Trà chiều

Từ cây bút Thiên Long, tôi nghĩ về cuộc đời

Khởi điểm, TL-023 mà tôi đang sử dụng vốn chẳng có điều gì đặc biệt gắn liền với nó. Nhưng chỉ bằng một việc đơn giản là nó đã ở bên cạnh tôi khoảng thời gian quá lâu; những ngày này, khi cầm nó trên tay, khi viết mà mực vẫn ra đều, tôi bỗng cảm thấy nó đặc biệt – không biết từ lúc nào, cảm giác đặc biệt đó lại hình thành.

Published

on

Có bao nhiêu điều tôi đã suy nghĩ rằng mình sẽ viết vào những thời điểm khác nhau của năm nay; nhưng cuối cùng, tôi đã không viết; và rốt cuộc, bây giờ tôi lại phải suy nghĩ xem mình sẽ viết gì mặc dù tôi vẫn còn nhớ mơ hồ mình đã từng muốn viết gì nhưng không thể cứ đơn giản lấy suy nghĩ của vài tháng trước, hay vài tuần trước mà đắp vào đây là được. Cánh tay và bả vai vẫn còn cảm giác mỏi, lồng ngực vẫn còn cảm giác căng và tức – đôi lúc tựa hồ như có một lực gì đó ép vào; nhưng dù sao, thể trạng hiện tại của tôi cũng đã đỡ hơn cách đây hai tuần rất nhiều nên tôi muốn tranh thủ viết ra một chút – vẫn với lí do cũ: để sau này còn nhớ lại tôi đã suy nghĩ những gì vào năm nay, dù rằng những dòng dưới đây không thể bao hàm được tất cả. Tôi sẽ gõ cho đến khi nào cánh tay, bả vai và lồng ngực bên trái lên tiếng thì dừng lại; tôi mong chúng sẽ cho tôi đủ thời gian.

Dù sao thì có lẽ tôi cũng không thể viết quá dài như những năm về trước – không phải chỉ vì bị căng cơ quanh vùng ngực và bả vai dẫn đến cánh tay đau nhức ngay thời điểm này, có lẽ vì tôi nhận thấy những điều mình từng rất muốn viết ra không còn quá quan trọng để viết ra nữa – hoặc là tôi không còn đủ động lực để viết ra một cách tường tận như đã từng, tôi chỉ muốn điểm lại qua loa cho xong nhiệm vụ không biết từ lúc nào đã tự đặt ra cho mình vào mỗi năm; sau đó, có thể tôi sẽ ngồi thả lỏng hai vai và xem nốt những phần bài giảng còn lại của Aaron Sorkin trên MasterClass – nhân tiện, tôi khá bất ngờ về cách nói chuyện của ông khi giảng dạy. Lúc xem trailer và rồi nhìn poster lớp học của ông, tôi đã thấy khuôn mặt ông thật đạo mạo, nghiêm túc. Điều đó khiến tôi hình dung lớp học của ông cũng sẽ chán hệt như lớp của David Lynch, ông sẽ nói chuyện vòng vo hoặc đi thẳng vào vấn đề nhưng tựu trung là sẽ khô khan, đến mức dù có tưới nước vào thì nước cũng không thể thấm xuống và làm mềm đi mà chỉ có thể trượt qua bề mặt khô đó vì nó đã đông cứng như một khối kim loại. Tôi đã hình dung ông khô khan đến mức như thế. Nào ngờ, ông có lẽ là một trong số rất ít người dạy thực sự có tâm trên MasterClass: ông không nói vòng vo mà đi thẳng vào vấn đề, dẫn chứng rất nhiều ví dụ sinh động hợp với ý ông đang nói đến nỗi có vài video, tôi cứ phải bấm pause và ghi chép lia lịa vào sổ tay để nhớ lời ông nói – tôi còn định sau này khi nào hết đau tay, tôi sẽ gõ ngược lại những gì mình đã ghi chép trong sổ vào máy tính nữa, thế là tôi được ghi lại hai lần những lời ông nói – điều đó sẽ khiến tôi ghi nhớ kĩ hơn một chút, một cách ghi nhớ khá là truyền thống. Thực ra, tôi đã có thể làm một cách khác gọn nhẹ hơn – tôi đã thử và thành công: dùng một micro hoặc earphone có kèm mic, bật Google Translate lên, nhấn vào biểu tượng micro trong Google Translate; sau đó, phát video ông đang nói và chĩa micro vào loa – Google Translate sẽ tự động nhận diện giọng tiếng Anh rồi gõ lại toàn bộ lời ông đang nói. Đương nhiên, GT không thể chuyển đổi lại đúng hoàn toàn nhưng khả năng chính xác có lẽ cũng rơi đâu đó tầm 70 – 80% và tôi chỉ cần chỉnh sửa lại một chút là được, sẽ nhanh hơn rất nhiều so với việc tôi ngồi chép lại toàn bộ lời ông nói vào sổ tay, rồi từ sổ tay gõ lại vào máy tính. Nhưng nếu để GT tự động chuyển đổi âm thanh thành kí tự theo cách kể trên thì có lẽ lời ông nói cũng thành gió thoảng mây bay với tôi. Chưa kể, tôi còn biết một cách chuyển đổi nhanh hơn cách vừa kể nhưng cách này chỉ áp dụng đối với những video không quá nghiêm ngặt chuyện bản quyền. Nếu có một video bài giảng khiến bạn quá hứng thú, bạn muốn lưu trữ lại thông tin trong video thành chữ để tiện đọc lại khi cần thì bạn có thể upload cả video đó (trong điều kiện bạn có file video hoặc biết cách tải file) lên Youtube, set chế độ private, set chế độ ngôn ngữ tiếng Anh (hoặc ngôn ngữ chính xuất hiện trong video đó), làm việc khác, kiểm tra lại Youtube sau khoảng một, hai tiếng hoặc một ngày (tùy theo độ dài của video) và bùm – Youtube đã làm xong file phụ đề tự động cho cả video đó, bạn chỉ cần tải xuống file phụ đề – đuôi nào cũng được nhưng tôi thường chọn đuôi .srt để dễ mở trong Notepad, rồi từ Notepad, tôi sẽ copy – paste vào Word, làm thêm vài bước thủ công nhanh gọn nữa để từ một file phụ đề có timecode thành file word sạch tinh tươm chỉ có chữ. Thế là xong. Lần đầu tiên làm được chuyện này, tôi đã rất khoái trá. Cách này cũng có thể áp dụng với cả một đoạn audio bạn thu âm (đương nhiên, âm thanh bạn thu được phải tốt, to rõ, không có tạp âm). Bạn có thể convert file audio thành video và up lên Youtube rồi làm cách bước tương tự sau đó. Công nghệ quả thật kì diệu. Tôi nhớ mười năm trước đây, tôi chỉ dám mơ mà không nghĩ là mười năm sau, điều này có thể thực hiện được – tuy không hoàn toàn hoàn hảo, Youtube (thực chất cũng là Google) vẫn nhận diện âm thanh sai đôi chỗ, nhưng về cơ bản theo tôi nhận thấy là đúng đến 60 – 70%, bạn vẫn phải đọc soát lại để sửa lỗi sai – tuy vậy, nó cũng đã khiến công việc của bạn nhẹ gánh đi rất nhiều; và có lẽ, Google vẫn luôn cải thiện thuật toán để khả năng chuyển đổi từ âm thanh sang chữ viết ngày càng chính xác hơn.

Thời còn học đại học, tôi cũng có một niềm vui nho nhỏ mà cũng là một cảm giác cơ cực nho nhỏ mỗi lần phỏng vấn nhân vật. Giống như thầy cô hay những anh chị đi trước thường nói: lúc phỏng vấn được một nhân vật kể những câu chuyện, nói những thông tin thú vị thì rất vui; nhưng rồi công đoạn xả băng sau đó khi về nhà cũng rất “phê”. Ban đầu, tôi không hiểu tại sao đã thu âm rồi lại còn ghi chép tốc kí trong sổ tay. Thế là có một lần, tôi không còn nhớ lúc đó đã phỏng vấn ai nhưng tôi chợt nghĩ mình không cần phải ghi chép lia lịa trong sổ tay nữa, cứ để điện thoại thu âm thôi và rồi hai tay để không, thư giãn đằng trước – một phép tâm lí mà sách ngôn ngữ cơ thể có giải thích là cho đối phương thấy bạn không phòng bị chút gì – mắt chăm chú nhìn nhân vật để họ biết rằng tôi luôn lắng nghe (tôi cũng cho rằng điều này sẽ tốt hơn thay vì cứ nhìn họ rồi lại cúi xuống nhìn cuốn sổ và hí hoáy ghi chép). Tôi không biết việc mình làm thế có giúp họ cởi mở hơn không khi chia sẻ, nhưng rốt cuộc sau đó, tôi mới nhận ra sự tai hại khi bước qua công đoạn xả băng. Tôi không thể xả băng (à, tôi mới chợt nhớ ra hình như một số người còn gọi công đoạn này là rã băng – tôi cũng thích cả cái tên này nữa, từ một khối âm thanh liền mạch thống nhất, ta rã băng giống như rã thức ăn đông lạnh để nó biến thành những từ riêng lẻ rõ ràng; rồi từ những từ đó, ta lại chế biến nó thành các món ăn văn bản khác nhau: một câu trích dẫn, một thông tin trong bài báo, tất tần tật các thể loại phi hư cấu; hoặc ta tiến hành bước chế biến sau chế biến – có lẽ gọi là siêu chế biến – để nó thành một văn bản trong thể loại hư cấu như truyện ngắn, tiểu thuyết…) ngay sau khi phỏng vấn vì bận việc gì đó; phải hai, ba ngày sau đó tôi mới thực hiện được công đoạn này – và khi đó, đã đủ thời gian để tôi quên thứ tự trước sau những lời họ nói. Tôi biết chắc rằng mình không thể lấy hết nội dung họ đã nói để đưa vào bài viết, chỉ có thể lấy một vài ý chính phục vụ, tôi nhớ họ có nói ý đó nhưng lại không nhớ ý đó xuất hiện trước hay sau và để tìm lại ý mình cần, tôi phải nghe một đoạn dài, trả tới trả lui file ghi âm mới tìm ra. Lúc đó, tôi mới nhận thấy việc ghi chép vào sổ tay sẽ giống như tạo ra một guideline – nhờ đó, tôi sẽ nhanh chóng tìm được đúng ý mình cần tìm hơn. Thế là từ đó về sau, tôi hầu như không bao giờ dám chểnh mảng nữa, việc ghi âm phải được tiến hành đồng thời với cả ghi chép. Nhưng ngày nay, với công cụ thông minh nhận biết giọng nói của AI, nếu rơi vào tình huống giống ngày xưa, tôi đã có cách rã băng theo kiểu mới. 

Ngẫm nghĩ lại thì năm nay, công việc chủ yếu tôi đã làm cũng có thể gói gọn trong hai chữ “ghi chép” – theo cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng. Nhiều tháng liền tôi đã ngồi ghi ghi chép chép lại những phần bài giảng mình tâm đắc trên MasterClass, edX, và các nền tảng giáo dục trực tuyến… Tôi chép nhiều đến nỗi hết cả hai cuốn sổ tay. Ấy thế nhưng cây bút bi Thiên Long màu xanh huyền thoại với số hiệu TL-023, ngòi 0.8 mm vẫn chưa chịu hết mực sau ba năm tôi sử dụng, mặc cho bao nhiêu cuốn sổ đã phải thay; vì là ngòi 0.8 mm nên nét của nó không thanh mảnh, khá to bè, tuy vậy tôi không hiểu sao lượng mực của nó có thể ra nhiều và đậm như thế, qua một thời gian dài vẫn chưa hết mực, mực vẫn tiếp tục đậm và ra đều – cũng chính bởi lí do này mà mặc dù tôi đã khá lăn tăn trước cây bút bi màu đen (và cả xanh) của Muji ngòi 0.5 mm thanh mảnh, viết rất êm tay, nét rất đẹp, cuối cùng tôi vẫn bỏ lại nó không mua vì nghĩ đến cây bút bi Thiên Long màu xanh còn ở nhà không hiểu bằng cách nào tồn tại được đến ba năm (và cả những cây viết Thiên Long khác còn nguyên trong một hộp khi mua sỉ bởi cây tôi đang viết ba năm rồi chưa hết mực nên những anh chị em khác tôi còn chưa có cơ hội đụng đến). Ngày hôm đó, khi còn trong cửa hàng Muji – cả đến khi đã ở quầy thanh toán, tôi vẫn có chút tiếc nuối khi quyết tâm không mua bất kì một cây viết nào dù ưng ý ra sao, bởi lẽ tôi biết rằng chắc phải rất nhiều năm nữa tôi mới quay lại cửa hàng Muji – tôi chẳng có lí do gì để quay lại đó cả, thứ cần mua nhất tôi đã mua xong. Thế nhưng khi về nhà, lúc lại có việc cần ghi chép, tôi cầm cây bút Thiên Long và quyển sổ tay để sẵn gần máy tính lên để làm việc – ngay khi đó, tôi thấy mình không có gì phải hối hận nữa cả. Vẫn như bao lần, mực vẫn đậm lè đậm lét, đậm đến mức tôi thấy nó không có chút thẩm mĩ nào (thật khác xa so với nét thanh mảnh yêu kiều của cây Muji 0.38 hay 0.5 mm), đậm đến mức nếu không may lỡ chạm tay vào phần vừa viết xong thì mực sẽ lem vào tay tôi (nhưng tôi đã quá quen với việc sử dụng nó nên tai nạn này không còn xảy ra thường xuyên nữa). Vậy mà không hiểu sao tôi lại thấy hài lòng và có chút xúc động. Nó vẫn bền bỉ, đáng tin cậy và hữu dụng như thế. Đến bây giờ, tôi vẫn không thể hiểu phép thần kì nào có thể khiến cho một cây viết sử dụng được lâu như vậy – những ba năm – mà trong suốt ba năm đó, tôi lại viết rất nhiều, hết cuốn sổ này đến cuốn sổ khác. Tôi đã không tiếc gì mà không dùng nó. Có việc gì cần tôi cũng lấy nó ra để viết vì tôi mong cho nó mau mau hết mực để tôi còn được dùng các cây viết khác đẹp hơn cả về nét lẫn kiểu dáng bên ngoài. Cây viết này vốn đã chẳng có một ý nghĩa đặc biệt nào với tôi. Nó chỉ là một cây viết bình thường. Chẳng phải giống như trong một bộ phim hay một câu chuyện, có ai đó mua tặng nó cho tôi vào dịp đặc biệt, tôi rất trân quý nó và cố gắng sử dụng nó càng lâu càng tốt. Không, không một điều nào trong những điều trên có thể áp dụng vào trường hợp này mà tất thảy đều ngược lại hoàn toàn. Nó chỉ là một cây viết hết sức bình thường – tôi đã viết câu này đến lần thứ hai rồi để nhấn mạnh sự bình thường của nó. Ban đầu, tôi thậm chí còn đã sử dụng nó với một chút hậm hực – tại sao tôi lại phải viết một cây viết có nét xấu như thế này? Ngòi 0.8 mm là quá to và dày. Nhưng vì công việc, tôi bắt buộc phải sử dụng nó. Tôi đã chẳng có một chút thương hoa tiếc ngọc nào. Tôi dùng nó tàn bạo ngày qua ngày. Nhưng bất kể là lúc tôi đang vui hay buồn, tâm trạng thoải mái hay bực dọc, nó vẫn cần mẫn đáp ứng các tác vụ của tôi một cách đều đặn như người làm việc chuyên nghiệp, không hề có chút phản kháng bằng những lần bỗng dưng viết mà mực không ra – tôi nhớ mình chưa từng phải vung vẩy nó một cách tức giận trong không trung để mực chảy xuống phía ngòi, cũng chưa từng phải hoang phí một tờ giấy nào để quẹt lung tung lên đó hòng cho mực quay trở lại – nó không hư hỏng như nhiều cây viết khác tôi từng viết. Có một thời gian, tôi rất thích sưu tầm viết bi các loại ở tầm giá bình dân – trung bình (hàng cao cấp tôi không bao giờ đụng đến, tôi chỉ thích dùng những thứ thực dụng, lâu bền; không thích dùng những đồ hoa mĩ đắt tiền nhưng mau hư). Tôi mua một loạt nhiều cây viết khác nhau trong tầm giá đó ở nhà sách để trải nghiệm. Nhưng rốt cuộc, có rất nhiều cây viết nét thanh mảnh, kiểu dáng đẹp nhưng chỉ viết được trong khoảng thời gian đầu, đến một lúc nó sẽ xảy ra tình trạng mực không ra đều, nét được nét mất khiến tôi phải làm rất nhiều biện pháp triệu hồi mực quay về lại đầu ngòi bút như vừa kể trên. Điều này với tôi thật khó hiểu vì có nhiều cây tôi chỉ viết được một, hai tuần khi nhìn vào ống mực, tôi thấy mực vẫn còn đậm và dài cả khúc, khoảng cách từ đuôi mực đến đầu ngòi bút vẫn còn khá xa, chưa rút về hết; ấy thế mà dù nhiều cây còn đang trong tình trạng đó, có cố gắng làm bao nhiêu lần mực vẫn không ra lại; qua một thời gian cố gắng thử nhiều cách mà không được, tôi đành phải bỏ dù tiếc mực trong cây viết. Từ đó, đối với tôi, việc dùng được cây bút nào đó trong một năm, thậm chí là nửa năm cũng đã quá đỗi thần kì rồi. Vậy mà bỗng dưng tôi lại được dùng cây viết Thiên Long này – ba năm rồi chưa hết mực (cũng có thể ngay khi tôi viết xong những dòng này, vào ngày mai nó hết mực không chừng).

Khởi điểm, TL-023 mà tôi đang sử dụng vốn chẳng có điều gì đặc biệt gắn liền với nó. Nhưng chỉ bằng một việc đơn giản là nó đã ở bên cạnh tôi khoảng thời gian quá lâu; những ngày này, khi cầm nó trên tay, khi viết mà mực vẫn ra đều, tôi bỗng cảm thấy nó đặc biệt – không biết từ lúc nào, cảm giác đặc biệt đó lại hình thành. Nghĩ lại thì, nó đã cùng tôi trải qua ba năm đầy biến động trong cuộc đời, nó chứng kiến mọi buồn vui và nắm rõ mọi mưu cầu tri thức của tôi. Trong năm 2019, nó đã cùng tôi viết lại những câu trích dẫn từ sách, những suy nghĩ thoáng qua của tôi khi đọc sách – để rồi từ những ghi chép vụn vặt, nó trở thành một bài review sách hoàn chỉnh. Trong năm 2020 và 2021, nó cùng tôi lưu giữ lại những ý tứ thú vị, những kiến thức bổ ích trong quá trình tôi học nhạc trên MasterClass, edX… Nó đã giúp tôi tiết kiệm rất nhiều tiền mua bút; trong ba năm vừa qua, tôi không phải tốn một xu nào để mua bút nữa. Nghĩ lại thì, đúng là nó đã làm việc vất vả cùng tôi. Dù tôi còn muốn đồng hành với nó trong một thời gian dài nữa, tôi cũng hiểu một điều là không cây bút nào sẽ tuôn mực mãi mãi như một dòng chảy vĩnh cửu. Sẽ đến lúc nó đình công, sẽ đến lúc nó dừng lại. Có thể ngày mai hoặc ngay bây giờ. Nhưng tôi sẽ mỉm cười chấp nhận – đương nhiên, nếu không chấp nhận thì phải làm sao. Vào đầu năm ngoái, ở phần giới thiệu bản thân trên Facebook tôi đã sửa lại là “0” (phần giới thiệu cũ là Replaceable – tôi cũng muốn viết một chút về dòng chữ này nhưng viết ra thì nó sẽ khá lan man, dài dòng nên tạm thời bỏ qua) – bởi vì lúc đó tôi đã quyết tâm sẽ học nhạc nghiêm túc để có thể làm một bài nhạc hoàn chỉnh nên cảm thấy như mình bắt đầu lại hoàn toàn từ con số 0. Thời gian đầu tiên, con số 0 đó khiến tôi có nhiều cảm xúc lẫn lộn: vừa háo hức, vừa trống rỗng, sợ hãi, hoang mang, xen lẫn niềm vui, hạnh phúc, buồn bã, có khi phấn khích đến nỗi thức cả đêm làm nhạc hoặc học qua video bài giảng, nhưng cũng có những lúc lại nghẹn ngào rưng rưng vì không biết mình nên làm gì, sẽ làm gì. Sau hai năm, đến thời điểm hiện tại, có lẽ tôi đã dần bước qua giai đoạn đó. Khi nhìn lại, tôi cũng giật mình nhận ra đã hai năm rồi mình chuyên tâm học nhạc (dù tôi muốn chuyên tâm 100% nhưng thật khó để đạt được điều đó, tự đánh giá mức độ chuyên cần của mình tôi nghĩ nó chỉ ở tầm 60% – nghĩa là kiến thức và kĩ năng tôi hiện đang có, nếu rơi vào tay một người chuyên tâm hơn thì họ chỉ mất khoảng một năm hoặc ít hơn để đạt được). Điều đó cũng có nghĩa là hai năm rồi tôi không thực sự đọc sách, không thực sự viết; nhưng bù lại để kiếm tiền học nhạc (cho tương lai) và mua nốt một số món đồ còn thiếu (headphone, loa kiểm âm – tôi lập kế hoạch từ đầu năm ngoái rồi), năm nay lại là năm tôi dịch khá nhiều nếu so với tôi của các năm về trước – hai quyển sách trong thời gian ba tháng, dịch đến nỗi xong quyển thứ hai là vai tôi ê ẩm – cơn đau không phát ngay lập tức mà đến sau đó khoảng một, hai tuần. Đúng là niềm vui hoàn tất việc dịch không thể trọn vẹn khi vừa dịch xong, mình lại phát bệnh nhưng cũng qua chuyện này, tôi thấm thía hơn một điều quá đỗi hiển nhiên: sức khỏe là quan trọng nhất, cả về tinh thần lẫn thể chất. Những năm về trước, tôi chỉ bị suy sụp một trong hai cái nên không thấm thía được điều này; năm vừa qua, có những thời điểm cả hai thứ cùng bị sụp đổ khiến tôi cảm giác rất kinh khủng mà vốn dĩ tôi đã định viết nó ra trong bài tổng kết cuối năm – nhưng rốt cuộc, việc chỉ hồi tưởng về nó cũng khiến tôi thấy mệt mỏi nên tôi quyết định không viết nữa. May mắn là tôi đã tạm vượt qua được các vấn đề về tinh thần trước khi đối diện cơn đau vai và tay lần này – tôi đã không hình dung được việc đau ở hai bộ phận này lại có thể dẫn đến cảm giác căng tức ngực và khiến mình có những giây phút tuyệt vọng như thế; nếu tôi đón nhận nó cùng với đợt khủng hoảng tinh thần hồi tháng 10 thì không biết sẽ ra sao. Nhưng bây giờ, tôi đã có lại một chút tinh thần – vẫn chưa quá nhiều đến mức tràn trề năng lượng để hăng hái làm việc này, việc kia nhưng là vừa đủ để tôi tự nhủ những câu nói tích cực cho mình mỗi khi lại có suy nghĩ tiêu cực, đủ để cố gắng sinh hoạt điều độ hơn trước và tập bài giãn cơ mỗi ngày với hi vọng một lúc nào đó nó sẽ hết đau, hết biểu tình và tôi lại có thể thoải mái ngồi đàn, gõ bàn phím, tay cầm sách đọc hoặc làm những việc khác đòi hỏi sự chia đều hoạt động ở hai cánh tay. Bây giờ, tôi phải tạm thời giới hạn bản thân không được đàn hay gõ quá nhiều mỗi ngày (cũng chính vì vậy mà tôi đã phải mất ba ngày để gõ đến đây cho bài viết này, gõ từ năm cũ sang năm mới – có thể lúc trước, tôi chỉ mất mấy tiếng gõ liên tục là xong), bởi khi để tay ở tư thế gõ phím hay đánh đàn, phần khuỷu tay trái của tôi sẽ nhanh mỏi và đôi khi là cảm thấy đau chỉ sau vài phút.

Năm nay (ý tôi là năm vừa qua – tôi vẫn chưa kịp thích nghi được trong cách dùng từ ngữ), sau khi tạm thời vượt qua được những giây phút khủng hoảng tinh thần cao độ, tôi đã đổi dòng giới thiệu bản thân từ “0” thành “I always have myself” – đây cũng là một câu giới thiệu đã cũ, trước đây tôi viết trên Instagram, nhưng câu cũ thì có kèm theo chữ “but”, “but I always have myself”. Chỉ thêm mỗi chữ “but” thôi nhưng câu cũ thành ra lại đáng thương hơn hẳn, kiểu giống như một câu dùng để an ủi bản thân khi quá cô đơn rằng “nhưng lúc nào thì mình cũng có chính mình cơ mà”; mặc dù câu ấy còn có nhiều ý nghĩa khác nữa. Tôi đã quá chán ngán việc tỏ ra bản thân mình đáng thương rồi; đương nhiên, tôi cũng chán ngán luôn cả việc ở khía cạnh ngược lại: tỏ ra mình quá ổn, quá tích cực để không làm phiền mọi người xung quanh, để giữ mọi thứ nếu không ở trạng thái tích cực thì cũng là trung tính. Vậy nên, tôi muốn bỏ chữ “but” trong câu giới thiệu ngày xưa. “I always have myself” – đơn giản là như thế. Đó vừa là câu khẳng định, vừa là mong ước duy nhất của tôi lúc này. Năm 2021 khiến tôi nhận ra những mơ ước trước kia của mình không còn quá thiết yếu nữa; hoặc để thực hiện những ước mơ kia, chí ít và tối thiểu là tôi phải có điều này trước. “Tôi luôn có chính bản thân mình” – tưởng chừng là một điều luôn hiển nhiên đúng với bất kì ai, nhưng qua năm vừa rồi, tôi nhận ra không phải như thế – chí ít là với tôi; đôi khi, người ta phải thực sự nỗ lực, cố gắng mới đúng được với câu đó. “Tôi luôn có chính bản thân mình” – ở đây là toàn vẹn bản thân, khỏe mạnh về cả thể chất lẫn tinh thần. Tôi nhận ra đã có những thời điểm tôi có chính bản thân mình nhưng lại không biết quí trọng điều đó – vì tôi cho đấy là điều hiển nhiên, thế là tôi lại tìm kiếm giải pháp từ những điều nằm bên ngoài. Để rồi khi bị bệnh về tinh thần hoặc thể xác, mà đặc biệt là về tinh thần, người cô đơn vẫn còn hơn người mắc bệnh tâm lí ở chỗ họ luôn có chính bản thân mình, còn người mắc bệnh tâm lí thì không, họ không thể có 100% chính họ, họ chỉ có 60, 70% là họ hoặc ít hơn thế. Và rồi tôi nhận ra, những năm vừa qua tôi không hề yếu đuối về mặt tinh thần như mình nghĩ (hoặc như mọi người nghĩ) bởi lẽ dù buồn như thế nào, tôi luôn có 100% bản thân mình, tôi biết mình đang nghĩ gì và tôi biết vì sao mình buồn, cũng biết cách chung sống hòa bình với nó, tôi chưa bao giờ đánh mất bản thân mình cả. Nhưng vào tháng 10 năm vừa rồi, nếu cho tôi định lượng một cách toán học để dễ hình dung, tôi nghĩ mình đã chỉ có 70% bản thân mình, hoặc có khi là 60%; lần đầu tiên tôi mới có cảm giác mình đang dần đánh mất mình, giống như câu mở đầu kinh điển trong cuốn Nghệ sĩ hình thể của Don DeLillo mà tôi rất thích: “Tôi là Lauren nhưng ngày càng ít đi.” (I’m Lauren. But less and less.) Một câu giới thiệu nhân vật không thể ngắn gọn, súc tích mà gây ấn tượng mạnh mẽ hơn thế nữa. Với tôi đây là một (trong tiếng Anh thực chất là hai, nhưng thôi cứ xem là một) câu văn thiên tài, tôi ấn tượng câu văn này ngay lần đầu tiên đọc cách đây mười năm và cứ nhớ mãi; mỗi khi có dịp nói chuyện về chủ đề văn chương, vào ngữ cảnh thích hợp là tôi cứ lôi câu này ra khen lấy khen để, giới thiệu cho bạn bè đọc cuốn này nếu họ chưa đọc. Câu này có một vị trí đặc biệt với tôi – có thể vì tôi chưa đọc sách đủ nhiều để tìm một câu khác hay hơn. Thú thật, tôi không còn nhớ nội dung toàn bộ quyển sách này, chỉ nhớ đúng mỗi câu văn đó; nhưng trong kí ức mơ hồ của tôi, tôi nhớ khi đọc xong quyển này mình cũng có cảm giác hài lòng, nhớ rằng mình cũng thích không khí, văn phong của Don DeLillo và cũng tự nhủ bản thân nếu có dịp thích hợp thì sẽ đọc thêm một tác phẩm nào đó khác của ông (đến nay, đó vẫn là cuốn duy nhất của ông tôi được đọc). Tôi chỉ không ngờ là cuối cùng, đến năm 2021, tôi mới thực sự thấm thía cảm giác mình ngày càng ít là chính mình hơn, tựa như bản thể của tôi biến thành một lớp layer trong phần mềm đồ họa nào đó và người thiết kế cảm thấy sự có mặt của tôi trong tổng thể bức tranh không cần quá tô đậm nên đã kéo phần Opacity từ 100% dần dần xuống 70 hay 60%. Đó thực sự là một cảm giác không dễ chịu chút nào khi cứ phải đối mặt với hình ảnh tưởng tượng chi tiết và các tiếng kêu gọi thúc giục trong đầu dù tôi thực sự đã không hề có những suy nghĩ đó. Lần đầu tiên tôi đã lún xuống một cái hố sâu đến nỗi tự mình không thể ngoi lên được mà phải cầu cứu sự trợ giúp của bạn bè dù bình thường, tôi vốn không phải là người thích làm phiền người khác. Và tôi thực sự rất biết ơn sự giúp đỡ mình đã nhận được vào thời điểm đó. Xin dành một dòng ở đây để tri ân và cảm ơn.

Bây giờ, không hẳn là tôi đã có 100% chính mình như những năm về trước, nhưng tôi cảm giác mình cũng đã hồi phục được 90 – 95%; như thế là đủ tinh thần để tôi tiếp tục cố gắng điều trị, tập luyện cho đến khi cơn đau quanh khớp vai, khuỷu tay và lồng ngực biến mất. Tôi đã định chỉ viết vòng vo về cây bút Thiên Long và Muji rồi kết bài; nhưng rốt cuộc lại tràn lan qua câu chuyện “I always have myself” – tuy nhiên, tôi sẽ không tự trách mình vì đã viết dài dòng thêm ý đó ở đây bởi nó là câu, là điều khi có dịp, tôi đã luôn ngẫm nghĩ, phân tích (thực ra, đây cũng là một câu trích dẫn tôi yêu thích từ trong tác phẩm nào đó tôi không nhớ tên, nguyên văn của nó hình như là: “Sao con người có thể nói mình cô đơn khi họ luôn có chính bản thân mình? Tôi không có một ai cả, không một ai… nhưng tôi luôn có chính bản thân mình.”). Trên máy bay vẫn thường có hướng dẫn tự đeo mặt nạ oxy cho mình trước rồi mới cho người khác – tầm quan trọng của việc luôn có 100% bản thân mình cũng giống như vậy. Đầu tiên, cơ bản nhất là sức khỏe thể chất, có sức khỏe thể chất mới có thể giúp người khác dù là giúp ở khía cạnh thể chất hay tinh thần bởi khi phải đối diện với những cơn đau thể xác của chính mình, người ta thường sẽ chỉ tập trung vào cơn đau đó mà không để ý (hay không còn sức lực để quan tâm) đến cơn đau của người khác; đau đớn thể xác cũng dễ làm ta cáu bẳn hoặc có những suy nghĩ bi quan. Tiếp theo là sức khỏe tinh thần, nếu không có đủ 100% tinh thần vững vàng thì khó lòng có thể giúp đỡ một người gặp vấn đề tâm lí dù mình rất muốn. Với những áp lực cuộc sống ngày nay, tôi nghĩ cũng không có quá nhiều người thực sự có 100% tinh thần – vậy chẳng lẽ phải đợi đến khi mình cảm giác trọn vẹn hoàn toàn mới nâng đỡ được tinh thần người khác? Câu trả lời có lẽ sẽ khác nhau tùy mỗi người nhưng với tôi thì cũng không cần thiết phải như vậy, miễn là về cơ bản bạn phải làm chủ được cảm xúc, tinh thần của chính mình, phải kiểm soát được nó ở mức trên 50%, đừng để con số này xuống thấp quá, nếu nó xuống thấp hơn mức đó – nghĩa là hơn phân nửa thời gian, bạn cảm thấy mình không thể kiểm soát chính mình thì cần cẩn trọng trước khi quyết định giúp đỡ ai đó đang có nhiều suy nghĩ tiêu cực vì việc này giống như con dao hai lưỡi; nếu may mắn thì phần trăm tinh thần của cả hai được nâng lên, nhưng thường thì sự tiêu cực của cả hai sẽ được cộng hưởng và lại đẩy mức phần trăm xuống thấp hơn. Đây chẳng phải là bài học mới mẻ gì mà tôi mới biết trong năm 2021, nhưng nhiều năm về trước, tôi vẫn luôn có ảo tưởng hay hi vọng rằng dù tinh thần đang không vững vàng, mình vẫn có thể giúp đỡ những người khác đang trong cảnh tương tự và cả hai cùng tiến lên. Nhưng nay tôi nhận ra rằng việc đó quá khó khăn, nếu muốn giúp người khác thì tôi phải nâng năng lượng tinh thần của mình lên một con số ổn định trước đã – tối thiểu nó phải ở mức 70 – 80% thì tôi mới đỡ sợ sự tiêu cực của mình tác động ngược lại lên sự tiêu cực đã sẵn có trong người ta.

Ngẫm nghĩ lại, việc tôi đột nhiên viết về cây bút bi Thiên Long TL-023 ngòi 0.8 mm mà tôi đã sử dụng suốt ba năm qua cũng có chút liên quan đến cốt lõi tinh thần tôi trong năm 2021 và mong ước dành cho 2022. Tôi mong sức khỏe tinh thần và thể chất của mình có thể ổn định như nó – bất kể khi nào cần là dùng được ngay với hiệu suất ổn định, mượt mà, không gặp trục trặc hay lỗi kĩ thuật nào và có thể kéo dài vòng đời hơn dự kiến – chỉ để tôi có thể ở lại đây thêm chút nữa, làm những việc tôi muốn làm, yêu thêm cuộc đời này, giúp đỡ ai đó trong khả năng có thể nếu họ cần sự giúp đỡ của tôi.

PS:

Nhưng mà, Muji dùng cũng rất ổn định. Tôi đã được một người bạn tặng cây Muji mực đen 0.5 mm. Vì nét của cây này quá đẹp nên tôi chỉ dùng nó cho đúng mỗi việc kí tặng sách. Hình như tôi đã dùng nó trong khoảng hai năm, cho đến năm ngoái khi học lớp “Lược sử âm nhạc”, có một số ngày tôi quên bỏ cây Thiên Long vào lại hộp bút (vì về nhà đã bỏ ra ngoài để ghi chép lúc xem MasterClass hay xem gì đó) nên tôi dùng luôn cây Muji nét đẹp đó để chép lại bài giảng trong tập (nghĩ lại thì hơi phí phạm) và chỉ sau hai, ba buổi chép lia lịa như thế, nó hết sạch mực. Nếu không thì tôi nghĩ mình sẽ còn dùng được nó lâu hơn. Ngay lúc tôi nghĩ mình phải chia tay Muji rồi thì lại tình cờ gặp bạn, bạn lại tặng tôi Muji mực đen nhưng lần này là ngòi 0.38 mm. Nét 0.38 mm lại càng thanh mảnh hơn 0.5 mm, mỗi cái đều có một vẻ đẹp riêng nhưng cái nào viết cũng trơn mượt, cầm thích tay, hiệu suất ổn định – chỉ có điều, vòng đời của nó vẫn không thể nào dài một cách khó hiểu như cây Thiên Long tôi đang dùng. Sau một hồi dông dài, tóm lại là tôi vẫn thích cả hai.

Kodaki

Bạn có thể mua bút Thiên Long TL-023 ngòi 0.8 mm theo đường dẫn ở dưới đây:

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Goodnight Mommy: Tiếng hát ru từ bóng tối điêu linh

Published

on

By

Dù không phải là người xem nhiều phim kinh dị, Ich seh, Ich seh (Goodnight Mommy) vẫn là phim khá dễ đoán và không có nhiều sáng tạo với tôi. Tôi nghĩ rằng có lẽ những ai đã từng xem qua A tale of two sister (2003) của đạo diễn Kim Jee Won đều sẽ cảm thấy Ich seh, Ich seh không mới. Twist lớn nhất của phim là việc Lukas đã chết được tiết lộ rất rõ ràng qua những hình ảnh ngay từ đầu phim.

Cái chết được thông báo một cách tinh tế

Ich seh, Ich seh mở đầu bằng tiếng hát ru của một dàn hợp ca trong nền màn hình vẫn còn tối. Khung hình dần sáng và chúng ta thấy được những em bé đang đứng hát, chúng ta biết đây là những hình ảnh trong một chương trình truyền hình. Màn hình dần chuyển sang tối và lại chuyển sáng với khung cảnh đồng lúa ngô quay từ trên cao, hai anh em sinh đôi chạy rượt đuổi, len lỏi qua những bụi cây. Phim dành khá nhiều thời gian cho cảnh hai anh em nhún nhảy trên một mảnh đất nứt nẻ, có độ xốp và độ đàn hồi cao. Sau đó, hai cậu chạy đến một cửa hầm, một cậu vào hầm trong lúc một cậu đứng ngắm nhìn bụi cây. Tại đây, bộ phim xuất hiện câu thoại đầu tiên khi cậu bé đứng ngắm bụi cây không thấy người anh em còn lại của mình đâu, cậu chạy đến trước cửa hầm gọi lớn: “Lukas, Lukas, Lukas…” Chúng ta biết cậu bé đã đi qua cửa hầm là Lukas. Sau khi gọi tên Lukas rất nhiều lần nhưng không nhận lại được bất kì sự hồi âm nào, cậu bé còn lại đứng tần ngần trước cửa hầm rất lâu. Đây là một cảnh trung với hình ảnh cậu bé nhỏ nhoi, đơn độc trước cửa hầm đen tối choán cả khung hình. Cảnh này diễn ra có lẽ chừng 7, 8 giây – một thời gian dừng lại đủ lâu để ta nhận thấy ắt hẳn phải có dụng ý. Và rồi cậu bé còn lại đi qua cửa hầm, màn hình tối đen hoàn toàn, chúng ta có thể nghe được tiếng gì đó tựa như tiếng tàu chạy trên đường ray rất nhỏ.

Màn hình lại chuyển sáng và chúng ta thấy khung cảnh một cậu bé sinh đôi nằm trên tấm ván đen đang lướt chầm chậm giữa hồ. Đó là một cảnh toàn. Mặt hồ rất trong và tấm ván rất đen đến nỗi ta không thể thấy được lằn ngăn cách giữa cậu bé đang nằm trên tấm ván và bóng hình cậu bé phản chiếu dưới nước. Ta cảm thấy như hình và bóng của cậu bé dính liền với nhau mà không có sự phân chia giữa tấm ván và mặt nước. Qua thị giác, ta cảm thấy như thể đang có hai cậu bé; nhưng thực chất, bằng lí trí ta biết là chỉ có một cậu bé. Đến đây, tôi đã hiểu là có một cậu bé chết rồi, có thể đó là Lukas và cậu chết ngay thời điểm đi qua cửa hầm hoặc trong giây phút nào đó khi cậu bé còn lại đứng tần ngần trước cửa. Cửa hầm mà từ bên ngoài chúng ta không nhìn thấy bất cứ thứ gì như tượng trưng cho cánh cửa dẫn đến địa ngục, là cầu nối giữa sự sống và cái chết. Hình ảnh cậu bé nằm trên mặt hồ khiến hiện thực như có gì đó sai lệch giữa hình và bóng, giữa thực tế và ảo ảnh đã đưa ra gợi ý khá rõ ràng cho người xem: cậu bé còn lại giờ đây đã đơn độc nhưng vẫn tìm được sự kết nối với người đã chết, hai cậu không thể tách rời nhau như hình với bóng. Lúc này, tôi nghĩ thầm trong đầu với sự thán phục rằng phim thật tinh tế, chỉ bằng những hình ảnh đơn giản như thế đã đủ khiến người xem hiểu được có một trong hai cậu bé chết rồi. Ich seh, Ich seh mở đầu thật hứa hẹn và tôi đã chờ đợi bộ phim làm được nhiều hơn thế.

Với những ai chưa đoán ra thông tin Lukas đã chết, bộ phim cũng cung cấp rất nhiều gợi ý cho người xem trước khi việc này được tiết lộ rành mạch qua lời người mẹ ở cuối phim. Gần nửa đầu phim, chúng ta chỉ toàn nghe cậu bé còn lại gọi tên Lukas. Cái tên Lukas được gọi lên liên hồi rất nhiều lần, chúng ta biết được tên Lukas từ rất sớm trong khi chúng ta không biết tên cậu bé còn lại, mãi đến gần giữa phim, chúng ta mới biết cậu bé còn lại tên là Elias. Đây là một dụng ý rõ ràng. Thông thường, những gì được gọi đến nhiều hơn là những gì đã mất đi và chúng ta gọi nó với sự hối tiếc. Con người là thế, luôn trân trọng những gì đã mất và mấy ai nhận ra cái chưa mất đi cũng đáng trân trọng không kém. Chi tiết này phần nào đó tương tự như thế. Ngoài ra, còn một chi tiết nữa dễ nhận ra hơn là Lukas không bao giờ trực tiếp nói điều cậu muốn nói với bất kì ai ngoại trừ Elias. Khi chỉ có cậu và Elias, cậu sẽ trò chuyện bình thường. Nhưng khi có người ngoài xen giữa cậu và Elias, cậu sẽ chỉ trao đổi với Elias; khi muốn nói bất kì điều gì với người ngoài, cậu sẽ nói nhỏ qua tai Elias, sau đó Elias nói lớn lại cho người kia biết. Trong phim, ngoài những cảnh trò chuyện với người mẹ mà một số người xem có thể bị đánh lừa việc bà lờ Lukas đi là do đang giận cậu thì chúng ta còn có những cảnh sau để thấy rõ điều này: cảnh hai anh em chạy đến nhà thờ và nói chuyện với người thanh niên đang quét dọn ở đây, cảnh hai anh em đối phó với người của hội chữ thập đỏ.

Tôi đã đọc qua một số ý kiến bình luận của khán giả xem phim tại IMDB, trang web của Roger Ebert, trang Rotten Tomatoes và nhận ra là có rất nhiều người cũng đoán biết trước việc Lukas đã chết qua những phút đầu tiên của phim hoặc qua một số chi tiết cứ lặp đi lặp lại suốt phim. Vì vậy, họ không cảm thấy bất ngờ khi người mẹ tiết lộ việc này ở hồi ba của phim. Có một số khán giả thậm chí còn bình luận rằng việc Lukas đã chết thậm chí không thể xem là twist của phim. Nếu dụng ý của Franz và Fiala là để chi tiết này làm twist thì tôi cho rằng đây là thất bại vì rất nhiều người đã đoán ra việc này từ sớm; tôi đã chờ đợi cú twist phải là một điều khác, hoặc ngược lại với những gì tôi đã dự đoán. Cũng có khả năng, Franz và Fiala không muốn tạo kịch tích qua tình tiết này mà chỉ muốn người xem tập trung vào câu chuyện nên họ không quan trọng liệu người xem có đoán được quá sớm hay không.

Mầm mống bạo lực của Elias đến từ đâu?

Ich seh, Ich seh có cấu trúc đảo chiều khá thú vị: nửa đầu phim được kể với góc nhìn của hai đứa trẻ mang không khí kinh dị, nửa cuối phim được kể với góc nhìn của người mẹ mang không khí hiện thực. Nửa đầu phim có thể sẽ khiến khán giả đồng cảm, thương hai anh em sinh đôi và căm giận người mẹ, nửa cuối phim có thể sẽ khiến khán giả có cảm xúc ngược lại. Tôi nghĩ có lẽ Franz và Fiala sẽ mong muốn khán giả đồng cảm với cả hai bên sau khi bộ phim kết thúc. Tuy nhiên, tôi không thể nào đồng cảm với hai cậu bé sinh đôi. Với tôi, phim đã xây dựng thất bại mặt tâm lí của hai đứa trẻ và chỉ thành công với người mẹ. Khi phim kết thúc, có lẽ rất nhiều người sẽ nhận ra thông điệp cảnh tỉnh về tình trạng thờ ơ, thiếu sự quan tâm, thấu hiểu giữa bố mẹ và con cái được thể hiện khá rõ ràng. Tuy nhiên, thông điệp của Ich seh, Ich seh sẽ có sức mạnh hơn nếu như phim khiến người xem đồng cảm với hai anh em sinh đôi hơn, đặc biệt là với Elias. Dưới đây, tôi sẽ phân tích một số điểm yếu hoặc bất hợp lí trong cách xây dựng tâm lí của hai đứa trẻ.

Khi phim kết thúc, người xem có thể hiểu rằng do cú sốc tinh thần về cái chết của Lukas đã khiến Elias bị mắc bệnh tâm thần, cậu không kiểm soát được những ảo ảnh và hành vi bản thân; vì vậy, hành động tra tấn và giết mẹ ở cuối phim của cậu là hoàn toàn có thể cảm thông. Nhưng tôi vẫn cảm thấy cậu không đáng để cảm thông bằng người mẹ. Ngay từ đầu, phim đã cho người xem thấy tâm lí không bình thường của hai đứa trẻ qua sở thích kì lạ: sưu tầm những con rệp và bỏ vào trong chiếc hộp chứa đất, giả định rằng đó là môi trường sống của con rệp. Hai cậu bé đặt chiếc hộp này ngay trong phòng ngủ. Tôi không kì thị những người yêu côn trùng nhưng xét trên bình diện chung, những đứa trẻ thường sẽ không có sở thích này. Rõ ràng, qua việc chọn cho hai đứa bé sở thích hơi khác biệt với số đông, Franz và Fiala đã ngầm gieo vào tiềm thức khán giả rằng hai cậu bé này có sự lập dị. Tôi sẽ không đánh đồng sở thích với tính lập dị chỉ với chi tiết này, nhưng Franz và Fiala không dừng ở đây. Hình ảnh con rệp lặp đi lặp lại xuyên suốt phim; trong đó, có hai hành động trong giấc mơ của Elias đáng chú ý là: việc cậu để con rệp bò lên người mẹ cậu rồi chui tọt vào miệng bà, việc cậu rạch bụng mẹ và rất nhiều con rệp bò ra từ bụng bà. Tuy rằng, hai hành động này chỉ diễn ra trong giấc mơ và lại vào thời điểm mẹ cậu còn băng kín khuôn mặt, cậu nghi ngờ đó không phải là mẹ nhưng chúng ta có thể thấy nó ẩn chứa sự gian ác, mầm mống của bạo lực ngay trong tiềm thức cậu. Hai hành động ấy rất khác với cách hành xử bình thường của trẻ con khi nghĩ rằng một người lạ nào đó đang giả dạng mẹ chúng. Nếu một đứa trẻ không có mầm mống bạo lực, cách xử sự của chúng có thể khác nhau tùy theo tính cách nhưng việc làm tổn thương đến người khác không phải là việc đầu tiên chúng nghĩ đến. Phản ứng thông thường của chúng sẽ là khóc thét lên, nhưng ở đây, Elias đã đủ lớn để kiềm chế cảm xúc nên phương án này bị loại bỏ. Phương án thích hợp hơn là dò hỏi những người thân khác về người xa lạ đó. Tôi nghĩ Elias hoàn toàn có thể gọi điện hỏi bố hoặc bất cứ người thân, họ hàng nào trong gia đình về mẹ cậu, về lần cuối cùng họ nhìn thấy mẹ cậu và có thể một ai đó sẽ biết được ý định phẫu thuật thẩm mĩ của bà rồi nói lại cho cậu biết. Nhưng bộ phim đã bỏ qua phương án đó, hoặc Elias không thể nghĩ đến cách nào khác hơn để tìm người mẹ thật ngoài việc tra tấn người mà cậu nghĩ là mẹ giả. Như vậy, rõ ràng mầm mống bạo lực đã có trong cậu. Mầm mống ấy từ đâu ra? Có phải mẹ cậu đã gieo vào cho cậu không? Nếu đúng là mẹ cậu đã gieo vào cho cậu thì bộ phim thành công trong việc phản ánh thông điệp sự vô tâm của các bậc phụ huynh dẫn đến hành vi bạo lực của con cái. Thế nhưng, ta hãy thử khảo sát lại một số tình tiết trong phim để xem có đúng là mẹ cậu đã gieo vào cậu sự bạo lực không.

Ở đầu phim, mẹ cậu đã đưa ra một số qui tắc cho cậu: phải đóng kín rèm vào ban ngày; mẹ sẽ luôn ở trong phòng, khi có việc gì cần, cậu phải gõ cửa trước khi vào; nếu có khách đến nhà tìm mẹ thì bảo rằng mẹ không có nhà; không đi chơi quá xa ngoài khu vực nhà; không để bất cứ động vật nào trong nhà. Vì những qui tắc này, cậu bắt đầu nghi ngờ rằng người đang bó băng kín mặt nói chuyện với mình không phải là mẹ, bởi với cậu: “Trước đây, mẹ luôn dịu dàng và chăm sóc mình, mẹ chẳng có bất kì đòi hỏi nào vô lí. Mẹ không cấm mình để động vật trong nhà. Người này không phải là mẹ mình.” Như vậy, trước đây, người mẹ này không đối xử bạo lực với cậu; có thể như bao người mẹ khác, bà sẽ chỉ trừng phạt cậu một cách nhẹ nhàng khi cậu có sai phạm; dù là thế nào thì suy nghĩ đó của cậu cũng đồng nghĩa với việc bà không gieo vào cậu bất cứ kí ức tồi tệ nào trước đây. Vì mẹ đã từng đối xử rất tốt với Elias nên Elias nghi ngờ khi bà có biểu hiện thay đổi. Trong những qui tắc bà đặt ra cho Elias, chỉ có hai qui tắc ảnh hưởng trực tiếp đến cậu: “không đi chơi quá xa ngoài khu vực nhà” và “không để bất cứ động vật nào trong nhà”; những qui tắc còn lại đều không có gì quá đáng. Tại sao bà không cho Elias đi chơi quá xa ngoài khu vực nhà? Bởi bà sợ cậu sẽ lại gặp tai nạn và qua đời như Lukas, đây là tâm lí rất dễ đồng cảm với người mẹ vừa mất đứa con. Tại sao bà không cho Elias để bất cứ động vật nào trong nhà? Tôi nghĩ rằng bộ phim đã tiết lộ câu trả lời cho câu hỏi này thông qua một chi tiết ẩn dụ ở đầu phim. Đó là cảnh Elias đánh răng trong nhà tắm, cậu nhìn thấy một con rệp đang bò trên vách tường nhà. Khuôn hình trong cảnh này dừng lại rất lâu ở hình ảnh con rệp từ từ bò lên cao và khi đến mé vách tường, do không giữ được thăng bằng, nó rớt xuống. Một lần nữa, đây là hình ảnh ám chỉ có người đã chết. Sau đó, chúng ta biết rằng hai anh em Lukas và Elias có sở thích sưu tập những con côn trùng, những con rệp. Như vậy, quay ngược lại hình ảnh trước đó, có thể Franz và Fiala đã cho chúng ta gợi ý về nguyên nhân cái chết của Lukas: cậu đi qua đường hầm đó, nhìn thấy một côn trùng đẹp đẽ, cậu đã chết khi cố gắng lấy con côn trùng đó, có thể là do ngã trên vách núi hoặc bị một đoàn tàu đâm phải. Nếu tạm chấp nhận giả thuyết này, ta sẽ thấy rất hợp lí khi mẹ - vốn cũng là một người yêu động vật lại cấm Elias để động vật trong nhà vì bà nghĩ rằng đó là nguyên nhân khiến Lukas chết đi. Như vậy, những qui tắc người mẹ đưa ra đều hợp lí, không có gì quá đáng, bà cũng không gieo mầm mống bạo lực trước đó cho Elias. Thế thì, trong khoảng thời gian bà băng kín mặt sau khi trở về từ cuộc phẫu thuật thẩm mĩ, bà có đối xử điều gì tàn nhẫn đến mức không thể chấp nhận được với Elias chăng? Khi suy nghĩ lại, chúng ta có thể thấy hành động tàn ác nhất của bà là việc đã đổ những con rệp của Elias vào bể nước cậu ngâm con mèo khi nghĩ rằng mẹ cậu đã giết mèo của cậu. Vậy bà có giết mèo của Elias không? Bộ phim không cho chúng ta thấy rõ điều này nhưng dựa trên phân tích từ những chi tiết trong phim, tôi cho rằng bà không giết mèo của cậu. Bởi vì bà đã nói rằng bà không thích để động vật trong nhà nên nếu bà giết mèo, bà hoàn toàn có thể đem xác mèo vứt ở bờ hồ gần nhà hoặc chôn ở một nơi nào đó trong rừng. Với tâm lí của một người nội trợ, dù đang tuyệt vọng và giận dữ thế nào, tôi chắc rằng bà cũng không quên việc này bởi để xác mèo trong nhà mà không phát hiện sớm sẽ bốc ra mùi rất hôi thối. Tâm lí người bất ổn không thể nào chịu nổi thứ mùi xú uế đó. Do đó, tôi cho rằng con mèo đã chết vì một nguyên nhân nào đó khác. Elias đã bị sự nghi ngờ và thù hận làm mù quáng. Thay vì hỏi trực tiếp mẹ, cậu lại chọn cách khiêu khích bà bằng việc ngâm xác mèo trong bể nước và đặt trước phòng khách. Rõ ràng, đây cũng là cách cư xử biểu hiện tâm lí bất thường trong nội tại, trẻ em bình thường không cư xử như thế.

Qua phân tích khi khảo sát lại bộ phim, ta có thể thấy người mẹ không làm gì quá đáng với Elias khi bà băng kín mặt, bà chỉ nổi giận và gắt gỏng với cậu – điều này hoàn toàn có thể chấp nhận được vì bà cũng là người đang suy sụp tâm lí vì tai nạn của Elias, vụ li hôn với chồng; còn trước đó, bà vốn đối xử tốt với Elias. Như vậy, mầm mống bạo lực trong cậu thực tế không phải từ bà mà chúng ta chỉ có thể tạm chấp nhận đó là thứ bẩm sinh trong cậu, minh chứng là hành động của cậu trong những giấc mơ, sở thích và cách giải quyết vấn đề kì quặc của cậu bên ngoài; đó có thể là bản chất của cậu trước cả khi Lukas mất.

Người mẹ đáng thương

Về người mẹ, tôi đã có dự cảm mơ hồ rằng bà chính là mẹ thật của hai anh em ngay từ cảnh bà chơi trò đoán nhân vật/đồ vật được dán trên trán với Elias. Nhìn cách bà chơi với con, nhẫn nại hỏi và đoán, cách bà mỉm cười và ánh mắt của bà, tôi không hề cảm thấy rằng đây là một người xa lạ đang cố lẻn vào nhà với mục đích xấu. Sau đó, trong phim có một cảnh quay đằng sau lưng bà, chúng ta có thể thấy dáng người bà ngồi trên giường rất cô đơn, đôi vai run run. Tiếp theo là cảnh bà đứng trước gương, ngắm nhìn mình trong gương, làn gió từ khung cửa sổ đang mở khiến chiếc áo ngủ mỏng manh bà mặc bay phất phơ. Đây cũng là cảnh được sử dụng trong trailer phim. Tôi có thể hiểu vì sao người ta chọn cảnh này bỏ vào trailer. Đơn giản là hình ảnh một người phụ nữ quấn băng kín, đứng trước gương trong chiếc váy mỏng phất phơ như thế rất dễ đem lại cảm giác kì dị và chút sợ hãi. Tuy nhiên, khi xem cảnh này trong mạch phim, tôi lại cảm thấy đây là một cảnh rất buồn. Hình ảnh đó thể hiện sự cô đơn, tâm trạng hoang mang, lạc lõng của người mẹ. Bà không tìm được sự kết nối với ai, bà không biết bày tỏ nỗi lòng của mình như thế nào, bà chỉ biết đứng trước gương, đối diện với chính mình, và có thể bà cũng đang thấy xa lạ với chính mình trong khuôn mặt quấn băng đó. Ngay từ cảnh ấy, tôi đã chắc chắn đó không phải là bất cứ linh hồn ma quỉ nào đang chiếm ngự cơ thể bà, chẳng có linh hồn tà ác nào nhập vào vật chủ rồi lại ngắm nhìn vật chủ trong gương như thế. Đó chính là bà. Còn giả thiết một người lạ phẫu thuật và đóng giả làm bà ư? Cũng không thể. Giả sử có một người đã giết bà hoặc giấu bà ở nơi nào đó vì muốn chiếm lấy căn nhà hay vì mục đích nào khác, người ấy không cần phải dụng công phẫu thuật cả khuôn mặt và ở trong nhà lâu như thế, lại đặt rất nhiều bánh pizza đủ dùng cho cả năm, chưa kể là còn phải cố gắng giả giọng nói – một thứ vốn chẳng dễ dàng chút nào. Những việc này quá tốn công sức trong khi người đó có thể chỉ đơn giản là quấn băng, mặc áo của người mẹ rồi trở về nhà giống như vừa trải qua đợt phẫu thuật và sau đó chỉ cần giết luôn cậu bé Elias, hoặc đơn giản hơn là đánh thuốc mê, trói và nhốt cậu ở đâu đó rồi hoàn thành việc mình muốn làm. Như vậy, giả thuyết có một người lạ giả làm bà cũng rất khó có thể xảy ra, bà chỉ có thể là mẹ thật của hai đứa trẻ.

Vì tôi đã đoán ra hai chi tiết quan trọng nhất sẽ được tiết lộ ở nửa sau phim như thế nên tôi rất mong mình đã đoán sai, bộ phim sẽ khác đi, hoặc sẽ là điều gì đó bất ngờ và xúc động mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, rốt cuộc tôi đã dự đoán đúng hai chi tiết này. Vì vậy, tôi chỉ còn bất ngờ cách cư xử tàn nhẫn của cậu bé Elias với mẹ. Như những gì tôi đã phân tích ở trên, sự bạo lực đó phần lớn là bản năng của Elias, không phải do sự vô tâm của người mẹ. Đạo diễn Bá Vũ có nói rằng: “Dù các bậc phụ huynh đối xử với con cái tốt như thế nào, chỉ cần thử một ngày hay một khoảng thời gian đối xử khác đi với con, tệ hơn với con rồi sẽ thấy con mình cũng thay đổi cách đối xử với mình, cũng sẽ đối xử tệ lại với mình vì trẻ con rất dễ học từ xung quanh, rất dễ bị lây nhiễm cái xấu.” Tôi không hoàn toàn phản đối ý kiến này của anh. Tuy nhiên, ý kiến này vẫn có phần áp đặt và không thực sự đầy đủ. Ở đây, anh nhấn mạnh khả năng dễ học hỏi và lây nhiễm của đứa trẻ nhưng lại quên mất rằng trẻ con vốn rất nhạy cảm, chúng đặt nhiều tình thương cho cha mẹ nên dễ giận dỗi khi họ không đối xử tốt với chúng dù chỉ là một chút, nhưng đồng thời chỉ cần họ tỏ thái độ ăn năn, chúng cũng sẽ rất dễ tha thứ bởi đó là người chúng yêu thương.

Vào nửa đầu phim, tôi đã rất cảm động trước tình cảm Elias dành cho mẹ. Cậu đặt bức hình mẹ trong phòng, luôn nhìn bức hình ấy và cầu nguyện mẹ sớm quay trở về với cậu. Tuy nhiên, vào hồi cuối của phim, tôi nhận ra tình yêu đó của cậu chỉ là sự ích kỉ. Nếu cậu thực sự yêu mẹ, giây phút cậu lắng nghe mẹ nói phải nhiều hơn, giây phút cậu đấu tranh mâu thuẫn nội tâm phải nhiều hơn, cậu phải phần nào đó cảm nhận nỗi đau của mẹ mà chùng tay nhiều hơn. Trong phim, cậu cũng có những giây phút dừng lại suy nghĩ nhưng nó vẫn quá ít, quá yếu ớt trước sự nghi ngờ mù quáng và cái ác trong cậu. Đạo diễn Bá Vũ luôn nhấn mạnh lỗi của người mẹ, anh nói rằng: “Người mẹ quá vô tâm khi ngay cả bài hát con mình yêu thích nhất cũng không nhớ được. Vì vậy mới dẫn đến bi kịch gia đình như thế. Giá mà bà chịu ngồi xuống nói chuyện với con một chút thay vì đặt ra những qui luật hà khắc và mắng mỏ con như thế thì có thể mọi chuyện đã được cứu vãn.” Anh nhấn mạnh lỗi của người mẹ hơn là lỗi đứa con. Tuy vậy, anh quên mất rằng nếu người mẹ đó quá vô tâm thì làm sao cậu bé ấy lại luôn muốn tìm người mẹ dịu dàng trước đây của mình như thế. Rõ ràng, trong tâm lí của Elias, mẹ cậu đã từng là người rất tốt và bà chỉ trở nên xấu xí trong mắt cậu kể từ khi bà lờ đi sự tồn tại của Lukas – vốn đã chết và được tái tạo lại bằng sự tiếc thương của cậu. Với một người không đối diện nổi thực tế, để bảo vệ thế giới ảo tưởng do mình tự tạo ra, người đó sẽ tránh xa bất cứ ai có nguy cơ hủy diệt thế giới đó. Khi Lukas vừa mới mất, vì tự trách móc lỗi lầm do mình gây ra, Elias đã tưởng tượng rằng Lukas còn sống. Tôi nghĩ rằng khi ấy, mẹ cậu vẫn chăm sóc Elias như trước đây nhưng vì cậu cứ một mực trách móc việc bà vô tình với Lukas, bà quá mệt mỏi bởi bản thân cũng đang rất đau đớn nên đã tạm thời bỏ lơ cậu. Và từ trách móc chính mình, để không phải quá ray rứt, trong vô thức Elias chuyển sự trách móc sang người mẹ: lỗi là bà đã quá vô tâm. Có thể rất nhiều người sẽ có chung ý kiến như anh Bá Vũ, sẽ trách móc người mẹ rằng không quan tâm con mình nhiều hơn, không hỏi han con mình nhiều hơn nhưng có bao giờ họ tự hỏi rằng tại sao không phải ngược lại, tại sao Elias không quan tâm đến mẹ nhiều hơn, không hỏi han mẹ nhiều hơn sau tai nạn đó. Nếu như Elias quan tâm đến mẹ nhiều hơn, cậu cũng đã biết được nỗi phiền muộn của mẹ, biết được việc bà đi phẫu thuật thẩm mĩ. Những ai trách móc người mẹ có bao giờ nghĩ rằng bà đã dịu dàng với con mình quá đủ rồi, bà đã chịu đựng quá đủ rồi không? Bà vừa phải gánh lấy nỗi đau mất một đứa con, vừa li dị chồng và đứa con còn lại cũng chẳng cảm thông với bà, chỉ mãi sống trong thế giới ảo tưởng do nó tự dựng lên. Đau lắm chứ. Rất đau. Và bà phải một mình gánh lấy tất cả. Một số người có thể nói rằng không thể trách cậu bé được vì cậu bé còn nhỏ, làm sao hiểu được những chuyện như thế này, rằng phản ứng bình thường của trẻ con là như thế. Nhưng như tôi đã viết, đứa trẻ nào cũng có sự nhạy cảm của nó và khi thực sự yêu thương cha mẹ, chúng sẽ dễ dàng nhận ra nỗi đau của họ.

Một đứa trẻ khác

Việc Ich seh, Ich seh khai thác mối quan hệ giữa người mẹ và con trai, trong đó vì một nguyên nhân nào đó, người mẹ đối xử lạnh lùng với con khiến tôi nhớ đến một phim cũng khai thác mối quan hệ tương tự là L'enfant d'en haut (2012) của đạo diễn Ursula Meier. Người mẹ trẻ trong phim này cũng đối xử rất lạnh lùng với con trai mình. Cô sinh ra cậu trong sự bồng bột của tuổi trẻ với mối tình chớp nhoáng nên cậu không có cha. Cậu sống chung nhà với cô nhưng cô không cho phép cậu gọi mình là mẹ mà phải gọi là chị kể cả khi ở nhà hay ra bên ngoài. Cô thờ ơ, không quan tâm đến cậu, không chăm sóc cho cậu và vẫn tiếp tục buông thả mình với những người đàn ông khác. Nhiều lúc, cô lên xe của một người đàn ông xa lạ và đi cả hàng tuần không trở về nhà. Cậu rất cô đơn, không có được tình thương lẫn vật chất, cậu phải ăn trộm những dụng cụ trượt tuyết của khách du lịch rồi bán lại cho những người khách khác để lấy tiền sinh sống. Mẹ của cậu đôi khi trở về nhà sau khi đã tiêu hết tiền và không ngại ngần lấy số tiền ít ỏi cậu cướp được từ việc ăn trộm để tiếp tục sống những ngày tháng chìm trong men rượu. Như thế đã quá tệ bạc nhưng vẫn chưa đủ: mẹ cậu hay là chị cậu, chưa một lần cho cậu ngủ chung giường, chưa một lần ôm cậu vào lòng khi ngủ. Vậy cậu có thù hận mẹ, có ý định chạy trốn khỏi mẹ, có ý định không cho mẹ tiền nữa, có ý định tra tấn mẹ để mẹ sợ hay thậm chí là giết mẹ như Elias không? Cậu hoàn toàn có thể đối xử tệ với mẹ như cách mẹ đã đối xử tệ với cậu. Ở cậu, mầm mống bạo lực vì bị đối xử tệ bạc mà mẹ đã gieo vào thậm chí còn rõ rệt hơn rất nhiều lần Elias. Nhưng không, cậu đã không chọn cách làm như Elias, cậu thậm chí còn không đối xử bạo lực với mẹ. Cậu cũng quan sát và bắt chước hành vi của người lớn nhưng theo một cách khác. Cậu nhận thấy rằng những người đàn ông muốn ngủ chung với mẹ thì phải trả tiền cho mẹ. Thế là, khi cậu quá cô đơn, khi cậu chỉ muốn được một lần ngủ chung giường với mẹ, cậu đã hỏi mẹ rằng cậu cần phải trả bao nhiêu tiền cho việc đó. Người mẹ ra một mức và cậu trả. Vì ngạc nhiên với cách hành xử của con trai mình, người mẹ nâng mức giá cao hơn mà cô nghĩ rằng cậu không thể trả được. Thế nhưng, cậu vẫn trả. Nhìn cách cậu cố gắng moi những đồng bạc lẻ từ những túi quần của mình để tập hợp cho đủ số tiền mà mẹ yêu cầu khiến tôi thấy đau lòng và vô cùng yêu mến cậu. Tôi đã rất muốn khóc ở cảnh ấy. Cuối cùng, người mẹ ấy vẫn nhận số tiền và cậu được ngủ chung với mẹ. Rất lâu rồi cậu mới được ngủ chung với mẹ. Đó là một cảnh ban đầu có vẻ tàn nhẫn nhưng sau đó lại vô cùng ấm áp vì chúng ta vừa nhìn thấy được tình yêu dành cho mẹ của cậu, vừa nhìn thấy được mẹ cậu cũng đã bắt đầu nhận ra tình yêu đó, có chút ăn năn và hối lỗi. Simon-tên cậu bé ấy, cũng không phải là một người quá lớn để nói rằng đã phát triển đầy đủ về mặt nhận thức, đã trưởng thành để thông cảm và hiểu chuyện hơn Elias, thực chất cậu ấy cũng chỉ là một đứa trẻ bằng tuổi với Elias.

Cảnh trong phim L’Enfant d’en haut

Thông qua việc dẫn chứng lại tình tiết ấy trong phim L'enfant d'en haut, tôimuốn nhấn mạnh thêm lần nữa rằng mầm mống bạo lực là thứ bẩm sinh trong Elias nên cậu mới có thể tàn nhẫn với mẹ như thế, không tin tưởng mẹ như thế, không lắng nghe mẹ như thế khi mẹ cậu chỉ vừa đối xử lạnh lùng với cậu một chút. Cậu là một đứa trẻ quá ích kỉ và thiếu sự cảm thông. Sự ích kỉ này có thể đến từ việc trước đây mẹ cậu đã quá nuông chiều cậu khiến cậu chỉ biết nghĩ cho bản thân, chỉ biết mỗi mình đau mà không để ý đến nỗi đau của mẹ. Một mối quan hệ muốn tốt đẹp, dù là bất cứ mối quan hệ nào, kể cả mối quan hệ giữa mẹ và con cũng cần phải có sự cố gắng của cả hai phía. Trong Ich seh, Ich seh, tôi có thể thấy được sự cố gắng của người mẹ, tôi hoàn toàn cảm thông với bà. Nhưng còn về phía Elias, như những gì ở trên tôi đã phân tích, tôi hoàn toàn không thể đồng cảm với cậu bé chút nào. Thậm chí, tôi còn rất ghét cậu bé. Với tôi, cậu là người lập dị, ích kỉ, tàn nhẫn bẩm sinh. Ở cảnh Elias hành hạ mẹ mình, cậu đeo một chiếc mặt nạ tương tự với hình mẫu các chiến binh ta vẫn hay thấy trong các phim siêu anh hùng. Qua đó, người xem cũng có thể ngầm hiểu mầm mống bạo lực trong cậu còn xuất phát từ những bộ phim siêu anh hùng cậu xem trên truyền hình. Thế nhưng với tôi, đây là một chi tiết pay off khá gượng ép bởi không có set up ở phía trước. Rõ ràng ngay từ đầu phim, chúng ta thấy chương trình cậu xem là một chương trình ca nhạc, radio cậu vẫn hay nghe cũng không đề cập gì đến bạo lực. Nếu như ngay từ đầu, bộ phim có thêm cảnh mẹ cậu không quan tâm gì đến việc cậu xem truyền hình như thế nào, bên cạnh việc xem chương trình ca nhạc, cậu cũng đã chăm chú xem những phim bạo lực – trong đó có phim mà nhân vật đeo mặt nạ giống như cậu đeo ở cuối phim xuất hiện. Khi sửa lại như thế, cảnh cậu đeo mặt nạ cuối phim tra hỏi mẹ sẽ tự nhiên và không gượng ép; hơn nữa, thông điệp về sự vô tâm của bậc cha mẹ ảnh hưởng thế nào đến con cái sẽ được nhấn mạnh hơn, hợp lí hơn.

Vì những yếu tố thừa và thiếu đó, thông điệp bộ phim đã không thực sự tác động đến tôi nhiều. Đó là thứ thông điệp tôi nhận ra bằng lí trí nhưng về mặt cảm xúc và câu chuyện, bộ phim không xây dựng đủ nền tảng tâm lí nhân vật vững chắc để tôi hoàn toàn thẩm thấu được sức nặng của thông điệp ấy bằng cả lí trí và cảm xúc. Với riêng tôi, đây là thất bại của phim. Tôi cho rằng lí do của thất bại này là vì Ich seh, Ich seh đã khiến tôi đồng cảm với người mẹ nhiều hơn Elias. Lẽ ra, để thông điệp đó được nhấn mạnh, sự đồng cảm này phải chia đều cho cả hai nhân vật, thậm chí còn phải khiến người xem đồng cảm với Elias nhiều hơn là người mẹ thì việc truyền tải thông điệp trọn vẹn mới thành công. Hơn nữa, bộ phim cần phải xây dựng một số tình tiết khác đi đôi chút, nên cho Elias bớt lập dị một chút, nên để cho mầm mống bạo lực của Elias xuất phát từ người mẹ rõ rệt hơn, không nên để bất cứ chi tiết nào khiến khán giả có cảm tưởng mầm mống bạo lực trong cậu là thứ bẩm sinh. Với tôi, kịch bản phim đã xây dựng tâm lí Elias rất một chiều và khiên cưỡng. Tôi không bị thuyết phục bởi diễn biến tâm lí của cậu, tôi cảm thấy rõ ràng sự cố tình sắp đặt của Franz và Fiala bắt cậu phải hành động như thế này, như thế kia để bộ phim được diễn ra như những gì chúng ta đã biết.

Một kết thúc giả định

Qua những phân tích về một số điểm yếu và bất hợp lí trong cách xử lí kịch bản phim theo góc nhìn của tôi, tôi nghĩ ra một phương án sửa kịch bản ở đoạn cuối để khắc phục những điểm tôi đã nêu ở trên. Chúng ta vẫn giữ lại cơ bản nội dung phim cho đến cảnh cậu bé bôi keo dán sắt vào miệng mẹ rồi sau đó dùng kéo cắt để cố tách hai môi bà ra và bà bị chảy máu. Với tôi, sự bạo lực ở đây đã đủ, cần phải dừng lại. Sau đó, Elias sẽ phản ứng mạnh mẽ hơn với ảo ảnh Lukas mà cậu đã tạo ra bởi những lời gào thét của mẹ, những giọt nước mắt của mẹ, nỗi đau thể xác của mẹ dần tác động đến cậu; có thể cậu sẽ tin hoặc không tin người đó là mẹ mình nhưng qua việc chứng kiến hậu quả của những gì mình đang làm sẽ đánh thức lương tri cậu, cậu nhớ lại những ngày mẹ đã từng đối xử tốt với mình. Lukas đương nhiên không dễ dàng bị Elias thuyết phục chỉ với vài lời nói đơn giản. Elias cố giành lấy cây kéo từ tay của Lukas để cắt dây trói cho mẹ nhưng không được. Thế là, cậu và Lukas tự đánh nhau nhưng thực chất là Elias đang tự vật lộn với chính mình, đang tự đánh nhau với chính mình. Khi nhìn thấy cảnh tượng đó, người mẹ vì cố ngăn cản Elias tự làm tổn thương bản thân mình mà đã bảo cậu dừng lại đi, đừng đánh nhau với Lukas nữa, Lukas đã không còn sống, cậu chỉ đang tự làm tổn thương mình thôi. Elias dù muốn bảo vệ mẹ nhưng cậu vẫn không chấp nhận việc Lukas đã chết, cậu vẫn tiếp tục thấy hình ảnh Lukas và cuối cùng Lukas đâm cậu, hay cậu tự đâm chính mình bằng chiếc kéo. Cậu rút kéo ra khỏi người và cắt dây cởi trói cho mẹ. Trước khi nhắm mắt, cậu vẫn nhìn thấy hình ảnh Lukas đang đứng nhìn cậu. Cậu mỉm cười và trút hơi thở cuối cùng. Trong sự đau đớn vì lại bị mất người con còn sót lại, mẹ cậu hóa điên, bà tự sát. Cuối cùng vẫn là cảnh ba mẹ con đoàn tụ ở cánh đồng lúa ngô.

Tôi nghĩ rằng khi sửa lại một chút kịch bản ở đoạn cuối như thế, khán giả sẽ đồng cảm nhiều hơn với Elias, cảm xúc bộ phim mang đến sẽ mạnh mẽ hơn nên thông điệp đến với người xem cũng tự nhiên hơn, không phải là thứ gượng ép bằng suy nghĩ của lí trí. Đây cũng là điểm khiến Ich seh, Ich seh thua xa A tale of two sister về mặt tác động đến cảm xúc dù hai bộ phim có nội dung tương tự nhau. Với tôi, Ich seh, Ich seh nên được làm như một phim tâm lí hơn là phim kinh dị bởi khi đó, tâm lí nhân vật sẽ được đào sâu hơn khiến câu chuyện trở nên thuyết phục hơn. Điểm đáng tiếc nhất của Ich seh, Ich seh là đã xây dựng hình ảnh người mẹ thành công nhưng lại quá sơ sài và gượng ép trong việc khắc họa tâm lí của Elias vốn phải phức tạp  hơn, có chiều sâu hơn, tinh tế hơn; vì không làm được những điều đó, sự tra tấn của cậu ở cuối phim mang vẻ ngoài giống như sự phi lí của cái ác nhiều hơn là sự bộc phát những ẩn ức vì đã phải kiềm nén quá lâu do yếu tố môi trường và tâm lí. Có lẽ đây cũng chính là lí do bộ phim không được lọt vào vòng đề cử chính thức ở hạng mục Phim nước ngoài xuất sắc nhất của giải Oscar. Tôi cảm thấy điều này hoàn toàn hợp lí.

Kết luận

Đạo diễn David O. Russell từng nói rằng: “Rất nhiều bộ phim hay ẩn chứa nhiều bộ phim hay khác bên trong chúng.” Ich seh, Ich seh cũng ẩn chứa rất nhiều bộ phim hay bên trong nhưng đáng tiếc bản thân chính nó lại không phải là phim hay. Ich seh, Ich seh chỉ hay phân nửa đầu phim. Kể từ sau cảnh hai cậu bé bị linh mục đưa về nhà, bộ phim đã mất đi vẻ đẹp và sự tinh tế ban đầu bằng biện pháp đẩy mạnh kịch tích và thúc ép tâm lí khiên cưỡng. Có lẽ, Ich seh, Ich seh là cách tiếp cận ngập ngừng của Franz và Fiala khi phải lựa chọn kể lại câu chuyện này theo hướng kinh dị hay tâm lí. Dù đa phần các hệ thống xếp Ich seh, Ich seh vào nhóm phim kinh dị (Horror) nhưng IMDB xếp thể loại phim là Drama, Mystery, Thriller. Tôi hoàn toàn đồng tình cách sắp xếp này. Với tôi, Ich seh, Ich seh không phải là phim kinh dị không đáng sợ mà là phim tâm lí đen tối còn hơi non, thiếu chút nữa đã có thể chạm đến điểm sâu mà lẽ ra nó cần chạm đến. Vì vậy, tôi phải nói Ich seh, Ich seh không hay trong cảm giác rất tiếc nuối.

Điểm đánh giá: 7/10
Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Tiếng vọng từ tường đá như một câu thơ xanh xao, u buồn

Published

on

By

Tiếng vọng từ tường đá (Voice from the Stone) là phim kinh dị tâm lí không quá câu nệ vào việc tạo ra sự hồi hộp, căng thẳng – vốn là cách làm quen thuộc ở dòng phim này. Ngược lại, phim xoáy sâu vào tâm lí nhân vật khi họ đối diện với những thực tại mà bản thân không thể lí giải được.

Tiếng vọng từ tường đá lấy bối cảnh trong một tòa lâu đài hoang vắng ở Tuscany (Ý) vào những năm 1950. Cô y tá Verena (Emilia Clarke) được thuê đến đây để chăm sóc Jakob - cậu bé đột ngột trở nên câm lặng sau khi mẹ cậu mất vì bệnh nặng. Verena càng cố gắng để Jakob có thể nói lại thì càng ngày, cô càng dấn vào sâu hơn những bí mật đang bị che giấu trong tòa lâu đài. Cô đã không thể ngờ rằng có một thế lực tà ác đang cố gắng giăng bẫy mình.

Tiếng vọng từ tường đá được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên (La voce della pietra) của nhà văn Silvio Raffo. Cuốn tiểu thuyết này đã được đưa vào danh sách shortlist của giải thưởng Strega (giải thưởng văn học danh giá nhất nước Ý) năm 1997. Silvio Raffo không chỉ là nhà văn, ông còn là một dịch giả tập trung dịch rất nhiều tác phẩm văn học của những nữ tác giả Anh, Mỹ từ tiếng Anh sang tiếng Ý. Đặc biệt, ông nổi tiếng với những bản dịch thơ của Emily Dickinson sang tiếng Ý. Có lẽ công việc dịch thuật đã ảnh hưởng trở lại đến công việc sáng tác của ông. Bởi vì qua câu chuyện trong Tiếng vọng từ tường đá, người xem có thể thấy được ông rất am hiểu tâm lí của phụ nữ, của người mẹ với con, của người vợ với chồng.

Tiếng vọng từ tường đá cũng tràn ngập âm hưởng về bệnh tật, cái chết, sự bất tử - những chủ đề chính trong thơ của Emily Dickinson. Do đó, khi chuyển thể câu chuyện này, đạo diễn Eric D. Howell đã cố gắng để sao cho từng phân cảnh trong phim đều như một câu thơ xanh xao, u buồn. Điều này thể hiện qua cách Howell sử dụng ánh sáng trong phim. Những cảnh ngoại trong phim phần lớn được bao phủ bởi lớp sương mù dày đặc khiến người xem dễ liên tưởng đến thứ không khí uể oải đặc trưng tương tự của London trong những ngày sương mù. Trong khi đó, những cảnh nội của phim được thiết kế với tông màu chủ đạo là nâu xám lại khiến người xem như bị vây lấy bởi những điều bí ẩn xưa cũ trong ngôi nhà. Như vậy, dù là trong cảnh nội hay cảnh ngoại, người xem cũng sẽ khó lòng thoát khỏi giây phút nào nỗi buồn, sự cô đơn của nhân vật.

Ngoài ra, rất nhiều chi tiết trong Tiếng vọng từ tường đá cho thấy sự ảnh hưởng từ những tác phẩm của Edgar Allan Poe: The Black Cat, The Fall of the House of Usher… Trong Tiếng vọng từ tường đá, có một đoạn nhân vật nhắc đến tập tục chôn mèo sống trong những bức tường liền kề với tường nhà hàng xóm để xua đuổi những điềm dữ - chi tiết này dễ khiến người xem liên tưởng đến tác phẩm The Black Cat của Poe. Tuy nhiên, bản thân đạo diễn Eric D. Howell lại cho rằng bộ phim mang không khí gần với phim Rebecca (đoạt giải Oscar phim xuất sắc nhất năm 1941) của đạo diễn Hitchcock: “Tiếng vọng từ tường đá có một kịch bản khiến bạn phải thét lên khi trùm chăn đọc dưới ánh đèn flash. Nó giống như diễn lại câu chuyện thần tiên của Hitchcock nhưng đặt dưới bối cảnh Tuscany năm 1950 với những nhân vật bí ẩn và một hồn ma phản diện.”

Trong Tiếng vọng từ tường đá, người xem sẽ gặp lại Emilia Clarke – nàng Louisa kiều diễm năm nào của Trước ngày em đến (Me before you). Verena cũng có tính cách mạnh mẽ tương tự như Louisa. Nhưng khác với Lou, nàng không còn gia đình, nàng cô độc hơn; và vì thế, nàng đồng thời vừa mạnh mẽ hơn, vừa yếu đuối hơn. Ở Tiếng vọng từ tường đá, Emilia vẫn tận dụng được ưu điểm là nụ cười tươi sáng như trong Trước ngày em đến. Nhưng thêm vào đó, nàng còn có đôi mắt u buồn khiến người xem như bị cuốn vào sâu bên trong đôi mắt ấy ở những cảnh cận. Vậy nên, Verena của Emilia rất có thể sẽ khiến bạn vui cùng nàng, khóc cùng nàng – một con người cô độc cần được yêu thương. Nàng sẽ thành công hay thất bại trong công cuộc tìm lại giọng nói cho cậu bé Jakob trầm tính? Cũng như, nàng sẽ thành công hay thất bại trong công cuộc tìm hạnh phúc cho chính mình?

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Lavender: Chiếc hộp rỗng lưu trữ tàn dư của những thứ-đã-từng-tồn-tại

Published

on

By

Là một phim có không khí căng thẳng như phim kinh dị nhưng Lavender lại tích hợp trong nó nhiều thể loại phim khác nhau: tâm lí, gia đình, hình sự… Đó dường như là dụng ý của đạo diễn Ed Gass-Donnelly khi cố gắng tái hiện lại những phần kí ức phân mảnh của Jane (Abbie Cornish) – một người phụ nữ chịu nhiều tổn thương và có những ẩn ức sâu kín trong quá khứ.

Jane là nhiếp ảnh gia nổi tiếng. Cô thích chụp ảnh những ngôi nhà cũ bị bỏ hoang trong các nông trại – đó gần như là chủ đề chính trong sáng tác của cô. Những ngôi nhà hoang luôn có sức hút kì lạ với cô vì cô cho rằng chúng giữ lại một phần đời sống của gia đình đã từng ở đó trước đây, nó là chiếc hộp rỗng lưu trữ tàn dư của những thứ-đã-từng-tồn-tại. Và rồi, một tai nạn xe xảy ra mà dư chấn của nó đã khiến Jane bắt đầu tiếp xúc với những hiện tượng kì lạ, những manh mối giúp cô tìm về ngôi nhà tuổi thơ - nơi vẫn còn ẩn chứa nhiều bí mật đằng sau vụ thảm sát kinh hoàng khiến toàn bộ thành viên gia đình Jane đều tử vong, ngoại trừ Jane may mắn sống sót. Vào đêm định mệnh hai mươi năm về trước, điều gì đã xảy ra?

Thông thường ở những phim kinh dị hay các phim hình sự, nhân vật sẽ bị vật thể siêu nhiên (ma, quỉ…) hay vật thể giống siêu nhiên (con người giả làm ma quỉ) ám hại ở thời điểm hiện tại của câu chuyện. Nhưng Lavender lại có cách tiếp xúc câu chuyện khá kì lạ: sự kiện kinh hoàng nhất trong phim đã diễn ra ở thì quá khứ, cách xa thời điểm hiện tại đến những hai mươi năm. Vì vậy, sự kiện kinh hoàng ấy không phải là thứ được trình hiện trước khán giả như một trải nghiệm đồng thời với nhân vật. Ngược lại, sự kiện ấy chỉ là động cơ cho câu chuyện bắt đầu và thứ mà khán giả trải nghiệm cùng nhân vật chính là hành trình tái hiện lại sự kiện ấy bằng những mẩu kí ức rời rạc, cơ hồ không đáng tin cậy. Chính vì có điểm lùi với sự kiện kinh hoàng rất xa như thế, Lavender không có nhiều cảnh ghê rợn đáng sợ như các phim kinh dị thông thường của những nhà làm phim Hollywood. Đó cũng là điều đạo diễn Ed Gass-Donnelly tâm niệm: “Tôi luôn xem Lavender như sự đối lập với thể loại phim kinh dị hiện đại: nó không có những cảnh máu me cũng như không thỏa mãn thị hiếu thông thường, mọi sự căng thẳng và khiếp sợ hơn là một cú shock đơn thuần.”

Thêm vào đó, Donnelly còn chia sẻ rằng: “Thay vì là fan của thể loại phim kinh dị nặng nề, tôi luôn bị cuốn hút bởi dòng phim tâm lí li kì và bí ẩn. Rosemary’s Baby, The Shining, The Conversation, Caché, The Others, The Machinist là những tác phẩm ảnh hưởng đến tôi từ thời thơ ấu và trong suốt quá trình trưởng thành. Sự khiếp sợ trong tâm tưởng, theo tôi, thú vị hơn rất nhiều so với nỗi dằn vặt thể xác.” Có thể thấy được trong Lavender sự ảnh hưởng về mặt không khí rõ rệt từ các phim như Rosemary’s Baby hay The Others. Điểm chung của cả ba phim kinh dị về tâm lí này là sự nữ tính. Giống như Rosemary’s Baby, The Others, nhân vật chính trong Lavender cũng là một người mẹ. Vì vậy, sự căng thẳng trong phim không chỉ đến từ các mối nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến Jane mà còn là những yếu tố tiềm tàng hiểm họa đe dọa Alice - con gái của Jane. Do đó, Lavender không chỉ là cuộc đấu tranh sinh tồn của người phụ nữ bị bóng ma quá khứ đè nặng lên người, nó còn là sự bảo vệ và tình yêu rất đỗi dịu dàng của một người mẹ thương con - ở điểm này, Jane không khác gì Rosemary (Rosemary’s Baby) hay Grace (The Others).

Trong Lavender, khán giả sẽ thấy rằng mối nguy hiểm không phải lúc nào cũng đến từ bóng tối hay các không gian nhỏ bé, khuất hẹp. Ở trước căn nhà cũ của Jane là một cánh đồng mênh mông rộng lớn. Và ngay tại cánh đồng ấy, người xem vẫn có thể rợn lên cảm giác ghê sợ khi nhìn nhân vật đứng một mình trên cánh đồng rộng xa ngút tầm mắt không một bóng người với những âm thanh trầm mặc kì lạ, thoảng hoặc vang lên trong không trung. Và như thế, đạo diễn Ed Gass-Donnelly đã làm được nhiệm vụ nới rộng vùng nguy hiểm, thu hẹp vùng an toàn lại – một điều rất cần thiết để tạo ra tâm lí căng thẳng trong những phim kinh dị, hồi hộp.

Bên cạnh sự căng thẳng, Lavender còn đem đến cho khán giả cuộc khảo sát thú vị về tâm lí của những đứa trẻ chịu nhiều tổn thương tinh thần và dư chấn của chúng ảnh hưởng đến đứa trẻ khi trưởng thành như thế nào. Về điều này, đạo diễn Donnelly chia sẻ rằng: “Nhiều năm trước, tôi đã tận mắt chứng kiến thời điểm một người bạn bất giác nhớ lại tuổi thơ bị đối xử tệ bạc mà thậm chí trước đây người ấy chưa từng nghĩ rằng nó có tồn tại. Nó giống như một mảnh vỡ nằm sâu bất chợt sống dậy mãnh liệt và phơi bày ra ánh sáng. Thật đáng sợ và đầy e ngại. Không chỉ là kí ức, đó còn là tâm trí được tự chữa lành hoàn hảo, chôn vùi tất cả trong sự minh bạch, tựa như một dữ liệu ban sơ đợi chờ được khai quật nhiều năm sau đó.”

Và vì thế, Lavender không nhấn mạnh nỗi sợ hãi khi con người phải đối đầu với thế lực tà ác. Ngược lại, nó bắt con người đối diện với kí ức đau thương đã bị bản thân lãng quên, đối diện với chính quá khứ của mình. Nó trở thành thứ uốn cong lằn ranh giữa ký ức và loạn trí, quá khứ và hiện tại, hệt như mảnh vụn của trí não đấu tranh tìm cách thoát ra vùng tối trong tiềm thức.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng