Trà chiều

Đảo Của Dân Ngụ Cư – Nơi những mảnh đời lạc lõng tụ hội lại

Chúng ta thường chỉ chú ý đến những điều quan trọng khi mọi thứ đã quá trễ, khi ta đã mất nó.

Published

on

Tôi vừa đọc xong truyện Đảo Của Dân Ngụ Cư của nhà văn Đỗ Phước Tiến. Đây là tác phẩm gốc của bộ phim chuyển thể cùng tên do nữ diễn viên Hồng Ánh lần đầu tiên đảm nhận vai trò đạo diễn. Văn phong của truyện rất giàu hình ảnh, tính từ và mang đặc trưng riêng nhưng có lẽ vì bị ảnh hưởng từ việc xem phim trước mà tôi cảm thấy thích phim của chị hơn cả truyện gốc.

Phim Đảo Của Dân Ngụ Cư khiến tôi khá ngạc nhiên vì tôi để ý rằng những bộ phim của đạo diễn có xuất thân là diễn viên thường chú trọng vào diễn xuất, nhân vật hơn là hình ảnh so với những đạo diễn có xuất thân từ quay phim. Nhưng trong bộ phim đầu tay của mình, Hồng Ánh đã thực sự kể chuyện bằng hình ảnh, chị tạo được ngôn ngữ điện ảnh riêng, những qui tắc riêng trong phim với sự sắp xếp, cấu trúc hình ảnh rõ ràng. Đây là một phim nghệ thuật rất tốt. Tôi cảm động vì chị đã dũng cảm làm phim như vậy. Có lẽ đây là một trong những phim Việt Nam mà tôi thích nhất vài năm gần đây.

Bộ phim mở đầu bằng một hình ảnh rất mạnh: người xem nhìn thấy cánh tay của một người đàn ông nằm trên biển và một cô gái ở đằng xa. Cảnh này không có tiếng tạo ra một cảm giác kì lạ. Hình ảnh đầu tiên của phim đã rất lôi cuốn tôi bởi vì tôi không thể giải thích được, không thể xâu chuỗi hình ảnh hai hình ảnh đó thành một câu chuyện. Hình ảnh ấy khiến tôi suy nghĩ, phân vân liệu người đàn ông đó còn sống hay đã chết, tại sao người con gái kia cứ ngồi trên thuyền thúng và nhìn về người ấy. Sau đó, màn hình chuyển đen, tôi nghe thấy tiếng sóng biển. Và người xem lại nhìn thấy biển lần nữa nhưng lúc này là một thanh niên trẻ đi qua bãi biển. Thế rồi, chúng ta nghe những dòng độc thoại tự sự của anh. Lúc này, tôi bắt đầu có cảm giác lo sợ rằng phim của chị có khả năng trở thành hình ảnh minh họa cho truyện ngắn nguyên tác. Nhưng tôi vui vì điều mình lo lắng đã không thành sự thật. Trong vài phân cảnh đầu tiên, chị đã xây dựng được không khí, giọng điệu và phong cách kể chuyện rất rõ ràng. Một trong những điểm đặc trưng tạo không khí khác lạ là những cảnh quay với góc máy từ trên cao nhìn xuống. Tôi không biết người xem khác cảm thấy như thế nào, nhưng với tôi, việc sử dụng góc máy này một cách có ý thức đã tạo ra bầu không khí rất lạ. Bởi lẽ ở những đoạn cao trào trong một cảnh, người xem thường muốn tiếp cận nhân vật gần hơn để thấy rõ cảm xúc trên khuôn mặt họ, thấy hành động của họ chi tiết hơn; và từ đó, cảm nhận mình là một phần của bộ phim. Thông thường, đạo diễn cũng sẽ làm hài lòng nhu cầu này người xem. Nhưng ở một số cảnh trong Đảo Của Dân Ngụ Cư, Hồng Ánh lại cắt lên góc máy từ trên cao nhìn xuống ngay lúc cao trào của cảnh. Ví dụ: cảnh người vợ tắm cho chồng mình. Lúc người chồng mạnh bạo kéo bà vào bồn tắm, Hồng Ánh lại cắt lên góc cao và dừng ở đó một lúc. Với động tác này, tôi cảm giác chị muốn giữ người xem tiếp cận bộ phim bằng một góc nhìn khách quan, chị khiến họ nhận ra rằng họ chỉ là người xem trung lập, họ không phải là một phần của phim. Hơn nữa, góc máy cao cũng khiến tôi cảm thấy người vợ nhỏ bé và đáng thương. Tôi đã hiểu lầm rằng bà là một người hầu trong cảnh này. Một cảnh khác với cùng cách dựng đó là cảnh Phước và người Khmer đánh nhau. Tôi không nhớ rõ nhưng tôi nghĩ còn những cảnh khác nữa trong phim cũng có cách dựng như thế này.

Ngoài ra, các cảnh sử dụng góc máy từ trên cao cũng khiến tôi tự hỏi đây là góc nhìn khách quan mà Hồng Ánh dùng để kể chuyện, hay là góc nhìn chủ quan của một nhân vật nào đó trong phim. Câu hỏi thú vị này kích thích tôi tiếp tục xem phim để tìm ra câu trả lời. Và tôi không phải chờ quá lâu, câu trả lời nằm ở cảnh nhà hàng đông đúc và có người nhìn thấy một cô gái ngồi ở lầu trên. Tôi nghĩ đó là lúc câu chuyện thật sự bắt đầu, những cảnh trước đó chỉ là để xây dựng lớp nền cho người xem. Cách Hồng Ánh sử dụng khá nhiều góc máy trên cao nhìn xuống từ đầu phim cũng khiến tôi liên tưởng đến một người đang âm thầm quan sát mọi hoạt động, một người đang trốn ở đâu đó. Vậy nên, khi tôi biết được sự tồn tại của Chu, mọi thứ trở nên hợp lý. Sau sự xuất hiện của Chu, vẫn có những cảnh với góc máy cao; trong đó, một số cảnh có thể từ góc nhìn của Chu, số còn lại có thể là góc nhìn khách quan. Nhưng tôi thích điều ấy. Tôi thích cảm giác lẫn lộn khi mình không biết góc nhìn đó là của ai. Tôi cũng để ý thấy đôi khi, góc máy cao đơn thuần chỉ là cách Hồng Ánh mở đầu hay kết thúc một cảnh.

Có vài cảnh trong Đảo Của Dân Ngụ Cư khiến tôi nhớ đến phong cách của Trần Anh Hùng. Tôi nhận thấy chị thường mở đầu cảnh bằng một shot đi theo nhân vật và chị không đổi góc nhiều trong một cảnh, mọi thứ diễn ra với nhịp điệu chậm rãi. Ví dụ: shot dolly từ cửa sổ nhà hàng qua đến người vợ ngồi trước cửa nhà vắng khách, cảnh người vợ lau chùi nhà hàng và người chồng bước ra…

Một điểm nữa tôi lưu ý khi xem Đảo Của Dân Ngụ Cư là việc Hồng Ánh sử dụng cảnh toàn, cảnh trung và trung cận nhiều hơn cảnh cận và đặc tả. Vì chị hạn chế sử dụng cảnh cận (đây chỉ là cảm nhận chủ quan của tôi, tôi không thật sự chắc chắn, có thể chị dùng cảnh toàn, cảnh trung, và cảnh cận cùng số lượng), nên khi cảnh cận xuất hiện, nó tạo hiệu ứng mạnh mẽ hơn. Tôi rất thích cảnh cận hình ảnh con gián chết với những con kiến bò xung quanh, lá khô rơi rụng khắp mọi nơi. Hình ảnh này thể hiện sự chết chóc rõ rệt và khiến tôi cảm nhận được tâm trạng chán chường của nhân vật khi anh nói rằng không muốn mình như một con gián, cố gắng sống sót trong cuộc đời. Cảnh này kết hợp với âm nhạc và sự hòa điệu từ cảnh trước đó đã nâng nỗi buồn lên trong tôi về sự sụp đổ, sự bất ngờ khi mọi thứ không diễn ra theo lẽ tự nhiên nữa. Cảnh trước đó là một cảnh khá hài hước, khi Phước và Miên chạy rượt theo con dê với cái lon cột ở đuôi. Rõ ràng, đó một cảnh hoàn toàn trái ngược với cảnh con gián chết ngay sau đó giữa một bên là sự sống sinh động, một bên là cái chết im lìm.

Tôi cũng thích cách Hồng Ánh chèn những cảnh hoang tàn của nhà hàng vào giữa câu chuyện chính đang diễn ra. Từ đoạn đầu phim, chị cho người xem thấy cảnh nhà hàng bị tàn phá. Người xem biết trước cái kết của câu chuyện, nhưng khi họ gần như đã quên cái kết đó, chị lại nhắc họ về sự thật không thể thay đổi ấy, tựa như, sự tàn phá đó không chỉ ở đoạn cuối, có thể nó đã bắt đầu ngay từ khởi điểm hay đâu đó ở đoạn giữa – khi mọi thứ dường như đang phát triển theo hướng tốt hơn. Sự u sầu, mệt mỏi, không khí ngột ngạt dường như bao trùm lên cả căn nhà.

Cách Hồng Ánh sử dụng âm thanh trong phim cũng đặc biệt. Tôi thích cách sử dụng âm thanh trong cảnh mở đầu nhưng còn nhiều cảnh khác tôi cũng thích.

Thứ nhất, cảnh Phước bắt chước tiếng gà gáy. Đầu tiên, Phước gáy rất to và rồi nhận ra khi làm như thế có thể sẽ bị phát hiện nên Phước phải im lặng. Cảnh này thật sự rất dễ thương khiến tôi liên tưởng đến những cảnh lãng mạn trong phim Hàn Quốc.

Thứ hai, là cảnh Phước và Chu làm tình. Không cần sử dụng tiếng thở, hay những tiếng động khác, chỉ cần hình ảnh và nhạc, phim vẫn truyền tải được cảm xúc của họ trong đêm đầu tiên.

Thứ ba là cảnh Chu ném hai con chim đất nung qua cửa sổ. Tôi chờ tiếng vỡ khi hai con chim bị ném xuống đất, nhưng không có tiếng động gì cả. Âm thanh đó chỉ ở trong đầu người xem nếu họ muốn có một tiếng động nào đó tương tự như vậy. Cảnh này khiến tôi nhớ đến một cảnh trong Tony Takitani của Jun Ichikawa. Trong Tony Takitani, có cảnh Tony làm rơi chiếc đĩa xuống sàn, người xem có thể thấy mảnh đĩa vỡ tung nhưng họ không thể nghe âm thanh của nó. Hình ảnh ấy như dự đoán trước tương lai tối tăm của Tony. Nhưng trong phim Đảo Của Dân Ngụ Cư, Hồng Ánh sử dụng phương pháp này với mục đích và ý nghĩa khác. Chị không cho người xem thấy hình ảnh hai con chim vỡ, người xem chỉ thấy Chu ném hai con chim qua cửa sổ, rồi chị cắt qua hình ảnh bầu trời xanh, và cảnh này đã thật sự chạm đến cảm xúc của tôi, phần nào đó nó giúp tôi hiểu thêm về Chu để rồi cảm thấy thương Chu hơn. Trong suy nghĩ của cô gái ấy, hai con chim đất nung mà cô ném qua cửa sổ thật sự có thể bay, chúng không vỡ, chúng bay về phía bầu trời xanh ấy, chúng được tự do. Chu muốn được tự do như hai con chim đó, nhưng Chu không thể tự giải thoát mình, không thể mang tự do đến cho bản thân. Chu chết trong sự giam cầm, và có lẽ mẹ cô cũng vậy.

Tôi thích nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Duy Linh. Những bản nhạc được sử dụng ở nửa đầu phim chỉ có tiếng piano (tôi không chắc chắn, có lẽ vì piano là tiếng tôi nghe thấy rõ nhất), với rất ít nốt nhạc và thường có nhiều khoảng lặng dài giữa các nốt như thể âm thanh rải rác trong không gian ấy muốn mời gọi người xem bước vào câu chuyện. Sau đó, nhạc sĩ dần sử dụng nhiều nốt hơn, nhiều nhạc cụ hơn. Vì vậy, âm nhạc rất phù hợp với không khí phim, nó đi theo tiến triển câu chuyện.

Về nhân vật, tôi rất thích vai diễn Xiếm Hoa của diễn viên Ngọc Hiệp. Cô không xuất hiện nhiều nhưng để lại ấn tượng mạnh mẽ trong các cảnh cô tham gia. Cô diễn vai một người vợ không hạnh phúc, một người mẹ hiền lành. Giọng cười không chút run sợ của cô khi chồng phát hiện bí mật khiến tôi thật sự ngạc nhiên. Tôi cũng thích cách Hồng Ánh kết cảnh với hình ảnh tay cô nắm lấy con dao. Tôi nghĩ cô sẽ cố gắng lấy hết sức để rút con dao, để đấu tranh lại, để đâm người chồng. Thế nhưng cảnh này lại kết thúc với cảnh cận cho thấy bàn tay đầy máu nắm con dao. Hình ảnh ấy như muốn nói cô muốn đấu tranh lại, nhưng sự đấu tranh đó không thành công. Cuối cùng, có lẽ cô cũng là người chịu nhiều đau khổ nhất. Một trong những điều tôi nhớ nhất về Xiếm Hoa là hình ảnh cô treo đèn lồng đỏ trước cửa nhà hàng. Theo tôi nhớ, có hai cảnh như vậy. Cảnh đầu là lúc mọi thứ đang yên ổn, nhà hàng còn đông khách. Cảnh thứ hai là khi cơn bão tới, nhà hàng hầu như không có khách và trông cô rất buồn. Ở lần thứ hai ấy, tôi cảm thấy rất thương cô. Lúc đầu, tôi không để ý lắm khi cô treo đèn lồng đỏ mỗi đêm. Nhưng khi cảnh đó lặp lại lần thứ hai ở gần cuối phim, với cơn bão đang đến, nhiều lá rơi rụng hơn, vắng khách hơn, với cảnh trung cận để thấy cô run rẩy trong cơn lạnh, tôi thật sự thấy buồn. Hình ảnh đèn lồng đỏ cũng khiến tôi nhớ đến phim Đèn lồng đỏ treo cao của Trương Nghệ Mưu.

Ngoài ra, tôi cũng thích cách Hồng Ánh bỏ một vài cảnh để đẩy nhanh câu chuyện của phim. Ví dụ: chị chỉ cho thấy cảnh Phước trèo lên và ngắm Chu, sau đó, người xem có thể thấy họ đã khá thân thiết với nhau. Không có cảnh lần đầu gặp gỡ với những câu hỏi căn bản như tên tuổi, hay những câu tương tự như thế. Tôi nghĩ đó là sự lựa chọn đúng. Và chị cũng không cho thấy những cảnh khá quan trọng ở một số phân đoạn, đặc biệt là phân đoạn cuối: cảnh Chu chết như thế nào. Người xem chỉ nghe thấy tiếng hét của bà vợ. Sau đó, người xem thấy cảnh khủng khiếp ấy qua góc nhìn của Phước. Và cuối cùng là góc cận khuôn mặt chết của Chu. Tôi rất thích cách xử lí này. Khi người xem không thấy toàn bộ diễn biến của câu chuyện, họ sẽ ngạc nhiên hơn vì họ không biết chuyện gì đã xảy ra, và sẽ diễn ra. Người xem chỉ có thể thấy kết quả. Điều ấy khiến tôi nhớ đến cuộc sống của chúng ta. Chúng ta thường chỉ chú ý đến những điều quan trọng khi mọi thứ đã quá trễ, khi ta đã mất nó. Cảnh này cũng vậy. Mọi người thường nhận ra vấn đề khi đã quá muộn, và cuối cùng, họ mất những gì quan trọng đối với họ.

Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Sinh ra trên đầu một cọng lông

Published

on

Triết học quen thuộc và gần gũi nhất với nhiều sinh viên Việt Nam là triết học Marx-Lenin. Karl Marx sống dậy chắc phải hết hồn trước sự thật này, vì ông từng tuyên bố: “Triết học dùng để nghiên cứu thế giới thực cũng tương tự như thủ dâm trong tình dục.”

“Triết học” (philosophy) là từ gốc Hy Lạp, nghĩa đen là “tình yêu dành cho trí tuệ”. Nhưng sau khi dự một lớp triết ở đại học, với những tư liệu sản xuất, kiến trúc thượng tầng, lượng đổi dẫn đến chất đổi… với đa số người, triết học trở thành “tình yêu dành cho sự chán ngắt”.

Ngoài Karl Marx, Lenin còn có Socrates, Plato…; ngoài đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa tư bản còn có cách để sống một cuộc đời ý nghĩa, làm thế nào để đương đầu với khổ đau… Triết học thật sự là một thế giới mầu nhiệm và thiết thân cho cuộc sống, hơn là một nhúm kiến thức học thuộc lòng để làm bài kiểm tra qua môn.

Nhà triết học trong cuốn Sophie’s World ví vũ trụ như con thỏ trắng vừa được lôi ra từ chiếc mũ ảo thuật, và tất cả con người thoạt tiên được sinh ra trên đầu những cọng lông thỏ và có thể chiêm ngưỡng trò ảo thuật kì diệu của thế giới. Nhưng càng lớn lên, con người càng tụt sâu xuống bộ lông thỏ và mất khả năng ngạc nhiên trước mọi sự. Thế giới trở nên hiển nhiên và cũ rích. Một đứa trẻ ra đời, hạnh phúc một tang gia, một tiếng chim hót, một con bướm bay, một giọt sương đọng trên lá chẳng còn làm ai mảy may xúc động. Cùng nhìn một thế giới nhưng người lớn thì buồn rầu, còn trẻ con thì sung sướng.

Triết học, vì thế, đưa người ta trở lại thành đứa trẻ, luôn trong trạng thái truy vấn và sửng sốt trước cuộc đời. Socrates – một trong những triết gia thông thái nhất của Hy Lạp cổ đại từng nói: “Có duy nhất một thứ tôi biết, đó là tôi không biết gì.” Không có gì mới dưới mặt trời, nhưng dưới con mắt hạn hẹp của con người, thế giới đầy những điều chưa biết.

Đặc biệt, trong thế giới công nghệ, với dòng thông tin luân chuyển vô tận, mọi thứ càng trở nên bớt chắc chắn: tin giả, thuyết âm mưu, ngụy biện, ngụy khoa học. Điều gì là đúng, điều gì là sai, làm cách nào mình tin một điều là đúng hay sai trở thành những câu hỏi khó trả lời. Thiếu một bộ hướng dẫn đạo đức để hành động đúng, mình dễ lẫn lộn giữa những giá trị thực và ảo, giữa những điều quan trọng và những thứ vụn vặt.

Đi làm để kiếm tiền, yêu đương để thấy mình có giá trị, làm việc tốt để được tán dương. Đến khi mất việc, mất người yêu, mất người hâm mộ, những gì mình từng tin là đúng, là cần thiết, là đáng để sống vì, đột nhiên trở nên vô giá trị, cuộc đời hóa thành bông hoa không màu. Lúc này, triết học có thể trở thành chốn nương nhờ. Triết học có thể giúp mình nhận chân những giá trị thực, truy tìm mục đích sống trong một thế giới giờ đây đã trở nên vô nghĩa lý.

Viktor Frankl – nhà thần kinh học, triết gia và là người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust đã tìm được sự an ủi từ triết học trong thời gian sống trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Trở đi trở lại trong cuốn tự truyện Man’s Search For Meaning của ông là câu nói của Nietzsche: “He who has a why to live for can bear almost any how.” Khi mình tìm được ý nghĩa trong những khổ đau không thể nào tránh khỏi thì cuộc đời vẫn đáng để sống.

Giới thiệu sách đọc để tìm “why” và leo lên lại sợi lông thỏ:

Sophie’s World – Jostein Gaarder (bản dịch tiếng Việt: Thế giới của Sophie): Một cuốn lịch sử triết học viết dưới dạng tiểu thuyết. Cô bé Sophie mười bốn tuổi bất ngờ nhận được một khóa triết học qua thư từ một triết gia bí ẩn. Vì những bài học trong sách viết để một cô bé có thể hiểu nên chắc ai đọc cũng hiểu.

A Little History of Philosophy – Nigel Warburton (mình nhớ là có bản dịch tiếng Việt): Một cuốn sơ lược về triết học viết rất hài. “Nếu bạn là một kẻ hoài nghi (skeptic) bạn sẽ cần những người bạn trung thành để giữ mình sống sót, vì bạn luôn tìm cách đâm đầu xuống vực vì không tin là mình sẽ chết.” (trích một câu trong sách)

A Short History of Nearly Everything – Bill Bryson (bản dịch tiếng Việt: Lược sử vạn vật): Cái tên nói lên nội dung rồi. Đây không phải là sách về triết nhưng đọc để thấy thế giới đầy những chuyện kì lạ và mắc cười. Billy là một trong những tác giả yêu thích nhất của mình: dí dỏm, duyên dáng và hài hước chết người. Aaa, mình dùng nhiều tính từ quá nhưng mà đọc đi chắc sẽ thích.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Chờ đợi ánh mặt trời

Hiện thực của chúng ta luôn có độ trễ, vậy tại sao không thể nhẫn nại với nhau hơn?

Published

on

Tháng Hai là thời gian lý tưởng để ngắm hoàng hôn ở Sài Gòn, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên Đán. Trời trong, ít khói bụi, nắng thường dịu và hiếm có mưa, độ ẩm không khí trung bình. Tôi chỉ cần tìm một địa điểm phù hợp, nơi có hướng nhìn về phía Tây thật thoáng đãng và an toàn, yên vị trong khoảng từ 5 giờ rưỡi tới 6 giờ tối. Nếu tôi ở lại thành phố này vào dịp Tết, ngắm hoàng hôn rơi xuống đường chân trời dường như là một nghi thức không thể thiếu. Và năm nay, tôi đã thông thạo các bước thực hành tới mức không còn phải đuổi theo ánh mặt trời nữa, tôi có thể chờ.

Mặt trời cách xa Trái Đất 147.86 triệu km; và ánh sáng từ mặt trời mất trung bình 8 phút 3, theo NASA, để tới được bề mặt hành tinh này. Vậy nên, ánh hoàng hôn mà tôi đang thấy đã là quá khứ của mặt trời. Giai đoạn hoàng hôn đẹp nhất thường diễn ra khá chóng vánh, dù có lẽ được cảm nhận tùy theo góc nhìn của từng người, nhưng cũng khó lòng nhiều hơn 20 phút. Hãy tưởng tượng, khi ta đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu dàng và trầm mặc của tấm nền cam thẫm trước mắt, mặt trời thực chất đã tiến sang phía kia địa cầu rồi. Khung cảnh ta đang thấy, xét theo nghĩa đen, chỉ là một ảo ảnh.

Hiện thực ta cảm nhận luôn có độ trễ, ít hoặc nhiều. Bởi ánh sáng phản chiếu từ sự vật mất thời gian để tới với thị giác, thị giác mất thời gian truyền tín hiệu cho não, còn não lại là bộ máy phân tích và xử lý dữ liệu cực kỳ cồng kềnh. Cảm nhận về hiện thực không chỉ lệch so với chính hiện thực, mà còn méo theo cách nhào nặn của sơ đồ cảm xúc và nhà kho ký ức của từng người. Với chừng ấy biến số, thật khó để nói hiện thực tóm lại là gì và bây giờ là bao giờ? Cảm ơn Shiba đã chia sẻ video được chèn link phía trước với chị.

Hiểu được điều này ở góc nhìn khoa học giúp tôi dễ thấm hơn cái gọi là “xỏ chân vào đôi giày của người khác”, dù làm sao tôi có thể xâm nhập ý thức của bất cứ ai để cảm nhận hiện thực trong não họ cơ chứ?

Lấy ví dụ, tôi từng bất an khi phải nhìn những vật thể có sự kết hợp của màu trắng và đỏ tươi do một kỷ niệm xấu thuở nhỏ; chấn thương tâm lý khiến tôi khước từ viên kẹo Alpenliebe vị sữa dâu, dù với đa số trẻ con, đó là món quà ngọt hấp dẫn. Bạn có khó hiểu khi một người tỏ ra sợ viên kẹo sữa dâu không? Nếu ta chấp nhận rằng hiện thực chủ quan của mỗi cá nhân đều là độc nhất và có độ vênh với hiện thực khách quan, mọi rối loạn tâm lý dường như đều trở nên hợp lý; không phải tính bất biến, đồng đều mà chính cái xáo động và khác biệt mới là bình thường – một bình thường mới.

Với tôi, hoàng hôn đẹp từ tận lúc mặt trời còn trên cao thế này cơ.

Càng nhìn rõ được điều này, tôi càng nhẫn nại. Tôi có thể ngồi đó, giữa khe hở thời gian, ở đường biên của mỗi tích tắc để tập quan sát trong thinh lặng. Mặt trời đang rơi xuống sau những tòa nhà của thành phố, các bạn tôi đang chạy trên bánh xe thời gian và vòng xoáy tiến hóa của họ, cũng như tôi. Tôi có thể chờ đợi mà không cảm thấy bứt rứt hay hối hả, cứ như tôi đã ở nơi thời gian dài ra gấp mười, hai mươi lần.

“Kỳ Lân ạ, cả thế giới này đang hối thúc em gấp gáp lên đi, đồng hồ sinh lý đang quay với tốc độ ngày một chóng mặt. Nhưng chị mong em sẽ không phải cuống cuồng chạy như bị ma đuổi sau lưng và cũng không phải nuối tiếc những ngày quá vãng. Chị mong em có thể cẩn thận ghé qua từng căn phòng trên hành lang ký ức đó, vặn tay nắm để ngó vào xem ở trong có đủ những món em cần chưa. Chị mong em có thể ở lại mỗi nơi lâu hơn chút, để lỗ hổng trong lòng dần được lấp đầy và hiện thực cảm nhận ấy hằn sâu vào tâm trí. Để sau này, dù em có ra khỏi hành lang ký ức và rẽ qua con đường hướng tới tương lai, cơ thể em sẽ đầy đặn như chưa từng bị rách một miếng nào cả; và chỉ cần em nhắm mắt lại, căn phòng ký ức sẽ luôn hiện ra trọn vẹn, huy hoàng hệt như ngày đầu tiên”.

Thời gian không tuyến tính. Trước đây – bây giờ – sau này có thật sự được đo bằng tuổi tác sinh lý của chúng ta không? Có phải chúng không tách biệt mà luôn song song, đan xen, va đập không ngừng?

Tôi sẽ có gấp mười, hai mươi, ba mươi lần thời gian… để tiếp tục suy ngẫm về chúng.

https://youtu.be/hvFoVGXVaxs

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Đuổi theo ánh mặt trời

Tôi đã dành nửa giờ đồng hồ của buổi chiều tháng Hai để đuổi theo ánh mặt trời.

Published

on

Hoàng hôn giống như tuổi 20, thường trôi qua chỉ trong chớp mắt. Mặt trời chỉ tròn lẳn và dịu dàng trong mười mấy phút của buổi chiều tàn. Thế nên tôi đã chạy, chạy như điên quanh những cung đường ngoằn ngoèo của quận 2. Tôi lên cầu và xuống cầu, áo khoác bay phần phật trong gió, mắt dõi theo ánh mặt trời.

Tôi đi chậm lại ở một đôi chỗ, nhưng đó vẫn chưa phải địa điểm thích đáng nhất. Có vài người dừng để chụp ảnh, nhưng tôi không. Tôi tự gào lên trong tâm trí: “Không phải chỗ này, đây chưa phải chỗ tốt nhất”. Và cứ thế phóng đi vội vã.

Đuổi theo ánh mặt trời, cho đến hôm nay, lần cuối cùng tôi làm việc này là lúc nào?

Tôi không thể nhớ nổi, cũng như đã quên đi rất nhiều điều quan trọng khác.

Mặt trời trôi dần về phía Tây, ánh sáng màu cam rực lên rồi tỏa ra khắp thiên không và trên mặt nước. Tầng trời cao hơn phủ sắc xanh lam dịu, mịn và xưa cũ như nước ảnh màu của những năm 70.

“Trong khoảng thời gian mặt trời nằm ở phần thấp trên đường chân trời, quãng đường các tia sáng mặt trời phải chiếu xuyên qua bầu khí quyển dài hơn 30%. Những ánh sáng có bước sóng ngắn như tím và xanh da trời bị tán xạ nhiều, chỉ còn những ánh sáng có bước sóng dài hơn như vàng, da cam, đỏ ít bị tán xạ được truyền đến mắt người”. Đây là cách lý giải dễ hiểu về màu sắc hoàng hôn của thuyết tán xạ Rayleigh.

Còn đây, là cách tôi biết mặt trời hôm nay sẽ trôi dần về phía Tây từ bao giờ.

Khi nhìn về phía quả cầu lửa giữa Thái Dương hệ ấy, tôi cảm thấy bản thân thật trơ trọi. Giống như khi ngước mắt lên nhìn bầu trời với hàng triệu ngôi sao vào đêm hay tình cờ bắt gặp trăng xanh trên đường về nhà. Trong khoảnh khắc, cuộc đời tôi trở nên thật kém nghĩa lý.

Vũ trụ đã hình thành từ hàng chục tỷ năm trước và vũ trụ sẽ còn đó sau khi tôi chết rất lâu nữa. Mọi suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng, trải nghiệm… của tôi ở hiện tại này rồi sẽ hóa thành tro bụi và rã ra từng phân tử trong chỉ một thế kỷ. 

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi không còn là tôi hôm nay. Tôi lại là cô bé mười tuổi ngẩn ngơ dùng chiếc điện thoại nắp gập của bố chụp ánh hoàng hôn rơi trên cánh đồng. Bố đã dùng tấm ảnh ấy làm hình nền trong thời gian dài. Sau đó ông rời bỏ tôi. Và giờ đây ông trở về. Nhưng bức ảnh xưa đã vĩnh viễn mất đi cùng một phần con người tôi, không thể vãn hồi được nữa.

Ánh mặt trời của buổi chiều tàn ngự trị trong mọi mảng ký ức rời rạc về tuổi thơ. Những ngày Hè muộn khi đài tiếng nói cất lên tiếng nhạc hiệu não lòng, hoàng hôn chảy xuống sau những tán cây rậm rạp. Tôi bám lấy bức tường màu vàng tróc lở và mải miết nhìn về phía đó, mồ hồi nhớp nháp trên trán.

Ánh sáng hoàng hôn lướt qua ống điếu và đôi bàn tay đồi mồi của ông nội, tràn lên bộ lông đen óng của con Mun và phủ thêm lớp màu đỏ rực trên khoảnh sân gạch nung. 

Vài năm sau, tôi chảy nước mắt với 40 lần hoàng hôn xoay vòng ở hành tinh B612 của Hoàng Tử Bé. Cậu thật cô đơn.

Khi đuổi theo ánh mặt trời, tôi thấy rõ hơn bao giờ cảm giác lạc lõng trong thế giới này. Chỉ có tôi và mặt trời đang dần biến mất sau những tòa nhà, những dãy núi, những cánh đồng…

Nhưng cảm giác lạc lõng ấy không đi kèm với nỗi buồn. Không có nỗi buồn nào cả. Chỉ có sự thanh thản.

Dù là trên cây cầu của thành phố phồn hoa nhất hay giữa nghĩa địa của một làng quê, hoàng hôn nhắc tôi nhớ rằng số mệnh cuối cùng của con người là đơn độc. Chúng ta đi qua chặng đường dài với những mối liên kết tạm bợ và chết một mình. Phía trước và phía sau đều như thế, vòng tròn rắn cắn đuôi của Auryn hay vòng tròn loang nét mực của Karma, không có gì đổi khác.

Thế nên cuối cùng, tôi dừng lại ở nơi thích đáng nhất và nghe trọn vẹn bản The Sower with Setting Sun của Clint Mansell. 

https://www.youtube.com/watch?v=kJ8sg9akQNI

Tôi chụp một tấm ảnh khi đã nguôi đi hơi thở gấp gáp vì vội đuổi theo ánh mặt trời, thong thả đi một vòng quanh thành phố này trước khi về tổ.

Có lẽ tài năng lớn nhất của tôi chính là tự xoa dịu bản thân, tự làm lành với quá khứ và không chờ đợi bất kỳ sự hỗ trợ khách quan nào khác. 

Năm mới của tôi đã bắt đầu như thế. Một mình, đuổi theo ánh mặt trời.

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng