Trà chiều

Vì sao một số người lại mê tít cảm giác sợ hãi?

Khi khoa học lý giải nguyên nhân đằng sau sự quyến rũ của nhà ma, gánh xiếc quái dị và những thú vui rùng rợn thể xác.

Published

on

WHY DO SOME BRAINS ENJOY FEAR?
Allegra Ringo

Thời điểm Halloween, những người ưa thích cảm giác ớn lạnh có thể tận hưởng phim kinh dị và nhà ma với mức giá rẻ bèo đến đáng sợ. Tuy nhiên, nếu sợ hãi là phản xạ sống còn tự nhiên đáp lại một mối đe dọa hoặc hiểm nguy, vì sao chúng ta lại chủ động tìm kiếm cảm giác này?

Tiến sĩ Margee Kerr là nhân viên nghiên cứu xã hội học tại ScareHouse, một địa điểm du lịch nhà ma được xây dựng tại Pittburgh sau cả năm trời lên kế hoạch thiết kế. Cô đồng thời giảng dạy tại trường Đại học Robert Morris và Đại học Chatham, và là người duy nhất mà tôi từng biết với danh hiệu “chuyên gia về nỗi sợ.” Tiến sĩ Kerr rất thành thạo trong lĩnh vực sợ hãi. Tôi đã phỏng vấn cô về định nghĩa nỗi sợ, và vì sao nhiều người lại thích thú chúng đến vậy.

Margee Kerr, ScareHouse

Vì sao một số người thích cảm giác bị dọa, một số khác thì không?

Tiến sĩ Margee Kerr (M.K.): Không phải ai cũng thích sự sợ hãi, và tôi nghĩ mình không phóng đại khi khẳng định rằng chẳng ai muốn bản thân bị đặt vào một tình huống thực sự đe dọa đến tính mạng cả. Nhưng có một vài người trong số chúng ta (chà, rất nhiều người) cực kỳ ham thích những trải nghiệm này. Đầu tiên, sự hưng phấn tự nhiên đến từ phản ứng chiến-hay-chạy (flight-or-flight) cảm giác rất tuyệt. Có những bằng chứng mạnh mẽ chứng minh rằng đây không phải là lựa chọn cá nhân, mà do phản ứng hóa học trong não bộ. Một nghiên cứu mới từ David Zald cho thấy khi đối mặt với tình huống kinh hoàng, mỗi người có phản ứng hóa học khác biệt. Một trong những hoóc-môn chính được tiết ra giữa những hoạt động đáng sợ và ly kỳ là dopamine, và hóa ra một vài cá nhân có khả năng cảm thấy phấn khích từ phản ứng tiết dopamine cao hơn những người khác. Về căn bản, bộ não của vài người khiếm khuyết thứ mà Zald mô tả là “phanh xe” trong quá trình tiết và tái hấp thụ dopamine ở não bộ. Điều này có nghĩa là một số người sẽ rất tận hưởng tình huống ghê rợn và mạo hiểm trong khi một số người khác lại chẳng có chút thích thú gì.

Rất nhiều người ưa những trải nghiệm rùng mình vì, một khi đã qua đi, nó để lại cảm giác tự tin. Hãy nhớ về lần cuối cùng bạn “sống sót” qua một bộ phim kinh dị, hay một căn nhà ma. Có thể bạn đã nghĩ, “ha! Mình đã làm được! Mình đã hoàn thành được!” Vì thế, trải nghiệm này có thể là một cú hích tự trọng hàng thật giá giật. Nhưng nói đi phải nói lại, tự-nhát-ma-bản-thân không dành cho tất cả mọi người, và có rất nhiều lý do tâm lý và cá nhân giải thích cho việc một số người không thích thú lắm. Tôi đã nói chuyện với nhiều người – họ sẽ không bao giờ đặt chân vào nhà ma vì đã thử khi còn bé và bị ám ảnh tâm lý từ đó. Tôi luôn khuyên các bậc phụ huynh kiểm tra kĩ lưỡng nội dung và đánh giá của một địa điểm tham quan nhát ma trước khi dắt con mình theo. Những chất hóa học tiết ra trong quá trình chiến-hay-chạy có tác dụng như keo dán để gây dựng nên những ký ức mạnh mẽ (“những ký ức sáng-tỏ” – flashbulb memory) về những trải nghiệm kinh hoàng, và nếu bạn còn quá nhỏ để hiểu rằng những con quái vật chỉ là hàng giả, đây có thể là trải nghiệm gây sang chấn tâm lý và một điều gì đó bạn mãi không thể nào quên, theo cách thức tồi tệ nhất.

Điều gì diễn ra trong não bộ khi chúng ta cảm thấy sợ hãi? Liệu có điểm gì khác biệt khi chúng ta sợ “một cách vui vẻ” và khi chúng ta thật sự đang sợ hãi không?

M.K.: Để thực sự cảm thấy vui thích với một trải nghiệm đáng sợ, chúng ta phải nhận thức được mình đang ở trong môi trường an toàn. Tất cả đều liên quan đến việc kích hoạt thứ phản xạ chiến-hay-chạy đáng ngạc nhiên để trải nghiệm làn sóng adrenaline, endorphin và dopamine, nhưng trong một không gian hoàn toàn an toàn. Nhà ma làm rất tốt việc này – chúng đem lại cơn giật gân bằng cách kích hoạt một trong những giác quan của chúng ta với những âm thanh khác biệt, gió thổi và thậm chí là mùi hương. Những giác quan này trực tiếp liên kết với phản xạ sợ hãi và kích hoạt phản ứng cơ thể, nhưng não bộ có thời gian để tiêu hóa sự thật rằng chúng không phải là những đe dọa “chân thật.” Não bộ của chúng ta phân tích các mối đe dọa với tốc độ ánh sáng. Tôi đã chứng kiến quá trình này cả ngàn lần từ sau những bức tường tại ScareHouse – ai đó gào lên và giật mình và sau đó lập tức bật cười mím chi. Thật lý thú khi quan sát. Tôi rất hứng thú với việc xem xét những giới hạn của chúng ta, liên quan đến thời điểm và cách thức chúng ta nhận ra hoặc cảm thấy mình an toàn.

Liệu những “thứ đáng sợ” có phẩm chất chung giữa những nền văn hóa khác nhau không, hay chúng có sự khác biệt lớn?

M.K.: Một trong những điều thú vị nhất khi nghiên cứu nỗi sợ là nhìn vào những thành tố xã hội cấu tạo nên chúng, và những nỗi sợ “được học” so với những nỗi sợ dường như thuộc về bản năng, hay thậm chí là di truyền. Khi chúng ta nhìn xuyên thời gian và khắp thế giới, chúng ta nhận ra rằng loài người có thể trở nên sợ hãi bất cứ thứ gì. Thông qua huấn luyện nỗi sợ (kết nối một kích thích thần kinh trung lập với một hệ quả tiêu cực), chúng ta có thể kết nối hầu như mọi thứ với phản xạ sợ hãi. Dĩ nhiên, Baby Albert là trường hợp mẫu mực của kết luận này. Năm 1920, đứa bé đáng thương đã bị huấn luyện sợ chết khiếp thỏ trắng, trước khi những nhà nghiên cứu bị ràng buộc bởi yêu cầu đạo đức. Vì thế chúng ta biết rằng mình có thể “học sợ,” và do đó những giao tiếp xã hội và môi trường nuôi dưỡng sẽ có tác động rất lớn đến việc ta sợ hãi những gì.

Mỗi nền văn hóa đều có những con quái vật siêu nhiên riêng biệt – Chupacabra (Nam Mỹ), Quái vật Hồ Loch Ness, Yokai (quái vật siêu nhiên từ truyện dân gian Nhật Bản), Alps (sinh vật ác mộng Đức) – nhưng chúng đều có một số đặc điểm chung. Theo cách thức nào đó, quái vật có khả năng chống lại những quy luật chung của tự nhiên. Hoặc là chúng quay ngược từ cái chết (hồn ma, ác quỷ, linh hồn), hoặc là chúng thuộc dạng phi-nhân-loại hoặc sinh vật bán-nhân. Điều này chứng minh sự thật rằng vi phạm quy luật tự nhiên là điều đáng kinh sợ. Và thực sự thì, bất cứ thứ gì không hợp lý hoặc gây cho chúng ta chút mâu thuẫn, dù là về mặt nhận thức hay thẩm mỹ, đều rất đáng sợ (những con vật cầm rìu, những gương mặt ẩn sau lớp mặt nạ, những cơ thể méo mó).

Ảnh: BBC

Một đặc điểm chung khác giữa quái vật khắp hành tinh là mối quan hệ bị xóa nhòa với cái chết và thể xác. Con người bị ám ảnh bởi cái chết; đơn giản là chúng ta cảm thấy khó khăn với việc phải lý giải rốt cuộc điều gì xảy ra khi ta qua đời. Những chiêm nghiệm này dẫn đến những con quái vật nổi tiếng, mỗi nền văn hóa lại tạo ra một phiên bản xác-sống riêng biệt, dù là thây ma (zombie), ma cà rồng, những cái xác được tái tạo hoặc tái sinh, hoặc những con ma. Chúng ta muốn tưởng tượng rằng có một cuộc đời mới tồn tại ở thế giới bên kia. Hay thậm chí tốt hơn, tìm ra cách để trường sinh bất tử. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh lại rằng, những hành vi này đi ngược với quy luật tự nhiên và do đó rất hãi hùng. Vì thế, dù những con quái vật này có cấu tạo và tên tuổi khác biệt, động cơ và cảm hứng đằng sau sự ra đời của chúng thống nhất khắp địa cầu.

Một số ví dụ ban đầu về việc con người chủ đích nhát ma chính mình là gì?

M.K.: Loài người đã nhát ma chính mình và những người khác từ thời điểm khởi sinh giống loài, thông qua đủ loại phương pháp như kể chuyện, nhảy khỏi vách đá, và nhảy xổ ra hù dọa lẫn nhau từ cái ngóc ngách của hang động tối tăm nào đó. Và chúng ta làm vậy vì những lý do khác nhau – để xây dựng sự đoàn kết đội nhóm, để trẻ em chuẩn bị tinh thần sống sót trong một thế giới đáng sợ, và, dĩ nhiên, để kiếm soát hành vi. Nhưng chỉ trong một vài thế kỷ gần đây, việc nhát ma với mục đích giải trí (và thương mại) mới biến thành một trải nghiệm được săn đón hàng đầu.

Liên quan đến những khám phá buổi đầu về niềm vui khi tự-nhát-ma-mình, một ví dụ ưa thích của tôi có thể được tìm thấy trong lịch sử hình thành tàu lượn siêu tốc. Đường Trượt Băng Nga (The Russian Ice Slide) ra đời, với cái tên chẳng mấy gây ngạc nhiên, như là một đường trượt mở rộng xuống ngọn núi băng tuyết giữa thế kỷ 17. Giống như hiện nay, những người tham gia sẽ ngồi trên xe trượt và phăng phăng lao xuống núi, thi thoảng kèm theo những cú tông đụng nhân tạo để đường đua kịch tính hơn. Trong thế kỷ 18, Đường Trượt Băng Nga trở nên tinh vi hơn, với những thanh xà gỗ và núi tuyết nhân tạo. Cuối cùng, thay vì băng và xe trượt, đường trượt và toa xe được xây dựng để chuyên chở khách hàng băng qua “Những Ngọn Núi Nga.” Những nỗi sợ hưng phấn hơn xuất hiện khi những nhà sáng chế sáng tạo quyết định vẽ thêm những khung cảnh kinh dị trên tường để gây sốc và hù dọa khi khách đi qua. Điều này dần được biết đến như là “Chuyến Xe Bóng Tối.” Ai cũng sợ dựng tóc gáy, nhưng ai cũng thích mê.

Chúng ta không chỉ thích những nỗi sợ thế xác – chuyện ma được kể bên lửa trại trước khi khái niệm trại hè ra đời. Những Nhà Thơ Bia Mộ thế kỷ 18, những người viết về nhện, dơi và đầu lâu, đã trải thảm lót đường cho những nhà văn gothic thế kỷ 19, như Poe và Shelly. Những câu chuyện kinh dị này tạo ra, và tiếp tục truyền tải, kích thích sự hồ hởi trong chúng ta.

Thế kỷ 19 cũng sản sinh tổ tiên của ngành công nghiệp nhà ma. Các sô diễn bên lề hay “Gánh xiếc quái dị,” và bảo tàng và nhà của “những kẻ dị dạng” đã tồn tại từ giữa những năm 1800. Có lẽ trường hợp nổi tiếng nhất là Bảo Tàng Mỹ của Barnum do P. T. Barnum cắt băng khánh thành, người có cái tên chiếm nửa thương hiệu Gánh xiếc Ringling Brothers and Barnum Baily. Bảo tàng của ông chứa chấp những thứ như là thân khỉ đuôi cá dán dính lại, và những mẫu vật khác với mục đích giật gân và hù dọa. Tương tự như những địa điểm nhát ma hiện đại, khách tham quan sẽ xếp hàng để thách thức chính mình, sự gan lì của bản thân và thách thức người khác bước vào sô diễn quái dị để đối mặt với những khung cảnh và biến dạng kinh hãi. So với nguyên thủy là mình khỉ đuôi cá, ngành công nghiệp nhà ma đã có những bước tiến dài – những địa điểm hiện đại sử dụng bối cảnh chất lượng Hollywood, và một lượng điên rồ công nghệ tân tiến, tất cả chỉ để dọa chúng ta sợ phát khóc.

Mẫu vật “Người cá Fiji” của P.T. Barnum xuất hiện trong những sô diễn lề vào thế kỷ 19, được quảng cáo là xác ướp của sinh vật nửa-thú-có-vú-nửa-cá. Trên thực tế, đây là phần thân trên cùng đầu của một con khỉ thành niên khâu dính vào xác một con cá.

Có một quan niệm phổ biến rằng, nếu bạn gặp ai đó lần đầu tiên trong một tình huống ghê sợ, bạn sẽ cảm thấy gắn bó hoặc thu hút bởi người đó hơn là khi bạn gặp họ trong một tình huống bình lặng. Điều này có tính chân thực nào không?

M.K.: Một trong những lý do mọi người thích Halloween là vì dịp này tạo ra những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ, và những phản ứng này có tác dụng gây dựng nên những mối quan hệ và ký ức bền chặt hơn. Khi chúng ta vui vẻ hay hoảng sợ, chúng ta tiết ra những hoóc-môn hiệu lực mạnh, như oxcytocin, có tác dụng khiến những khoảnh khắc ấy kết dính trong não bộ. Vì thế, ta sẽ nhớ được người bên ta lúc ấy. Nếu đó là một trải nghiệm tốt lành, chúng ta sẽ thích thú khi nhớ về người ấy và cảm thấy gần gũi họ, nhiều hơn là khi chúng ta gặp họ trong một sự kiện bình thường hoặc trung lập. Shelly Taylor đã bàn về điều này trong bài viết “Khuynh hướng và kết bạn: Nền tảng sinh-hành vi của những mối quan hệ dưới áp lực.” Cô cho thấy chúng ta xây dựng một sự gần gũi đặc biệt với những người cạnh bên khi ta trong tình trạng bị kích thích, và quan trọng hơn, điều này có thể là một điều tốt. Chúng ta là những sinh vật cảm xúc và xã hội. Chúng ta cần nhau trong thời điểm áp lực, vì vậy việc cơ thể chúng ta đã tiến hóa để đảm bảo rằng ta cảm thấy gần gũi hơn với người khác khi lo sợ là hoàn toàn hợp lý. Vậy nên, đúng rồi, hãy dẫn người bạn đang hẹn hò đến nhà ma hay đi tàu lượn siêu tốc, và đó sẽ là một đêm bạn sẽ không bao giờ quên.

Hết.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Allegra Ringo, đăng tại The Atlantic.


Xem tất cả những bài viết của Aki-ten.


Những bài viết có cùng chủ đề




Từ Sách đến Phim

What Happened to Monday: Sự chật chội của một danh tính

Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức?

Published

on

By

What Happened to Monday là một phim mà tôi chắc rằng khi đọc qua logline, bất kì nhà sản xuất hay khán giả đại chúng nào cũng thấy ngay sự mới mẻ, hấp dẫn của nó. Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức? Thế thì, một gia đình có bảy chị em sẽ xoay sở ra sao để cùng nhau tồn tại? Hoặc ngắn gọn hơn nữa, ngay từ câu tagline của bộ phim cũng đã gợi nhiều suy ngẫm kích thích người xem: “Bảy chị em, một danh tính.”

Cái hay trong ý tưởng kịch bản phim nằm ở việc nó đồng thời vừa mới mẻ lại vừa gần gũi. Tình trạng dân số thế giới ngày càng gia tăng là vấn nạn có thật và ở những nước đông dân, người ta cũng đã quá quen với những khuyến nghị về việc hạn chế số lượng con trong mỗi hộ gia đình. What Happened to Monday chỉ đẩy chuyện này lên mức cực đoan để Max Botkin – tác giả kịch bản gốc trình bày những quan điểm của mình về con người và xã hội. Ý tưởng kịch bản phim phần nào đó có nét giống với truyện ngắn 2BR02B của Kurt Vonnegut. Cả hai đều đặt câu chuyện trong bối cảnh một xã hội kiểm soát dân số bằng những biện pháp ngặt nghèo, chỉ khác ở cách thức kiểm soát. Cách thức kiểm soát dân số trong What Happened to Monday đã được đề cập ở trên, còn cách thức kiểm soát dân số trong 2BR02B lại là: để một người được sinh ra, trước tiên phải có một người tình nguyện chết. Do đó, tuy có một chút trùng lặp với 2BR02B nhưng nhờ sự khác biệt trong cách thức kiểm soát, What Happened to Monday vẫn có thể xem là ý tưởng kịch bản độc đáo. Tôi nghĩ rằng có thể xếp kịch bản phim vào dạng high-concept – đây là miếng mồi ngon cho các nhà làm phim Hollywood. Kịch bản What Happened to Monday hoàn toàn có thể được viết lại với những nhân vật khác, tình tiết khác mà vẫn cho ra câu chuyện thú vị như cách các nhà làm phim đã xào nấu ý tưởng kịch bản Groundhog Day (1993) thành nhiều câu chuyện về vòng lặp thời gian ra đời sau này như: About Time (2013), Edge of Tomorrow (2014), Before I Fall (2017), hay bộ phim kinh dị sắp sửa ra mắt là Happy Death Day (Sinh nhật chết chóc).Có thể trong tương lai, nhiều bộ phim lấy tiền đề tương tự như What Happened to Monday cũng sẽ được ra đời.

Tuy nhiên, What Happened to Monday lại cócách triển khai câu chuyện quá cũ kĩ mặc dù tiền đề là một ý tưởng high-concept mới mẻ. What Happened to Monday được xếp vào thể loại dystopian sci-fi, thế nhưng tôi cảm thấy gần hai phần ba phim lại giống thể loại hành động hơn. Mọi tình tiết trong phim gần như được thúc đẩy bằng những cảnh hành động và cả cách nhân vật giải quyết vấn đề cũng khiến người xem dễ cảm thấy bạo lực là thứ chính yếu để chiến thắng. Tình trạng này khiến tôi nhớ đến phim In Time (2011). In Time cũng có một ý tưởng tiền đề rất hay đến mức tôi nghĩ ai đọc qua logline của phim hẳn đều sẽ muốn xem phim ngay. Thế nhưng, cách triển khai câu chuyện của In Time cũng lại qui về những cảnh hành động đậm chất Hollywood quen thuộc khiến bộ phim trở nên nhàm chán. Cả In Time lẫn What Happened to Monday đều thuộc thể loại sci-fi và đều mắc tình trạng rốt cuộc sci-fi chỉ để làm nền cho action. Trong một bộ phim sci-fi kể về thế giới dystopia (thế giới trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn ở thì tương lai) như What Happened to Monday, tôi nghĩ nếu câu chuyện được xử lí theo hướng thiên về tâm lí nhân vật như The Lobster (2015) thì có thể phim sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn về mặt thông điệp khi đặt ra câu hỏi muôn thưở của Hamlet: “Tồn tại hay không tồn tại?” Còn ở bộ phim này, có lẽ câu hỏi chỉ dừng lại ở mức đơn giản là What Happened to Monday? như chính tiêu đề phim. Và do đó, chí ít ta cũng được hưởng chút thú vị của thể loại trinh thám – vốn là nơi hay đặt ra câu hỏi dạng này.  

Điểm đánh giá: 6.5/10

Kodaki

Đọc bài viết

Giai điệu dẫn lối suy tư

Chuyện học đàn guitar của tôi

Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu.

Published

on

By

Tôi ít khi nào viết bằng tiếng Việt để được buông xả cảm xúc thoải mái nhất có thể. Dù buồn cách mấy, tôi luôn cố gắng viết bằng tiếng Anh để làm dịu bớt đi sự kịch tính hóa nỗi buồn vốn chẳng có gì nghiêm trọng mà tôi thường có xu hướng sẽ viết quá lên khi dùng tiếng Việt. Thế nhưng, khoảng hai năm gần đây, tôi bắt đầu đặt lại câu hỏi, liệu mình có thật sự buông hết cảm xúc thoải mái khi viết tiếng Việt và giản lược hóa tối đa những suy nghĩ phức tạp bên trong khi viết bằng tiếng Anh không? Dường như, câu trả lời “có” không còn bật ra đơn giản như ngày xưa nữa. Đôi khi, viết bằng tiếng Việt, vì biết rằng sẽ có nhiều người dễ dàng đọc được, tôi lại tự kiềm nén cảm xúc của mình trong vô thức nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn muốn viết những dòng này bằng tiếng Việt. Dù sao, tôi vẫn là một dòng nước yếu ớt nếu thừa nhận thẳng thắn, tôi không phải là lửa dù lửa hừng hực cháy bên trong tôi, tôi không phải là đất dù thoạt nhìn bề ngoài có vẻ lí tính, tôi cũng không phải là khí dù lí tưởng cuộc đời tôi tản mác như khí. Tôi vẫn là nước. Và một cung nước hướng nội có lẽ cũng chẳng dễ dàng chia sẻ những điều này nơi chốn công cộng – lí do thỉnh thoảng tôi tự cho phép mình làm điều này có lẽ do có sự tác động của một chút lửa và một chút khí trong phạm trù giao tiếp. Nhưng đến đây, sự sa đà vào chi tiết lại đích thị là của nước – như Frozen 2 cứ lặp đi lặp lại ý này: nước lưu giữ mọi kí ức. Trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau – có lẽ là tác phẩm gần nhất tôi đọc được, Đoàn Minh Phượng cũng có luận điểm tương tự như thế. Và chẳng phải Masaru Emoto có viết hẳn hai cuốn sách về điều này còn gì. Nên tôi cố gắng dừng lại việc lan man ở đây, mào đầu dài dòng thế này là đủ. Cái tật đi vòng bụi rậm vẫn cứ không tha cho tôi.

Năm vừa rồi, một trong những điều khiến tôi biết ơn nhất có lẽ là việc xem được phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi có cảm tình với bộ phim này ngay từ tựa phim, đó là hoàn cảnh tôi thường xuyên trải qua những năm học đại học và một vài năm đầu sau khi vừa tốt nghiệp. Tôi không được biết về thông tin phim trước đó. Đơn thuần trước thời điểm phim sắp chiếu hai - ba tuần, trong một lần đi xem phim, tôi thấy poster của phim đã được dán ở phần phim sắp chiếu từ lúc nào. Ngay giây phút nhìn thấy tấm poster và tên phim như thế, tôi đã quyết định khi nào phim ra, chắc chắn sẽ đi xem, bất kể nội dung thế nào, trailer ra sao, diễn viên và ekip gồm những ai, tôi chỉ có một linh cảm mơ hồ trong đầu rằng phim sẽ hay. Đương nhiên sau đó, trước khi vào rạp, tôi đã có thời gian nắm hết những thông tin cơ bản. Tuy vậy, khoảnh khắc những dòng chữ cuối cùng trên credit chạy hết, tôi vẫn ngỡ ngàng vì hạnh phúc khi được xem một phim Việt Nam hay đến thế, duyên dáng đến thế, dễ thương đến thế. Đã lâu rồi tôi không có cảm xúc này khi xem phim Việt từ lần xem Chàng vợ của em (cũng là một phim ban đầu tôi không kì vọng nhiều nhưng xem thì thấy nó hay đến ngỡ ngàng, chạm vào cảm xúc của tôi một cách kì lạ) cách đó đúng một năm. Tôi thường ít khi thú nhận mình thích phim Việt nào, nhưng Chàng vợ của emTrời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ nằm trong số ít ỏi phim Việt sản xuất những năm gần đây tôi có thể hăng hái đi khoe khắp chốn để mong chí ít là những người xung quanh mình có thể bớt đi chút thành kiến dành cho phim Việt; đặc biệt là với trường hợp Chàng vợ của em. Thế nhưng, Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ mới chính là bộ phim mang đến cho tôi nhiều giá trị hơn bất cứ phim nào tôi từng xem trong đời. Nếu như thời điểm phim đang chiếu nhằm vào lúc tôi đã mở lại Facebook, chắc chắn tôi sẽ viết một bài khen phim đăng ở đây. Tôi vẫn nhớ vào thời điểm phim gặp khó khăn về doanh thu vì được xếp quá ít suất chiếu, tôi đã luôn băn khoăn việc mở lại Facebook để thể hiện sự ủng hộ của mình dành cho đoàn phim, để dụ dỗ thêm được người bạn nào xem thì hay chừng ấy. Nhưng rốt cuộc, tôi vẫn không mở lại Facebook. Đó là thời điểm tôi vẫn còn quá mệt mỏi. Thời gian này không hẳn mọi thứ đã tốt đẹp hơn nhưng về cơ bản có lẽ tôi đã học cách kiểm soát được cơn mệt mỏi một chút. Tất cả có lẽ là nhờ việc tôi đã tập guitar sau khi xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Đó là một việc rất quan trọng với tôi năm nay, đủ quan trọng để tôi nghĩ rằng nên viết nó trong bài note này, để khi trí nhớ trở nên kém cỏi hơn, tôi vẫn có thể tri ân bộ phim và khoảng thời gian ấy.

Ngày còn học đại học năm nhất, bộ phim nhạc kịch đầu tiên tôi phải lòng là Moulin Rouge! – đây là một câu chuyện đã trở nên quá cũ kĩ, nhàm chán với những người quen biết tôi nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây. Sau đó, tôi đắm chìm trong một loạt các phim nhạc kịch khác: The sound of music, West Side Story… Vẫn còn rất nhiều phim nhạc kịch tôi chưa xem, tôi cũng không nhớ cơ sự vì đâu mà chuyện xem phim nhạc kịch của mình bị gãy đổ. Nhưng tóm lại, với tôi, một phim nhạc kịch hay là điều gì đó rất tuyệt vời, kiểu tuyệt vời thật hiển nhiên không cần phải chứng minh. Tôi cứ ngỡ ai cũng sẽ dễ dàng thích phim nhạc kịch giống tôi. Nhưng quả là nếu con số đó đông đảo thì phim nhạc kịch đâu chết yểu, thỉnh thoảng chỉ tìm lại được chút vinh quang trong vài phim lẻ tẻ chứ không rầm rộ cả một dòng như siêu anh hùng. Sau này, khi ra rạp xem phim nhiều rồi, chấm dứt chuỗi ngày chỉ xem trên màn hình máy tính nhỏ xíu ở nhà, tôi mới biết nguyên nhân người ta không thích xem phim nhạc kịch. Đó là một câu trả lời chung quen thuộc mà có lẽ mọi người đã nghe quá nhiều rồi: “Không hiểu sao đang nói chuyện bình thường tự nhiên hát, sao mà cứ hát suốt…” Trong một vài lần đầu tiên nghe những lời bình luận này, tôi có chút bực tức. Họ không nhận ra vẻ đẹp quá đỗi hiển nhiên của nhạc kịch hay sao? Nhưng lâu dần tôi cũng quen và chấp nhận, chỉ là đôi khi cảm thấy chút cô đơn. Việc người ta khó khăn để thích một phim nhạc kịch đến vậy rốt cuộc khiến tôi hiểu ra vỉ sao ngày xưa, thưở bé tí lúc tôi còn ôm nhiều mộng mơ với âm nhạc, tranh thủ hát mọi lúc mọi nơi, bất cứ khi nào có thể: trên đường lên xuống cầu thang, lúc tắm, lúc ngồi chờ mẹ nấu ăn, lúc làm những công việc tay chân lặt vặt… tôi đã bị mắng là khùng, điên, sao cứ suốt ngày hát như thế. Ngẫm lại thì việc đó cũng nào khác gì cách các nhân vật trong phim nhạc kịch hát mọi lúc mọi nơi. Nhưng tôi nghĩ, khi người ta còn hát được dù trong hoàn cảnh nào thì điều đó thật đẹp, thật đáng trân trọng. Tuy vậy, khi lên đại học, tôi khởi sự đọc sách nhiều hơn, mải mê theo đuổi những suy nghĩ trong đầu, từ lúc nào đó không còn hát nhiều nữa, tôi dần trở thành một nhân vật bình thường trong một bộ phim drama bình thường nào đó về cuộc sống, nơi mọi người không giải quyết vấn đề của mình bằng cách hát hò mà cứ chau mày, đi qua đi lại, vò đầu bứt tóc, máy động tay chân để nghĩ ra giải pháp. Vì vậy, tôi càng trân quý hơn khoảng thời gian được thưởng thức một phim nhạc kịch tuyệt vời nào đó đang chiếu rạp. Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi là một trong những phim như thế.

Tôi nhớ rằng trước khi bước vào rạp xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có chuyện gì đó đang khiến tôi rất buồn bã. Vậy mà khi xem xong phim, tôi bỗng nhiên cảm thấy mọi thứ có thể trở nên nhẹ nhàng hơn chỉ bằng cách ta cầm một cây đàn, tấu lên giai điệu nào đó và nhẹ nhàng hát vang. Vừa trở về nhà, tôi tức tốc vớ lấy cây ukulele đã lâu không đàn chỉnh lại dây rồi hát vu vơ. Không phải hát những bài hit đã được ai đó sáng tác trước đây, chỉ đơn thuần là ngay khoảnh khắc đó, tôi nghĩ gì trong đầu thì hát ra ngoài cũng như thế, còn hợp âm thì chọn vòng đệm rất cơ bản là C – F – G – Am hoặc C – Am – F – G, đôi khi có pha thêm Em, Dm – tóm lại là những hợp âm cơ bản trong giọng C. Cứ đàn hú họa và hát hú họa, ban đầu chẳng có gì ăn khớp với nhau, nhưng tôi chỉ hát cho một mình tôi, nào có ai lắng nghe mà tôi phải sợ hãi và đòi hỏi sự hoàn hảo nơi bản thân. Dần dà, tôi tự điều chỉnh lời, giai điệu đang hát cho khớp một chút với vòng hợp âm đang đệm, rồi trong lúc hát bậy hát bạ như thế, cũng có khi một vài giai điệu hay ca từ nảy ra khiến tôi khá hài lòng. Nhưng tôi đều không thu âm cũng như ghi chép lại lời. Tôi muốn những gì hát trong đêm đó sẽ ở lại trong đêm đó, sẽ chỉ là những thanh âm phù du như gió thoảng qua một vùng đất xa lạ. Bởi vì tôi biết chỉ cần cố gắng ghi âm lại, tôi sẽ bắt đầu vòng luẩn quẩn như trước đây, cảm thấy không hài lòng về chính bản thân mình, và lại chỉnh chỉnh sửa sửa, nó trở thành một công việc cực nhọc, toát mồ hôi hột, không còn niềm vui nữa, trong khi lúc ấy tôi đã quá mệt mỏi nhưng lại không muốn làm phiền ai, chỉ cần giãi bày trong âm nhạc là đủ. Hôm ấy, rốt cuộc tôi đã đàn đến bốn giờ sáng. Vào hôm sau đi làm, tôi rất mệt mỏi về mặt thể chất, người nóng ran vì ngủ không đủ giấc, mắt cứ lờ đờ, nhưng tinh thần tôi thì sảng khoái, vui tươi, không còn mỏi mệt nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy mình có thể làm được rất nhiều việc. Hôm ấy làm xong tôi không đi la cà đây đó nữa, tôi chạy ngay về nhà đề tiếp tục đàn. Nhưng qua một đêm đàn ukulele từ mười hai giờ đêm đến bốn giờ sáng, tôi đã lại chán tiếng đàn quá vui vẻ của ukulele. Tuy nhiên, tôi cũng không thể đàn piano – nó đã bị hư ở thời điểm ấy. Tôi trộm nghĩ đến guitar – một nhạc cụ tôi đã từ bỏ rất lâu. Khi bắt đầu học guitar trong một tháng vào năm 2009, tôi đã nghĩ nó không hợp với mình, tôi chẳng đàn được bài nào cả vì đặt mục tiêu là đàn classic (lẽ ra lúc ấy tôi nên học đệm hát thì cơ sự ngày nay đã khác đi nhiều), thế nên tôi bỏ học guitar để quay lại chuyên tâm với piano. Nhưng guitar là một nhạc cụ tôi đã mơ ước có thể cầm đàn và hát từ hồi còn rất nhỏ, có lẽ từ cấp một hay cấp hai. Tuy nhiên, khi có cơ hội học đàn vào năm lớp Tám, tôi đã chọn piano. Tôi nghĩ mình phải tiếp xúc với âm nhạc một cách bài bản nhất qua piano rồi guitar thì có thể chờ lên đại học cũng được. Tôi đã không thất hứa với mình. Vừa đậu đại học, tôi lập tức làm hai điều: ghi danh học tiếng Nhật ở trường Đông Du và đăng kí học đàn guitar. Điều đầu tiên tôi đã kiên trì thực hiện đến cùng và tạm đạt được một cái đích, điều thứ hai tôi lại bỏ dở dang. Và điều thứ hai luôn khiến tôi canh cánh bên lòng. Trong suốt mười năm qua, có nhiều lúc hơi chán piano một chút, thi thoảng tôi lại cầm guitar lên, nhưng rồi lại buông xuống. Khi biết đàn ukulele một chút, tôi đã nghĩ như vậy là đủ rồi, giải tỏa được nỗi buồn vì không thể tập guitar được rồi. Nhưng ukulele là ukulele, guitar là guitar. Chỉ cách nhau số lượng có hai dây nhưng không cái nào thay thế được cái nào. Ukulele không có những quãng âm trầm, đục, buồn như guitar. Nếu như không có Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có lẽ đến giờ này, cây classic guitar mà chị hai đã mua tặng tôi năm 18 tuổi vẫn còn xếp xó ở một góc khuất đằng sau tủ quần áo, không được ai cầm lên, nâng niu, vuốt ve, cùng nó phiêu lưu vào thế giới âm nhạc. Dư âm của buổi tối hôm trước khi thức đến bốn giờ sáng ôm đàn ukulele hát ca vẫn còn đọng lại nhiều năng lượng tích cực trong tôi, khiến tôi nghĩ hay là hôm nay mình cứ thử cầm guitar lên và làm điều tương tự xem thế nào, dẫu sao cũng chỉ có mình tôi, không cần phải e ngại, ngượng ngùng sự thiếu hoàn hảo. Cầm guitar lên, tôi nhận ra mình chẳng nhớ một chút hợp âm nào ngày xưa từng được học, cho dù chỉ là hợp âm đơn giản. Tôi chỉ nhớ duy nhất thế bấm cơ bản của C. Dù ở piano hay guitar, C luôn là hợp âm đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, là kim chỉ nam để tôi nhớ ra cấu trúc của một hợp âm trưởng, là thứ giữ cho ta khỏi đi lạc khi sắp xếp lại một quãng giọng trong trường hợp trí nhớ đã trở nên quá lẩn thẩn. Đôi khi, tôi ước gì mình cũng tìm được C cho cuộc đời mình. Nhưng không có C, cuộc đời tôi chỉ là những nốt nhạc cách nhau một cung rồi nửa cung hơi lộn xộn mà nhiều khi tôi phải cố gắng sắp xếp cho ra một trật tự nào đó.

Một người bạn từng nói với tôi rằng, khi bắt đầu tập guitar đệm hát, bài đầu tiên nên tập là Diễm xưa của Trịnh Công Sơn vì bài ấy vừa đơn giản, giai điệu vừa hợp với guitar, chưa kể điệu slow rock có thể giúp cả bốn ngón tay móc đều đặn và khi tập thì sẽ dần học cách nhớ dây bass của từng hợp âm. Khi đã tập được Diễm xưa rồi thì cứ thế tiến tới những bài khác của Trịnh Công Sơn mà cũng dùng điệu slow rock. Tôi đã từng thích nhạc Trịnh những năm cuối cấp hai rồi có một quãng thời gian bị ngắt giữa chừng ở năm cấp ba, đến khi học đại học, có thời gian tôi từng nghĩ mình không thích nhạc ông nữa vì một lí do có phần hơi trẻ trâu: Trịnh cứ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại đến mức nhàm chán nên nếu bỏ đi phần lời rất thơ thì giai điệu của nhiều bài cứ na ná nhau. Tôi cho rằng đó là lười biếng nhưng khi ấy lại không chịu tìm hiểu kĩ hơn rằng cũng có rất nhiều người thường lặp lại vòng hợp âm mình yêu thích. Giờ đây tôi mới hiểu rằng lặp lại vòng hợp âm thì đã sao, quan trọng là sự biến tấu trong giai điệu, nhiều khi chỉ cần một chỉnh sửa nho nhỏ, một thay đổi trật tự đâu đó trong vòng hợp âm quen thuộc là ta đã có chút cảm giác khác biệt. Tôi có xem một video Taylor Swift hát live trên Youtube và phía dưới video đó có rất nhiều bình luận đem lại cho tôi cảm giác những con người ấy cũng giống hệt mình ngày xưa, họ mỉa mai rằng Taylor có một vòng hợp âm cứ dùng đi dùng lại mãi là G – D – Em – C.  Tôi lên Ultimate – Guitar xem qua một loạt hợp âm các bài của Taylor để kiểm tra sự tình thì quả là cũng đúng thật như vậy. Nhưng tôi lại có một cảm nhận khác, giống như bộ phận khán giả ở phía ngược lại với nhóm người chê bai: nếu chỉ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại mà Taylor có thể sáng tác được rất nhiều bài hát thì cũng rất tài tình. Vậy nên, tôi trở lại bình thường với việc Trịnh Công Sơn cứ dùng đi dùng lại những hợp âm buồn quen thuộc như: Am, Em, Dm.

Tôi nhớ rằng năm lớp Tám, lúc bắt đầu học organ, ngay từ những ngày đầu tôi cũng đã có cảm tình với Am, Em, Dm khi chúng vang lên những âm điệu buồn da diết. Thực ra thì hợp âm thứ nào cũng sẽ như vậy thôi. Nhưng khi pha trộn giữa hợp âm trưởng và các hợp âm màu đúng nơi đúng lúc, chúng sẽ lại càng tỏa sáng hơn nữa những nỗi buồn rực rỡ. Tuy vậy, cũng là Am, Em, Dm nhưng khi đàn trên guitar lại cho cảm giác còn buồn hơn cả khi đàn chúng trên piano. Trong một lần lang thang một forum chỉ dẫn kinh nghiệm về đàn guitar, tôi nhớ có một bạn từng nêu ý kiến rằng hợp âm Am, Em là hai hợp âm sẽ vang lên đẹp nhất khi đàn trên guitar. Theo cảm nhận của riêng cá nhân mình ở thời điểm hiện tại, tôi cũng đồng tình với ý kiến ấy. Vậy nên, chả trách sao Trịnh Công Sơn cứ viết những bản tình ca buồn với Am, Em khi ôm đàn guitar. Vào buổi tối khởi sự tập Diễm xưa, tôi cũng mê mẩn thanh âm của Am khi rải điệu slow rock. Tôi không nhớ mình đã đàn Diễm xưa bao nhiêu lần nhưng khi chưa thuần thục lắm, tôi đã vội chuyển sang một bài khác của Trịnh Công Sơn, rồi một bài khác nữa, một bài khác nữa vẫn của ông. Rốt cuộc, hôm đó tôi cũng đàn đến tầm ba bốn giờ sáng. Hôm sau cũng vậy, hôm sau nữa cũng vậy. Việc không tập đi tập lại một bài hát trong cùng một buổi khiến tôi không chán dù có một giai đoạn tôi cảm tưởng như bài nào cũng hơi đàn được một ít nhưng rốt cuộc không đàn được bài nào ra hồn. Tuy nhiên, chính đặc điểm cứ dùng một vòng hợp âm quen thuộc của Trịnh Công Sơn hóa ra lại giúp ích cho tôi rất nhiều. Dù tôi đàn nhiều bài khác nhau của ông nhưng thực chất chỉ dịch chuyển tay trái chừng ấy hợp âm. Sau khoảng gần một tuần, tôi bắt đầu quen với cách dịch chuyển những hợp âm cơ bản đó và “bùm”, bỗng nhiên tôi đàn được cùng lúc rất nhiều bài của ông, chưa kể là còn những bài pop của nhiều người khác cũng dùng hợp âm tương tự như thế. Khi đó, tôi tạm biệt ông với sự biết ơn trong lòng và bắt đầu tập những bài tôi thích trong phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi không nhớ đã tập những bài trong phim mất bao lâu nhưng suốt cả tháng Mười, gần như hôm nào tôi cũng thức đến hai ba giờ sáng để tập đàn lung tung bất cứ bài nào chợt nghĩ đến, và trong bất kì buổi tập nào, bao giờ tôi cũng đàn trước nhất những bài hát trong Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi như một nghi thức, một lễ chào cờ, một sự tri ân rồi mới bắt đầu những bài khác.

Khi đàn được hơn một tuần, những ngón tay trái của tôi bắt đầu xuất hiện những vết chai. Càng đàn, chúng càng trở nên dày hơn và bắt đầu bong tróc, nhìn có vẻ ghê ghê nhưng trong lòng tôi lại thấy rất vui, đó là bằng chứng tôi đã luyện tập tích cực dù rằng có một hôm, khi phải gõ bàn phím để viết một bài review sách thật dài, tôi cảm thấy rất đau ngón tay, mỗi một kí tự được gõ ra là một lần đau. Tôi nhớ rằng khi tập đàn piano rồi hôm sau có gõ bàn phím, tôi cũng không đau tay như thế. Piano không làm đau những đầu ngón tay mà chỉ làm mỏi cổ tay khi tập lâu nhưng qua một giấc ngủ là tiêu biến. Tuy nhiên, cảm giác đau đó quá nhỏ nhoi so với niềm vui mà guitar mang lại cho tôi. Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu. Khi đàn guitar nhiều hơn, tôi mới phát hiện ra những động tác để đàn nó tạo ra sự tiếp xúc thân mật hơn so với piano: dù đàn đứng hay ngồi thì thân thể bạn cũng tiếp xúc với guitar nhiều hơn. Trong khi đó, piano lại khá tách biệt so với người đàn: ta chỉ tiếp xúc nó qua mười đầu ngón tay và một bàn chân để giậm pedal. Với guitar, tay bấm hợp âm của bạn trước tiên phải nắm chặt cần đàn; như vậy, so với piano là được thêm phần tiếp xúc ở lòng bàn tay; và tay còn lại để rải hay quạt dây thì cũng phải tì thêm một phần khuỷu tay vào thùng đàn; nếu như ngồi đàn thì phần thùng đàn còn tiếp xúc với đùi của ta nữa. Biết rằng so sánh như thế này thì có hơi khập khiễng nhưng tôi nghĩ rằng xét về độ quấn người thì guitar giống như một chú chó thân thiện luôn muốn được ôm ấp, còn piano thì giống như một cô mèo kiêu kì, đòi hỏi sự tiếp xúc ở mức độ tinh tế, nhẹ nhàng vừa phải. Thời điểm ấy, tôi đã quá mệt mỏi nên guitar cho tôi cảm giác thân tình hơn là piano và tôi cứ thế bấu víu vào nó. Nhưng tôi vẫn dùng piano để dò hợp âm và nó cho tôi cảm giác tự do, thoải mái hơn guitar rất nhiều. Nhạc cụ nào cũng có một loại cảm giác đặc thù riêng.

Đầu tháng Mười một, tôi phải tạm gián đoạn việc tập guitar trong chín ngày. Tôi nhớ rằng khi ngồi một mình trên chuyến bay ra Đà Nẵng, với nhạc Billie Eilish vang lên trong tai, mắt nhìn ra khung cửa sổ ngập mây nhuộm vàng trong buổi chiều, đầu ngón tay cái của tôi đã liên tục chạm vào bốn ngón tay trái bị chai đi rất nhiều khi tập đàn. Tôi cứ chạm mãi và phát hiện rằng mình nhớ cảm giác khi đàn guitar rất nhiều, nhiều hơn tôi tưởng. Bốn đầu ngón tay cứng ngắc như được dán keo sắt đó tựa thể vết tích của một cuộc tình. Tôi không muốn nó biến mất. Và rồi, tôi bắt đầu lo sợ sau khi kết thúc chuyến đi thì bốn ngón tay này đã mềm lại. Tôi cứ quẩn quanh trong những suy nghĩ đó, về guitar, âm nhạc, những bài hát tôi viết từ năm cấp hai từng khao khát một lúc nào đó thu âm có beat đàng hoàng mà đến nay vẫn chưa thực hiện chỉ vì tôi lười, và những chuyện khác nữa… Tôi nhớ rằng mỗi sáng tỉnh dậy, tôi đều chạm vào bồn đầu ngón tay đó. Và bây giờ thì tôi biết rõ hơn mình muốn làm gì rồi. Không phải cho một tương lai quá xa. Chỉ trong một năm trước mắt này thôi. Tôi muốn dành thời gian để thực hiện điều bản thân đã luôn khao khát được làm từ những năm cấp hai. Tôi muốn lại một lần nữa nghe theo điều trái tim mách bảo và thật chuyên tâm thực hiện nó. Xét theo lí trí, tôi biết đây không phải là điều mình giỏi nhất, như nhiều người cũng từng nói, nó không dành cho tôi, tôi nên tập trung làm việc từ trước đến giờ tôi vẫn luôn làm tốt nhất. Khi tự vấn bản thân, tôi biết rằng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn muốn một lúc nào đó còn có thể viết thêm một tiểu thuyết nữa, nhiều nhiều tiểu thuyết nữa tôi đã ấp ủ từ lâu. Tôi vẫn nhớ cảm giác say sưa khi miệt mài theo đuổi một câu chuyện trong suốt quãng thời gian dài, tỉ mẩn viết ra nó là như thế nào dù nó đã lùi quá xa trong kí ức của tôi, đã bảy năm rồi tôi không viết thêm được một tiểu thuyết nào nữa, nhưng tôi vẫn nhớ cảm giác khi hoàn thành tuyệt vời như thế nào. Giống như trong lời bài hát They can’t take that away from me. Đó là một thứ cảm xúc tinh khôi như mối tình đầu khó quên mà tôi nghĩ rằng dù có mắc bệnh Alzheimer, tôi vẫn nhớ nó với một sự tiếc nuối mơ hồ khôn ngần đâu đó trong tiềm thức. Nhưng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Hiện tại tôi không còn đủ trí lực để xây dựng những câu chuyện dài hơi nữa. Nghĩ đến việc viết tiểu thuyết đã trở thành một điều gì đó thật sự mệt mỏi, đau đớn dù đầu năm nay tôi đã cố gắng xốc lại tinh thần, lập ra danh sách những tác phẩm cần phải đọc để lấy tư liệu, tham khảo trước khi viết, lại còn đã nghĩ ra gần xong cả dàn ý sơ lược nữa. Nhưng cuối cùng, ngay cả việc đơn giản hơn việc viết là đọc tư liệu mình đã lập danh sách chuẩn bị tôi còn không làm nổi thì huống gì là viết. Cuối cùng, đến mùa thu năm nay, tôi đã quyết định sẽ không cố gắng cho việc viết nữa. Tạm thời trong năm sắp tới đây là như thế. Nói vậy không có nghĩa là tôi chọn âm nhạc như một cách để thoát li việc viết. Bản thân hai việc này tách biệt nhau hoàn toàn. Dù tôi có mệt mỏi, chán nản với việc viết hay không thì sớm muộn gì, tôi cũng muốn thực hiện điều tôi của năm cấp hai ngày đó đã luôn khao khát. Huống hồ, bây giờ cũng không còn là sớm nữa, gần như đã có chút hơi muộn. Nhưng không sao, muộn còn hơn là không bao giờ. Tôi không muốn phụ lòng tôi của ngày đó khi tôi của ngày nay đã tạm có đủ chút ít phương tiện, kiến thức ở mức cơ bản để làm điều tôi của ngày đó luôn muốn làm. Có thể những gì tôi sắp làm trong thời gian tới sẽ không cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh đúng nghĩa, nhưng tối thiểu tôi sẽ cố gắng để nó trở thành những bản ghi âm nghe tạm ổn, ít tạp âm như vật chứng cho một thời tôi đã từng viết nhạc say sưa đến vậy dù không biết gì về nhạc lí; và mai này, lỡ có chuyện gì xảy ra, tôi cũng sẽ không hối tiếc vì đã hoàn thành được ý nguyện ngày xưa rồi.

Cuối cùng của cuối cùng: mỗi lần sử dụng Facebook, lướt qua News Feed của mọi người, cảm giác là một loser lại hiện diện lên rõ rệt trong tôi. Khi không dùng Facebook, trong đời sống thường nhật, tôi đã có cảm giác loser. Dùng Facebook chỉ càng khuấy đậm hơn cảm giác đó. Vậy nên, tôi biết rằng để lại Facebook sẽ không thể nào tập trung làm việc được vì còn phải mất thời gian đấu tranh với sự tự ti trỗi dậy bên trong. Tôi sẽ lại deactive thêm một thời gian dài nữa. Hi vọng lần tới, khi reactive Facebook, lúc đó, tôi đã hoàn thành được kha khá sản phẩm. Tôi không muốn đây lại là một dự định dở dang. Trời ơi, tôi muốn làm nhạc.

Một lần nữa, cảm ơn đoàn làm phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Cảm ơn vì đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều. Với tôi, việc biết đàn guitar đệm hát trong năm nay thật sự là một món quà quý giá, một sự cứu rỗi.

Ngoài ra, việc tôi có thể tiếp tục đàn, sắp tới là làm beat và thu âm những bài sáng tác ngày xưa, là một phần rất lớn nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình, vô vị lợi của T. và K. Cảm ơn hai bạn rất nhiều. Tôi không biết phải viết gì để diễn tả sự biết ơn trong lòng mình. Mọi lời hoa mĩ đều là thừa thãi và đều không đủ. Tôi nghĩ việc đáp trả thiết thực nhất mà tôi có thể làm là cố gắng viết nhạc tốt hơn để không uổng công hai bạn đã dành thời gian dạy nhạc cho tôi. Cảm ơn rất nhiều, thật lòng cảm ơn…

Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những người bạn, những anh chị em, đồng nghiệp… đã dành cho tôi nhiều sự chân thành, tử tế trong năm qua và những năm trước đây.

Cảm ơn vì tất cả.

Kodaki   

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Destruction Babies – Sự đơn sắc của gam màu hủy hoại

Họ – những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc.

Published

on

By

Destruction Babies (có nơi dịch tiêu đề tiếng Anh của phim là Distraction Babies, ở bài viết này, tôi sử dụng tiêu đề Destruction Babies) là một trong số ít phim những năm gần đây khiến tôi rất băn khoăn về nội dung dù rằng tình tiết phim không khó hiểu, không có những yếu tố thường dễ đánh đố người xem như: thời gian đa tuyến, gián điệp, điều tra, giấc mơ trong giấc mơ, những sự kiện phi tuyến tính… Không, Destruction Babies không có những yếu tố ấy. Ngược lại, phim dễ hiểu một cách đáng ngờ. Câu chuyện của phim đơn giản đến mức có thể sẽ khiến bạn phải ngẩn ngơ tự hỏi “chỉ có thế thôi ư” sau khi phim kết phúc.

Toàn bộ phim có thể dễ dàng tóm gọn như sau: một thanh niên manh động thích lấy chuyện bạo lực làm trò vui. Chỉ đơn giản như thế. Tôi nghĩ rằng phim sẽ lí giải vì sao Ashihara Taira – cậu thanh niên mới mười tám tuổi ấy lại thích đánh nhau như vậy. Tôi thậm chí còn tưởng tượng một cốt truyện kiểu như Chí Phèo của Nam Cao lúc chỉ mới thoạt xem qua trailer. Nhưng Destruction Babies không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng như Taira không hề có bất cứ khoảnh khắc nào hành động khác đi ngoài sự phá hủy, ở anh không hề có chút dịu dàng hay yêu thương. Chuyện đánh người vô cớ của Taira khiến tôi nhớ đến tiêu đề một bộ phim có sự tham gia của James Dean: Rebel Without a Cause. Tôi không còn nhớ nội dung của Rebel Without a Cause nhưng quả thực, hành động của Taira đúng là nổi loạn vô cớ. Điều ấy khiến tôi tự hỏi đạo diễn Mariko Tetsuya làm phim này với mục đích gì? Vì không trả lời được câu hỏi ấy, tôi cảm thấy mình không thể hòa hợp với Destruction Babies. Hay nói cách khác, tôi cảm thấy mình không thể thích nó. Dù vậy, tôi vẫn muốn viết vài dòng về phim để lưu lại những suy nghĩ của mình trong lúc này.

Destruction Babies có khá nhiều cảnh long take và những cảnh long take này thường nằm ở vị trí quan trọng trong câu chuyện. Tuy vậy, những cảnh long take trong phim không phải thuộc dạng có chuyển động máy phức tạp khiến khán giả dễ trầm trồ về kĩ thuật của người quay. Phần lớn các cảnh long take của Destruction Babies đều giữ máy ở một góc cố định hoặc chỉ di chuyển khung hình đôi chút: những cảnh Taira đánh người thường được quay theo kiểu này. Tôi nhận thấy việc giữ long take thay vì cắt ghép liên tục trong cảnh chiến đấu đã tạo ra không khí phảng phất cảm giác tài liệu, nó cho phép người xem quan sát những khoảnh khắc yếu ớt của nhân vật trong nhịp điệu thong thả, nó không tách rời chủ thể với bối cảnh xung quanh là những căn nhà, những người đi đường nán lại nhìn – điều này lại càng khiến ta cảm thấy những cuộc đánh nhau của Taira là vô nghĩa như bất kì cuộc đánh nhau nào ta đã có dịp chứng kiến trên đường phố. Vì thế, các cảnh đánh nhau trong phim không mang màu sắc thường thấy như những cảnh tương tự trong phim hành động.

Tôi không rõ kịch bản Destruction Babies tuân theo kiểu cấu trúc nào. Chắc chắn, phim không theo cấu trúc ba hồi, lại càng không thể là cấu trúc hai hồi. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi tạm xếp phim vào cấu trúc một hồi (có thể phim thuộc dạng cấu trúc nào đó đã được phân loại nhưng tôi không biết) với kiểu câu chuyện về sự suy thoái (thuật ngữ là fall down hoặc descending story – nếu tôi nhớ không nhầm). Tuy nhiên, kiểu câu chuyện suy thoái theo truyền thống thường sẽ cho nhân vật ở một điểm xuất phát tốt đẹp và càng đi đến kết thúc, nhân vật càng tồi tệ hơn; tương tự, kiểu câu chuyện về sự vươn lên (rise up hoặc ascending story) sẽ vận hành theo hướng ngược lại. Thế nhưng, trong Destruction Babies, ngay từ khởi điểm, Taira đã luôn là một người thích đánh đấm, Yuya đã luôn là một người thích trêu đùa kẻ khác, Nana thì lại luôn ăn cắp vặt... Họ - những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc. Vì vậy, xét Destruction Babies vào kiểu câu chuyện suy thoái sẽ có phần đúng và sẽ có phần sai: đúng ở chiều vận động theo hướng đi xuống của nhân vật, sai ở sắc thái đối nghịch lẽ ra phải có của một câu chuyện suy thoái thì trong Destruction Babies lạichỉ có sự đơn sắc của gam màu hủy hoại. Sự đơn sắc vốn là điều các nhà kể chuyện thường tránh nhưng ở Destruction Babies dường như đây lại là thứ đạo diễn Mariko Tetsuya cố tình tạo ra. Với Destruction Babies, quá khứ và tương lai của nhân vật đã bị loại bỏ, trở thành thứ không quan trọng, chỉ có hiện tại mục rữa là điều duy nhất hiện diện.

Một trong những cảnh tôi thích nhất phim chỉ đơn giản là cảnh long take góc toàn từ trên cao cho thấy hình ảnh chiếc xe chạy qua một khúc cua trong đêm tối. Khi ấy, nhạc nền lại là bản nhạc đã được sử dụng trong cảnh toàn long take đầu phim giới thiệu quang cảnh ban ngày của thành phố cảng nơi Taira sinh sống. Khúc nhạc có tiết tấu hỗn loạn ấy được sử dụng cho điểm bắt đầu của cả hai cuộc hành trình: một khởi sự vào ban ngày, một khởi sự vào đêm tối, dường như đang có ý thực hiện phép so sánh thông qua điểm chung giữa góc máy và âm nhạc. Tuy nhiên, cảnh trong đêm tối lại gợi cảm giác buồn bã nhiều hơn. Không hiểu sao nó khiến tôi nghĩ đến On the road dù rằng tôi cũng chẳng còn nhớ nội dung cụ thể của quyển sách ấy. Có lẽ là tinh thần tuổi trẻ cứ miệt mài lao đi trong đêm tối, ngỡ rằng có thể đến bất cứ nơi đâu cho đến khi dừng chân lại mới phát hiện mình vẫn đang ở một điểm chẳng khác biệt mấy so với điểm khởi đầu. Cũng giống như ánh sáng phát ra từ chiếc xe khi mờ khi tỏ qua những hàng cây, cho đến một góc khuất nào đó, luồng sáng của nó hoàn toàn tắt ngúm trong tầm mắt người quan sát.

Tôi rất thích diễn xuất của Yagira Yuya trong phim này. Tôi có thể thấy được sự điên dại trong ánh mắt, nụ cười của anh. Vai diễn của Suda Masaki trong Destruction Babies không có nhiều điểm khác biệt so với vai diễn của cậu trong Drowning Love (cùng sản xuất năm 2016); vì vậy, tôi không đặc biệt ấn tượng lắm với cậu trong phim này. Komatsu Nana vẫn hoàn thành tốt vai diễn của em. Destruction Babies khiến tôi nhớ đến một phim ngắn em từng tham gia: There Is No Tomorrow (2016). There Is No Tomorrow cũng nói về sự nổi loạn. Trong phim ấy, Julien Levy định nghĩa sự nổi loạn là “mong muốn có được thứ gì đó lớn lao hơn sự tồn tại” (This insurrection is about expecting more from existence). Tôi tự hỏi, những bạn trẻ trong Destruction Babies liệu có mong muốn điều gì đó tương tự như thế không. 

Điểm đánh giá: 5/10
Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng