Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Truyện cổ tích và sự khác biệt trong cách các nền văn hóa nhìn nhận thế giới

Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào.

Published

on

Hôm nay là Lễ Giáng Sinh, và tôi đang ngồi đây đọc đến ba quyển sách cho đứa con trai sáu tuổi trước khi nó đi ngủ. Trong đó, có một quyển truyện Nhật Bản mà tôi chưa từng đọc, nói về thế giới của chú mèo trắng tinh nghịch mang tên Nontan.

Trong Nontan! Santa kìa!, Nontan khởi đầu hành trình trong đêm đầy tuyết, cầm theo chiếc tất Nô-en với hy vọng gặp Ông Già Tuyết và mau chóng nhận được món quà cậu mong muốn: một chiếc xe đồ chơi màu đỏ. Bên ngoài căn nhà của ba chú thỏ bạn cậu (những người đang ngủ ngon lành), Nontan thấy được Santa! Nhưng ông già Nô-en lại là một chú thỏ. Nontan được chỉ rằng cậu phải tìm ra ông già Nô-en cho mèo, vì ông già Nô-en thỏ không được phép tặng bất cứ thứ gì cho loài mèo. Bên ngoài căn nhà của bạn gấu (cũng đang ngủ say), Nontan lại tìm thấy Ông già Nô-en, nhưng tất nhiên, ông già này là dành riêng cho gấu mà thôi.

Nontan nhỏ bé lê bước mệt nhọc trong bộ quần áo ngủ, tay cầm chiếc tất Giáng sinh, và bầu trời nhanh chóng tràn ngập ông già Nô-en bay vụt qua. Trong cơn mê sảng do giảm thân nhiệt (tôi đoán thế), Nontan thấy một Santa cá vàng bơi trong bể cá trên chiếc xe tuần lộc. Có Santa tuần lộc, Santa rắn (được kéo bởi hai con rắn khác), Santa cua (được kéo bởi một con rùa), Santa nhện (đi nhờ xe của Santa người) và thậm chí cả mụ phù thủy Halloween cũng bay dạo một vòng. Nhưng chẳng có Santa mèo. Nontan nhanh chóng ngủ quên dưới một tán cây, trong khi tuyết tiếp tục rơi. Thế giới thật lạnh lẽo với một chú mèo nhỏ bị lạc trong đêm tuyết.

Tất nhiên ở phương Tây chỉ có một ông già Nô-en mà thôi (không tính ông già Nô-en trong siêu thị). Nhưng con trai của tôi, từ nhỏ đã được nghe những câu chuyện từ cả phương Tây và phương Đông, không có vấn đề gì với tình tiết lạ lùng này. Đó chỉ đơn thuần là một câu chuyện. Có một thể loại truyện khác, lấy bối cảnh Nhật Bản, trong đó thứ này luôn biến thành hàng trăm thứ khác nhau; nơi động vật, đôi lúc cả đồ ăn trong tủ lạnh, có thể nói chuyện, và mạch truyện không cần phải đi theo những xu hướng tuyến tính thông thường. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nhận thấy: chúng ta đã mặc định phương hướng phát triển của mạch truyện từ khi còn rất nhỏ. Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

*

Tôi đã nghĩ rất nhiều về cách chúng ta tiếp thu các câu chuyện. Trong những năm tôi hai mươi, tôi từng nhận lá thư từ chối từ nhà xuất bản cho một bản thảo (mà bây giờ tôi hy vọng không ai đọc được nó). Lá thư có những cụm từ như “trở thành một nhà văn tốn rất nhiều thời gian”, và “có lẽ cô nên cân nhắc đến trường học hỏi.” Cô ấy cũng đề nghị tôi nên đọc The Writer’s Journey (tạm dịch: Hành trình của một nhà văn) của Christopher Vogler.

Tựa đề The Writer’s Journey được lấy cảm hứng từ quyển The Hero With a Thousand Faces (tạm dịch Người anh hùng với 1000 khuôn mặt) của Joseph Campbell, xuất bản năm 1949. Quyển sách sử dụng trường phái tâm lý học của Carl Jung để minh họa cho lý thuyết tất cả các thần thoại về cơ bản đều là một. Nhân vật chính – người anh hùng – vượt qua khó khăn trong hành trình tìm được chính mình. Ẩn chứa trong những truyền thuyết này là bí quyết hữu dụng để tiêu diệt những con rồng ẩn dụ, chế ngự Medusa (hoặc có lẽ là làm thế nào để ngay từ đầu không biến thành Medusa), và vì sao bạn không nên yêu mẹ mình nhiều quá. George Lucas ghi nhận Joseph Campbell là người đã truyền cảm hứng để ông thêm thắt những yếu tố thần thoại vào Chiến tranh giữa các vì sao, ám chỉ rằng câu chuyện của Luke và Jedi không chỉ là một bộ phim hoạt hình thứ bảy đóng gói trong dạng thức điện ảnh – bom tấn khoa học viễn tưởng này có nội dung sâu sắc hơn thế. 

The Writer’s Journey khuyến khích các nhà văn phải hiểu phương hướng kiểu mẫu của truyền thuyết để viết nên những câu chuyện hoàn hảo, kết nối được với độc giả (và sẵn tiện kiếm bội tiền). Vogler giải thích rằng quyển sách của ông là lời nhắn nhủ nội bộ đến những công ty làm phim, và nó là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp vào sự trỗi dậy của phim Disney vào cuối thập niêm 80 của thế kỉ XX, một quá trình bắt đầu bằng Nàng tiên cá, và đạt đỉnh cao gần đây nhất là Chiến tranh những vì sao: Thần lực thức tỉnh

Vì vậy, tôi đọc The Writer’s Journey. Tôi đọc về Sự Từ Chối Lời Kêu Gọi (The Refusal of the Call – việc nhân vật chính thoạt tiên từ chối không can dự dù sứ mệnh đã xuất hiện), và nếu bạn đã xem bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới đây, bạn sẽ thấy nhân vật Rey cũng trải qua Sự Từ Chối này. Tôi đã đọc về Vị Cố Vấn Thông TháiCon Đường Đi Đến Nội Tâm Trong Nhất. Tôi đọc về cách làm thế nào, trong những câu chuyện nổi tiếng, người anh hùng kết thúc cuộc hành trình và nhận được cái mà Vogler gọi là Phần Thưởng. Chỉ khi người anh hùng hoàn thành cuộc hành trình, người đọc mới được trải nghiệm cái cảm xúc mà Aristotle gọi là “sự thở phào”. Một câu chuyện chỉ thành công khi có được sự đồng cảm từ độc giả. Ta đã được trải nghiệm cảm giác đó khi E.T. về nhà (E.T.) và khi Rose sống sót qua thảm hoạ và thay đổi theo hướng tích cực hơn từ những trải nghiệm trên tàu Titanic (Titanic).

Khi Vogler viết rằng một câu chuyện thành công sẽ kích hoạt phản ứng cơ thể, tôi hiểu ý ông ấy. Ai mà không hiểu chứ? Ai mà không từng ngồi hàng giờ trước TV, xem một bộ phim làm thay đổi cảm xúc của bạn. Mặt khác, một số bộ phim và tiểu thuyết, vì lý do gì đó, có cảm giác như đang cố thao túng cảm xúc của khán giả. Vào những năm tôi hai mươi, tôi rất bực bội với những tiểu thuyết kết thúc bằng A) cái chết của ai đó và B) một em bé vừa chào đời. Không may là mọi thứ từ Fried Green Tomatoes (tạm dịch Cà chua xanh chiên) cho đến Cold Mountain (tạm dịch Núi lạnh) đều đi theo cấu trúc này. Tất nhiên là phải có em bé! Nếu tôi muốn dành thời gian cho một trải nghiệm được thiết kế để buộc tôi đẩy cảm xúc theo phương thức gượng ép nào đó, thà tôi uống thuốc ngủ Ambien.

Đồng thời, tôi cũng không muốn đọc một quyển sách mà tác giả cố ý tạo ra những tình huống không thể đoán trước được. Đã có một thời thịnh hành xu hướng giết chết nhân vật được yêu thích. Ai mà quên được người hâm mộ đã điên tiết như thế nào với bộ phim khoa học viễn tưởng Serenity (tạm dịch Tĩnh lặng) khi một tia sáng đi lạc cắt đôi nhân vật Wash một cách thô bạo? Cái chết của Wash không giống như một điều cần thiết cho mạch truyện, mà giống như biên kịch hả hê nói “Nhìn những gì mà tôi có thể làm này! Tôi có thể phá vỡ dự đoán của các bạn!” Tất nhiên là vào năm 2016, một nhân vật được yêu thích như Han Solo phải chết thôi. 

Tôi ngờ rằng, nếu bạn đang đọc bài viết này, bạn cũng là một độc giả vừa cẩn trọng mà vừa mạo hiểm tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ. Bạn cũng đang đồng thời tìm một câu chuyện giống một câu chuyện, nhưng không phải là bản sao của những thứ bạn từng đọc trước đây. Bạn muốn được chìm đắm, muốn được thấy cảm động. Bạn muốn sự chân thật. Và tất nhiên, bạn muốn câu chuyện phải có hiệu quả.

*

Một phần tuổi thơ của tôi trải qua ở Nhật; mẹ tôi dẫn tôi đến đây mỗi mùa hè. Trong khi tôi chỉ được phép xem TV hai giờ một tuần ở Mỹ (bố mẹ tôi cực kì tin vào xếp hạng phim), ở Nhật tôi được phép xem TV bao lâu cũng được, với lý do là nó sẽ giúp tôi cải thiện tiếng Nhật. Vì vậy tôi xem quên trời. Đôi lúc tôi sẽ thấy thứ gì đó trên TV gây sự chú ý sâu sắc, kích thích trí tưởng tượng và tình yêu của tôi, nhưng đồng thời cũng khiến tôi khóc lóc nhiều đến nỗi mà mẹ phải ngồi hàng giờ, cố gắng an ủi tôi vì sự bất công hay là cái kết bi kịch trong phim; bà càu nhàu về cái nền văn hoá của chính bà đã tạo ra cái kết buồn thảm thiếu trách nhiệm như vậy. Bởi vì ở Nhật Bản, các câu chuyện có thể buồn một cách tuyệt vọng, không thể cứu vãn được. Ma quỷ có thể chiến thắng nhân loại. Người ta còn quan hệ tình dục trên TV và còn hở cả ngực. Những câu chuyện này – hay chính cuộc đời – đầy những âu lo, nhưng cũng màu sắc hơn, như thể chỉ việc sống trong phim truyền hình Nhật còn can đảm hơn ở nhà. Nhưng nó không phải là một sự âu lo giả tạo. Sống trong một thế giới vừa năng động vừa tràn ngập nguy hiểm, hậu quả là những người vô tội vẫn đang phải chịu đựng khổ đau hàng ngày.

Trong hai thập kỷ qua, thật thú vị khi chứng kiến sự thăng hoa của phim hành động Hong Kong và phim hoạt hình Nhật Bản, hay manga và anime, đặc biệt tại thị trường phương Tây. Đi kèm theo đó là sự nổi lên của một vài tiểu thuyết gia, điển hình là Haruki Murakami. Tôi nghĩ một bộ phận độc giả thích chúng là bởi vì cái cách tiếp cận câu chuyện rất “mới mẻ”.

Ví dụ như trong phim Spirited Away (Vùng đất linh hồn), cô bé nữ chính Chihiro đột nhiên bị chia tách với bố mẹ, lạc vào một thế giới khác, đầy các vị thần và các sinh vật vô hình thích tụ tập trong nhà tắm công cộng. Để quay về với bố mẹ, Chihiro phải làm việc cho nhà tắm này. Đường về nhà thì còn vòng vèo hơn cả Dorothy tìm đường về Kansas (Phù thuỷ xứ Oz). Dorothy biết rằng mình phải diệt hai trong số bốn bà phù thuỷ (tất nhiên là phù thuỷ tốt phải đẹp, và phù thuỷ xấu người thì cũng xấu bụng nốt), sau đó phải gặp Thầy Phù Thuỷ nữa. 

Đường về nhà thì không rõ ràng như vậy với Chihiro. Trong lúc làm việc ở nhà tắm, Chihiro gặp bà chủ Yubaba với cái mũi to, cái đầu quá khổ và nếp nhăn đầy mặt. Thoạt tiên, trông bà hệt như định nghĩa về mụ phù thuỷ xấu xí trong truyện cổ tích thường thấy. Nhưng khi bộ phim tiếp diễn, người ta càng ngày càng mơ hồ, liệu Yubaba có thật sự độc ác không? Khi em gái sinh đôi của bà, Zeniba xuất hiện, cùng những đặc điểm này lại tạo cảm giác ấm áp giống bà ngoại. Người lớn tuổi, với ngoại hình của họ, có thể dễ dàng đóng cả hai vai như Zeniba và Yubaba. Sự linh hoạt này xuất hiện rất thường xuyên trong những câu chuyện Nhật Bản (vậy nên ông già Nô-en ở trong thế giới của Nontan mới có vô số hình dạng như vậy). Còn chúng tôi, những người phương Tây thì chỉ mới bắt đầu được trải nghiệm điều này thôi. 

Khoảng một thập kỉ trước, tôi bắt gặp một quyển sách, một sự bổ trợ tuyệt vời cho The Writer’s Journey. Quyển The Japanese Psyche: Major Motifs in the Fairy Tales of Japan (tạm dịch Tâm thức Nhật Bản: Các mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật) của tác giả Hayao Kawai, nghiên cứu các truyện cổ tích Nhật Bản, và vì sao những truyện này có rất nhiều ý tưởng và chủ đề tương tự nhau, nhưng lại xa lạ với độc giả phương Tây. Kawai thường được nhắc đến như là nhà tâm lý học Nhật Bản đầu tiên được đào tạo như một nhà phân tích theo trường phái Carl Jung. Nhưng khi Kawai từ Thuỵ Sĩ trở về Nhật Bản, ông nhận ra rằng một vài trong số các “quy tắc” trong việc diễn giải thần thoại không thật sự áp dụng được với văn hoá Nhật Bản. Hơn thế nữa, các câu chuyện càng không hợp với các quan niệm có sẵn của văn hoá phương Tây. 

Kawai nêu ra một ý tưởng rằng thực tại thật ra rất uyển chuyển, theo cái cách của Yubaba-Zeniba. Ông viết: “Thực tại bao gồm rất nhiều tầng lớp. Chỉ có trong cuộc sống hàng ngày, các tầng lớp mới trông có vẻ như là hợp lại thành một, vô hại với chúng ta. Tuy nhiên, những tầng lớp sâu hơn có thể phá vỡ và trồi lên bề mặt ngay trước mắt ta. Những câu chuyện cổ tích là ví dụ.” Đằng sau những tầng lớp thực tại này là gì? Nếu bạn quen thuộc với những tác phẩm của Murakami, bạn sẽ biết ông thích khám phá những thực tại ẩn sau thực tại; không phải là ngẫu nhiên mà Kawai là bạn thân của Murakami. Các nhà văn phương Tây đã bắt đầu áp dụng phong cách kể chuyện của Murakami/Kawai. Ví dụ như David Mitchell, người đã sống ở Nhật Bản, cũng có cách kể chuyện xoay vần và đảo lộn thời gian và thực tại trong tác phẩm Cloud Atlas (Bản đồ mây). 

Kawai cũng giới thiệu khái niệm “giải pháp mỹ học”. “Các câu chuyện cổ tích phương Tây thường được giải quyết bằng một cuộc xâm lược, hoặc một đám cưới. Các ví dụ thì nhiều vô kể: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Nàng Lọ Lem, Bạch Tuyết,… Nhưng trong cổ tích Nhật Bản, hiếm khi có sự hợp nhất. Thường câu chuyện được giải quyết bởi một “giải pháp mỹ học”. Và mỹ học ở đây được hiểu là các hình ảnh từ thiên nhiên. Để lấy ví dụ, ông mở đầu quyển sách của mình với cuộc thảo luận về câu chuyện cổ tích Chim chích trong bụi

Một người tiều phu đang ở trong rừng bỗng bắt gặp một tòa lâu đài mà anh chưa từng nhìn thấy trước đó. Anh gặp một người phụ nữ xinh đẹp; cô mời anh vào nhà và nhờ anh trông nom nhà cửa khi mình đi vắng, với điều kiện là anh hứa sẽ không nhìn trộm những căn phòng phía trong. Ngay khi người phụ nữ rời khỏi, người tiều phu đã phá vỡ lời hứa. Anh dạo chơi xung quanh và gặp ba người phụ nữ đang quét nhà. Họ thấy anh và lủi đi nhanh như chim sẻ. Còn lại một mình, người tiều phu bắt đầu ăn trộm những đồ vật tinh xảo, đắt tiền ở đó. Anh nhặt một cái tổ có ba qua trứng lên. Anh làm rớt cái tổ và trứng vỡ. Người phụ nữ xinh đẹp trở về nhà và hạ nhục anh do đã “giết chết ba đứa con của nàng”. Cô hóa thân thành một con chim chích và bay đi mất. Lúc này, người tiều phu chỉ còn lại một mình trong rừng, những đồ vật đẹp đẽ đánh cắp được đã biến mất. Cái còn lại chỉ là những kí ức về cái đẹp. 

Kiểu kết này, theo Kawai, không hiếm gặp ở Nhật. Trong truyện cổ tích phương Tây, người tiều phu có thể trở thành một hoàng tử và cưới người phụ nữ xinh đẹp và bí ẩn. Nhưng ở Nhật thì không. Thay vào đó, câu chuyện kết thúc bằng “giải pháp mỹ học”: nhân vật chính chỉ còn lại một mình để suy ngẫm về sự tồn tại của bản thân trong phông nền thiên nhiên xinh đẹp. Hay có lẽ tôi đang quá áp đặt cái nhìn của phương Tây vào đây. Có lẽ sự tồn tại của anh không phải là vấn đề. Có lẽ tất cả những gì anh còn lại chỉ là những hình ảnh đẹp. 

Kawai nói: “Tại Nhật Bản, đặc biệt là thời cổ đại, giá trị hình ảnh và đạo đức là không thể tách rời. Cái đẹp có lẽ là yếu tố quan trọng nhất cần phải tìm hiểu để hiểu được văn hoá Nhật. Trong truyện cổ tích cũng vậy, phong cảnh đẹp đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của câu chuyện.” Thật ra, “truyện cổ tích Nhật Bản nói cho chúng ta rằng thế giới thật đẹp, và cái đẹp đó chỉ hoàn hảo nếu bạn chấp nhận sự tồn tại của cái chết.” Người ta có thể viết cả chồng giấy về một kết luận này, nhưng ở đây tôi sẽ nói rằng đây là sự thấu hiểu rất quan trọng cho rất nhiều tiểu thuyết Nhật Bản, như kiệt tác The Makioka Sisters (tựa tiếng Việt Mong manh hoa tuyết) của Jun’ichiro Tanizaki, hay bộ bốn quyển sách của Yukio Mishima. Bạn cũng nên nhớ tới tác phẩm có lẽ dũng cảm nhất, quan trọng nhất đang được thực hiện để giới thiệu văn học Nhât Bản đến với người đọc phương Tây: Tôi đang nói về tờ Monkey Business, tờ tạp chí văn học biên tập bởi Roland Kelts, hợp tác với A Public Space. Thậm chí cả khi bạn chỉ đọc mỗi những câu chuyện trong này, bạn sẽ nắm bắt được một ít về cái thế giới hiện đại quen thuộc với chúng ta, nhưng trông có vẻ và có cảm giác hơi xa lạ với những người có nền tảng văn hoá khác hoàn toàn khác biệt. 

Đã khá lâu rồi tôi không đọc The Writer’s Journey, nhưng tôi khá chắc rằng nó sẽ không chứa những thông tin về việc “từng ngắm nhìn một khung cảnh đẹp đẽ, nhưng giờ đây chẳng còn gì sót lại” như là Phần Thưởng cho sứ mệnh của người anh hùng. Thế nhưng, có lẽ đây mới chính xác là thứ kiến thức mà những kẻ kiếm tìm chân thực phải chấp nhận khi họ già đi. Có lẽ, đây mới là bài học can đảm nhất. 

*

Một vài người cho rằng các câu chuyện Hollywood đang trở nên quá phổ biến trên toàn thế giới, và chúng đã làm xóa nhoà quan niệm rằng câu chuyện nên diễn biến như thế nào. Nếu những câu chuyện của chúng tôi phản ánh bản chất con người phương Tây, thì thật đáng tiếc, bởi vì tôi thấy góc nhìn của những người khác, ví dụ như cái đẹp cũng có giá trị nhân văn, cũng thú vị và đáng giá như các ý nghĩa đằng sau việc đi giết rồng. 

Trong quyển The Writer’s Journey tái bản lần ba, phần lời dẫn, thậm chí Vogler cũng thừa nhận các câu chuyện ngày nay cần trở nên phức tạp hơn. Ông viết về những đất nước e sợ thói anh hùng như Đức hay Australia (đất nước này có lẽ hơi quan ngại về chủ nghĩa anh hùng, bởi vì chính khái niệm này đã dụ dỗ họ tham gia chiến tranh vì lợi ích của những kẻ xâm lược họ – nước Anh). Ông nói về sự ra đời của máy tính và Internet và cách nó đã khiến cho chúng ta không còn trông đợi các câu chuyện phải có diễn biến tuyến tính. Ông khẳng định rằng, người ta mong đợi những câu chuyện phá vỡ cấu trúc thường thấy – điều này được đáp ứng từ nền văn hóa ngoài lãnh thổ. 

Vậy, câu chuyện của Nontan kết thúc như thế nào? Cậu ngủ quên dưới tán cây, và khi gần bị đông chết, cậu được… ông già Nô-en mèo tìm thấy. Ông già Nô-en mèo chở Nontan về nhà trên chiếc xe kéo của ông, nhưng Nontan thì hoàn toàn chẳng hay biết bởi vì cậu thiếp đi cả quãng đường. Buổi sáng, khi Nontan tỉnh dậy, cậu thấy một chiếc xe đồ chơi màu đỏ trong chiếc tất Nô-en của mình. Và cậu ra ngoài để gặp các bạn, họ cũng có những món đồ chơi mới. “Ước gì ngày nào cũng là Giáng sinh,” tất cả các con vật đồng thanh khi đang ăn bánh kem dâu tây, loại bánh truyền thống trong dịp Giáng sinh Nhật Bản. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ ngoại nhập phổ biển tại đất nước này. Và tương tự, phương thức kể chuyện lại một lần nữa được làm mới.

Hết. 

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Marie Mutsuki Mockett, đăng tại Literary Hub.


Đọc tất cả bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích


Trà chiều

Bài học đạo đức thâm sâu trong truyện cổ tích: Khi các cô gái kết hôn với quái vật

Published

on

Beauty and the Beast (Người đẹp và Quái vật) là cuốn sách vừa ra mắt, tập hợp những câu chuyện cổ tích từ khắp nơi trên thế giới, khám phá sự khác lạ của mối quan hệ vượt ranh giới giống loài.

Trong cả hai phiên bản Người đẹp và Quái vật của Disney, giữa khung cảnh bộ đồ dùng làm bếp nhảy múa, nhạc đệm lãng mạn và điệu waltz ngất ngây, thật dễ dàng bỏ qua việc câu chuyện này kỳ lạ như thế nào. Đây là một câu chuyện - được kể lại bởi tập đoàn hùng mạnh nhất trong lĩnh vực giải trí dành cho thiếu nhi - về một cô gái phải lòng một con quái vật. Trong bản hoạt hình năm 1991, biểu cảm ngốc nghếch của Quái vật khiến hắn ta trông giống con người và đáng yêu hơn hẳn, giảm bớt sự kỳ quặc trên. Nhưng trong bản live-action năm 2017, tạo hình Quái vật lại vô cùng giống… một con quái thú.

Người đẹp và Quái vật bản hoạt hình năm 1991.

Người đẹp và Quái vật bản live-action năm 2017.

Trong bản gốc Người đẹp và Quái vật được phát hành năm 1740 bởi tiểu thuyết gia người Pháp Gabrielle-Suzanne Barbot de Villeneuve, Quái vật được mô tả là một loài lai tạp giữa voi và cá, với “vòi voi quấn quanh cổ”, “cơ thể nặng nề”, “tiếng loảng xoảng khủng khiếp phát ra từ bộ vảy” mỗi khi hắn di chuyển. Nhưng trong phiên bản chuyển thể nổi tiếng nhất - một phiên bản cô đọng dành cho trẻ em từ cựu giáo viên Jeanne-Marie Leprince de Beaumont, ngoại hình của Quái vật được nhường lại cho trí tưởng tượng của độc giả. De Beaumont chỉ nói rằng hắn ta trông “đáng sợ”, và Người đẹp đã phải run rẩy “trước ngoại hình kinh khủng của sinh vật này”. Quái vật có thể trông giống một con trâu nước, hoặc một con gấu, hay một con hổ; hắn ta cũng có thể được miêu tả như một ông già tầm thường, bản chất tốt bụng nhưng ngoại hình thì cực kỳ xấu xí. Đó chính là mục đích của câu chuyện.

De Beaumont luôn lồng ghép các bài học đạo đức mạnh mẽ vào đa số những câu chuyện của mình, và xuất bản chúng như một bản hướng dẫn giáo dục dành cho trẻ nhỏ. Bà không phải là người duy nhất làm vậy. Jack Zipes viết trong cuốn sách Fairy Tale as Myth/Myth as Fairy Tale năm 1983: “Truyện cổ tích không thể trở nên phổ cập, trừ khi chúng hoàn toàn nhất quán với các nguyên tắc cơ bản về cách nam giới trong xã hội tìm cách sắp xếp mối quan hệ để thoả mãn mong muốn và nhu cầu của họ.” Thật vậy, như Maria Tatar đã chỉ ra trong phần giới thiệu tuyệt vời về tuyển tập mới Beauty and the Beast: Classic Tales About Animal Brides and Grooms From Around the World (Người đẹp và Quái vật: Những câu chuyện kinh điển về những cô dâu và chú rể động vật trên khắp thế giới), câu chuyện về Người đẹp và Quái vật vốn dành cho những cô gái có thể bị áp đặt vào những cuộc hôn nhân sắp đặt. Người đẹp bị cha mình trao đổi để nhận lại sự an toàn và của cải, và bị gửi đến sống với một người lạ đáng sợ. Tatar giải thích câu chuyện của De Beaumont nhấn mạnh sự cao quý trong hành động hy sinh thân mình của Người đẹp, đồng thời khiến độc giả phấn khích “vì một mối quan hệ đòi hỏi sự đè nén mong muốn của bản thân và phục tùng ý chí của một con quái vật.”

Nhưng Người đẹp và Quái vật cũng là một bổ sung tương đối hiện đại cho nhiều điển tích có từ hàng ngàn năm trước: những câu chuyện về con người phải lòng động vật. Những ví dụ đặc trưng đến từ Ấn Độ, Iran, Na Uy và Ireland; Tatar liệt kê những câu chuyện về vua ếch, công chúa chim, cô dâu chó, và chồng là chuột muskrat. Về cơ bản, mỗi câu chuyện là một biểu hiện cho sự lo ngại về hôn nhân và các mối quan hệ - về tính thú của các giới, và sự xa lạ giữa đàn ông và phụ nữ. Có một số câu chuyện, như Người đẹp và Quái vật, cảnh báo về sự phù phiếm hoặc độc ác. Nhưng nhiều câu chuyện chỉ đơn giản minh hoạ cho sự thôi thúc cơ bản của con người – phổ biến trong các nền văn minh – là sử dụng các câu chuyện để giải nghĩa cuộc sống.

*

Tatar viết: “Người đẹp và Quái vật là câu chuyện về sức mạnh của sự đồng cảm”, nhưng là một câu chuyện tăm tối và xạ lạ. Ngấm ngầm bên trong nó là nhiều quan ngại liên quan đến cấu trúc xã hội và cảm xúc hôn nhân: sợ hãi đối phương, không muốn rời xa gia đình, sợ thay đổi bản thân trong một mối quan hệ mới. Câu chuyện của De Beaumont “phản ánh mong muốn chuyển đổi những câu chuyện cổ tích từ vai trò giải trí thành những câu chuyện ngụ ngôn về hành vi tốt, là phương tiện để truyền dạy và khai sáng cho trẻ em về các đức tính tốt và giáo dục tốt.” Ngoại hình quyến rũ của Người đẹp kết hợp hoàn hảo với đức hạnh và lòng vị tha của cô, điều này tương phản với sự phù phiếm, tham lam và gian ác của các chị em cô.

Khi bố của Người đẹp lên đường để bắt kịp chuyến tàu vừa cập cảng, ông hỏi các cô con gái của mình muốn quà gì. Những người chị em của Người đẹp yêu cầu quần áo và đồ trang sức khác; Người đẹp, vì không muốn gây phiền hà cho cha mình hay làm xấu mặt các chị em mình, chỉ yêu cầu duy nhất một bông hoa hồng - thứ sẽ định hình số phận của cô. Cha của cô bị ngã ngựa và được dẫn lối vào ngôi nhà bí ẩn không người ở, nơi ông được cho ăn và nghỉ ngơi. Vào buổi sáng, ông nhớ tới việc phải ngắt một bông hồng cho Người đẹp, nhưng hành động không kiêng nể của ông đã triệu hồi Quái vật, kẻ đã kết án tử hình cho ông, nhưng lại cho phép cha của Người đẹp gửi một trong những cô con gái của mình đến chết thay.

Người đẹp, dĩ nhiên, hy sinh bản thân mình. “Con thà bị con quái vật đó nuốt chửng còn hơn chết vì đau buồn khi phải mất cha.” Hành động của cô đã nói với độc giả rằng việc “cứu” gia đình mình bằng cách bước vào một hôn nhân sắp đặt là hành vi cao cả, đồng thời chuẩn bị cho họ tinh thần hy sinh chính bản thân mình trong một viễn cảnh tương tự. Tatar viết: “Khát khao vật chất và leo thang xã hội thúc đẩy các bậc cha mẹ giao con gái của họ cho loài cầm thú, và các câu chuyện phản ánh hành vi này như là tập quán xã hội của thời kỳ xa xưa. Nhiều cuộc hôn nhân sắp đặt khiến ta có cảm giác như bị trói vào tay một con quái vật.”

Tương tự, nhiều câu chuyện trong tuyển tập của Tatar là “huyền thoại khởi đầu” – các câu chuyện kể về những nghi lễ đa dạng khi bước vào tuổi trưởng thành, cho dù bằng cách giết rồng, hành trình qua các quốc gia hay giao ước với những linh hồn kỳ lạ và không đáng tin cậy. Trong Cupid và Psyche, Psyche bị ép kết hôn với một con quái vật, và nàng bị cấm nhìn thấy gương mặt hắn ta. Hàng đêm, hắn ta làm tình với nàng trong bóng tối. Nhưng các chị em của nàng (cũng là những kẻ nhiều chuyện quỷ quyệt) thuyết phục nàng dùng một ngọn đèn để nhìn trộm, lúc đó nàng phát hiện hóa ra đó là thần Cupid, “người đẹp trai và quyến rũ nhất trong các vị thần”. Tuy nhiên, hậu quả của việc bất chấp quy tắc của nàng thật là thảm khốc. Thần Cupid biến mất, và Psyche phải vượt qua những nhiệm vụ bất khả thi để chứng minh giá trị của mình với Venus, người mẹ độc đoán của Cupid.

Amore e Psiche bởi Giuseppe Crespi, cảnh Psyche dùng ngọn đèn để nhìn trộm Cupid.

Trong một câu chuyện của người Ghana, Tale of the Girl and the Hyena-Man (Câu chuyện về cô gái và chàng linh cẩu), một cô gái trẻ tuyên bố cô sẽ không lấy người chồng mà cha mẹ đã chọn. Thay vào đó, cô ấy chọn một người lạ, “một chàng trai trẻ, có sức mạnh và vẻ đẹp tuyệt vời”. Thật không may, anh ta hoá ra là một con linh cẩu giả dạng - gã đã đuổi theo vợ mình khi cô biến mình thành một cái cây, sau đó là một vũng nước, sau đó là một hòn đá. Câu chuyện kết thúc ngắn gọn: “Truyền thuyết về cuộc phiêu lưu của cô được truyền lại cho tất cả mọi người, và đó là lý do tại sao cho đến ngày nay phụ nữ không được phép tự chọn chồng cho mình và đó cũng là lý do tại sao trẻ em cần học cách vâng lời người lớn tuổi.”

Những câu chuyện cảnh báo phụ nữ về hiểm nguy của quyền tự quyết và hậu quả của sự tò mò không kiểm soát cũng phổ biến tương tự những câu chuyện khuyên răn các chàng trai về thói hoang dại hiển nhiên của đàn bà. Khi cô dâu là động vật, họ biến thành người nội trợ đảm đang và có năng lực, nhưng thú tính vẫn còn trong họ. Trong The Swan Maidens (Tiên nữ thiên nga), một thợ săn bắt gặp một nhóm phụ nữ trẻ đang tắm trong hồ sau khi trút bỏ áo choàng làm từ lông vũ. Anh ta giấu đi một chiếc áo choàng, khiến một trong những thiếu nữ bị mắc kẹt trong hình dạng con người, bất lực nhìn những người chị em của mình hóa thiên nga bay về trời. Người thợ săn kết hôn với cô; họ có hai đứa con và sống hạnh phúc bên nhau, nhưng một ngày nọ, khi cô tìm thấy chiếc áo choàng lông vũ bị giấu đi, cô lập tức mặc nó vào và trở lại hình dạng thiên nga, bay đi và bỏ rơi chồng con mình.

Tiên nữ thiên nga dường như nói lên mong muốn bẩm sinh của phụ nữ, cũng như cảm giác trung thành và tình thân đối với bộ tộc nguyên thuỷ của một người. Nó cảnh báo độc giả nam về sự khác biệt tiềm ẩn trong phụ nữ, những người từ lâu được quy là quá gần gũi với thiên nhiên, quá hoang dã. Nhưng nó cũng làm sáng tỏ những gì Tatar miêu tả là “bản chất áp bức bí mật của hôn nhân, với nhiệm vụ trong nom và nuôi dạy con cái. Những cô dâu động vật là những người bạn đời tuyệt vời khi đảm nhận nhiệm vụ trong gia đình, nhưng có một cái giá phải trả: Họ không được phép nắm giữ chìa khoá tự do của mình.

*

Rất nhiều yếu tố nguyên sơ và cảnh báo trong truyện cổ tích được Angela Carter đề cập hoặc lật tẩy trong The Bloody Chamber (Căn hầm đẫm máu), một tuyển tập truyện năm 1979 lấy cảm hứng từ truyện dân gian. Trong tiêu đề câu chuyện, nhân vật nữ chính bán mình cho cuộc hôn nhân, bỏ qua những nghi ngờ của mẹ cô; sau đó cô “rời đi Paris, rời xa thời con gái, rời xa không gian yên tĩnh trắng muốt trong căn hộ của mẹ tôi để đến đất nước không thể đoán được về hôn nhân.” Cuối hành trình là người chồng người mà thực sự là một con quái vật – không phải một con thú mà là một kẻ sát hại phụ nữ hàng loạt. Cuối cùng nhân vật nữ chính không phải được cứu bởi một người đàn ông mà bởi người mẹ liều lĩnh, dũng cảm và nổi loạn của cô.

Những cạm bẫy đạo đức trong truyện cổ tích tràn ngập trong các câu chuyện của Carter, nhưng bà từ chối tuân theo các quy ước của họ. Trong Căn hầm đẫm máu, Carter đã tạo nên một câu chuyện ngụ ngôn nữ quyền, riêng biệt và chứng minh rằng ngay cả những mô hình kể chuyện lâu đời nhất cũng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những trải nghiệm vào lo lắng đương thời.

Hết.

Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc The Dark Morality of Fairy-Tale Animal Brides được thực hiện bởi Sophie Gilbert, đăng tại The Atlantic.

Ảnh đầu bài: Minh họa Người đẹp và Quái vật, 1913 bởi Warwick Goble

*

Có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Trà chiều

Cách nhìn thế giới qua lăng kính của Định luật Newton (Định luật II và III)

Published

on

Lần trước, chúng ta đã cùng nhau đi tìm một cái nhìn mới, cùng nhau nhìn nhận Định luật I của Newton qua lăng kính của cuộc sống sau khi đã tách rời nó khỏi các ý nghĩa vật lí ban đầu. Lần này, chúng ta hãy cùng nhau đi trên hành trình ấy một lần nữa, nhưng lần này là với Định luật II và III của Newton, hai định luật mà theo tôi về ý nghĩa và tầm quan trọng của nó có thể còn thú vị hơn cả Định luật I khi được đặt dưới một góc nhìn mới.

*

Định luật II Newton nói rằng:

Nếu một vật chịu tác dụng của một lực làm thay đổi vận tốc của vật thì véc tơ gia tốc luôn cùng hướng với lực tác dụng lên vật, độ lớn gia tốc sẽ tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật.

Thật ra định luật này rất đơn giản và dễ hiểu, nhưng với cách phát biểu như trên thì có lẽ sẽ khiến nhiều người cảm thấy hơi choáng váng; bản thân tôi tuy đã hiểu khá rõ về định luật này mà khi đọc lại cũng cảm thấy như vậy. Nhưng dù là khó hay dễ hiểu thì hôm nay chúng ta vẫn sẽ tạm gác lại những ý nghĩa vật lí của định luật trên và thử nhìn nhận lại bằng một góc nhìn khác. Khi ấy, một lập luận cũng có phần đáng để suy ngẫm sẽ dần hiện ra:

Khi một “lực” - tức một việc gì đó xảy ra và tác động đến chúng ta - nếu như “lực” đó đủ mạnh nó sẽ làm con người chúng ta thay đổi. Chúng ta sẽ thay đổi theo chiều hướng của “lực” đã tác động vào ta, nhưng thay đổi đến mức nào, chúng ta sẽ “dịch chuyển” bao nhiêu xa so với con người mình trước đây thì lại phụ thuộc vào “khối lượng” và độ lớn của “lực” ban đầu.

Về phần “lực” thì khá là dễ hiểu, khi một “lực” mạnh, tức một sự việc nghiêm trọng xảy ra trong cuộc đời chúng ta thì hiển nhiên nó sẽ làm con người chúng ta thay đổi. Sự kiện đó càng tồi tệ, càng trầm trọng (theo chiều hướng xấu), hay thậm chí là càng tuyệt diệu (theo chiều hướng tốt) thì con người chịu tác động của sự kiện sẽ thay đổi càng nhiều.

Nhưng độ lớn của “lực” không phải là yếu tố duy nhất và quyết định tất cả, còn có “khối lượng” nữa. Trong trường hợp này, “khối lượng” có thể được hiểu là bản chất của con người chúng ta. Nó bao gồm những thứ như: cách chúng ta suy nghĩ về thế giới, cách chúng ta định nghĩa về bản thân mình, chúng ta kiên định hay dễ thay đổi đến mức nào, chúng ta trân trọng những giá trị nào, chúng ta tin vào những gì,…

Nói tóm lại là, khi con người chúng ta chịu sự tác động của thế giới, chúng ta sẽ thay đổi, còn thay đổi như thế nào, thay đổi nhiều hay ít thì lại phụ thuộc vào “lực” tác động của thế giới và bản thân mỗi người chúng ta.

Nghe qua thì có vẻ là một điều hiển nhiên nhỉ? Nhưng việc chúng ta có thể rút ra cái điều khá là hiển nhiên này khi đặt một định luật vật lí dưới một góc nhìn khác chẳng phải là rất thú vị ư?

Dưới sự tác động từ thế giới bên ngoài và những suy nghĩ nội tâm bên trong, theo dòng chảy của thời gian, con người sẽ thay đổi, cả về ngoại hình bên ngoài lẫn bản chất bên trong. Dù có muốn hay không, ai rồi cũng sẽ thay đổi, có người nhiều, có người ít, nhưng chắc chắn là sẽ có, bởi vì nó là tất yếu, như một quy luật cho vạn vật trên thế giới này. Bạn của 10 năm trước khác với bây giờ như thế nào? Liệu bạn có bao giờ tự hỏi 10 năm sau, bản thân bạn khi ấy sẽ có những nhận xét, những suy nghĩ gì về con người bạn lúc này?

Các định luật vật lí vốn được sinh ra để mô tả, để thấu hiểu cách mà vạn vật trong vũ trụ này vận hành, nhưng bằng một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó, ít ra trong trường hợp này, khi ta sử dụng một góc nhìn mới, những quy luật về cuộc sống cũng dần hiện ta từ các định luật. Bây giờ chúng ta sẽ đến với Định luật III của Newton, một định luật vô cùng đơn giản, dễ hiểu, ai cũng có thể quan sát được, một quy luật cơ bản trong toàn vũ trụ nhưng đồng thời cũng lại rất thân thuộc, thậm chí là vì nó quá thân thuộc nên nhiều người đã vô thức xem nó là một lẽ hiển nhiên, nên đã vô tình bỏ qua và chưa bao giờ nhận ra.

Định luật III Newton nói rằng:

Khi một vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng sẽ tác dụng lên vật A một lực. Hai lực này cùng độ lớn, cùng phương nhưng lại ngược chiều.

Bản thân tôi thì thích cách phát biểu tiếng Anh của định luật này hơn:

For every Action, there is an equal and opposite Reaction.

Có thể tạm dịch là: Ứng với mỗi một “hành động”, sẽ có một “phản hành động” có cùng độ lớn nhưng lại ngược chiều.

Tại sao để bay lên thì tên lửa lại phải phóng ra một ngọn lửa về phía sau, tại sao để tung người nhảy lên thì chúng ta phải co chân lại, tại sao để bước đi thì bàn chân phải đạp xuống mặt đất, tại sao để chạy thì bàn chân lại càng phải đạp xuống mặt đất mạnh hơn nữa? Tất cả những điều đó đều là những biểu hiện của Định luật III Newton.

Để có thể bước đi, bạn sẽ phải dùng chân đẩy một lực xuống mặt đất, để rồi mặt đất sẽ đẩy bàn chân bạn tiến về phía trước. Để chạy, bạn sẽ phải đạp xuống mặt đất mạnh hơn nữa để mặt đất đẩy cơ thể bạn đi xa hơn nữa. Để nhảy, bạn phải co chân lại, vốn cũng là để đạp xuống mặt đất, để rồi nền đất đẩy bạn bay lên. Với tên lửa cũng như vậy, để bay lên cao tên lửa sẽ phải đốt cháy nhiên liệu và phóng chúng về phía sau.

Và khi chúng ta kết hợp Định luật II và Định luật III dưới góc nhìn mới này lại, một điều thú vị hơn nữa lại hiện ra: Khi thế giới làm bạn thay đổi thì bạn cũng sẽ làm thay đổi thế giới, ngược lại, khi bạn làm thay đổi thế giới thì thế giới cũng sẽ làm bạn thay đổi.

“Thế giới” ở đây có thể hiểu theo nghĩa hẹp: là cuộc sống của bạn, là thế giới nội tâm, cách bạn suy nghĩ, kể cả mọi người hay các đồ vật xung quanh cũng có thể được xem là “thế giới”. Không cần phải suy nghĩ quá sâu xa, cầm một quyển sách lên để đọc đã là một cách tác động vào “thế giới” rồi, chỉ cần dấu tay của bạn chạm vào một trang sách thì đã có thể nói là bạn vừa tác động và làm thay đổi “thế giới”. Ngay cả việc viết ra một dòng chữ cũng là làm thay đổi thế giới, vì chẳng phải là trước khi bạn viết ra dòng chữ đó thì nó chưa từng tồn tại hay sao? Và nếu có một ai đó khác hay thậm chí là chính bạn đọc lại dòng chữ ấy, thì dòng chữ, nó lại một lần nữa xuất hiện ở một nơi nó chưa từng tồn tại trước đó – nơi tâm trí của một con người.

“Thế giới” cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng: đơn giản là thế giới, là thành phố, là núi đồi, là cả Trái Đất, là cả vũ trụ này. Bạn có bao giờ ngẫm nghĩ về những gì loài người đã làm được trên thế giới này, trên hành tinh này chưa? Người ta nói rằng nếu toàn bộ lịch sử Trái Đất chỉ xảy ra trong một ngày, tức 24 giờ hay 86.400 giây, thì nền văn minh nhân loại sẽ chỉ xuất hiện vào giây phút cuối cùng của ngày hôm đó. Tức là tới tận lúc 23h 59 phút 59 giây, tới tận giây phút cuối cùng của 24 giờ đặc biệt này, trong nền văn minh nhân loại mới chớm nở. Nếu cả hành tinh này chỉ vừa mới sinh ra và đã tồn tại được 86.399 giây, thì đến tận giây thứ 86.400 nền văn hóa của toàn thể nhân loại mới bắt đầu những bước đi đầu tiên.

Trong một giây đó, tức khoảng 50.000 năm qua, hãy xem loài người đã làm được những gì. Từ những sinh vật chỉ biết bước đi dưới bầu trời và ngắm nhìn những vì sao, chỉ là một phần của thế giới tự nhiên, với đôi bàn tay và trí tuệ của mình, loài người đã tách mình ra khỏi tự nhiên và trở thành những sinh vật thống trị hành tinh này. Chúng ta có mặt ở khắp mọi lục địa trên Trái Đất, biến đổi thế giới, xây dựng hàng nghìn thành phố, đẩy lùi và thu hẹp thiên nhiên hoang dã, dựng nên những tòa nhà thách thức cả bầu trời, đặt chân lên Mặt Trăng, hướng những ống kính hiện đại nhất vào không gian vũ trụ, đưa được thiết bị hạ cánh để thăm dò trên hành tinh khác. Dù là tốt hay xấu, thì có một điều là chắc chắn, mặc cho tuổi đời vô cùng ngắn ngủi, nhân loại đã thay đổi thế giới này, đã và vẫn đang để lại những dấu chân vững chãi trên nền cát của lịch sử Trái Đất.

Và dĩ nhiên là thế giới mới do chính con người tác động và tạo ra này cũng đã tác động ngược trở lại con người. Bạn có biết không, bộ não con người đã thu nhỏ đi khoảng 10% trong suốt 40.000 năm qua, không phải là vì chúng ta đang ngày càng kém thông minh, mà có lẽ là do chúng ta đã tự thuần hóa chính mình khi chúng ta tự tách khỏi thiên nhiên và sống trong những “khu rừng bê tông” do chính mình xây dựng nên. Một con người cổ đại thì luôn cần phải đấu tranh để sinh tồn, luôn phải ghi nhớ mọi thứ, từ phương hướng đến địa hình, đến vị trí và cách tìm kiếm những nguồn tài nguyên quý giá như nước và thức ăn; còn con người hiện đại với cuộc sống có phần nhẹ nhàng hơn thì không mấy ai có được những kĩ năng và kiến thức ấy cả.

Con người đã thay đổi, khai thác và cả hủy hoại thế giới. Thế giới cũng đã đáp trả lại bằng những tài nguyên thiết yếu đang dần cạn kiệt, bằng đủ mọi loại ô nhiễm đang tác động xấu đến chính cuộc sống của mỗi con người: từ ô nhiễm không khí, đất, nước, đến cả ô nhiễm ánh sáng và âm thanh, bằng những hiện tượng thời tiết ngày càng khắc nghiệt, bằng khí hậu biến đổi nhiều đến mức có thể không đảo ngược được nữa.

Đã là một con người, thì một điều là chắc chắn, mỗi ngày bạn đều đang tác động vào thế giới và mỗi ngày thế giới cũng đang tác động vào bạn, từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất cho đến những điều vô cùng vĩ đại. Vậy còn bạn, bạn muốn để lại những dấu chân nào cho thế giới trong khoảng thời gian ngắn ngủi bạn nán lại nơi đây? Và bạn muốn thế giới sẽ khiến cho bản thân mình thay đổi đến mức nào so với thời điểm hiện tại trước khi bạn rời khỏi?

Câu trả lời cho hai câu hỏi trên, sẽ thay đổi như thế nào theo dòng chảy thời gian? Liệu bản thân mỗi người chúng ta có thể tự trả lời hoàn chỉnh hay không?

Hay sẽ là một ai đó khác, vào một ngày nào đó khác, sẽ trả lời đầy đủ hơn sau khi chúng ta đã rời khỏi?

Hết.

Stern

Ảnh đầu bài: The Wall Street Journal

*

Bài viết có liên quan



Đọc bài viết

Trà chiều

[Infographic] Hành trình 39 năm: Nỗ lực, dấn thân, cống hiến

Published

on

By

Trải qua một chặng đường dài hình thành và phát triển, Phương Nam chiếm một góc cố định trong tâm tưởng người Việt khi nhắc đến văn hóa, và rộng hơn, vượt biển khơi để trở thành đầu tàu giới thiệu văn hóa Phương Nam với bạn bè quốc tế.

39 năm - thời gian dài của những nỗ lực, dấn thân và cống hiến. Sinh nhật mỗi năm chỉ có một lần, cùng Ban Biên Tập Bookish.vn nhìn lại hành trình 39 năm hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Văn hóa Phương Nam qua từng cột mốc quan trọng mà trong đó, mỗi cột mốc đều mang ý nghĩa lớn, đánh dấu tâm huyết của nhiều con người, tập thể.

*

Hành trình 39 năm nhìn lại – Nỗ lực và tiếp tục nỗ lực

Ban Biên Tập thực hiện

*

Chuỗi bài Hành trình 39 năm nhìn lại

39 năm nhìn lại - Phương Nam trong chúng ta

Câu chuyện về Thành phố sách Phương Nam: Wonderland của các Alice yêu sách

Phương Nam Book City – “Nhà” của nhiều người trẻ mê văn hóa

Xuân, Hạ, Thu, Đông: Bốn mùa Phương Nam tại Đường Sách TP. HCM

Đọc bài viết

Cafe sáng