉ 20 giải thiêng tình yêu là nồi lẩu hormone của serotonin, dopamine, oxcytoxin và một nhúm các chất hóa học khác. Mọi người kêu lên: Nếu tình yêu là kết quả của hormone thì đó cũng là hormone của tôi. Việc tôi tiết hormone với người này mà không tiết hormone với người kia chứng tỏ tình yêu vẫn là định mệnh viết trong sách trời.

Mọi người chắc chưa?

Chúng ta tin tình yêu không ai bán nhưng kì thực lại đang mua một tá định nghĩa về tình yêu. Từ những nhà làm phim, nhà buôn bán, nhà marketing. Phim ảnh và mạng xã hội bán cho chúng ta tình yêu là kim cương và danh vọng, là ba vòng và sáu múi, là người sẵn sàng chết trong lòng một ít hay bán trong nhà một mớ vì ta. Dạng người khiến ta thổn thức bồi hồi, dạng người khiến ta tiết hormone tình yêu ào ạt là dạng người mà ta xem qua phim, đọc trong sách, lướt trên mạng ngày này qua tháng nọ. Chẳng có tình yêu thiên định, chỉ có tình yêu được đóng gói đẹp đẽ và bán cho ta với giá hời.

Mua những gói tình yêu có sẵn, khi yêu, chúng ta yêu ai đó không vì chính bản thân họ, mà yêu những ảo tưởng về họ mà ta dựng lên trong đầu mình. Tình yêu thăng hoa khi đối phương hành xử y hệt định nghĩa của mình về tình yêu. Nhưng ảo tưởng thì không có thật và tình yêu dựa trên ảo tưởng cũng vậy. Ngay lúc chàng soái ca bắt đầu ngoáy mũi, ngay lúc nàng kẹo ngọt bất ngờ chửi thề, tình yêu văng mảnh.

Nhưng chính thời điểm người ta vỡ mộng về nhau cũng chính là lúc tình yêu thật sự bắt đầu. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta trả lời tin nhắn sau 30 giây, và lúc họ không nhắn được một cái tin tử tế trong vài ngày. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta khiến mình tiết hormone hạnh phúc, và lúc họ gây cho mình những ức chế của hormone. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta nói yêu mình, và lúc họ nói không còn yêu mình nữa. Vì có thể loại tình yêu nào có thể bất thần chuyển thành ghét bỏ khi người ta từ chối yêu mình?

Chẳng mấy ai chịu ở lại để dọn những mảnh tình ảo tưởng vỡ và để sự thật trần trụi của yêu đương cứa vào tay. Chúng ta bỏ chạy ngay khi tình yêu vừa kịp đến, chọn mua tình yêu ăn liền thay vì bỏ công cực nhọc nấu nướng, để Bích Phương cứ phải hát đi hát lại: “Tại sao anh yêu biết bao người mà vẫn không hiểu tình yêu?”

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Điều gì quan trọng hơn?

Vài ý nghĩ sau khi đọc Cỗ Máy Thời Gian của H. G. Wells.

Published

on

Cỗ máy thời gian đưa nhà du hành tới năm 802.701 sau Công Nguyên. Ở đó, con người đã chia thành hai chủng. Một chủng lao động quần quật dưới lòng đất lạnh, tăm tối và hôi thối; một chủng sống đời nhàn hạ, lụa là, biếng nhác trong ánh mặt trời. Một chủng vượt trội về ưu thế tiến hoá do phải đấu tranh, giành giật thực phẩm; một chủng ngày càng suy thoái, tàn nhược do được sống trong nền công nghiệp hoá tối ưu đến mức sức lao động của con người trở nên thừa thãi.

Năm 1895, H. G. Wells hẳn không thể hình dung nổi cái gọi là AI hay ASI. Trí tuệ nhân tạo mà Stephen Hawking và Elon Musk luôn nhắc đến như quỷ dữ đang được triệu hồi là khái niệm quá trừu tượng trong thế kỷ 19. Thậm chí vẫn chưa thật quen trong hiện tại này, thời điểm này.

H. G. Wells có thể mường tượng đến cảnh Trái Đất nóng lên nhiều lần, độ nghiêng trục quay Trái Đất thay đổi dẫn đến những biến đổi về khí hậu và hệ sinh thái. Tuy nhiên trong những tưởng tượng xa nhất của ông, con người vẫn sống và chỉ bị tuyệt diệt bởi điều kiện tự nhiên như mặt trời hết năng lượng và tàn lụi. Ông không thể hình dung ra cảnh một con robot vô tri bỗng dưng hoá thành đấng sáng tạo với IQ cao hơn con người 12.000 lần và có thể thổi bay cả hành tinh chỉ trong vài giờ.

Học thuyết Kurzweil dựa trên Luật tăng tốc theo cấp số nhân nói rằng, chỉ trong 14 năm từ 2000 tới 2014, con người đã tạo ra khối lượng phát triển tương đương với khối lượng của toàn thế kỷ 20 dồn lại. Một người ở thế kỷ 19 nếu có thể du hành đến hôm nay, anh ta sẽ chết điếng chỉ vì Siri của Apple chứ chưa nói đến những AI cao cấp và đắt đỏ hơn cả ngàn lần khác.

Chỉ cần nhắm mắt lại và suy nghĩ về tất cả những điều này, tôi lại thấy số phận con người thật quá nhạt nhẽo và bé nhỏ trong vũ trụ. Và tôi không hiểu tại sao lại phải mất thời gian hằn học một ai đó. Không phải vì tôi nhân ái, mà vì tôi còn bận ngước cổ lên tìm sao trăng và phân tích bộ gân của một cái lá cây. Tôi quan tâm tới chuyện chòm Đại Hùng Tinh đang ở đâu trên trời hơn chuyện bị ai đó nghĩ sai, thật sự.

Rảnh quá thì coi hành trình tới ngày tàn của thời gian còn hơn.

https://www.youtube.com/watch?v=uD4izuDMUQA

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng