Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Truyện cổ tích và sự khác biệt trong cách các nền văn hóa nhìn nhận thế giới

Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào.

Published

on

Hôm nay là Lễ Giáng Sinh, và tôi đang ngồi đây đọc đến ba quyển sách cho đứa con trai sáu tuổi trước khi nó đi ngủ. Trong đó, có một quyển truyện Nhật Bản mà tôi chưa từng đọc, nói về thế giới của chú mèo trắng tinh nghịch mang tên Nontan.

Trong Nontan! Santa kìa!, Nontan khởi đầu hành trình trong đêm đầy tuyết, cầm theo chiếc tất Nô-en với hy vọng gặp Ông Già Tuyết và mau chóng nhận được món quà cậu mong muốn: một chiếc xe đồ chơi màu đỏ. Bên ngoài căn nhà của ba chú thỏ bạn cậu (những người đang ngủ ngon lành), Nontan thấy được Santa! Nhưng ông già Nô-en lại là một chú thỏ. Nontan được chỉ rằng cậu phải tìm ra ông già Nô-en cho mèo, vì ông già Nô-en thỏ không được phép tặng bất cứ thứ gì cho loài mèo. Bên ngoài căn nhà của bạn gấu (cũng đang ngủ say), Nontan lại tìm thấy Ông già Nô-en, nhưng tất nhiên, ông già này là dành riêng cho gấu mà thôi.

Nontan nhỏ bé lê bước mệt nhọc trong bộ quần áo ngủ, tay cầm chiếc tất Giáng sinh, và bầu trời nhanh chóng tràn ngập ông già Nô-en bay vụt qua. Trong cơn mê sảng do giảm thân nhiệt (tôi đoán thế), Nontan thấy một Santa cá vàng bơi trong bể cá trên chiếc xe tuần lộc. Có Santa tuần lộc, Santa rắn (được kéo bởi hai con rắn khác), Santa cua (được kéo bởi một con rùa), Santa nhện (đi nhờ xe của Santa người) và thậm chí cả mụ phù thủy Halloween cũng bay dạo một vòng. Nhưng chẳng có Santa mèo. Nontan nhanh chóng ngủ quên dưới một tán cây, trong khi tuyết tiếp tục rơi. Thế giới thật lạnh lẽo với một chú mèo nhỏ bị lạc trong đêm tuyết.

Tất nhiên ở phương Tây chỉ có một ông già Nô-en mà thôi (không tính ông già Nô-en trong siêu thị). Nhưng con trai của tôi, từ nhỏ đã được nghe những câu chuyện từ cả phương Tây và phương Đông, không có vấn đề gì với tình tiết lạ lùng này. Đó chỉ đơn thuần là một câu chuyện. Có một thể loại truyện khác, lấy bối cảnh Nhật Bản, trong đó thứ này luôn biến thành hàng trăm thứ khác nhau; nơi động vật, đôi lúc cả đồ ăn trong tủ lạnh, có thể nói chuyện, và mạch truyện không cần phải đi theo những xu hướng tuyến tính thông thường. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nhận thấy: chúng ta đã mặc định phương hướng phát triển của mạch truyện từ khi còn rất nhỏ. Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

*

Tôi đã nghĩ rất nhiều về cách chúng ta tiếp thu các câu chuyện. Trong những năm tôi hai mươi, tôi từng nhận lá thư từ chối từ nhà xuất bản cho một bản thảo (mà bây giờ tôi hy vọng không ai đọc được nó). Lá thư có những cụm từ như “trở thành một nhà văn tốn rất nhiều thời gian”, và “có lẽ cô nên cân nhắc đến trường học hỏi.” Cô ấy cũng đề nghị tôi nên đọc The Writer’s Journey (tạm dịch: Hành trình của một nhà văn) của Christopher Vogler.

Tựa đề The Writer’s Journey được lấy cảm hứng từ quyển The Hero With a Thousand Faces (tạm dịch Người anh hùng với 1000 khuôn mặt) của Joseph Campbell, xuất bản năm 1949. Quyển sách sử dụng trường phái tâm lý học của Carl Jung để minh họa cho lý thuyết tất cả các thần thoại về cơ bản đều là một. Nhân vật chính – người anh hùng – vượt qua khó khăn trong hành trình tìm được chính mình. Ẩn chứa trong những truyền thuyết này là bí quyết hữu dụng để tiêu diệt những con rồng ẩn dụ, chế ngự Medusa (hoặc có lẽ là làm thế nào để ngay từ đầu không biến thành Medusa), và vì sao bạn không nên yêu mẹ mình nhiều quá. George Lucas ghi nhận Joseph Campbell là người đã truyền cảm hứng để ông thêm thắt những yếu tố thần thoại vào Chiến tranh giữa các vì sao, ám chỉ rằng câu chuyện của Luke và Jedi không chỉ là một bộ phim hoạt hình thứ bảy đóng gói trong dạng thức điện ảnh – bom tấn khoa học viễn tưởng này có nội dung sâu sắc hơn thế. 

The Writer’s Journey khuyến khích các nhà văn phải hiểu phương hướng kiểu mẫu của truyền thuyết để viết nên những câu chuyện hoàn hảo, kết nối được với độc giả (và sẵn tiện kiếm bội tiền). Vogler giải thích rằng quyển sách của ông là lời nhắn nhủ nội bộ đến những công ty làm phim, và nó là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp vào sự trỗi dậy của phim Disney vào cuối thập niêm 80 của thế kỉ XX, một quá trình bắt đầu bằng Nàng tiên cá, và đạt đỉnh cao gần đây nhất là Chiến tranh những vì sao: Thần lực thức tỉnh

Vì vậy, tôi đọc The Writer’s Journey. Tôi đọc về Sự Từ Chối Lời Kêu Gọi (The Refusal of the Call – việc nhân vật chính thoạt tiên từ chối không can dự dù sứ mệnh đã xuất hiện), và nếu bạn đã xem bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới đây, bạn sẽ thấy nhân vật Rey cũng trải qua Sự Từ Chối này. Tôi đã đọc về Vị Cố Vấn Thông TháiCon Đường Đi Đến Nội Tâm Trong Nhất. Tôi đọc về cách làm thế nào, trong những câu chuyện nổi tiếng, người anh hùng kết thúc cuộc hành trình và nhận được cái mà Vogler gọi là Phần Thưởng. Chỉ khi người anh hùng hoàn thành cuộc hành trình, người đọc mới được trải nghiệm cái cảm xúc mà Aristotle gọi là “sự thở phào”. Một câu chuyện chỉ thành công khi có được sự đồng cảm từ độc giả. Ta đã được trải nghiệm cảm giác đó khi E.T. về nhà (E.T.) và khi Rose sống sót qua thảm hoạ và thay đổi theo hướng tích cực hơn từ những trải nghiệm trên tàu Titanic (Titanic).

Khi Vogler viết rằng một câu chuyện thành công sẽ kích hoạt phản ứng cơ thể, tôi hiểu ý ông ấy. Ai mà không hiểu chứ? Ai mà không từng ngồi hàng giờ trước TV, xem một bộ phim làm thay đổi cảm xúc của bạn. Mặt khác, một số bộ phim và tiểu thuyết, vì lý do gì đó, có cảm giác như đang cố thao túng cảm xúc của khán giả. Vào những năm tôi hai mươi, tôi rất bực bội với những tiểu thuyết kết thúc bằng A) cái chết của ai đó và B) một em bé vừa chào đời. Không may là mọi thứ từ Fried Green Tomatoes (tạm dịch Cà chua xanh chiên) cho đến Cold Mountain (tạm dịch Núi lạnh) đều đi theo cấu trúc này. Tất nhiên là phải có em bé! Nếu tôi muốn dành thời gian cho một trải nghiệm được thiết kế để buộc tôi đẩy cảm xúc theo phương thức gượng ép nào đó, thà tôi uống thuốc ngủ Ambien.

Đồng thời, tôi cũng không muốn đọc một quyển sách mà tác giả cố ý tạo ra những tình huống không thể đoán trước được. Đã có một thời thịnh hành xu hướng giết chết nhân vật được yêu thích. Ai mà quên được người hâm mộ đã điên tiết như thế nào với bộ phim khoa học viễn tưởng Serenity (tạm dịch Tĩnh lặng) khi một tia sáng đi lạc cắt đôi nhân vật Wash một cách thô bạo? Cái chết của Wash không giống như một điều cần thiết cho mạch truyện, mà giống như biên kịch hả hê nói “Nhìn những gì mà tôi có thể làm này! Tôi có thể phá vỡ dự đoán của các bạn!” Tất nhiên là vào năm 2016, một nhân vật được yêu thích như Han Solo phải chết thôi. 

Tôi ngờ rằng, nếu bạn đang đọc bài viết này, bạn cũng là một độc giả vừa cẩn trọng mà vừa mạo hiểm tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ. Bạn cũng đang đồng thời tìm một câu chuyện giống một câu chuyện, nhưng không phải là bản sao của những thứ bạn từng đọc trước đây. Bạn muốn được chìm đắm, muốn được thấy cảm động. Bạn muốn sự chân thật. Và tất nhiên, bạn muốn câu chuyện phải có hiệu quả.

*

Một phần tuổi thơ của tôi trải qua ở Nhật; mẹ tôi dẫn tôi đến đây mỗi mùa hè. Trong khi tôi chỉ được phép xem TV hai giờ một tuần ở Mỹ (bố mẹ tôi cực kì tin vào xếp hạng phim), ở Nhật tôi được phép xem TV bao lâu cũng được, với lý do là nó sẽ giúp tôi cải thiện tiếng Nhật. Vì vậy tôi xem quên trời. Đôi lúc tôi sẽ thấy thứ gì đó trên TV gây sự chú ý sâu sắc, kích thích trí tưởng tượng và tình yêu của tôi, nhưng đồng thời cũng khiến tôi khóc lóc nhiều đến nỗi mà mẹ phải ngồi hàng giờ, cố gắng an ủi tôi vì sự bất công hay là cái kết bi kịch trong phim; bà càu nhàu về cái nền văn hoá của chính bà đã tạo ra cái kết buồn thảm thiếu trách nhiệm như vậy. Bởi vì ở Nhật Bản, các câu chuyện có thể buồn một cách tuyệt vọng, không thể cứu vãn được. Ma quỷ có thể chiến thắng nhân loại. Người ta còn quan hệ tình dục trên TV và còn hở cả ngực. Những câu chuyện này – hay chính cuộc đời – đầy những âu lo, nhưng cũng màu sắc hơn, như thể chỉ việc sống trong phim truyền hình Nhật còn can đảm hơn ở nhà. Nhưng nó không phải là một sự âu lo giả tạo. Sống trong một thế giới vừa năng động vừa tràn ngập nguy hiểm, hậu quả là những người vô tội vẫn đang phải chịu đựng khổ đau hàng ngày.

Trong hai thập kỷ qua, thật thú vị khi chứng kiến sự thăng hoa của phim hành động Hong Kong và phim hoạt hình Nhật Bản, hay manga và anime, đặc biệt tại thị trường phương Tây. Đi kèm theo đó là sự nổi lên của một vài tiểu thuyết gia, điển hình là Haruki Murakami. Tôi nghĩ một bộ phận độc giả thích chúng là bởi vì cái cách tiếp cận câu chuyện rất “mới mẻ”.

Ví dụ như trong phim Spirited Away (Vùng đất linh hồn), cô bé nữ chính Chihiro đột nhiên bị chia tách với bố mẹ, lạc vào một thế giới khác, đầy các vị thần và các sinh vật vô hình thích tụ tập trong nhà tắm công cộng. Để quay về với bố mẹ, Chihiro phải làm việc cho nhà tắm này. Đường về nhà thì còn vòng vèo hơn cả Dorothy tìm đường về Kansas (Phù thuỷ xứ Oz). Dorothy biết rằng mình phải diệt hai trong số bốn bà phù thuỷ (tất nhiên là phù thuỷ tốt phải đẹp, và phù thuỷ xấu người thì cũng xấu bụng nốt), sau đó phải gặp Thầy Phù Thuỷ nữa. 

Đường về nhà thì không rõ ràng như vậy với Chihiro. Trong lúc làm việc ở nhà tắm, Chihiro gặp bà chủ Yubaba với cái mũi to, cái đầu quá khổ và nếp nhăn đầy mặt. Thoạt tiên, trông bà hệt như định nghĩa về mụ phù thuỷ xấu xí trong truyện cổ tích thường thấy. Nhưng khi bộ phim tiếp diễn, người ta càng ngày càng mơ hồ, liệu Yubaba có thật sự độc ác không? Khi em gái sinh đôi của bà, Zeniba xuất hiện, cùng những đặc điểm này lại tạo cảm giác ấm áp giống bà ngoại. Người lớn tuổi, với ngoại hình của họ, có thể dễ dàng đóng cả hai vai như Zeniba và Yubaba. Sự linh hoạt này xuất hiện rất thường xuyên trong những câu chuyện Nhật Bản (vậy nên ông già Nô-en ở trong thế giới của Nontan mới có vô số hình dạng như vậy). Còn chúng tôi, những người phương Tây thì chỉ mới bắt đầu được trải nghiệm điều này thôi. 

Khoảng một thập kỉ trước, tôi bắt gặp một quyển sách, một sự bổ trợ tuyệt vời cho The Writer’s Journey. Quyển The Japanese Psyche: Major Motifs in the Fairy Tales of Japan (tạm dịch Tâm thức Nhật Bản: Các mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật) của tác giả Hayao Kawai, nghiên cứu các truyện cổ tích Nhật Bản, và vì sao những truyện này có rất nhiều ý tưởng và chủ đề tương tự nhau, nhưng lại xa lạ với độc giả phương Tây. Kawai thường được nhắc đến như là nhà tâm lý học Nhật Bản đầu tiên được đào tạo như một nhà phân tích theo trường phái Carl Jung. Nhưng khi Kawai từ Thuỵ Sĩ trở về Nhật Bản, ông nhận ra rằng một vài trong số các “quy tắc” trong việc diễn giải thần thoại không thật sự áp dụng được với văn hoá Nhật Bản. Hơn thế nữa, các câu chuyện càng không hợp với các quan niệm có sẵn của văn hoá phương Tây. 

Kawai nêu ra một ý tưởng rằng thực tại thật ra rất uyển chuyển, theo cái cách của Yubaba-Zeniba. Ông viết: “Thực tại bao gồm rất nhiều tầng lớp. Chỉ có trong cuộc sống hàng ngày, các tầng lớp mới trông có vẻ như là hợp lại thành một, vô hại với chúng ta. Tuy nhiên, những tầng lớp sâu hơn có thể phá vỡ và trồi lên bề mặt ngay trước mắt ta. Những câu chuyện cổ tích là ví dụ.” Đằng sau những tầng lớp thực tại này là gì? Nếu bạn quen thuộc với những tác phẩm của Murakami, bạn sẽ biết ông thích khám phá những thực tại ẩn sau thực tại; không phải là ngẫu nhiên mà Kawai là bạn thân của Murakami. Các nhà văn phương Tây đã bắt đầu áp dụng phong cách kể chuyện của Murakami/Kawai. Ví dụ như David Mitchell, người đã sống ở Nhật Bản, cũng có cách kể chuyện xoay vần và đảo lộn thời gian và thực tại trong tác phẩm Cloud Atlas (Bản đồ mây). 

Kawai cũng giới thiệu khái niệm “giải pháp mỹ học”. “Các câu chuyện cổ tích phương Tây thường được giải quyết bằng một cuộc xâm lược, hoặc một đám cưới. Các ví dụ thì nhiều vô kể: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Nàng Lọ Lem, Bạch Tuyết,… Nhưng trong cổ tích Nhật Bản, hiếm khi có sự hợp nhất. Thường câu chuyện được giải quyết bởi một “giải pháp mỹ học”. Và mỹ học ở đây được hiểu là các hình ảnh từ thiên nhiên. Để lấy ví dụ, ông mở đầu quyển sách của mình với cuộc thảo luận về câu chuyện cổ tích Chim chích trong bụi

Một người tiều phu đang ở trong rừng bỗng bắt gặp một tòa lâu đài mà anh chưa từng nhìn thấy trước đó. Anh gặp một người phụ nữ xinh đẹp; cô mời anh vào nhà và nhờ anh trông nom nhà cửa khi mình đi vắng, với điều kiện là anh hứa sẽ không nhìn trộm những căn phòng phía trong. Ngay khi người phụ nữ rời khỏi, người tiều phu đã phá vỡ lời hứa. Anh dạo chơi xung quanh và gặp ba người phụ nữ đang quét nhà. Họ thấy anh và lủi đi nhanh như chim sẻ. Còn lại một mình, người tiều phu bắt đầu ăn trộm những đồ vật tinh xảo, đắt tiền ở đó. Anh nhặt một cái tổ có ba qua trứng lên. Anh làm rớt cái tổ và trứng vỡ. Người phụ nữ xinh đẹp trở về nhà và hạ nhục anh do đã “giết chết ba đứa con của nàng”. Cô hóa thân thành một con chim chích và bay đi mất. Lúc này, người tiều phu chỉ còn lại một mình trong rừng, những đồ vật đẹp đẽ đánh cắp được đã biến mất. Cái còn lại chỉ là những kí ức về cái đẹp. 

Kiểu kết này, theo Kawai, không hiếm gặp ở Nhật. Trong truyện cổ tích phương Tây, người tiều phu có thể trở thành một hoàng tử và cưới người phụ nữ xinh đẹp và bí ẩn. Nhưng ở Nhật thì không. Thay vào đó, câu chuyện kết thúc bằng “giải pháp mỹ học”: nhân vật chính chỉ còn lại một mình để suy ngẫm về sự tồn tại của bản thân trong phông nền thiên nhiên xinh đẹp. Hay có lẽ tôi đang quá áp đặt cái nhìn của phương Tây vào đây. Có lẽ sự tồn tại của anh không phải là vấn đề. Có lẽ tất cả những gì anh còn lại chỉ là những hình ảnh đẹp. 

Kawai nói: “Tại Nhật Bản, đặc biệt là thời cổ đại, giá trị hình ảnh và đạo đức là không thể tách rời. Cái đẹp có lẽ là yếu tố quan trọng nhất cần phải tìm hiểu để hiểu được văn hoá Nhật. Trong truyện cổ tích cũng vậy, phong cảnh đẹp đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của câu chuyện.” Thật ra, “truyện cổ tích Nhật Bản nói cho chúng ta rằng thế giới thật đẹp, và cái đẹp đó chỉ hoàn hảo nếu bạn chấp nhận sự tồn tại của cái chết.” Người ta có thể viết cả chồng giấy về một kết luận này, nhưng ở đây tôi sẽ nói rằng đây là sự thấu hiểu rất quan trọng cho rất nhiều tiểu thuyết Nhật Bản, như kiệt tác The Makioka Sisters (tựa tiếng Việt Mong manh hoa tuyết) của Jun’ichiro Tanizaki, hay bộ bốn quyển sách của Yukio Mishima. Bạn cũng nên nhớ tới tác phẩm có lẽ dũng cảm nhất, quan trọng nhất đang được thực hiện để giới thiệu văn học Nhât Bản đến với người đọc phương Tây: Tôi đang nói về tờ Monkey Business, tờ tạp chí văn học biên tập bởi Roland Kelts, hợp tác với A Public Space. Thậm chí cả khi bạn chỉ đọc mỗi những câu chuyện trong này, bạn sẽ nắm bắt được một ít về cái thế giới hiện đại quen thuộc với chúng ta, nhưng trông có vẻ và có cảm giác hơi xa lạ với những người có nền tảng văn hoá khác hoàn toàn khác biệt. 

Đã khá lâu rồi tôi không đọc The Writer’s Journey, nhưng tôi khá chắc rằng nó sẽ không chứa những thông tin về việc “từng ngắm nhìn một khung cảnh đẹp đẽ, nhưng giờ đây chẳng còn gì sót lại” như là Phần Thưởng cho sứ mệnh của người anh hùng. Thế nhưng, có lẽ đây mới chính xác là thứ kiến thức mà những kẻ kiếm tìm chân thực phải chấp nhận khi họ già đi. Có lẽ, đây mới là bài học can đảm nhất. 

*

Một vài người cho rằng các câu chuyện Hollywood đang trở nên quá phổ biến trên toàn thế giới, và chúng đã làm xóa nhoà quan niệm rằng câu chuyện nên diễn biến như thế nào. Nếu những câu chuyện của chúng tôi phản ánh bản chất con người phương Tây, thì thật đáng tiếc, bởi vì tôi thấy góc nhìn của những người khác, ví dụ như cái đẹp cũng có giá trị nhân văn, cũng thú vị và đáng giá như các ý nghĩa đằng sau việc đi giết rồng. 

Trong quyển The Writer’s Journey tái bản lần ba, phần lời dẫn, thậm chí Vogler cũng thừa nhận các câu chuyện ngày nay cần trở nên phức tạp hơn. Ông viết về những đất nước e sợ thói anh hùng như Đức hay Australia (đất nước này có lẽ hơi quan ngại về chủ nghĩa anh hùng, bởi vì chính khái niệm này đã dụ dỗ họ tham gia chiến tranh vì lợi ích của những kẻ xâm lược họ – nước Anh). Ông nói về sự ra đời của máy tính và Internet và cách nó đã khiến cho chúng ta không còn trông đợi các câu chuyện phải có diễn biến tuyến tính. Ông khẳng định rằng, người ta mong đợi những câu chuyện phá vỡ cấu trúc thường thấy – điều này được đáp ứng từ nền văn hóa ngoài lãnh thổ. 

Vậy, câu chuyện của Nontan kết thúc như thế nào? Cậu ngủ quên dưới tán cây, và khi gần bị đông chết, cậu được… ông già Nô-en mèo tìm thấy. Ông già Nô-en mèo chở Nontan về nhà trên chiếc xe kéo của ông, nhưng Nontan thì hoàn toàn chẳng hay biết bởi vì cậu thiếp đi cả quãng đường. Buổi sáng, khi Nontan tỉnh dậy, cậu thấy một chiếc xe đồ chơi màu đỏ trong chiếc tất Nô-en của mình. Và cậu ra ngoài để gặp các bạn, họ cũng có những món đồ chơi mới. “Ước gì ngày nào cũng là Giáng sinh,” tất cả các con vật đồng thanh khi đang ăn bánh kem dâu tây, loại bánh truyền thống trong dịp Giáng sinh Nhật Bản. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ ngoại nhập phổ biển tại đất nước này. Và tương tự, phương thức kể chuyện lại một lần nữa được làm mới.

Hết. 

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Marie Mutsuki Mockett, đăng tại Literary Hub.


Đọc tất cả bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích


Trà chiều

Chấm xanh mang tên Phương Nam trong 39 năm lịch sử vàng son của Sài Gòn

Published

on

39 năm làm bạn với Sài Gòn cũng là 39 năm nhìn thời cuộc thay đổi, bao biến động trôi qua và chứng kiến ba lớp thế hệ người ta trưởng thành.

Khởi điểm bằng cách “xé rào văn hóa” thời bao cấp 

Tua ngược trở về thời điểm 40 năm trước, Sài Gòn của thời bao cấp hoàn toàn khác với một Sài Gòn phóng khoáng của bây giờ.

“Nhà sách tự chọn” từng là một khái niệm không tồn tại.

Thời bao cấp, việc xuất bản sách có một hệ thống phát hành riêng. Không ai được phép xuất bản trật đường ray khỏi quy trình phân phối của Đảng. Có thể hiểu là, các nhà xuất bản sau khi in sách xong thì phải giao cho Công ty Phát hành sách Trung ương hoặc Thành phố. Người đọc nhận sách từ các cô mậu dịch viên với gương mặt lạnh tanh cùng biểu cảm “như sắp ban ơn cho người khác”. Hơn nữa, trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, sách và tập học sinh thường sử dụng giấy tái chế, dẫn đến chất lượng giấy và chất lượng in đều rất kém.

Không hài lòng với cung cách phân phối lưu thông cũ kỹ này, một nhóm những sinh viên và tri thức trẻ “khát sách” thời bấy giờ đã vận động kêu gọi sự “xé rào trong văn hóa”, cụ thể là thay đổi quá trình xuất bản và phân phối sách. Họ đã không ngần ngại cày xe cuốc bộ đến các nhà xuất bản xin phép liên kết phát hành – một việc chưa hề có tiền lệ tại Sài Gòn! May mắn thay, họ đã nhận được sự ủng hộ của Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (mà sau này là Thủ tướng Chính phủ) Võ Văn Kiệt.

Ngày khai trương Nhà Sách Phương Nam - Đại Thế Giới (Quận 5)

Cửa hàng sách đầu tiên của Công ty Văn hóa Tổng hợp Quận 11 (một cái tên đúng điệu thập niên 90!) ra đời với diện tích rộng 300-400 mét vuông, để khách hàng có thể thoải mái xem sách, lựa chọn và tính tiền. So với thời nay thì chẳng có chi mới mẻ và độc đáo, nhưng mô hình “nhà sách tự chọn” đầu tiên đã gây nên cơn sốt tại Sài Gòn vào năm 1982.

Không còn hình ảnh các cô mậu dịch viên “khó ở trong truyền thuyết”, nay ta được ngắm các cô nhân viên nhà sách trẻ trung, nền nã, duyên dáng trong tà áo dài thoăn thoắt phục vụ khách. Đội ngũ nhân viên ấy là một phần không thể thiếu trong việc trao gửi những cuốn sách chất lượng đến tay nam thanh nữ tú yêu sách, yêu văn hóa đọc. Họ cũng trở thành một biểu tượng của nhà sách thuở ấy, làm biết bao trái tim nam thanh niên Sài Thành rung động.

Nhà Sách Phương Nam - Phú Thọ (Quận 11)

Năm 1999, Công ty Văn hóa Tổng hợp Quận 11 đổi tên thành Nhà Sách Phương Nam. Lấy trọng tâm là Sài Gòn, lan tỏa tri thức khắp miền Nam (và xa hơn nữa).

Trưởng thành cùng Gen X, Millennial và Gen Z

Là "nhà sách tự chọn" tiên phong tại Sài Gòn, nhưng khi thời cuộc thay đổi, Phương Nam có giữ vững được vị thế của người đi đầu không?

Sài Gòn từ thập niên 90 đến khi bước sang thiên niên kỷ mới đã trải qua nhiều biến chuyển, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần. 30 năm, Nhà Sách Phương Nam chứng kiến sự ra đời và “trỗi dậy” của Gen X, Millennial và sắp tới là Gen Z. Hiện nay, những thế hệ này chiếm đa số trong tệp khách hàng của Nhà Sách Phuơng Nam, càng ngày càng tự tin và khẳng định mình chính là lực lượng cốt yếu tô vẽ nên tấm phông nền độc đáo mang tên văn hóa Sài Gòn.

Thời bao cấp trôi qua, Gen X - những người con trưởng thành trong bối cảnh xã hội mới có đầy đủ điều kiện học tập, với nguồn tài chính dồi dào và nhu cầu văn hóa nâng cao. Lúc này, nhà sách không chỉ đơn thuần là nơi đến, lựa sách và mang về đọc, mà cần phát huy tiềm lực trở thành một địa điểm tham quan và giải trí cho giới trẻ sau 8 tiếng học tập và làm việc.

Nhà Sách Phương Nam quyết định đưa mô hình nhà sách vào các Trung tâm thương mại lớn, khởi đầu là Vincom Lê Thánh Tôn (quận 1). Thời điểm bấy giờ, đây là một quyết định liều lĩnh, nhiều ý kiến cho rằng Phương Nam “chơi trội”. Liệu nhà sách có tồn tại được trên một năm không? Tuy nhiên, sự thật đã chứng minh: đưa sách trở thành một sản phẩm sang trọng là quyết định đúng đắn.

Nhà Sách Phương Nam - Vincom Lê Thánh Tôn (Quận 1)

Thế hệ Millennial (Gen Y) và Gen Z tại Sài Gòn may mắn chứng kiến những tác động đầu tiên và sự lan tỏa mạnh mẽ của Internet. Đời sống của họ gắn chặt với công nghệ; điện thoại và máy tính trở thành công cụ không-thể-tách-rời trong cuộc sống, cùng những suy nghĩ độc lập hoàn toàn so với ông bà cha mẹ. Một thế hệ mới, với túi tiền rủng rỉnh hơn và nhạy bén với xu hướng toàn cầu hơn - không giới hạn trong thời trang, điện ảnh và còn cả mảng thông tin sách báo.

Nhà Sách Phương Nam - Đường sách Nguyễn Văn Bình (Quận 1)

Sách - với Milennial và Gen Z - không chỉ là “tập hợp rất nhiều chữ”, mà là một phong cách và lối sống cần sẻ chia. Sự phát triển của các cộng đồng đọc sách, các tạp chí sách online, #bookstagram và các trào lưu văn hóa tương tự liên tục được sinh ra và cập nhật mới thúc đẩy Phương Nam không được phép dậm chân tại chỗ, mà phải “trưởng thành” cùng thế hệ trẻ.

Học hỏi những mô hình thành phố sách cả ngàn mét vuông từ trên thế giới, Nhà Sách Phương Nam khai sinh 3 Book City tại Sài Gòn, mỗi nơi lại được cộp mác đóng mộc một phong cách thời thượng riêng để làm hài lòng các độc giả sành điệu, đồng thời không quên tái định hướng và cách tân thương hiệu “Nhà Sách Phương Nam” một cách tổng thể.

Phương Nam Book City - Vạn Hạnh Mall (Quận 10)

Phương Nam Book City - Hồng Bàng (Quận 5)

Và không thể nhắc đến lợi thế ngoại ngữ - một trong những mũi nhọn để các 8X, 9X có được tấm hộ chiếu công dân toàn cầu. Mà thông thạo ngoại ngữ không chưa đủ, người trẻ hiện nay có nhu cầu mạnh mẽ được hòa mình vào các làn sóng văn hóa, học thuật của thế giới, thông qua cây cầu là các sản phẩm văn hóa nhập ngoại với chất lượng đã được kiểm chứng. Các sản phẩm sách báo ngoại văn của Phương Nam xuất hiện, như một chất xúc tác cho quá trình tiếp cận này.

Phương Nam liên tục cập nhật các tác phẩm văn học mới phát hành trên thế giới, được công nhận bởi hội đồng và giải thưởng văn học lớn như Pulitzer, Man Booker,... cùng những cuốn sách phát hành cùng thời điểm với thế giới. Lồng ghép những tiện ích mới vào tấm phông nền văn hóa truyền thống, Nhà Sách Phương Nam đã trở thành “món ngon tinh thần” của giới trẻ Sài Thành. 

Nhà Sách Phương Nam - Estella Place (Quận 2)

Phương Nam chống dịch cùng Sài Gòn!

Để tôi kể cho bạn nghe, câu chuyện về cách Phương Nam linh hoạt chống dịch cùng Sài Gòn!

Dịch Covid trong năm 2020-2021 chắc chắn là sự kiện “độc đáo” và có tác động to lớn nhất đến xã hội Việt Nam trong thập niên 2020.

Hai năm trôi qua, đến bây giờ chắc bản thân người Sài Gòn cũng chẳng thể nhớ chính xác được số lần thành phố nhà mình đã bị dịch bệnh “xâm lấn”. Hiển nhiên Nhà Sách Phương Nam cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng. Với 20 chi nhánh nhà sách tại Sài Gòn, Phương Nam vội vàng "gồng gánh" chống dịch. Nghiêm túc thực hiện những quy định vệ sinh và giãn cách của Thủ tướng Chính phủ chỉ là bước khởi đầu, Phương Nam không ngại thay đổi mình để đồng hành cùng thành phố.

Hội Sách Tết Canh Tý 2020

Khoảnh khắc khiến rất nhiều khách hàng Phương Nam giật mình kinh ngạc là khi họ phát hiện, giữa tầng tầng sách báo là sự hiện diện hiên ngang của... gạo thơm lài, dầu ăn Tường An cùng 101 chủng loại mì tôm, thịt hộp, mắm muối.

Phương Nam dành không gian để nhập về mặt hàng nhu yếu phẩm và sản phẩm vệ sinh - kháng khuẩn. Giải thích cho sự xuất hiện không hề được dự đoán trước này, ban lãnh đạo của Nhà Sách Phương cười xòa đáp: Đất nước chống dịch, thì mình linh hoạt hỗ trợ thôi!

Và khi đất nước cần, Phương Nam cũng sẵn sàng đóng cửa một số nhà sách để hạn chế tụ tập đông người và “di chuyển địa bàn” lên mặt trận online: website nhasachphuongnam.com rục rịch thay áo và xác lập vị thế thiết yếu của mình trong hệ sinh thái Phương Nam, để chắc chắn rằng đời sống văn hóa tinh thần của người Sài Gòn vẫn phong phú và giàu có, hệt như cái thời chúng ta chưa hề biết Covid là gì!

Phương Nam Book City - Saigon Center (Quận 1)

39 năm đồng hành cùng Sài Gòn, trong đó có 2 năm lịch sử đại dịch Covid. Cũng như những cư dân thành phố, Nhà Sách Phương Nam bắt đầu bằng lo lắng, ngạc nhiên,... cũng đã chuyển sang trạng thái tập làm quen và vững vàng chống dịch.

Sài Gòn vẫn chưa thất thủ! Lịch sử của thành phố vẫn đang chờ những cư dân hiện tại và thế hệ tương lại viết tiếp, và mong rằng những trang vàng son ấy vẫn có sự hiện diện của một nét bút xanh mang tên Phương Nam.

Đọc bài viết

Trà chiều

Cách Gudetama, một chiếc trứng lười có mông, trở thành hiện tượng văn hoá

Ôi, Gudetama! Ôi, loài người!

Published

on

Nhìn sơ qua thì khó có thể nhận ra, nhưng Gudetama là một chiếc lòng đỏ trứng có mông. Nó là nhân vật hư cấu: một nhân vật có tứ chi nhưng không có ngón tay hay ngón chân. Nó có miệng nhưng không có răng. Nó có đùi nhưng không thấy khớp, có đầu nhưng không có cổ. Đôi mắt nó trông giống như hai hạt vừng. Nó không có giới tính cụ thể.

Nhìn bằng mắt thường, chiếc trứng lười có thể bị nhầm thành một hạt đậu vàng, một hạt ngô, hay một giọt mật ong chẳng mấy bắt mắt. Nhưng Gudetama không phải là bất kì thứ gì trong số đó – bởi vì điều đó sẽ mang sức nặng quá lớn, đặc biệt khi đây là một câu chuyện thành công mà thoạt hình thì chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả.

Gudetama là nhân vật được sinh sau đẻ muộn trong vũ trụ Sanrio – thế giới nhân vật hư cấu mà cho đến gần đây vẫn xoay quanh Hello Kitty. Những năm gần đây, Gudetama là nhân vật nổi tiếng nhất của Sanrio, mặc dù cái ngoại hình lõng bõng của nó đi ngược với định nghĩa của công ty về khái niệm “dễ thương”.

Nếu Hello Kitty và những nhân vật đồng hương như chú ếch Keroppi nổi tiếng với khả năng “hóa phép” các vật dụng như hộp cơm, hành lý, áo phông, bàn chải đánh răng,... thêm phần dễ thương và cuốn hút, đồng thời gợi lên sự ấm áp nơi những trái tim lạnh giá nhất; Gudetama - chào đời vào năm 2013 – lại được sinh ra trong một thế giới mà có lẽ nó sẽ muốn chối bỏ và trốn tránh.

Chú ếch Keroppi.

Gudetama trông giống như một thiết kế nhân vật dang dở, thế nhưng mọi người không thể ngừng yêu thích nó. Vẻ ngoài của Gudetama chỉ là một phần nhỏ trong sức hấp dẫn của nó. Điểm thu hút nhất chính là tính cách lãnh đạm và thờ ơ của nó. Gudetama có thể nói chuyện (bằng những câu ngắn), di chuyển (nhưng giống như ngọ nguậy hơn), thể hiện cảm xúc (chỉ có đau đớn) và thở (đặc biệt là khi nó ngủ). Mặc dù nó có thể làm những điều này và có tiềm năng làm nhiều thứ hơn thế, nhưng nó không muốn làm. Mỗi ngày mới là một cơ hội để Gudetama trải nghiệm cuộc sống với mức năng lượng thấp nhất, và điều khiến nó sung sướng nhất là không làm gì cả.

Thật kỳ lạ khi một quả trứng lười biếng lại có thể thu hút sự yêu mến rộng rãi như vậy. Sự yêu mến này bắt nguồn từ tính cách gần gũi của nhân vật, nhu cầu được chăm sóc của nó và cách nó thách thức ta, khiến ta phải suy nghĩ lại về những gì ta thường coi là dễ thương. Gudetama và sự nổi tiếng của nó là một phần của phong trào văn hoá mở rộng – đây là phản lực hướng tới cuộc sống vốn đã bị chọt thủng bởi sự nghi ngờ, sóng gió và phẫn nộ.

Sự ra đời của Gudetama: một sản phẩm “về nhì” nhưng vẫn cứ phát triển mạnh mẽ

Từ khoảnh khắc chào đời, Gudetama đã luôn là kẻ thua cuộc.

Năm 2013, Sanrio tổ chức cuộc thi sáng tạo nhân vật dựa trên thực phẩm. Những cuộc thi như vậy được tạo ra vì hai mục đích: giúp nhà thiết kế của công ty nghĩ ra ý tưởng để sáng tạo, và đóng vai trò như một cuộc thử nghiệm cho các gương mặt mới tiềm năng trước khi Sanrio đổ tiền vào hàng hoá tương ứng. Fan bỏ phiếu, và Gudetama đứng thứ hai, thua một miếng cá hồi phi lê vui vẻ tên là Kirimichan.

Lát cá hồi vui vẻ Kirimichan.

Dave Marchi, phó chủ tịch tiếp thị và quản lý thương hiệu của Sanrio chia sẻ với tôi rằng: “Ban đầu, chúng tôi ra mắt các sản phẩm dựa trên nhân vật cá hồi phi lê và bạn bè. Quả trứng lười Gudetama đứng thứ hai, nhưng chúng tôi [vẫn] phát hành những sản phẩm dựa trên Gudetama, và chúng thực sự, thực sự rất thành công.”

Marchi đang khiêm tốn. Hãy nhìn cái góc nhỏ đáng buồn trên trang web của Sanrio - nơi mà Kirimichan và nụ cười bất diệt của nó tồn tại trong cô độc - khi chỉ có hai món đồ in hình Kirimichan được rao bán. Gudetama lại có tới 115 sản phẩm, bao gồm ván trượt, quạt bàn và hộp đựng khăn giấy biết nói, ngoài ra còn có nhiều trang phục thường ngày và thú nhung. Để so sánh thì Hello Kitty - nhân vật hàng đầu của Sanrio - có 226 sản phẩm.

Mặc dù Sanrio chưa tiết lộ doanh thu bán hàng chính xác, Marchi cũng nhận thấy rằng những khách hàng quan tâm đến Gudetama “chắc chắn thiên về nhóm người trưởng thành, nhưng cũng có những đứa trẻ 7 tuổi sở hữu một con thú nhung Gudetama bởi vì chúng nghĩ nó là một chiếc trứng dễ thương và vui nhộn.”

Khi cân nhắc về hình tượng Gudetama, chiến thắng từ tốn và lượng fan trưởng thành hoàn toàn dễ hiểu. Trong một cuộc thi thuần túy dựa trên sự "dễ thương", Kirimichan giành chiến thắng vì đó là tất cả những gì Kirimichan có – một miếng cá hồi phi lê dễ thương, tươi cười và tự xưng là “ngôi sao trong thế giới thực phẩm thái lát”.

Nhưng Gudetama đại diện cho nhiều, nhiều điều hơn thế.

Sức hấp dẫn thực sự của Gudetama là tính cách của nó.

Điều khiến Gudetama khác biệt với các nhân vật còn lại của Sanrio là mối liên kết cá nhân mà nhiều người hâm mộ cảm thấy với nhân vật. Có thể bạn sẽ không hiểu được này nếu bạn mới chỉ nhìn thấy hình vẽ Gudetama. Kết nối đó đến từ các video của Gudetama, trong đó nó, chà, chẳng làm gì cả. Sanrio đã tạo một chuỗi video mà bạn có thể xem trên YouTube - gồm các đoạn ngắn ghi lại cuộc sống đáng chán của Gudetama. Các video cho thấy sự thiếu nhiệt tình của Gudetama theo những cách mà hình ảnh tĩnh không thể nắm bắt được.

“Tôi nghĩ đặc biệt với Gudetama và thái độ mà chúng ta thấy từ nó, nó có một chút khác biệt,” Marchi nói. “Nó hơi lười biếng, nó hơi u sầu, nó có một chút chả quan tâm, thái độ hơi mệt mỏi, buồn ngủ, lười biếng, sao cũng được, mà điều đó có thể được đồng cảm bởi nhiều người, cho dù là bạn 14 tuổi, 34 tuổi hay 50 tuổi.”

Cái tên “Gudetama” kết hợp cụm từ tiếng Nhật “gude gude”, có nghĩa là lười biếng, với “tama”, một dạng viết tắt của “tamago”, tiếng Nhật có nghĩa là trứng. Dùng từ “lười biếng” để miêu tả Gudetama có một chút nói giảm nói tránh, giống như việc dùng từ “mưa” mô tả một trận đại hồng thuỷ vậy.

Gudetama luôn mệt mỏi. Nó (theo Sanrio, Gudetama không được thụ tinh và không có giới tính) quá mệt mỏi để hắt hơi, quá mệt mỏi để bị ăn, quá mệt mỏi để bị rán lên, và rất nhiều lúc, rất mệt mỏi để chui ra khỏi vỏ trứng. Nó sử dụng một dải thịt xông khói làm chăn và dùng bít tết để làm gối. Nó luôn nói về việc trở về nhà, nhưng không bao giờ nói rõ nhà là đâu. Cuộc sống đối với Gudetama, chủ yếu là nằm trên đĩa, phần lớn là không thể chịu đựng được.

Dùng từ “lười biếng” để miêu tả Gudetama có một chút nói giảm nói tránh, giống như việc dùng từ “mưa” mô tả một trận đại hồng thuỷ vậy.

Bất kỳ nỗ lực nào cũng đồng nghĩa với đau đớn. Điều duy nhất tồi tệ hơn nỗ lực là nỗ lực cần thiết để phàn nàn về những nỗ lực trên. Bạn có thể lười trong mọi việc, chỉ cần bạn quyết tâm là được.

Trong sự không muốn làm bất cứ việc gì, Gudetama đã luyện thành một nhân cách từ chứng “suy nhược hành động”. Thái độ không có động lực này đã mang lại cho nó nhiều danh hiệu khác nhau, từ “Hello Kitty dành cho thế hệ Millennials” cho đến cái tên chung chung hơn là “anh hùng”.

Gudetama cho thấy văn hoá “kawaii” của Nhật Bản đã trở nên phức tạp - đối lập với định nghĩa “dễ thương” của người Mỹ

Để hiểu Gudetama, bạn phải hiểu rằng khái niệm “dễ thương” của người Mỹ rất đơn giản. Ở Mỹ, những gì bạn thấy, về cơ bản, là những gì bạn có.

Theo lời Aya Kakeda, một chuyên gia hoạt hình và giảng viên tại trường Visual Arts (Nghệ thuật thị giác) tại New York: “Văn hoá nhân vật tại Mỹ và phương Tây vẫn rất trắng đen rõ ràng. Vai ác là vai ác, và anh hùng là anh hùng. Nhân vật dễ thương là biểu tượng của sự ngọt ngào và những điều tốt lành. Bạn có thể nhận thấy điều đó thông qua diện mạo của họ. Điều đó cũng tương tự với các nhân vật ‘ác’.”

Ví dụ kinh điển: hầu hết các bộ phim cũ của Disney. Có thể dễ dàng phân biệt được đâu là nhân vật phản diện vì họ thường xấu xí (Evil Queen trong Bạch Tuyết và 7 chú lùn), kinh tởm (Phù thuỷ biển Ursula của Nàng tiên cá), và/hoặc hoà mình với bóng đêm và những gam màu tối (Scar trong The Lion King). Những kẻ “xấu” trong phim Disney được xem là kẻ ác, lúc nào cũng xấu xa, và không bao giờ dễ thương.

Nhân vật phù thủy biển - đại diện cho cái "xấu" và tàn ác, mưu mẹo và Ariel - đại diện cho sự "đáng yêu", tốt bụng trong phim hoạt hình Disney Nàng tiên cá (1989).

Nhưng ở Nhật Bản, khái niệm dễ thương có nhiều vùng xám hơn, và nó chậm rãi phát triển trong nhiều năm. Khi thảo luận về sự dễ thương ở Nhật Bản, cụm từ được mọi người sử dụng là “kawaii”, một thuật ngữ xuất hiện vào những năm 1970 (theo Sharon Kinsella thuộc Đại học Manchester).

Nguyên lí cơ bản của kawaii là cảm giác dễ thương như trẻ con. Alissa Freedman, giáo sư về văn học và điện ảnh Nhật Bản tại Đại học Oregon nói với tôi rằng: “Kawaii không chỉ là một kiểu dễ thương. Đó là một kiểu dễ thương rất mong manh. Kiểu như là, bạn quá dễ thương nên mọi người muốn chăm sóc bạn. Nó khiến chúng ta muốn quan tâm đến họ.”

Gần đây, theo Kakeda, khái niệm kawaii đã trở nên rời rạc hơn, dẫn đến việc phân mảnh thành nhiều nhóm kawaii khác nhau. “Ví dụ như, kimo-kawaii [đôi khi còn gọi là gro-kawaii] – kimo có nghĩa là kì cục. Có điều gì đó đáng sợ và kỳ lạ về [một nhân vật kimo-kawaii], nhưng đồng thời nó cũng mang vẻ kawaii tương tự.”

Một nhân vật kimo-kawaii của văn hóa Mỹ mà Kakeda đưa ra là Spongebob Squarepants, với đôi mắt lồi và làn da đầy lỗ. Kakeda cũng đưa ra các nhân vật của Nhật gọi là “Kobito Zukan”, trông giống như những người lùn hay thần lùn. Nhân vật này, theo như trang web chính thức của Kobitos thì thích hút đường từ những quả đào.

Kakeda chỉ ra rằng: Khái niệm kimo-kawaii không chỉ xoay quanh ngoại hình. Một trong những nhân vật kimo-kawaii nổi tiếng hơn cả ở Nhật Bản là “Gloomy Bear”. Được tạo ra bởi nghệ sĩ Mori Chack, ngoại hình Gloomy Bear giống bạn bè của Hello Kitty và các nhân vật còn lại của vũ trụ Sanrio. Nhưng khi nhìn vào bộ móng vuốt đẫm máu của nó, bạn sẽ nhận ra rằng nhân vật này rất bạo lực, mà đích nhắm của sự bạo lực thường là chủ của nó, một cậu bé tên Pitty.

Nhân vật kimo-kawaii Gloomy Bear.

Sự kết hợp giữa đẫm máu và dễ thương của Gloomy Bear là những gì Kakeda nhận ra được khi cô miêu tả những gì còn thiếu sót trong văn hoá nhân vật Mỹ, nơi những sinh vật dễ thương thường không có khả năng trở thành bất cứ điều gì ngoài tốt bụng và sinh vật xấu xí thì, dĩ nhiên, phải đi cùng với sự xấu xa. Nó cũng cho thấy mức độ rộng và hẹp xen kẽ nhau của văn hoá kawaii như thế nào.

Gudetama thể hiện các yếu tố của kimo-kawaii. Nó không dễ thương theo kiểu truyền thống, và vẻ bề ngoài của nó nghiêng về Spongebob hơn là Hello Kitty. Thái độ của nó không giống như trẻ con và cũng không được vui vẻ lắm. Ngoài ra, Gudetama còn thể hiện những đặc điểm của một nhóm kawaii nhỏ khác là yuru-kawaii.

Theo Kakeda, “Yuru có nghĩa là buông thả, thoải mái và bình tĩnh, thể loại này trở nên nổi tiếng vì cuộc sống căng thẳng trong xã hội hiện đại. Mọi người luôn tìm kiếm điều gì đó để khiến họ bình tĩnh và thư giãn. Ở Mỹ, có lẽ mọi người sẽ đi tìm kiếm các tiệm spa hay các lớp học thiền. Ở Nhật Bản, có những nhân vật Yuru khiến bạn bình tĩnh và thư giãn chỉ bằng cách nhìn vào chúng.”

Điển hình của yuru-kawaii là một chú gấu được biết đến với cái tên Rilakkuma, một nhân vật được do công ty đối thủ của Sanrio - công ty văn phòng phẩm San-X tạo ra. Tên của Rilakkuma có nghĩa là “có tâm trạng thoải mái” và nhân vật này có một cuộc sống không căng thẳng.

Nhân vậy yuru-kawaii Rilakkuma.

Hình ảnh không nói dối. Tôi chỉ mất khoảng 14 giây để phải lòng cái sự đáng yêu này. Nhịp tim của tôi chậm hơn. Hơi thở của tôi sâu hơn. Tôi quên mất việc giặt giũ và rửa chén của mình. Tôi trút bỏ sự lo lắng liên quan đến công việc của mình. Tôi tưởng tượng mình là chú chim nhỏ màu vàng, mặc bộ quần áo nhỏ xíu, đi chơi với hai người bạn gấu của tôi và tận hưởng một cuộc sống ấm cúng. Nhìn chằm chằm vào con gấu này khiến tôi dễ chịu hơn.

Khi Kakeda giải thích sự khác biệt giữa Rilakkuma và Gudetama, cô ấy sử dụng từ “tiêu cực” để phân biệt hai nhân vật. Đó là một đặc điểm phân biệt phù hợp. Rilakkuma là thư giãn theo mặt tích cực. Gudetama không nghiêng nhiều về sự thư giãn mà là về sự khó chịu đối với thế giới xung quanh nó. Gudetama, màu vàng và mang bộ dạng trần trụi, tự nghi ngờ về ý nghĩa cuộc sống.

Gudetama hỏi: “Nếu nhàn rỗi là hạnh phúc thật sự, thì làm những gì khác chẳng phải là đau khổ sao?”

Sự ra đời của thế hệ nhân vật sau này – một thế hệ giống Gudetama hơn là Hello Kitty

Có một sự khác biệt lớn giữa Gudetama và Hello Kitty: Hello Kitty vừa dễ thương hơn Gudetama - theo phong cách cũ - nhưng đồng thời cũng vô cảm – Hello Kitty thậm chí còn không có miệng để cười hay cau mày. Điều này khiến nó trông như một bức phông trống: Hello Kitty có thể là bất cứ điều gì mà chúng ta muốn cô nàng trở thành. Nhưng nhiều người đặc biệt cảm thấy kết nối với Gudetama vì tính cách của nó.

Và Sanrio bắt đầu tận dụng sự nổi tiếng này.

Năm ngoái, công ty đã giới thiệu Aggretsuko – từ “agrressive” (hung hăng) kết hợp với tên riêng là Retsuko – hướng đến khách hàng quốc tế (những người nói tiếng Anh). Aggretsuko là một cô gấu trúc đỏ làm việc trong văn phòng toàn những đồng nghiệp phiền phức. Để thư giãn, cô dành cả đêm để uống rượu và hát nhạc death metal tại quán karaoke.

Nhân vật Aggretsuko.

Theo Freedman, Aggretsuko hay ở chỗ, cô là một là một dạng parody nhẹ nhàng của nhóm phụ nữ Nhật “OL”, hay “office lady” (phụ nữ văn phòng), họ xuất hiện vào những những năm 80. OL là những nhân viên nữ làm việc trong những ngành nghề thiên hướng “nữ tính”, hoặc những công viêc dịch vụ với phong cách mặc định là lịch sự, đoan trang. Aggretsuko đã xoá bỏ định kiến đó, cho chúng ta thấy cô không chỉ biết “lịch sự”. Thật vậy, cô hoàn toàn thành thật về mức độ khó khăn của công việc, khi mà cô phải chịu đựng những người đồng nghiệp khó ưa của mình.

Nếu chuyện Aggretsko đang thách thức cái hình tượng ngoan ngoãn, hoài cổ của phụ nữ Nhật là một vấn đề xa lạ với người Mỹ, thì những nỗi bức bối của cô và sự khác biệt giữa cái tôi nơi công sở và cái tôi thật lại là vấn đề chung toàn thế giới.

Mặc dù tính cách của cô không giống Gudetama, Aggretsuko cũng thuộc một nhóm nhân vật kì lạ nhưng mang ý nghĩa quan trọng. Chiếc trứng lười có mông kia đã thay đổi khái niệm dễ thương của Sanrio, cũng như phản ứng của mọi người đối với nó.

Dễ thương không chỉ là vẻ bề ngoài. Nó có sức mạnh để thay đổi chúng ta, là cứu cánh cho những nỗi bức bối và sợ hãi lớn nhất của chúng ta, và có lẽ cho chúng ta thấy điều gì đó trong bản thân mà chúng ta không biết là mình cần – đặc biệt nếu cái tôi thật của bạn là một quả trứng có mông và chán ghét cuộc sống.

Hết.

Alex Abad-Santos
Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc How Gudetama, a lazy egg yolk with a butt, became an unstoppable cultural phenomenon đăng tại Vox.

Đọc bài viết

Trà chiều

Bài học đạo đức thâm sâu trong truyện cổ tích: Khi các cô gái kết hôn với quái vật

Published

on

Beauty and the Beast (Người đẹp và Quái vật) là cuốn sách vừa ra mắt, tập hợp những câu chuyện cổ tích từ khắp nơi trên thế giới, khám phá sự khác lạ của mối quan hệ vượt ranh giới giống loài.

Trong cả hai phiên bản Người đẹp và Quái vật của Disney, giữa khung cảnh bộ đồ dùng làm bếp nhảy múa, nhạc đệm lãng mạn và điệu waltz ngất ngây, thật dễ dàng bỏ qua việc câu chuyện này kỳ lạ như thế nào. Đây là một câu chuyện - được kể lại bởi tập đoàn hùng mạnh nhất trong lĩnh vực giải trí dành cho thiếu nhi - về một cô gái phải lòng một con quái vật. Trong bản hoạt hình năm 1991, biểu cảm ngốc nghếch của Quái vật khiến hắn ta trông giống con người và đáng yêu hơn hẳn, giảm bớt sự kỳ quặc trên. Nhưng trong bản live-action năm 2017, tạo hình Quái vật lại vô cùng giống… một con quái thú.

Người đẹp và Quái vật bản hoạt hình năm 1991.

Người đẹp và Quái vật bản live-action năm 2017.

Trong bản gốc Người đẹp và Quái vật được phát hành năm 1740 bởi tiểu thuyết gia người Pháp Gabrielle-Suzanne Barbot de Villeneuve, Quái vật được mô tả là một loài lai tạp giữa voi và cá, với “vòi voi quấn quanh cổ”, “cơ thể nặng nề”, “tiếng loảng xoảng khủng khiếp phát ra từ bộ vảy” mỗi khi hắn di chuyển. Nhưng trong phiên bản chuyển thể nổi tiếng nhất - một phiên bản cô đọng dành cho trẻ em từ cựu giáo viên Jeanne-Marie Leprince de Beaumont, ngoại hình của Quái vật được nhường lại cho trí tưởng tượng của độc giả. De Beaumont chỉ nói rằng hắn ta trông “đáng sợ”, và Người đẹp đã phải run rẩy “trước ngoại hình kinh khủng của sinh vật này”. Quái vật có thể trông giống một con trâu nước, hoặc một con gấu, hay một con hổ; hắn ta cũng có thể được miêu tả như một ông già tầm thường, bản chất tốt bụng nhưng ngoại hình thì cực kỳ xấu xí. Đó chính là mục đích của câu chuyện.

De Beaumont luôn lồng ghép các bài học đạo đức mạnh mẽ vào đa số những câu chuyện của mình, và xuất bản chúng như một bản hướng dẫn giáo dục dành cho trẻ nhỏ. Bà không phải là người duy nhất làm vậy. Jack Zipes viết trong cuốn sách Fairy Tale as Myth/Myth as Fairy Tale năm 1983: “Truyện cổ tích không thể trở nên phổ cập, trừ khi chúng hoàn toàn nhất quán với các nguyên tắc cơ bản về cách nam giới trong xã hội tìm cách sắp xếp mối quan hệ để thoả mãn mong muốn và nhu cầu của họ.” Thật vậy, như Maria Tatar đã chỉ ra trong phần giới thiệu tuyệt vời về tuyển tập mới Beauty and the Beast: Classic Tales About Animal Brides and Grooms From Around the World (Người đẹp và Quái vật: Những câu chuyện kinh điển về những cô dâu và chú rể động vật trên khắp thế giới), câu chuyện về Người đẹp và Quái vật vốn dành cho những cô gái có thể bị áp đặt vào những cuộc hôn nhân sắp đặt. Người đẹp bị cha mình trao đổi để nhận lại sự an toàn và của cải, và bị gửi đến sống với một người lạ đáng sợ. Tatar giải thích câu chuyện của De Beaumont nhấn mạnh sự cao quý trong hành động hy sinh thân mình của Người đẹp, đồng thời khiến độc giả phấn khích “vì một mối quan hệ đòi hỏi sự đè nén mong muốn của bản thân và phục tùng ý chí của một con quái vật.”

Nhưng Người đẹp và Quái vật cũng là một bổ sung tương đối hiện đại cho nhiều điển tích có từ hàng ngàn năm trước: những câu chuyện về con người phải lòng động vật. Những ví dụ đặc trưng đến từ Ấn Độ, Iran, Na Uy và Ireland; Tatar liệt kê những câu chuyện về vua ếch, công chúa chim, cô dâu chó, và chồng là chuột muskrat. Về cơ bản, mỗi câu chuyện là một biểu hiện cho sự lo ngại về hôn nhân và các mối quan hệ - về tính thú của các giới, và sự xa lạ giữa đàn ông và phụ nữ. Có một số câu chuyện, như Người đẹp và Quái vật, cảnh báo về sự phù phiếm hoặc độc ác. Nhưng nhiều câu chuyện chỉ đơn giản minh hoạ cho sự thôi thúc cơ bản của con người – phổ biến trong các nền văn minh – là sử dụng các câu chuyện để giải nghĩa cuộc sống.

*

Tatar viết: “Người đẹp và Quái vật là câu chuyện về sức mạnh của sự đồng cảm”, nhưng là một câu chuyện tăm tối và xạ lạ. Ngấm ngầm bên trong nó là nhiều quan ngại liên quan đến cấu trúc xã hội và cảm xúc hôn nhân: sợ hãi đối phương, không muốn rời xa gia đình, sợ thay đổi bản thân trong một mối quan hệ mới. Câu chuyện của De Beaumont “phản ánh mong muốn chuyển đổi những câu chuyện cổ tích từ vai trò giải trí thành những câu chuyện ngụ ngôn về hành vi tốt, là phương tiện để truyền dạy và khai sáng cho trẻ em về các đức tính tốt và giáo dục tốt.” Ngoại hình quyến rũ của Người đẹp kết hợp hoàn hảo với đức hạnh và lòng vị tha của cô, điều này tương phản với sự phù phiếm, tham lam và gian ác của các chị em cô.

Khi bố của Người đẹp lên đường để bắt kịp chuyến tàu vừa cập cảng, ông hỏi các cô con gái của mình muốn quà gì. Những người chị em của Người đẹp yêu cầu quần áo và đồ trang sức khác; Người đẹp, vì không muốn gây phiền hà cho cha mình hay làm xấu mặt các chị em mình, chỉ yêu cầu duy nhất một bông hoa hồng - thứ sẽ định hình số phận của cô. Cha của cô bị ngã ngựa và được dẫn lối vào ngôi nhà bí ẩn không người ở, nơi ông được cho ăn và nghỉ ngơi. Vào buổi sáng, ông nhớ tới việc phải ngắt một bông hồng cho Người đẹp, nhưng hành động không kiêng nể của ông đã triệu hồi Quái vật, kẻ đã kết án tử hình cho ông, nhưng lại cho phép cha của Người đẹp gửi một trong những cô con gái của mình đến chết thay.

Người đẹp, dĩ nhiên, hy sinh bản thân mình. “Con thà bị con quái vật đó nuốt chửng còn hơn chết vì đau buồn khi phải mất cha.” Hành động của cô đã nói với độc giả rằng việc “cứu” gia đình mình bằng cách bước vào một hôn nhân sắp đặt là hành vi cao cả, đồng thời chuẩn bị cho họ tinh thần hy sinh chính bản thân mình trong một viễn cảnh tương tự. Tatar viết: “Khát khao vật chất và leo thang xã hội thúc đẩy các bậc cha mẹ giao con gái của họ cho loài cầm thú, và các câu chuyện phản ánh hành vi này như là tập quán xã hội của thời kỳ xa xưa. Nhiều cuộc hôn nhân sắp đặt khiến ta có cảm giác như bị trói vào tay một con quái vật.”

Tương tự, nhiều câu chuyện trong tuyển tập của Tatar là “huyền thoại khởi đầu” – các câu chuyện kể về những nghi lễ đa dạng khi bước vào tuổi trưởng thành, cho dù bằng cách giết rồng, hành trình qua các quốc gia hay giao ước với những linh hồn kỳ lạ và không đáng tin cậy. Trong Cupid và Psyche, Psyche bị ép kết hôn với một con quái vật, và nàng bị cấm nhìn thấy gương mặt hắn ta. Hàng đêm, hắn ta làm tình với nàng trong bóng tối. Nhưng các chị em của nàng (cũng là những kẻ nhiều chuyện quỷ quyệt) thuyết phục nàng dùng một ngọn đèn để nhìn trộm, lúc đó nàng phát hiện hóa ra đó là thần Cupid, “người đẹp trai và quyến rũ nhất trong các vị thần”. Tuy nhiên, hậu quả của việc bất chấp quy tắc của nàng thật là thảm khốc. Thần Cupid biến mất, và Psyche phải vượt qua những nhiệm vụ bất khả thi để chứng minh giá trị của mình với Venus, người mẹ độc đoán của Cupid.

Amore e Psiche bởi Giuseppe Crespi, cảnh Psyche dùng ngọn đèn để nhìn trộm Cupid.

Trong một câu chuyện của người Ghana, Tale of the Girl and the Hyena-Man (Câu chuyện về cô gái và chàng linh cẩu), một cô gái trẻ tuyên bố cô sẽ không lấy người chồng mà cha mẹ đã chọn. Thay vào đó, cô ấy chọn một người lạ, “một chàng trai trẻ, có sức mạnh và vẻ đẹp tuyệt vời”. Thật không may, anh ta hoá ra là một con linh cẩu giả dạng - gã đã đuổi theo vợ mình khi cô biến mình thành một cái cây, sau đó là một vũng nước, sau đó là một hòn đá. Câu chuyện kết thúc ngắn gọn: “Truyền thuyết về cuộc phiêu lưu của cô được truyền lại cho tất cả mọi người, và đó là lý do tại sao cho đến ngày nay phụ nữ không được phép tự chọn chồng cho mình và đó cũng là lý do tại sao trẻ em cần học cách vâng lời người lớn tuổi.”

Những câu chuyện cảnh báo phụ nữ về hiểm nguy của quyền tự quyết và hậu quả của sự tò mò không kiểm soát cũng phổ biến tương tự những câu chuyện khuyên răn các chàng trai về thói hoang dại hiển nhiên của đàn bà. Khi cô dâu là động vật, họ biến thành người nội trợ đảm đang và có năng lực, nhưng thú tính vẫn còn trong họ. Trong The Swan Maidens (Tiên nữ thiên nga), một thợ săn bắt gặp một nhóm phụ nữ trẻ đang tắm trong hồ sau khi trút bỏ áo choàng làm từ lông vũ. Anh ta giấu đi một chiếc áo choàng, khiến một trong những thiếu nữ bị mắc kẹt trong hình dạng con người, bất lực nhìn những người chị em của mình hóa thiên nga bay về trời. Người thợ săn kết hôn với cô; họ có hai đứa con và sống hạnh phúc bên nhau, nhưng một ngày nọ, khi cô tìm thấy chiếc áo choàng lông vũ bị giấu đi, cô lập tức mặc nó vào và trở lại hình dạng thiên nga, bay đi và bỏ rơi chồng con mình.

Tiên nữ thiên nga dường như nói lên mong muốn bẩm sinh của phụ nữ, cũng như cảm giác trung thành và tình thân đối với bộ tộc nguyên thuỷ của một người. Nó cảnh báo độc giả nam về sự khác biệt tiềm ẩn trong phụ nữ, những người từ lâu được quy là quá gần gũi với thiên nhiên, quá hoang dã. Nhưng nó cũng làm sáng tỏ những gì Tatar miêu tả là “bản chất áp bức bí mật của hôn nhân, với nhiệm vụ trong nom và nuôi dạy con cái. Những cô dâu động vật là những người bạn đời tuyệt vời khi đảm nhận nhiệm vụ trong gia đình, nhưng có một cái giá phải trả: Họ không được phép nắm giữ chìa khoá tự do của mình.

*

Rất nhiều yếu tố nguyên sơ và cảnh báo trong truyện cổ tích được Angela Carter đề cập hoặc lật tẩy trong The Bloody Chamber (Căn hầm đẫm máu), một tuyển tập truyện năm 1979 lấy cảm hứng từ truyện dân gian. Trong tiêu đề câu chuyện, nhân vật nữ chính bán mình cho cuộc hôn nhân, bỏ qua những nghi ngờ của mẹ cô; sau đó cô “rời đi Paris, rời xa thời con gái, rời xa không gian yên tĩnh trắng muốt trong căn hộ của mẹ tôi để đến đất nước không thể đoán được về hôn nhân.” Cuối hành trình là người chồng người mà thực sự là một con quái vật – không phải một con thú mà là một kẻ sát hại phụ nữ hàng loạt. Cuối cùng nhân vật nữ chính không phải được cứu bởi một người đàn ông mà bởi người mẹ liều lĩnh, dũng cảm và nổi loạn của cô.

Những cạm bẫy đạo đức trong truyện cổ tích tràn ngập trong các câu chuyện của Carter, nhưng bà từ chối tuân theo các quy ước của họ. Trong Căn hầm đẫm máu, Carter đã tạo nên một câu chuyện ngụ ngôn nữ quyền, riêng biệt và chứng minh rằng ngay cả những mô hình kể chuyện lâu đời nhất cũng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những trải nghiệm vào lo lắng đương thời.

Hết.

Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc The Dark Morality of Fairy-Tale Animal Brides được thực hiện bởi Sophie Gilbert, đăng tại The Atlantic.

Ảnh đầu bài: Minh họa Người đẹp và Quái vật, 1913 bởi Warwick Goble

*

Có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Cafe sáng