Trà chiều

Brain on Fire – Căn bệnh hiếm gặp suýt hủy hoại đời một cô gái trẻ

Vào năm Susannah 24 tuổi, dù mọi thứ xung quanh (công việc, tình yêu, gia đình) đều đang rất tuyệt vời, nhưng tinh thần cô đột nhiên trở nên tồi tệ, suy sút và có những triệu chứng rất giống bệnh nhân tâm thần (mental illness).

Published

on

Brain on Fire không phải là một phim xuất sắc nếu xét về mặt ngôn ngữ điện ảnh, cách kể chuyện… Nhìn vào điểm số từ Rotten Tomatoes (13%) và Imdb (7.6), ta có thể phần nào hình dung sơ lược đánh giá về phim từ phía giới phê bình và khán giả phổ thông. Với sự chênh lệch điểm số như thế này, có thể tạm rút ra nhận định rằng phim không được lòng giới phê bình và đồng thời lại khá được lòng khán giả. Dù vậy, Brain on Fire là phim độc lập và được trình chiếu lần đầu tiên trong khuôn khổ LHP Toronto International Film Festival (TIFF). Tại buổi họp báo của phim trong TIFF, một nhà báo đã nhận xét rằng Brain on Fire quả là có đề tài nhắm đến liên hoan phim, là kiểu phim dễ được chấp nhận tại các nơi như liên hoan phim hơn. Thế nhưng, Brain on Fire đã thất bại trong chính mặt trận mà lẽ ra bộ phim chiếm được nhiều ưu thế.

Brain on Fire dựa trên câu chuyện có thật về Susannah Cahalan, phóng viên tờ báo New York Post. Vào năm Susannah 24 tuổi, dù mọi thứ xung quanh (công việc, tình yêu, gia đình) đều đang rất tuyệt vời, nhưng tinh thần cô đột nhiên trở nên tồi tệ, suy sút và có những triệu chứng rất giống bệnh nhân tâm thần (mental illness). Cô đã được các bác sĩ tâm thần (psychiatrist) chẩn đoán rằng cô mắc bệnh bipolar disorder (rối loạn lưỡng cực), hoặc schizophrenia (tâm thần phân liệt). Bằng thao tác tự tra cứu trên mạng, chính Susannah cũng từng tin rằng mình bị mắc một trong hai căn bệnh này. Thế nhưng, không một bác sĩ nào cho Susannah biết chính xác cô mắc căn bệnh nào cũng như nguồn gốc, nguyên nhân của nó. Những tưởng rằng cuộc đời Susannah sẽ kết thúc tại bệnh viện tâm thần nào đó, thậm chí là cái chết thì một kì tích đã xuất hiện. Viết đến đây, tôi phân vân không biết nên tiếp tục kể câu chuyện đời thực của Susannah hay không vì nếu tôi tiếp tục kể, 100% khả năng bạn sẽ biết toàn bộ câu chuyện và bị ảnh hưởng cảm xúc rất lớn khi xem phim. Tuy nhiên, nếu không kể hết câu chuyện của Susannah, tôi sẽ khó lòng triển khai bài phân tích chủ yếu đi sâu vào khía cạnh biên kịch của phim. Vì vậy, tôi tách đoạn ở đây. Từ đoạn phía dưới trở xuống sẽ tiết lộ toàn bộ nội dung câu chuyện, bạn nên cân nhắc trước khi tiếp tục đọc.  

Bác sĩ Souhel Najjar đã đến với Susannah trong lúc bệnh tình của cô tưởng chừng đi vào ngõ cụt, không lối thoát cho sự phục hồi. Ông là người duy nhất đã ngồi xuống bên gia đình Susannah, trò chuyện cùng họ về bệnh tình của cô trong suốt gần một tiếng đồng hồ – đây là khoảng thời gian dài gấp bốn lần so với bất kì bác sĩ nào từng thăm khám bệnh của cô trước đó. Bằng việc lắng nghe kĩ lưỡng những miêu tả triệu chứng từ gia đình Susannah, kết hợp với quan sát của bản thân, bác sĩ Souhel đã dự đoán rằng trường hợp của Susannah không phải là mental illness hay neurological illness – những nhóm bệnh cô không có tiền sử trước đó mà là biological illness, không phải là bệnh về tâm thần mà là bệnh về sinh lí. Ông quyết định cho Susannah thực hiện bài kiểm tra vẽ đồng hồ – đây vốn là bài kiểm tra dành cho những bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer, chủ yếu áp dụng cho người già; trước đó, hầu như không ai áp dụng bài kiểm tra này cho nhóm bệnh có triệu chứng bên ngoài như Susannah, cũng như cho những đối tượng có độ tuổi như cô. Nhưng khi Susannah thực hiện bài kiểm tra vẽ đồng hồ, chìa khóa để giải mã căn bệnh của cô đã hiện ra. Tất cả các con số đều nằm ở phía bên phải đồng hồ còn bên trái thì trống trơn. Điều đó có nghĩa là bán cầu não phải điều khiển chức năng của phần cơ thể bên trái đã bị tê liệt. Đó cũng là hình ảnh tượng trưng cho cách Susannah đã nhìn thế giới ở thời điểm ấy: chỉ một nửa, không đầy đủ, dẫn đến nhận thức bị sai lệch. Sau khi lấy tủy não và xét nghiệm, bác sĩ Souhel đã có kết luận chính thức về trường hợp của Susannah: cô bị mắc bệnh  Anti-NMDA receptor encephalitis (tạm dịch: bệnh viêm não do tự miễn thụ thể NMDA). Từ đó, Souhel đã tiến hành các phương pháp trị liệu cho Susannah và sau một năm, cô hoàn toàn khỏi bệnh. Trong quá trình dần hồi phục, Susannah đã viết hồi kí Brain on Fire: My Month of Madness kể lại khoảng thời gian cô mắc bệnh và điều trị. Bộ phim Brain on Fire dựa trên cuốn hồi kí này để chuyển thể thành phim.    

Vậy là, thông qua việc kể lại chuyện đời của Susannah, tôi vừa vi phạm nguyên tắc cơ bản của viết review phim: không tiết lộ toàn bộ nội dung phim. Đây là điều tôi cố gắng tránh trong những bài review phim kể từ sau năm 2011 đến nay. Thế nhưng, điều này cũng minh chứng cho việc kịch bản phim bám rất sát vào câu chuyện đời thực. Vậy nên, những ai đã biết câu chuyện đời thực của Susannah Cahalan sẽ có thể đối mặt với nguy cơ rất khó tìm được niềm vui từ việc khám phá cốt truyện khi xem Brain on Fire. Đây cũng chính là vấn đề lớn nhất mà bộ phim gặp phải.

Brain on Fire giữ nguyên toàn bộ tên người thật, địa điểm thật – vốn vẫn còn tồn tại trong đời thực lên phim. Điều đó khiến cho phim bị vướng vào mối ràng buộc chặt chẽ với thực tế, biên độ sáng tạo thêm được cho phép để tăng tính hấp dẫn của câu chuyện bị thu hẹp lại. Đương nhiên, không phải lúc nào việc tôn trọng nguyên tác sít sao cũng sẽ khiến bộ phim kém hấp dẫn bởi có rất nhiều câu chuyện đời thực kịch tích không thua gì phim. Thế nhưng, trong trường hợp của Susannah Cahalan với quyển tự truyện Brain on Fire thì lại khác. Căn bệnh hiếm gặp mà Susannah mắc phải đã hủy hoại trí nhớ của cô trong suốt những tháng mắc bệnh. Cô chỉ có kí ức rất mơ hồ về thời gian điều trị bệnh. Những chuyện cô viết trong Brain on Fire phần lớn dựa vào kí ức của người thân, những người đã chứng kiến cô trong thời gian bị bệnh, những cuộn băng ghi hình tại bệnh viện. Bằng thao tác phỏng vấn, tổng hợp thông tin, những kĩ năng của một nhà báo, Susannah đã viết lại câu chuyện của mình như một người quan sát từ bên ngoài hơn là một người trải nghiệm thực tế. Đây cũng là điều bản thân cô chia sẻ trong nhiều cuộc phỏng vấn. Chính vì vậy, dù chưa đọc Brain on Fire nhưng qua những thông tin đó, tôi nghĩ rằng quyển sách sẽ trình hiện từng bước suy sụp bên ngoài của Susannah khi bị căn bệnh tác động hơn là nội tâm bên trong, thế giới quan đầy bí ẩn, khó thâm nhập của cô trong những ngày ấy. Dù điều này có thực sự đúng với quyển sách hay không thì chính bộ phim Brain on Fire đã thể hiện chính xác đặc tính đó. Vậy nên, thay vì là cuốn phim tâm lí sống động về một cô gái đang hạnh phúc không may mắc phải căn bệnh hiếm gặp – điều mà lẽ ra Brain on Fire có thể làm được, bộ phim đã trở thành đoạn video minh họa mang tính giáo khoa về căn bệnh anti-NMDA receptor encephalitis. Vì lẽ đó, ở Brain on Fire, người xem không thấy được câu chuyện độc lập của một cá nhân mà chỉ thấy câu chuyện tiêu biểu của một cá thể đại diện cho một tập thể. Nếu chỉ tiếp xúc chủ thể trên khía cạnh miêu tả diễn biến của căn bệnh, hầu như không có nhiều khác biệt trong câu chuyện giữa Susannah Cahalan và Emily Gavigan (một bệnh nhân cũng mắc căn bệnh tương tự như Susannah, đã được chẩn đoán đúng bệnh nhờ người nhà xem chương trình về Susannah), hay bất cứ bệnh nhân anti-NMDA receptor encephalitis nào khác. Bộ phim đã thất bại ở mặt khắc họa tâm lí cá nhân.

Tuy nhiên, có thể điều thất bại nói trên cũng nằm trong chủ ý của đạo diễn Gerard Barrett. Trong buổi họp báo ra mắt phim tại TIFF, Barrett đã chia sẻ rằng anh không muốn áp đặt quá nhiều thứ thuộc về phong cách cá nhân lên bộ phim, như thế sẽ mất đi tính thông tin khách quan. Barrett muốn làm Brain on Fire với ý định nâng cao nhận thức cá nhân của người xem về căn bệnh lạ này. Quả thực, về mặt thị giác và phong cách kể chuyện, Brain on Fire không mang chút dấu ấn cá nhân nào, bộ phim hoàn toàn trung tính. Tôi nghĩ chính điểm này đã giết chết bộ phim. Có lẽ Barret đã quên rằng cảm xúc cá nhân cũng là một dạng thông tin quan trọng; khi một thông tin gắn liền với cảm xúc, thông tin đó sẽ trở nên dễ nhớ, dễ tiếp thu hơn rất nhiều. Tuy nhiên, tôi vẫn đồng cảm với quyết định của Barrett khi chợt nhớ đến những bộ phim truyền hình tôi yêu thích kể về những căn bệnh lạ một cách bình dị nhưng vẫn để lại nhiều cảm xúc như: One litre of tear, Taiyou no uta… Rõ ràng, phong cách nghệ thuật cá nhân áp đặt lên những góc máy, thị giác của bộ phim không phải là yếu tố lớn ảnh hưởng đến thành công của dòng phim loại này. Khi xét đến tất cả các nguyên nhân khiến cho Brain on Fire không thể trở thành bộ phim đáng nhớ hơn, tôi nhận ra thất bại cốt lõi vẫn nằm ở kịch bản phim. Việc quá trung thành với câu chuyện đời thực đã khiến Brain on Fire vướng phải một số lỗi cơ bản trong cấu trúc kể chuyện.

Đầu tiên, đó là cách chọn điểm nhìn. Brain on Fire có point of view không đồng nhất. Ở hồi I cho đến khoảng trường đoạn năm của hồi II sau midpoint một chút, phim được kể dưới góc nhìn của Susannah, đoạn mở đầu phim thậm chí còn bắt đầu bằng giọng voice over của cô. Thế nhưng từ cuối hồi II cho đến gần kết thúc phim ở hồi III – phần quan trọng nhất của câu chuyện, phim lại chuyển sang góc nhìn omniscience, hoàn toàn bỏ rơi góc nhìn của Susannah. Vấn đề khó khăn nhất của cô được giải quyết hoàn toàn bởi người khác (cụ thể ở đây là gia đình, bác sĩ Souhel), không phải từ chính cô. Nguyên nhân là do ở thời điểm căn bệnh tiến triển nặng, Susannah đã mất đi ý thức. Trong đời thực, Susannah thừa nhận rằng việc chữa khỏi căn bệnh của cô hoàn toàn do nỗ lực gia đình và may mắn khi cô có cơ duyên được bác sĩ Souhel chữa trị. Phép màu kì diệu này khi đưa vào phim lại không mấy xúc động bởi theo mạch của câu chuyện, khán giả không thấy thỏa mãn do vấn đề của nhân vật chính lại được giải quyết dựa vào may mắn. Yếu tố mang tính cơ duyên nếu xuất hiện ở hồi I hoặc muộn lắm là đầu hồi II sẽ dễ dàng được khán giả chấp nhận; tuy nhiên, ở thời điểm mang tính quyết định như hồi III, khi yếu tố này đột nhiên xuất hiện thì khán giả lại dễ cảm thấy chưng hửng. Đây là lỗi deus ex machina thường gặp trong kịch bản phim. Ví dụ điển hình thường gặp của lỗi này là câu chuyện về một người đàn ông nghèo khó cần một khoản tiền để làm việc gì đó, ông tìm mọi cách để kiếm đủ số tiền nhưng không đạt được mục đích, cho đến cuối phim ông trúng vé số độc đắc và có đủ số tiền mong muốn. Trong câu chuyện này, tấm vé số độc đắc chính là deus ex machina. Cách giải quyết vấn đề bằng deus ex machina sẽ khiến người xem cảm thấy không thỏa mãn vì sự may mắn đến một cách quá tình cờ, đúng lúc – rõ ràng có bàn tay sắp đặt của biên kịch ở đây. Trong đời sống thực tế, dù những chuyện như vậy thỉnh thoảng vẫn xảy ra nhưng tâm lí của người theo dõi dành cho một bộ phim hay một câu chuyện thường sẽ trông đợi vấn đề được giải quyết bằng chính nỗ lực của nhân vật hơn là cơ may. Quay trở lại câu chuyện trong ví dụ, giả sử ngay từ đầu người đàn ông đã biết đâu là tấm vé số trúng giải độc đắc, ông ta cố gắng bằng mọi cách để sở hữu tấm vé phục vụ cho mục đích của mình và ở hồi ba, ông ta có được tấm vé ấy. Khi thay đổi câu chuyện như vậy, lúc này tấm vé số không còn là deus ex machina nữa, nó trở thành mục tiêu cụ thể (goal) của ông để đạt được ước mơ (big dream). Và như thế, câu chuyện trở nên thuyết phục hơn, nhiều cảm xúc hơn với khán giả. Nếu không thể bỏ được deus ex machina ra khỏi câu chuyện thì vấn đề ở đây là thay đổi cách thức, thời điểm nó xuất hiện để nó không còn là deus ex machina nữa. Vấn đề của Brain on Fire cũng tương tự như vấn đề trong câu chuyện ví dụ này. Trên thực tế, bác sĩ Souhel chính là người đã mang đến phép màu cho Susannah và bộ phim cũng không thể loại bỏ bác sĩ ra khỏi câu chuyện được vì ông chính là mấu chốt để chữa trị căn bệnh của Susannah – vấn đề rắc rối lớn nhất mà nhân vật phải đối diện. Tuy nhiên, bác sĩ Souhel xuất hiện quá muộn: ông xuất hiện ở hồi ba, nhanh chóng chữa khỏi bệnh cho Susannah và sau đó phim kết thúc chóng vánh đến mức người xem chưa kịp thấy mối liên hệ giữa ông và Susannah. Như vậy, sẽ ra sao nếu để bác sĩ Souhel xuất hiện sớm hơn? Lúc Susannah chưa bị bệnh hoặc chỉ mới chớm bệnh, ông đang ở đâu? Rõ ràng, nếu kể câu chuyện về Susannah theo góc nhìn của cô hay thậm chí theo góc nhìn omniscience thì bác sĩ Souhel không thể xuất hiện sớm hơn một cách tự nhiên được. Nhưng chính bác sĩ Souhel là người đã giải quyết vấn đề ở hồi ba. Vì vậy, tôi nghĩ đến một cách giải quyết là đổi lại người kể chuyện: câu chuyện Brain on Fire sẽ được kể dưới góc nhìn của bác sĩ Souhel ngay từ hồi I. Như thế, có thể khiến bộ phim dẫn dắt cảm xúc khán giả tốt hơn không?

Ngoài ra, như đã đề cập, một vấn đề nữa của kịch bản phim là chưa thật sự khắc họa được mối quan hệ giữa các nhân vật xoay quanh trung tâm là Susannah. Phim chỉ mới dừng lại ở việc miêu tả sơ lược mối quan hệ giữa cô và gia đình, người yêu, bác sĩ Souhel mà chưa nêu bật được nét đặc trưng riêng trong sự kết nối của họ. Brain on Fire khắc họa mối quan hệ giữa Susannah với các đồng nghiệp tạm ổn nhưng tuyến nhân vật đồng nghiệp chỉ xuất hiện đến khoảng trường đoạn ba của bộ phim và gần như biến mất ở các điểm quan trọng nhất trong câu chuyện. Gia đình, người yêu, bác sĩ Souhel – những người đã ở bên cạnh Susannah trong những thời điểm quan trọng nhất mà lẽ ra nếu mối quan hệ giữa họ và Susannah được khắc họa chi tiết hơn thì có thể câu chuyện sẽ được dẫn dắt bằng nhiều cảm xúc hơn.        

Brain on Fire không phải là một phim hay nhưng nếu xét trên khía cạnh cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức về căn bệnh Anti-NMDA receptor encephalitis, nó có thể là tia hi vọng cho ai đó đang mắc phải hoặc có người thân mắc phải căn bệnh này nhưng bị chẩn đoán sai lầm. Nó cũng là lời nhắc nhở về việc cơ thể chúng ta phức tạp ra sao, tinh vi ra sao, và vì quá phức tạp, quá tinh vi, y học vẫn thường bỏ sót những trường hợp hỏng hóc tế vi ở một góc khuất nào đó mà số đông hiếm khi mắc phải. Nhưng những cơ thể ấy, những con người với cơ thể ấy, bất cứ ai cũng đều cần sự cứu rỗi, nhìn nhận và thấu cảm. Với ý nghĩa đó, Brain on Fire không phải là một phim dở và có lẽ không hẳn là một trải nghiệm không xứng đáng dành thời gian cho nó.

Điểm đánh giá: 6/10
Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Sinh ra trên đầu một cọng lông

Published

on

Triết học quen thuộc và gần gũi nhất với nhiều sinh viên Việt Nam là triết học Marx-Lenin. Karl Marx sống dậy chắc phải hết hồn trước sự thật này, vì ông từng tuyên bố: “Triết học dùng để nghiên cứu thế giới thực cũng tương tự như thủ dâm trong tình dục.”

“Triết học” (philosophy) là từ gốc Hy Lạp, nghĩa đen là “tình yêu dành cho trí tuệ”. Nhưng sau khi dự một lớp triết ở đại học, với những tư liệu sản xuất, kiến trúc thượng tầng, lượng đổi dẫn đến chất đổi… với đa số người, triết học trở thành “tình yêu dành cho sự chán ngắt”.

Ngoài Karl Marx, Lenin còn có Socrates, Plato…; ngoài đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa tư bản còn có cách để sống một cuộc đời ý nghĩa, làm thế nào để đương đầu với khổ đau… Triết học thật sự là một thế giới mầu nhiệm và thiết thân cho cuộc sống, hơn là một nhúm kiến thức học thuộc lòng để làm bài kiểm tra qua môn.

Nhà triết học trong cuốn Sophie’s World ví vũ trụ như con thỏ trắng vừa được lôi ra từ chiếc mũ ảo thuật, và tất cả con người thoạt tiên được sinh ra trên đầu những cọng lông thỏ và có thể chiêm ngưỡng trò ảo thuật kì diệu của thế giới. Nhưng càng lớn lên, con người càng tụt sâu xuống bộ lông thỏ và mất khả năng ngạc nhiên trước mọi sự. Thế giới trở nên hiển nhiên và cũ rích. Một đứa trẻ ra đời, hạnh phúc một tang gia, một tiếng chim hót, một con bướm bay, một giọt sương đọng trên lá chẳng còn làm ai mảy may xúc động. Cùng nhìn một thế giới nhưng người lớn thì buồn rầu, còn trẻ con thì sung sướng.

Triết học, vì thế, đưa người ta trở lại thành đứa trẻ, luôn trong trạng thái truy vấn và sửng sốt trước cuộc đời. Socrates – một trong những triết gia thông thái nhất của Hy Lạp cổ đại từng nói: “Có duy nhất một thứ tôi biết, đó là tôi không biết gì.” Không có gì mới dưới mặt trời, nhưng dưới con mắt hạn hẹp của con người, thế giới đầy những điều chưa biết.

Đặc biệt, trong thế giới công nghệ, với dòng thông tin luân chuyển vô tận, mọi thứ càng trở nên bớt chắc chắn: tin giả, thuyết âm mưu, ngụy biện, ngụy khoa học. Điều gì là đúng, điều gì là sai, làm cách nào mình tin một điều là đúng hay sai trở thành những câu hỏi khó trả lời. Thiếu một bộ hướng dẫn đạo đức để hành động đúng, mình dễ lẫn lộn giữa những giá trị thực và ảo, giữa những điều quan trọng và những thứ vụn vặt.

Đi làm để kiếm tiền, yêu đương để thấy mình có giá trị, làm việc tốt để được tán dương. Đến khi mất việc, mất người yêu, mất người hâm mộ, những gì mình từng tin là đúng, là cần thiết, là đáng để sống vì, đột nhiên trở nên vô giá trị, cuộc đời hóa thành bông hoa không màu. Lúc này, triết học có thể trở thành chốn nương nhờ. Triết học có thể giúp mình nhận chân những giá trị thực, truy tìm mục đích sống trong một thế giới giờ đây đã trở nên vô nghĩa lý.

Viktor Frankl – nhà thần kinh học, triết gia và là người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust đã tìm được sự an ủi từ triết học trong thời gian sống trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Trở đi trở lại trong cuốn tự truyện Man’s Search For Meaning của ông là câu nói của Nietzsche: “He who has a why to live for can bear almost any how.” Khi mình tìm được ý nghĩa trong những khổ đau không thể nào tránh khỏi thì cuộc đời vẫn đáng để sống.

Giới thiệu sách đọc để tìm “why” và leo lên lại sợi lông thỏ:

Sophie’s World – Jostein Gaarder (bản dịch tiếng Việt: Thế giới của Sophie): Một cuốn lịch sử triết học viết dưới dạng tiểu thuyết. Cô bé Sophie mười bốn tuổi bất ngờ nhận được một khóa triết học qua thư từ một triết gia bí ẩn. Vì những bài học trong sách viết để một cô bé có thể hiểu nên chắc ai đọc cũng hiểu.

A Little History of Philosophy – Nigel Warburton (mình nhớ là có bản dịch tiếng Việt): Một cuốn sơ lược về triết học viết rất hài. “Nếu bạn là một kẻ hoài nghi (skeptic) bạn sẽ cần những người bạn trung thành để giữ mình sống sót, vì bạn luôn tìm cách đâm đầu xuống vực vì không tin là mình sẽ chết.” (trích một câu trong sách)

A Short History of Nearly Everything – Bill Bryson (bản dịch tiếng Việt: Lược sử vạn vật): Cái tên nói lên nội dung rồi. Đây không phải là sách về triết nhưng đọc để thấy thế giới đầy những chuyện kì lạ và mắc cười. Billy là một trong những tác giả yêu thích nhất của mình: dí dỏm, duyên dáng và hài hước chết người. Aaa, mình dùng nhiều tính từ quá nhưng mà đọc đi chắc sẽ thích.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Chờ đợi ánh mặt trời

Hiện thực của chúng ta luôn có độ trễ, vậy tại sao không thể nhẫn nại với nhau hơn?

Published

on

Tháng Hai là thời gian lý tưởng để ngắm hoàng hôn ở Sài Gòn, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên Đán. Trời trong, ít khói bụi, nắng thường dịu và hiếm có mưa, độ ẩm không khí trung bình. Tôi chỉ cần tìm một địa điểm phù hợp, nơi có hướng nhìn về phía Tây thật thoáng đãng và an toàn, yên vị trong khoảng từ 5 giờ rưỡi tới 6 giờ tối. Nếu tôi ở lại thành phố này vào dịp Tết, ngắm hoàng hôn rơi xuống đường chân trời dường như là một nghi thức không thể thiếu. Và năm nay, tôi đã thông thạo các bước thực hành tới mức không còn phải đuổi theo ánh mặt trời nữa, tôi có thể chờ.

Mặt trời cách xa Trái Đất 147.86 triệu km; và ánh sáng từ mặt trời mất trung bình 8 phút 3, theo NASA, để tới được bề mặt hành tinh này. Vậy nên, ánh hoàng hôn mà tôi đang thấy đã là quá khứ của mặt trời. Giai đoạn hoàng hôn đẹp nhất thường diễn ra khá chóng vánh, dù có lẽ được cảm nhận tùy theo góc nhìn của từng người, nhưng cũng khó lòng nhiều hơn 20 phút. Hãy tưởng tượng, khi ta đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu dàng và trầm mặc của tấm nền cam thẫm trước mắt, mặt trời thực chất đã tiến sang phía kia địa cầu rồi. Khung cảnh ta đang thấy, xét theo nghĩa đen, chỉ là một ảo ảnh.

Hiện thực ta cảm nhận luôn có độ trễ, ít hoặc nhiều. Bởi ánh sáng phản chiếu từ sự vật mất thời gian để tới với thị giác, thị giác mất thời gian truyền tín hiệu cho não, còn não lại là bộ máy phân tích và xử lý dữ liệu cực kỳ cồng kềnh. Cảm nhận về hiện thực không chỉ lệch so với chính hiện thực, mà còn méo theo cách nhào nặn của sơ đồ cảm xúc và nhà kho ký ức của từng người. Với chừng ấy biến số, thật khó để nói hiện thực tóm lại là gì và bây giờ là bao giờ? Cảm ơn Shiba đã chia sẻ video được chèn link phía trước với chị.

Hiểu được điều này ở góc nhìn khoa học giúp tôi dễ thấm hơn cái gọi là “xỏ chân vào đôi giày của người khác”, dù làm sao tôi có thể xâm nhập ý thức của bất cứ ai để cảm nhận hiện thực trong não họ cơ chứ?

Lấy ví dụ, tôi từng bất an khi phải nhìn những vật thể có sự kết hợp của màu trắng và đỏ tươi do một kỷ niệm xấu thuở nhỏ; chấn thương tâm lý khiến tôi khước từ viên kẹo Alpenliebe vị sữa dâu, dù với đa số trẻ con, đó là món quà ngọt hấp dẫn. Bạn có khó hiểu khi một người tỏ ra sợ viên kẹo sữa dâu không? Nếu ta chấp nhận rằng hiện thực chủ quan của mỗi cá nhân đều là độc nhất và có độ vênh với hiện thực khách quan, mọi rối loạn tâm lý dường như đều trở nên hợp lý; không phải tính bất biến, đồng đều mà chính cái xáo động và khác biệt mới là bình thường – một bình thường mới.

Với tôi, hoàng hôn đẹp từ tận lúc mặt trời còn trên cao thế này cơ.

Càng nhìn rõ được điều này, tôi càng nhẫn nại. Tôi có thể ngồi đó, giữa khe hở thời gian, ở đường biên của mỗi tích tắc để tập quan sát trong thinh lặng. Mặt trời đang rơi xuống sau những tòa nhà của thành phố, các bạn tôi đang chạy trên bánh xe thời gian và vòng xoáy tiến hóa của họ, cũng như tôi. Tôi có thể chờ đợi mà không cảm thấy bứt rứt hay hối hả, cứ như tôi đã ở nơi thời gian dài ra gấp mười, hai mươi lần.

“Kỳ Lân ạ, cả thế giới này đang hối thúc em gấp gáp lên đi, đồng hồ sinh lý đang quay với tốc độ ngày một chóng mặt. Nhưng chị mong em sẽ không phải cuống cuồng chạy như bị ma đuổi sau lưng và cũng không phải nuối tiếc những ngày quá vãng. Chị mong em có thể cẩn thận ghé qua từng căn phòng trên hành lang ký ức đó, vặn tay nắm để ngó vào xem ở trong có đủ những món em cần chưa. Chị mong em có thể ở lại mỗi nơi lâu hơn chút, để lỗ hổng trong lòng dần được lấp đầy và hiện thực cảm nhận ấy hằn sâu vào tâm trí. Để sau này, dù em có ra khỏi hành lang ký ức và rẽ qua con đường hướng tới tương lai, cơ thể em sẽ đầy đặn như chưa từng bị rách một miếng nào cả; và chỉ cần em nhắm mắt lại, căn phòng ký ức sẽ luôn hiện ra trọn vẹn, huy hoàng hệt như ngày đầu tiên”.

Thời gian không tuyến tính. Trước đây – bây giờ – sau này có thật sự được đo bằng tuổi tác sinh lý của chúng ta không? Có phải chúng không tách biệt mà luôn song song, đan xen, va đập không ngừng?

Tôi sẽ có gấp mười, hai mươi, ba mươi lần thời gian… để tiếp tục suy ngẫm về chúng.

https://youtu.be/hvFoVGXVaxs

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Đuổi theo ánh mặt trời

Tôi đã dành nửa giờ đồng hồ của buổi chiều tháng Hai để đuổi theo ánh mặt trời.

Published

on

Hoàng hôn giống như tuổi 20, thường trôi qua chỉ trong chớp mắt. Mặt trời chỉ tròn lẳn và dịu dàng trong mười mấy phút của buổi chiều tàn. Thế nên tôi đã chạy, chạy như điên quanh những cung đường ngoằn ngoèo của quận 2. Tôi lên cầu và xuống cầu, áo khoác bay phần phật trong gió, mắt dõi theo ánh mặt trời.

Tôi đi chậm lại ở một đôi chỗ, nhưng đó vẫn chưa phải địa điểm thích đáng nhất. Có vài người dừng để chụp ảnh, nhưng tôi không. Tôi tự gào lên trong tâm trí: “Không phải chỗ này, đây chưa phải chỗ tốt nhất”. Và cứ thế phóng đi vội vã.

Đuổi theo ánh mặt trời, cho đến hôm nay, lần cuối cùng tôi làm việc này là lúc nào?

Tôi không thể nhớ nổi, cũng như đã quên đi rất nhiều điều quan trọng khác.

Mặt trời trôi dần về phía Tây, ánh sáng màu cam rực lên rồi tỏa ra khắp thiên không và trên mặt nước. Tầng trời cao hơn phủ sắc xanh lam dịu, mịn và xưa cũ như nước ảnh màu của những năm 70.

“Trong khoảng thời gian mặt trời nằm ở phần thấp trên đường chân trời, quãng đường các tia sáng mặt trời phải chiếu xuyên qua bầu khí quyển dài hơn 30%. Những ánh sáng có bước sóng ngắn như tím và xanh da trời bị tán xạ nhiều, chỉ còn những ánh sáng có bước sóng dài hơn như vàng, da cam, đỏ ít bị tán xạ được truyền đến mắt người”. Đây là cách lý giải dễ hiểu về màu sắc hoàng hôn của thuyết tán xạ Rayleigh.

Còn đây, là cách tôi biết mặt trời hôm nay sẽ trôi dần về phía Tây từ bao giờ.

Khi nhìn về phía quả cầu lửa giữa Thái Dương hệ ấy, tôi cảm thấy bản thân thật trơ trọi. Giống như khi ngước mắt lên nhìn bầu trời với hàng triệu ngôi sao vào đêm hay tình cờ bắt gặp trăng xanh trên đường về nhà. Trong khoảnh khắc, cuộc đời tôi trở nên thật kém nghĩa lý.

Vũ trụ đã hình thành từ hàng chục tỷ năm trước và vũ trụ sẽ còn đó sau khi tôi chết rất lâu nữa. Mọi suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng, trải nghiệm… của tôi ở hiện tại này rồi sẽ hóa thành tro bụi và rã ra từng phân tử trong chỉ một thế kỷ. 

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi không còn là tôi hôm nay. Tôi lại là cô bé mười tuổi ngẩn ngơ dùng chiếc điện thoại nắp gập của bố chụp ánh hoàng hôn rơi trên cánh đồng. Bố đã dùng tấm ảnh ấy làm hình nền trong thời gian dài. Sau đó ông rời bỏ tôi. Và giờ đây ông trở về. Nhưng bức ảnh xưa đã vĩnh viễn mất đi cùng một phần con người tôi, không thể vãn hồi được nữa.

Ánh mặt trời của buổi chiều tàn ngự trị trong mọi mảng ký ức rời rạc về tuổi thơ. Những ngày Hè muộn khi đài tiếng nói cất lên tiếng nhạc hiệu não lòng, hoàng hôn chảy xuống sau những tán cây rậm rạp. Tôi bám lấy bức tường màu vàng tróc lở và mải miết nhìn về phía đó, mồ hồi nhớp nháp trên trán.

Ánh sáng hoàng hôn lướt qua ống điếu và đôi bàn tay đồi mồi của ông nội, tràn lên bộ lông đen óng của con Mun và phủ thêm lớp màu đỏ rực trên khoảnh sân gạch nung. 

Vài năm sau, tôi chảy nước mắt với 40 lần hoàng hôn xoay vòng ở hành tinh B612 của Hoàng Tử Bé. Cậu thật cô đơn.

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi thấy rõ hơn bao giờ cảm giác lạc lõng trong thế giới này. Chỉ có tôi và mặt trời đang dần biến mất sau những tòa nhà, những dãy núi, những cánh đồng…

Nhưng cảm giác lạc lõng ấy không đi kèm với nỗi buồn. Không có nỗi buồn nào cả. Chỉ có sự thanh thản.

Dù là trên cây cầu của thành phố phồn hoa nhất hay giữa nghĩa địa của một làng quê, hoàng hôn nhắc tôi nhớ rằng số mệnh cuối cùng của con người là đơn độc. Chúng ta đi qua chặng đường dài với những mối liên kết tạm bợ và chết một mình. Phía trước và phía sau đều như thế, vòng tròn rắn cắn đuôi của Auryn hay vòng tròn loang nét mực của Karma, không có gì đổi khác.

Thế nên cuối cùng, tôi dừng lại ở nơi thích đáng nhất và nghe trọn vẹn bản The Sower with Setting Sun của Clint Mansell. 

https://www.youtube.com/watch?v=kJ8sg9akQNI

Tôi chụp một tấm ảnh khi đã nguôi đi hơi thở gấp gáp vì vội đuổi theo ánh mặt trời, thong thả đi một vòng quanh thành phố này trước khi về tổ.

Có lẽ tài năng lớn nhất của tôi chính là tự xoa dịu bản thân, tự làm lành với quá khứ và không chờ đợi bất kỳ sự hỗ trợ khách quan nào khác. 

Năm mới của tôi đã bắt đầu như thế. Một mình, đuổi theo ánh mặt trời.

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng