Trà chiều

Một góc nhìn chính trị về Giải Nobel Văn chương 2019

Giải Nobel Văn học 2018 và 2019 – trao cho Olga Tokarczuk và Peter Handke – được công bố cùng thời điểm, nguyên nhân vì kết quả năm ngoái bị trì hoãn bởi vụ scandal liên quan đến người chồng của một thành viên viện hàn lâm.

Published

on

Trong hơn một thế kỷ qua, Giải Nobel Văn chương vốn dĩ luôn là màn trình diễn gây tranh cãi, khi phía phê bình chỉ trích những người nhận giải là quá ít tiếng tăm, quá Âu hóa, quá trọng nam, quá thử nghiệm, hay đơn giản chỉ là không xứng đáng với vinh dự bậc nhất trong giới văn chương. Và thứ Năm vừa rồi, Nobel đã đặt chân vào vũng bùn lầy lội hoàn toàn mới khi trao giải cho một nhà văn khuynh-hướng-cánh-tả, Peter Handke, người đã đứng lên phát biểu một bài ca ngợi tại tang lễ của Slobodan Milosevic1, cựu lãnh đạo Nam Tư, người từng hầu tòa vì tội ác chiến tranh.

Năm nay đáng nhẽ phải là cú tái khởi động của Ủy ban Nobel, sau vụ scandal khó coi dính líu đến bạo hành tình dục và sai lầm tài chính, buộc Ủy ban Nobel phải trì hoãn Giải Nobel Văn chương 2018. Năm nay, Viện hàn lâm Thụy Điển đối diện với những kỳ vọng lớn lao và áp lực mạnh mẽ, bởi họ đã hứa hẹn sẽ trao không chỉ một mà đến hai giải thưởng.

Bên cạnh Handke – người nhận Giải Nobel 2019 vào thứ Năm, tiểu thuyết gia Olga Tokarczuk cũng nhận Giải Nobel 2018. Cả hai nhà văn đều đến từ Trung Âu, đều nổi tiếng bởi những quan điểm chính trị bộc trực và thỉnh thoảng trái chiều. Nhưng chính giải thưởng dành cho Handke mới là yếu tố khai hỏa những phản ứng dữ dội, trong đó có lời khiển trách hiếm hoi từ một tổ chức văn học khác, PEN America.

Chủ tịch PEN America, tiểu thuyết gia Jennifer Egan phát biểu trong một tuyên ngôn đại diện cho tổ chức: “Chúng tôi chết lặng trước sự lựa chọn một nhà văn, người đã sử dụng phát ngôn công chúng của mình để đục khoét lịch sử và công khai gửi cứu trợ đến những kẻ gây ra tội ác diệt chủng, như cựu Tổng thống Serbia Slobodan Milosevic và thủ lĩnh Bosnian Serb Radovan Karadzic. Ngay tại thời điểm mà chủ nghĩa dân tộc và lãnh đạo chuyên quyền đang trỗi dậy, những thông tin đánh lạc hướng lan rộng khắp thế giới, cộng đồng văn học xứng đáng nhiều hơn là quyết định này. Chúng tôi hối tiếc sâu sắc lựa chọn của Ủy ban Nobel trong lĩnh vực Văn chương.”

Khi được hỏi về quyết định của viện hàn lâm liên quan đến Handke, Mats Malm – thành viên và thư ký thường trực của viện – phát biểu quyết định này dựa trên những lập trường văn chương và thẩm mỹ, bổ sung rằng: “Tôn chỉ của Viện hàn lâm không phải là cân bằng giữa chất lượng văn chương và những cân nhắc chính trị.”

Trong khi giải thưởng của Handke bị một số phe phái lên án, rất nhiều người trong giới văn chương đã hân hoan chúc mừng Tokarczuk, một tiểu thuyết gia và nhà thơ thử nghiệm từ Ba Lan, người được cả độc giả và giới phê bình yêu quý.

Handke đến từ nước Áo, mẹ ông là người Slovenia. Ông có quan điểm tán thành chủ nghĩa dân tộc và đã công khai bày tỏ hoài nghi về vụ tàn sát người Hồi giáo trong Chiến tranh Balkan. Tokarczuk là người thường xuyên phê bình thành viên chủ nghĩa dân tộc cánh-tả tại Ba Lan, những người đã quy kết bà là kẻ phản bội. Chủ biên người Ba Lan của bà đã từng phải thuê vệ sĩ để bảo vệ bà.

Một số tác gia xuất chúng khác, trong số đó có Hari Kunzru và Salman Rushdie, cũng phê bình quyết định lựa chọn Handke, người từ chối mọi liên hệ thông qua chủ biên người Mỹ. Về phần Tokarczuk, bà có vẻ chẳng mấy bận tâm. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo Ba Lan Gazeta Wyborcza vào thứ Năm, Tokarczuk nói bà rất vui khi nhận giải Nobel cùng với Handke. “Tôi cũng rất vui khi Peter Handke nhận giải cùng tôi, tôi rất coi trọng ông ấy. Thật tuyệt vì Viện hàn lâm Thụy Điển đã đánh giá cao văn học Trung Âu. Tôi mừng là chúng tôi vẫn còn bám trụ được.”

Qua việc trao giải cho hai nhà văn châu Âu danh tiếng, viện hàn lâm dường như đã phớt lờ những lời chỉ trích trong quá khứ rằng giải thưởng đã trở nên quá Tây phương và trọng Âu châu. Kể từ giải thưởng đầu tiên được trao vào năm 1901, phần lớn người thắng cuộc là người châu Âu và những tác giả nói ngôn ngữ Anh. Trong lịch sử, phụ nữ cũng không được đại diện đúng mực. Trong số 116 người chiến thắng Giải Nobel Văn học, Tokarczuk là người phụ nữ thứ 15.

Một số người theo dõi văn chương đã trông chờ rằng năm nay, viện hàn lâm sẽ lựa chọn ít nhất một nhà văn không phải người châu Âu; có lẽ sẽ trao giải cho những cái tên phổ biến, trong số đó là tiểu thuyết gia người Kenya Ngũgĩ wa Thiong’o, nhà văn Trung Quốc Tàn Tuyết và nhà thơ người Syria Adunis.

Trong một phát biểu thực hiện năm nay, Anders Olsson, người dẫn dắt ủy ban văn học của viện hàn lâm, thừa nhận rằng tính đa dạng hẳn nên trở thành một ưu tiên và ngụ ý ủy ban sẽ cân nhắc việc đa dạng hóa về mặt địa lý và giới tính khi đưa ra lựa chọn của mình.

“Thời gian trước đây, chúng ta đã có, hẳn nên nói là, một quan điểm văn chương hướng về phương Tây, và giờ chúng ta đã phổ cập cái nhìn của mình ra toàn thế giới,” ông nói trong một bài phỏng vấn video. “Thời gian trước đây, chúng ta đã quá trọng-nam-giới. Hiện nay chúng ta đã có rất nhiều nữ nhà văn thật sự xuất sắc, vì thế giải thưởng và cả quá trình liên quan đến giải thưởng càng trở nên căng thẳng với quy mô rộng lớn hơn.”

Viện hàn lâm đã trì hoãn giải thưởng năm ngoái vì scandal liên quan đến người chồng của một thành viên viện – người bị kết tội cưỡng hiếp và rò rỉ tên của những người chiến thắng. Đây là cuộc khủng hoảng dẫn đến sự ra đi của thành viên ban quản trị và đòi hỏi đến sự can thiệp từ nhà vua Thụy Điển. Sau scandal, viện hàn lâm đã đưa ra nhiều điều chỉnh trong tổ chức, bao gồm việc bổ nhiệm năm cố vấn độc lập để bình chọn người xứng đáng.

Thậm chí, một nhóm những nhân vật có tầm ảnh hưởng văn hóa tại Thụy Điển đã thiết lập một giải thưởng thay thế, the New Academy Prize (tạm dịch Giải Tân Hàn Lâm) để lấp đầy khoảng trống và chứng minh rằng việc tìm kiếm người chiến thắng có thể được thực hiện theo phong cách công khai, đối lập với sự vận hành trong bóng tối của viện hàn lâm. Người chiến thắng được họ lựa chọn là Maryse Conde, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử từ Guadeloupe.

Về Peter Handke

Handke sinh năm 1942 tại miền nam nước Áo. Cả cha đẻ và cha dượng ông đều phục vụ trong quân đội Đức Wehrmacht. Sau khi mẹ ông tự tử vào năm 1971, Handke thi thoảng sẽ viếng thăm Nam Tư. Phần lớn tuổi thơ ông trải qua tại một Berlin sứt sẹo sau chiến tranh và sau đó, ông học luật tại Đại học Graz. Ông bỏ học năm 1965, sau khi tiểu thuyết đầu tay The Hornets (tạm dịch Những con ong bắp cày) được một chủ biên nhận in. Hiện nay, thành tựu của ông bao gồm tiểu thuyết, luận văn, kịch bản và những tác phẩm kịch khác. Ông hiện sống tại Chaville, vùng ngoại ô Paris kể từ năm 1990.

Peter Handke được vinh danh bởi “công trình có sức ảnh hưởng lớn cùng tài nghệ ngôn ngữ khéo léo để khám phá vùng ngoại biên và đặc trưng riêng biệt của trải nghiệm loài người.”

Những nhà phê bình văn học đã mô tả công trình của ông là avant-garde2, nhưng Handke phủ nhận cái nhãn ấy, tự nhìn nhận mình là một “nhà văn cổ điển bảo thủ.”

Những tác phẩm mà ông dành nhiều thập kỉ để viết, xuất bản lần đầu tại Đức bao gồm A Sorrow Beyond Dreams (tạm dịch Nỗi buồn hơn cả những giấc mơ), tiểu thuyết ngắn dựa trên cái chết của mẹ ông đã nhận được sự hoan nghênh từ giới phê mình. Khi bình tác phẩm trên tờ The New York Times năm 1975, Michael Wood gọi đây là “lễ truy điệu hoành tráng dành cho những sinh mệnh Đức và Áo bị chôn vùi” và “bài viết xuất sắc nhất mà tôi từng được đọc trong nhiều năm.”

Tuy nhiên, tình bạn giữa Handke và Slobodan Milosevic cùng lời bình luận của ông – dường như giảm thiểu sức nặng của những vụ thảm sát người Hồi giáo Bosnia tại Serbia – dẫn đến việc ông bị lên án. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2006, ông nói về Milosevic: “Tôi nghĩ ông ấy là một người đàn ông bi kịch. Không phải là anh hùng, chỉ là một con người bi kịch thôi. Tôi là nhà văn, không phải là thẩm phán.”

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ông nói mình không hề trông đợi việc nhận Giải Nobel, nguyên nhân đến từ chính vụ tranh cãi này. “Khi tôi còn trẻ hơn thì tôi đã để tâm đấy. Nhưng hiện nay tôi nghĩ là tất cả đã chấm hết sau những lời bình luận về vụ Nam Tư rồi.”

Trong năm ấy, ông được lựa chọn là người chiến thắng giải thưởng danh giá của Đức – Giải Heinrich Heine, nhưng quyết định đã bị thu hồi giữa những phẫn nộ từ phía công chúng. Đáp lại cơn thịnh nộ này, Handke khẳng định rằng ông chưa bao giờ phủ định hoặc giảm thiểu những cuộc thảm sát tại Nam Tư. Khi Handke nhận Giải International Ibsen năm 2014, ông phải đối mặt với những người chống đối ngay tại lễ trao giải.

Tại Mỹ, Farrar, Straus và Giroux đã xuất bản những bản dịch của Handke từ năm 1970, bắt đầu với tuyển tập Kaspar and Other Plays (tạm dịch Kaspar và những vở kịch khác), theo sau đó là tiểu thuyết The Goalie’s Anxiety at the Penalty Kick (tạm dịch Mối lo âu của thủ môn trước những cú đá penalty). Kể từ đó, FSG đã phát hành hơn 15 cuốn sách được viết bởi Handke.

“Handke là một trong những người chú trọng văn phong, tạo nên những vần văn tuyệt vời nhất ở Đức, người đã dành cả sự nghiệp của mình để thám hiểm cả thế giới tự nhiên và thế giới của ý thức con người với sự chính xác tinh xảo, sự hóm hỉnh và đầy dũng khí,” chủ tịch của FSG, Jonathan Galassi phát biểu.

Về Olga Takarczuk   

Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan, là con gái của hai giáo viên. Cha của bà cũng là thủ thư trường, và chính trong thư viện, Tokarczuk đã tìm thấy tình yêu văn chương, ngấu nghiến hết cuốn sách này đến cuốn sách khác.

Nhà văn Ba Lan Olga Tokarczuk nhận Giải Nobel Văn chương 2018 “vì khả năng sáng tạo lối tường thuật, cùng sự say mê tường tận, đại diện cho việc băng qua những ranh giới như một hình thức sự sống.”

Bà theo học chuyên ngành tâm lý tại Đại học Warsaw, sau đó từng làm việc như một nhà tâm lý học trị liệu nhưng cảm thấy mình không phù hợp với công việc. Bà ghi nhận trong một bài phỏng vấn rằng bà từ bỏ công việc sau khi nhận ra bà “còn loạn thần kinh hơn cả bệnh nhân của mình.”

Tokarczuk xuất bản cuốn sách đầu tiên, một tập thơ năm 1989. Năm 1993, bà giành được rất nhiều lời khen ngợi khi xuất bản tiểu thuyết đầu tiên The Journey of the Book-People (tạm dịch Cuộc du hành của Người-Sách), một câu chuyện hư cấu kể về những nhân vật đang kiếm tìm một cuốn sách bí ẩn ở Pyrenees, lấy bối cạnh tại Pháp và Tây Ban Nha thế kỷ 17. Cuốn sách được trao Giải Polish Publisher’s cho tiểu thuyết đầu tay.

Nhưng bước đột phá thật sự của bà được cho là tiểu thuyết thứ ba Prawiek i inne czasy, hay Primeval and Other Times (tạm dịch Thời nguyên sinh và những thời đại khác). Xuất bản lần đầu năm 1996, cuốn sách kể về câu chuyện ba thế hệ của một gia đình người Ba Lan, từ 1914 đến khởi nguyên của kỳ Đại Đồng năm 1980.

Năm 2018, bà trở thành tác giả Ba Lan đầu tiên đoạt Giải Man Booker International với tiểu thuyết Flights (tạm dịch Những chuyến bay), do Jennifer Croft dịch và được Riverhead xuất bản tại Hoa Kỳ. Croft bình luận, “Tác phẩm của bà vừa phổ thông vừa rất Ba Lan.” Là một sê-ri 116 mẩu truyện ngắn về những nhân vật đang trên đường lưu chuyển hoặc ly hương, cuốn sách được khen ngợi là một liều thuốc văn chương, giải độc cho sự cô lập văn hóa, chủ nghĩa bài ngoại và chủ nghĩa dân tộc.

Tokarczuk viết, “Tính lưu động, tính di động và cảm giác viễn vông – đó là những phẩm chất khiến chúng ta trở nên văn minh. Người man rợ không du ngoạn. Họ đơn giản chỉ đi từ địa điểm này sang địa điểm khác hoặc thực hiện những cuộc cướp bóc.”

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Times, Tokarczuk nói rằng bà đặt bút viết cuốn tiểu thuyết này từ hơn một thập kỷ trước, ngay trước vụ Brexit và những phong trào chủ nghĩa dân tộc diễn ra khắp châu Âu. “Tôi viết cuốn sách này khi thế giới hướng về việc mở rộng vòng tay với tất cả mọi người. Hiện nay, chúng ta lại chứng kiến Liên Minh Châu Âu có lẽ sẽ bị suy yếu dần bởi nhiều chính sách từ những quốc gia như Ba Lan và Hungary, một lần nữa tập trung vào biên giới của họ.”

Bà đồng thời nhắc đến chính sách nhập cư càng ngày càng khắt khe tại Mỹ. “Mười hai năm trước đây, không hề có ai đề cập đến cái ý tưởng xây tường hay ranh giới – cái ý tưởng đầu tiên được thực hiện bởi chế độ độc tài. Vào thời điểm bấy giờ, tôi phải thừa nhận rằng mình đã dám chắc chúng ta đã đi qua cái thời của chủ nghĩa chuyên chế rồi.”

Tại Ba Lan, Tokarczuk là nhân vật có sức ảnh hưởng với tính cách thẳng thắn, được biết đến bởi quan điểm chính trị đối lập với đảng Luật lệ và Công Lý cánh hữu. Bà gặp phải với nhiều lời chỉ trích sau khi xuất bản The Books of Jacob (tạm dịch Những cuốn sách của Jacob), lấy bối cảnh thế kỷ 18 tại Ba Lan, ủng hộ sự đa dạng văn hóa, và đạt giải thưởng văn học hàng đầu tại Ba Lan – Giải Nike năm 2015. Mặc dù được độc giả và nhà phê bình đón nhận, tiểu thuyết đã thu hút nhiều lời lên án sắc bén từ những nhóm chủ nghĩa đế quốc, và Tokarczuk phải chịu đựng những chiến dịch quấy rối, những lời dọa giết và kêu gọi trục xuất. Vào tháng Một, bà thực hiện một bài viết quan điểm trên tờ Times bàn về tình trạng của quốc gia sau vụ mưu sát một vị thị trưởng dẫn đầu đảng Tự do. “Tôi lo lắng về tương lai gần của chúng ta.”

Trong tháng này, khi được hỏi về các tác phẩm của Tokarczuk, Piotr Glinski – bộ trưởng bộ văn hóa Ba Lan – đáp rằng ông đã thử đọc nhưng chưa bao giờ kết thúc bất cứ cuốn sách nào của bà. Vào thứ Năm, Glinski đã chúc mừng Tokarczuk. “Đây là bằng chứng rằng văn hóa Ba Lan được toàn thế giới coi trọng,” ông viết trên Twitter. Donald Tusk, chủ tịch Hội đồng Châu Âu và cựu thủ tướng Ba Lan, cũng đưa ra lời chúc mừng trong một tweet. Ông bổ sung rằng, ông đã đọc xong hết tất cả những cuốn sách của bà.

Nobel văn chương từng gặp phải những scandal nào khác?

Một số người lúc nào cũng gièm pha về người nhận giải, hoặc ít nhất phán xét những người này không hợp với gu thưởng thức của họ. Năm 2016, khi Bob Dylan3 chiến thắng, ông là nhạc sĩ đầu tiên có vinh dự này. Giải thưởng của ông đã kéo theo hàng tuần tranh luận rằng liệu một người viết nhạc có nên đạt giải thưởng văn học không. Tiểu thuyết gia Jodi Picoult viết trên Twitter: “Tôi rất mừng cho Bob Dylan, #NhưngLiệuĐiềuNàyCóNghĩaLàTôiCóThểĐạtGiảiGrammy?”

Giải thưởng trong năm tiếp theo là một sự lựa chọn truyền thống hơn, được trao cho Kazuo Ishiguro, nhà văn Anh được biết đến với tiểu thuyết The Remains of the Day (Tạm dịch Tàn dư của ngày), kể về một quản gia phục vụ Lãnh chúa Anh trong những năm trước Thế chiến thứ II.

Hết.

Mèo Heo dịch từ The New York Times.

Chú thích:

  1. Slobodan Milosevic là Tổng thống Serbia (1989 – 1997) và Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nam Từ (1997 – 2000). Sau Chiến tranh Kosovo năm 1999, ông bị khối quân sự NATO do Mỹ dẫn đầu lật đổ và bị buộc tội diệt chủng tại tòa án xử các tội phạm chiến tranh. Theo cáo buộc của phương Tây, ông đã tham gia tích cực vào việc thảm sát nhiều thường dân ở Sarajevo và Sebrenica. Phải đến năm 2015, tòa án quốc tế mới tuyên bố không có đủ chứng cứ để kết tội ông, nhưng khi đó ông đã mất gần 10 năm.
  2. Avant-garde là phong cách thử nghiệm, đột phá hoặc không chính thống áp dụng trong nghệ thuật, văn hóa và xã hội. Những đặc trưng cơ bản của nó là phi truyền thống, cách tân thẩm mỹ cùng sự phản đối ban đầu, thậm chí nó có thể đưa ra những lời phê bình trong mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Avant-garde tranh đấu với giới hạn thông thường về quy chuẩn hoặc nguyên trạng.
  3. Bob Dylan là ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung trong suốt năm thập kỷ trở lại đây.

Trà chiều

Bãi biển rực nắng ngày hôm đó có em

Nhân vật “tôi” trong tác phẩm “Đêm trắng” của Dostoevsky chỉ có năm đêm để trò chuyện cùng người chàng thương nhưng kí ức về năm đêm ấy đã khiến chàng cảm thấy đủ sưởi ấm bản thân trong suốt những năm dài cô quạnh phía trước của cuộc đời – tôi cũng có một cảm giác như thế khi nghĩ về em.

Published

on

By

Tôi luôn muốn cảm ơn em vì đã dành thời gian quý báu của em cho tôi trong những ngày tháng ấy. Lời cảm ơn này tôi đã nói với em nhiều lần, chỉ là dù có nói bao nhiêu lần chăng nữa, vẫn không đủ để diễn tả sự biết ơn trong lòng.

Tôi vẫn nhớ em, vẫn thường hay nằm mơ thấy em nhiều lắm. Có những giấc mơ rất thật đến nỗi tôi chẳng muốn tỉnh dậy. Tôi nhớ nụ cười rực nắng của em. Khung cảnh bãi biển ngày hôm đó, khi em nắm tay tôi rồi chạy về phía trước, ngoái đầu nhìn lại tôi ở phía sau, gió thổi tóc em bay, tôi đã thấy chúng ta như đang ở trong MV West Coast của Lana, chỉ đơn thuần là sắc đen trắng mộc mạc, chẳng phải là thế giới muôn màu rực rỡ trong tâm trí kẻ đang yêu như cách mọi người vẫn thường ví von. Ngược lại, sắc màu đa tạp hằng ngày đã khiến tôi mệt mỏi, khi ở bên em ngày hôm đó, việc mọi màu sắc chuyển thành đen trắng lại khiến tôi cảm thấy cuộc đời thật đơn giản, dễ chịu giống như lời bài hát của Binz: “Có em ngồi phía sau, đi đâu cũng được.” Ngày hôm đó và nhiều ngày khác nữa, khi chở em, khi biết có em ngồi phía sau xe, tôi đã luôn có cảm giác ấy.

Tôi nhớ cái ôm chặt của em từ phía sau, nhớ cảm giác đầu em gục trên vai tôi khi em đã quá mệt mỏi và ngủ quên, khi ấy tôi chỉ ước rằng đôi vai của mình rộng hơn để làm chiếc gối thật êm cho em, tôi đã cố gắng chạy chậm hết mức có thể, giữ cùng một vận tốc đều đều, tránh những ổ gà phía trước để em không giật mình. Cảm ơn em vì đã đến vào những ngày cuối cùng năm tôi 26 tuổi và đã quay lại lần nữa vào năm tôi 28 tuổi. Tôi nhớ cách em gọi tôi là “nhà văn nghèo của em ơi” trong một lần mình gặp nhau. Nhà văn nghèo của em vẫn ở đây, vẫn nhớ về em. Hai năm qua, không có quá nhiều thay đổi xáo trộn dù đôi lúc, tôi cũng cố gắng tìm kiếm hạnh phúc như lời em từng dặn dò, nhưng dường như tôi chưa bao giờ có thể thực sự quên em.

Năm ngoái, tôi đã dành cả một mùa hè để xem Game of Thrones, Black Mirror… và lần nào xem tôi cũng nhớ đến em, tự hỏi nếu là em, khi xem đến những phân đoạn tôi đang xem lúc này, em sẽ có cảm nghĩ gì. Đến nay, tôi vẫn chưa xem hết Black Mirror, vẫn còn sót hai tập cuối trong S5. Vào tháng 9 năm ngoái, khi bắt đầu tập được vài điệu guitar đệm hát cơ bản là tôi lao vào tập ngay Wish you were gay của Billie Eilish và Anyone who knows what love is will understand. Những khi tập hai bài này, tôi luôn nghĩ về em. Tôi tập được khoảng một tháng, các ngón tay bắt đầu chai sạn và đỡ đau thì có chuyến công tác một tuần ra Đà Nẵng. Nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng phải thú nhận rằng đó là lần đầu tiên trong đời tôi đi máy bay một mình mà không có người thân lẫn đồng nghiệp; đến nơi lại cũng sẽ chỉ có một mình, vẫn không có đồng nghiệp. Chuyện đó không phải to tát gì nhưng ở tuổi 29 mà mới lần đầu thực hiện thì có vẻ muộn màng quá em nhỉ. Trên máy bay và rồi trên taxi di chuyển từ Đà Nẵng ra Hội An, tôi luôn nghe những bản nhạc có thể khiến tôi nhớ đến em – khi những giai điệu ấy phát lên một cách thân mật ở hai bên tai, tôi cảm thấy vững tâm, tự nhủ rằng mọi điều sẽ ổn thôi. Và cuối cùng thì mọi thứ cũng ổn thỏa thật.

Vẫn như tôi đã từng nói với em về Đêm trắng của Dostoevsky, nhân vật “tôi” trong tác phẩm ấy chỉ có năm đêm để trò chuyện cùng người chàng thương nhưng kí ức về năm đêm ấy đã khiến chàng cảm thấy đủ sưởi ấm bản thân trong suốt những năm dài cô quạnh phía trước của cuộc đời – tôi cũng có một cảm giác như thế khi nghĩ về em. Vẫn là cảm giác ấm áp ấy, sự biết ơn ấy, niềm vui khi một lần nữa được sống lại tuổi trẻ ấy. Tôi không hề hối tiếc bất kì điều gì đã xảy ra giữa chúng mình. Tôi cảm thấy biết ơn mình của ngày ấy đã có thể mạnh dạn nói hết với em tình cảm này. Và chúng mình đã có những kỉ niệm đáng nhớ – tuy không nhiều nhưng tất thảy đều là báu vật vô giá với tôi. Thực sự, đến bây giờ tôi vẫn không thể tưởng tượng được tại sao lúc ấy mình có thể bạo dạn như thế. Có lẽ, vì tôi đã quá mệt mỏi với những tình cảm không thể nói ra được trước đây. Có lẽ, chỉ đơn giản vì tôi không thể kiềm chế được việc nói cho em biết rằng em tuyệt vời như thế nào, gặp được em là một trong những điều quan trọng nhất đã xảy ra ở giai đoạn cuối cùng tuổi đôi mươi của tôi. Cảm ơn em đã cho tôi cơ hội được trải qua những cung bậc cảm xúc của một thứ tình cảm đẹp như vậy dù rằng tôi không còn trẻ nữa và giờ đây đã bước đến ngưỡng trung niên. Nếu thực sự có kiếp sau giống như người bạn theo đạo Phật của tôi nói, tôi chỉ ước rằng chúng mình sẽ không cách biệt tuổi tác quá nhiều, mình gặp nhau sớm hơn để có thể là một phần trong tuổi trẻ của nhau. 

Tôi muốn viết về em để em biết rằng bản thân em quí giá và đáng trân trọng như thế nào, em luôn xứng đáng có được hạnh phúc và những điều tốt đẹp nhất. Tôi mong rằng dù có điều gì xảy ra trong cuộc sống, em vẫn luôn yêu thương bản thân, biết giá trị của chính mình, và sẽ tìm được hạnh phúc khi theo đuổi con đường, lí tưởng của riêng em. Tuổi đôi mươi của tôi đã qua đi nhưng tuổi đôi mươi của em chỉ vừa chớm bắt đầu. Tôi mong rằng em sẽ không có những trải nghiệm đau buồn giống như tôi. Lẽ đương nhiên, nỗi buồn là điều tất yếu trong cuộc sống, không ai có thể tránh được nhưng tôi mong và cầu chúc những trải nghiệm của em sẽ đa dạng hơn, phong phú hơn, tất cả đều bừng sáng rực rỡ như chính nụ cười em; em sẽ đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, và thế giới của em không ngừng rộng mở mỗi ngày, nhiều sắc màu khác nhau tuôn trào cho đến khi tất cả hòa quyện thành một màu duy nhất theo sự pha chế và làm chủ cuộc đời với phong cách rất riêng của em, để sau đó em có thể bước qua ngưỡng trung niên với tuổi 30 thật vững vàng và bình tâm. Tôi mong như thế.

Hạnh phúc em nhé.

K.

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

The Lobster – Cô đơn hay không cô đơn?

Published

on

By

The Lobster thuộc dòng phim dystopian pha trộn với black comedy. Trình bày một thế giới giả tưởng với nhiều qui luật riêng, The Lobster thoạt tiên khiến người xem dễ có chút choáng ngợp và bỡ ngỡ ở những bước đầu làm quen với nó. Trong thế giới chủ lưu của The Lobster, không ai được phép cô đơn, không ai có quyền cô đơn, việc tìm người phối ngẫu trở thành nhiệm vụ xã hội mà nếu như ai đó cố tình vi phạm hay phớt lờ sẽ bị trừng phạt. Những người cô đơn sẽ được đưa đến khách sạn. Tại đây, trong vòng 45 ngày, họ phải tìm cho mình một người bạn đời, nếu không, họ sẽ bị biến thành loài vật mà họ đã chọn. Những sự kiện đầu tiên tuần tự diễn ra với rất ít điểm nhấn cảm xúc dành cho nhân vật tựa như lối kể chuyện chỉ có những đoạn tường thuật khách quan mà không có những đoạn miêu tả nội tâm chi tiết. Lối kể chuyện ấy phần nào gợi nhớ đến cách kể chuyện cổ tích với những nhân vật được miêu tả chung chung, có thể có tên hoặc không có tên, tập trung vào tình tiết hơn là nhân vật. Phân nửa đầu tiên của The Lobster – tức là khi David còn ở trong khách sạn đã chọn lối kể chuyện gần giống như vậy với rất nhiều nhân vật không được đặt tên nhằm tạo ra sự biểu trưng hay cảm giác về sự đại diện tập thể, sự không chú trọng vào cá thể đạt mức cao nhất. Điều này cũng thích hợp với không khí ngột ngạt trong môi trường toàn trị, độc tài ở khách sạn.

The Lobster có thể được chia thành ba hồi với: hồi một là màn làm quen thế giới khách sạn cho đến khi David bỏ đi, hồi hai là màn làm quen thế giới trong rừng cho đến khi David lại muốn bỏ đi lần nữa nhưng lần này là với người con gái anh yêu, hồi ba tập trung vào giải quyết vấn đề ở cuối hồi hai. Tuy nhiên, tôi vẫn thích liệt The Lobster vào phim cấu trúc hai hồi chung với một phim kinh điển của loại cấu trúc này mà tôi đã từng xem là Muholland Drive. Nếu như Muholland Drive là sự phản chiếu hai mặt của thế giới tưởng tượng và thế giới thực, xoay quanh giữa cái đã-có-thể-là và cái đã-thực-sự-là thì The Lobster là sự phản chiếu giữa hai thế giới đều thực như nhau và đều phi lí như nhau, xoay quanh giữa cái phải-là và cái không-thể-là. Thế giới ở khách sạn và thế giới ở rừng dường như đối nghịch nhau một cách triệt để: một nơi hầu như bị bó buộc trong không gian nội thất với những căn phòng, những dãy hành lang và một nơi với không gian mở rộng là những cánh rừng, con sông; một nơi cấm người ta độc thân và một nơi cấm người ta yêu. David đã đến với thế giới ở rừng như một sự cứu rỗi nhưng rồi anh cũng sớm nhận ra nơi ấy chẳng khác gì ở khách sạn, nó chỉ là dạng thức khác của khách sạn. Cả hai nơi đều tồn tại dựa trên một điều cấm lớn nhất mà thoạt tiên, người ta tưởng mình sẽ nhận được quyền lợi từ điều được phép của cái ngược lại với điều cấm. Trong những buổi họp mặt, theo chỉ thị của người quản lí, các nhân viên khách sạn nhấn mạnh đến ích lợi của một mối quan hệ, của hôn nhân, của việc luôn có một người bên cạnh, họ đưa ra những tình huống cho thấy rằng ở một mình rất bất lợi. Tuy nhiên, khi tình trạng độc thân trở thành điều gần như tội lỗi thì điều ngược lại với nó – tình trạng hôn nhân cũng không thể khiến người ta thực sự vui vẻ, bình yên như nó vốn là nữa. Ngược lại, thế giới ở rừng cũng đi theo hướng tương tự như thế. Có thể nói, thế giới trong The Lobster được vận hành theo thuyết nhị nguyên mà ở đó, con người bị buộc phải chọn một người bạn hay một nhóm, một tập thể để đứng ở phía cực họ tin là đúng và cùng nhau chống lại phía cực họ tin là sai. Đó là thế giới không cổ vũ cho sự đơn lẻ cá nhân dù tập thể có phi lí đến đâu chăng nữa. Wai Chee Dimock viết trên tờ Los Angeles Review of Books đã có ý so sánh The Lobster với những tác phẩm của Samuel Beckett. Tuy nhiên, khi xem The Lobster, tôi lại nhớ đến không khí phi lí kiểu Kafka. Cụ thể là, phim khiến tôi nhớ đến The Castle.

Như bất kì tác phẩm điện ảnh nào có khuynh hướng văn học, The Lobster sử dụng voice over ở mật độ dày đặc để kể chuyện. Phim không tiết lộ thân phận người kể chuyện ngay từ đầu khiến hồi một của phim (theo cách chia hai hồi của tôi) chìm trong tính trần thuật và không khí hư cấu rõ rệt. Ta có cảm giác những sự kiện trên phim nằm ở thì quá khứ rất xa và David là nhân vật từ sản phẩm tưởng tượng của một cô gái nào đó. Chính cảm giác này đã phần nào khiến tôi bồi hồi khi biết được cô gái kể chuyện từ đầu phim chính là người yêu David, đồng thời cũng là người David yêu. Vậy là, trong thế giới ấy, David có thực, cô gái có thực, họ không cô đơn, họ đã tìm thấy nhau – điều này như một phát kiến mới mẻ, lớn lao khiến tôi cảm thấy ấm áp. Như thế, cũng có thể chia phim thành hai hồi với hồi một là quá khứ gần, hồi hai là hiện tại. Bắt đầu từ hồi hai, chúng ta không còn nhân vật kể chuyện theo kiểu nhà tiên tri nữa. Từ lúc ấy, cả nhân vật lẫn ta đều không biết điều gì sắp xảy ra. Ta nhập cuộc trở lại với sự hồi hộp và lo lắng hơn cho họ.  

The Lobster sử dụng tông màu teal and orange nhưng không theo lối giống những phim bom tấn. Tông màu teal của phim nghiêng về green hơn là cyan và được dùng kèm ánh sáng đánh theo kiểu high-key khiến tông màu xanh bàng bạc như có lẫn chút màu vàng chanh. Dù cảnh nội hay cảnh ngoại, ngày hay đêm, phim đều cố gắng duy trì tông màu xanh ấy khiến cho cảm giác về một thế giới phi lí trở nên rõ rệt hơn. Hơn nữa, chính vì màu background không được thay đổi nhiều, người xem có thể dễ dàng thâm nhập vào sự buồn chán, đơn điệu, khắc nghiệt của thế giới ấy. Green vốn luôn là màu gợi cảm giác quái dị, u buồn như làn da xanh xao của một cô gái ốm nặng vì bệnh và trong The Lobster, màu xanh ấy đã phát huy triệt để tác dụng của nó. Bản thân bộ phim cũng như một con người yếu ớt đang bị bệnh, không thể tìm được phương thuốc cứu chữa cho mình. David có lẽ đã nghĩ rằng chỉ cần thoát khỏi khách sạn là ổn. Nhưng trên thực tế, anh chỉ thoát từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm đặc hơn của khu rừng. Khi một lần nữa, anh cùng người con gái anh yêu tìm cách thoát khỏi khu rừng, hai người băng qua cánh đồng cỏ lau vàng, đi trên một xa lộ vắng người với con đường mở rộng trước mắt, màu xanh buồn bã ấy vẫn đuổi theo họ. Rồi họ vào một quán cà phê, trong không gian bị nhốt kín, khi họ ngồi ở chiếc bàn bên khung cửa sổ lớn đến mức có thể thấy được gần như toàn bộ cảnh vật bên ngoài, một lần nữa, màu xanh buồn bã như lời nhắc nhở về thế giới phi lí vẫn vây lấy họ. Cả hai đã không thể vượt qua sức mạnh quyền năng của nó. Tất cả chỉ là sự lặp lại.  

The Lobster kết thúc bằng sự chờ đợi. Cái chờ ban đầu dường như có vẻ điềm nhiên của cô gái bị cắt ngay lúc ta có cảm tưởng cô đang bắt đầu bồn chồn, lo lắng rằng liệu người cô chờ đợi có quay trở lại với cô hay không. Câu trả lời sẽ là có hoặc không tùy mỗi người. Với tôi, tôi nghĩ rằng anh sẽ không quay trở lại, anh sẽ chạy trốn và cả hai lại tiếp tục đơn độc. Tuy nhiên, cho dẫu anh quay trở lại, liệu rằng khi đôi mắt cả hai không còn đón nhận ánh sáng nữa, họ có thể ở bên nhau lâu dài trong thế giới khắc nghiệt, tàn nhẫn như thế hay không? Vậy nên, dù câu trả lời là thế nào, tương lai phía trước của họ vẫn khó thoát khỏi thứ nỗi buồn kéo dài dằng dặc năm này qua tháng nọ. Những viễn cảnh gợi lên từ kết thúc ấy khiến tôi xót xa. Cùng với Léon: The professional, The Lobster trở thành một trong số những phim hiếm hoi mà tôi đặc biệt thích kết thúc phim. Một bộ phim hay không phải lúc nào cũng sẽ có một cảnh kết thúc gợi mở nhiều cảm xúc và suy nghĩ như thế. Với tôi, The Lobster là viên ngọc quí của điện ảnh đương đại những năm gần đây. Sau The Lobster, tôi sẽ cố gắng tìm thời gian để xem những phim còn lại của đạo diễn Yorgos Lanthimos.

Điểm đánh giá: 9/10

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Ngọn lửa của tôi

Published

on

By

Ngọn lửa. Ngọn lửa. Ngọn lửa.

Đột nhiên tôi chẳng nghĩ được điều gì ngoài hình ảnh đó. Hay là trong đầu tôi có nhiều suy nghĩ về những sự vụ khác nhau nhưng xét theo tần suất xuất hiện thì hình ảnh đó lặp đi lặp lại nhiều lần. Thế là tôi vớ đại nó theo cơ chế ngẫu nhiên. Ờ, ngẫu nhiên mà thôi. Đáng lẽ tôi phải suy nghĩ một hình ảnh nào đó nghiêm túc hơn chẳng hạn, có tính toán và ý đồ hơn chẳng hạn. Dù gì hôm nay cũng là sinh nhật tôi, dù gì tôi cũng muốn viết một cái gì đó cho hôm nay, dù gì tôi cũng muốn nó phải là thứ gì đó có ý nghĩa, dù gì nó cũng là một cái cột mốc 20 năm, dù gì… Khi suy nghĩ về tất cả những cái dù gì đó, sự bội thực vì cái dù gì đó… tôi lại nhận thấy dường như chẳng có gì là quan trọng cả. Thật kì lạ. Cách vài phút, à không, cách đây vài giờ, vài ngày, vài tháng trước, vài năm trước, vài những giờ khắc mà tôi không còn nhớ nó hoạt động ra sao, tôi đã từng nghĩ rằng có nhiều thứ quan trọng và mình đã xác quyết được thứ quan trọng đó. Nhưng rồi đột nhiên tất cả giống như một khoảnh khắc những đám mây che hờ hờ xung quanh bầu trời vụt tan biến mất, và một luồng ánh sáng xung quanh chói lóa, mọi thứ xóa nhòa trong ánh nắng đó, mọi vật chìm lấp trong khoảng sáng đó, không cái gì được nhìn rõ nữa. Khoảnh khắc đó nhanh thôi. Nhưng có thật. Và thế là tôi quên mất thứ quan trọng với mình là gì. Giống như nó đã chìm đi cùng cơn sáng đó. Hay là giống như nó vốn thể là thứ ngay từ đầu đã chẳng tồn tại.

Đâu phải chỉ trong bóng đêm mọi thứ mới biến mất. Ánh sáng cũng là một thứ hủy diệt những tồn lưu của các sự vật/sự vụ chung quanh nó một cách ghê gớm. Mà thật ra, sự tiêu hủy của ánh sáng còn kinh khủng hơn là bóng đêm. Đơn giản vì khi một thứ nào đó biến mất trong bóng tối, người ta còn có thể dùng ánh sáng để tìm lại nó được. Nhưng một thứ biến mất trong ánh sáng thì không thể lấy một thứ sáng hơn mà thắp lên tìm nó. Theo cơ chế suy luận nghịch thì đơn giản là người ta có thể lấy một thứ tối hơn mà đốt lên. Đốt, đốt, đốt. Đốt cái thứ tối ấy lên để tìm vật đã mất. Nhưng không ai đốt lên cả. Không phải vì chất tối để đốt cháy không tồn tại. Đơn thuần là vì nếu có một người nào đó đốt chất tối lên để tìm kiếm, họ sẽ lập tức bị đám đông dị nghị. Nó là một cách khác của sự thừa nhận rằng: “Tôi có mang bóng tối trong mình”. Mà ở thế giới này, dường như chẳng có ai dám thừa nhận điều đó. Thế nên mọi người để những thứ mình đã mất chìm trong ánh sáng, ánh sáng của những điều đẹp đẽ nhưng làm người ta mê mị, mu muội, ánh sáng của những tầng không vốn chứa trong nó sự giả dối. Vậy cái gì là thật đây?

Ờ. Đại loại thì tôi nhẫn tâm, độc ác. Chẳng ai ném thẳng những lời đó cho tôi như nàng. Nàng cho tôi cái chất có thế đốt lên bóng tối ấy. Chỉ có nàng là nhận ra sự ác độc của tôi. Hoặc giả mọi người cũng nhận ra nhưng họ không nói. Và như thế, tôi yêu nàng. Nàng đã nhận ra bản chất của tôi.

Sao nhỉ? Sao nhỉ? Sao nhỉ?

Đại loại khi viết những câu hỏi đó, trong lòng tôi thực sự chẳng nghi vấn điều gì cả. Nó chỉ là những tiếng đệm vô nghĩa. Nó giống như một trạm dừng chân cho sự hụt hơi của tôi trong việc đuổi bắt suy nghĩ của mình. Khi viết nghiêm túc, tôi viết rất chậm. Tôi đánh mất thói quen viết nhanh đã từ lâu. Tôi làm mọi thứ trong sự chậm rãi của mình. Đôi lúc, sự chậm rãi đó khiến chính bản thân tôi phát bực. Tôi vừa muốn ở trong sự chậm đó. Nó có thú vị của riêng nó. Đồng thời tôi vừa muốn thoát khỏi nó. Vậy nên khi xác định không phải viết một cái gì đó nghiêm túc, một cái gì đó chỉ viết để thỏa hiệp với khao khát muốn viết đơn thuần giữa đôi tay và tâm thức thì tôi sẽ viết nhanh. Viết để đạt được sự đồng thuận cho bản thân thì không nên viết chậm tự hành hạ mình nữa làm gì. À, cái trạm dừng chân của tôi. Chắc là tôi đã nghỉ ngơi ở đó xong rồi. Nãy giờ là bao nhiêu phút nhỉ?

Phút à. Cái đồng hồ của tôi đã biến mất trên tay tôi ngày hôm nay. Nó nằm trong phòng thi của kì tuyển sinh cao đẳng. Có lẽ nó lướt qua một vài thí sinh, rồi lướt qua một vài hạt bụi. Bụi màu trắng, vàng, đỏ gì đó… trên nền bảng trắng, đen, xanh gì đó… để ghi. Ghi chính cái trạng thái đang hiển hiện của nó. À, đơn giản là em gái tôi mượn tôi đồng hồ để đi coi thi thôi mà. Nhưng cảm giác hôm nay lạ nhỉ. Tôi không đeo đồng hồ một ngày và nhận thấy sự lệ thuộc của mình vào nó. Tôi cứ liếc vào khoảng da sáng trên cổ tay của mình – nơi mà đáng lẽ thường khi vẫn có chiếc đồng hồ ở đó. Màu nâu, lớp kính mặt trước đã bị nứt vỡ, vòng tròn để giữ dây thì bị đứt và mất đi, bản thân sợi dây cũng nhàu nhĩ, những lỗ trên dây thì tưa ra, thành một khoảng trống lớn hơn sự tồn tại vốn có của nó ban đầu. May quá. Chiếc kim vẫn chạy. Thế giới vẫn xoay tròn trong đó. Và hôm nay nó tạm nghỉ việc trên tay tôi. Tay tôi cảm thấy trống. Cứ như thể là cái đồng hồ ấy đã truyền cả chức năng của nó cho cái tay. Cái tay bé mọn lại. Cái tay có thể làm nhiều chức năng hơn viết, cầm nắm một thứ gì đó, một điều gì đó, một cơn điên loạn nào đó, và làm vụt mất một điều gì đó. Nhưng mất một điểm tựa, mất thời gian, nó như chỉ còn mỗi chức năng là có ở đó để được cái đồng hồ quấn quanh. Cái tay tôi hôm nay sao ấy nhỉ. Sao tự nhiên nó lại có cái suy nghĩ thật ra nó chỉ là một thứ để đặt bên cạnh đồng hồ. Cái tay có trước mà. Nhưng đồng hồ là thời gian. Và thời gian thì có trước cái tay. Hay là cái tay có trước thời gian. Thời gian vô nghĩa. Và dường như khi đánh mất ý nghĩa của nó, mọi thứ cũng vô nghĩa. Nghĩa là… nghĩa là… con người ta cần một điểm tựa. Nhưng thời gian thì không cần họ. Nó giống như một đồng minh lúc thì đồng thuận, lúc thì phản nghịch. Không phải lúc nào thời gian cũng đứng về phía con người. Việc đặt ra những cột mốc giúp người ta làm việc, nhưng thật ra đôi lúc việc hạn định những cột mốc đó làm người ta lại khó kiểm soát bản thân hơn, phải làm những thứ mà não trạng đã hoạch địch trong đầu. Đại loại thì vào thời điểm đó phải làm những việc đó, vào khoảng thời gian nào đó trong ngày, tôi phải làm việc này, việc kia. Tôi không thể làm việc đó cho đến khi… Đại khái thì không thể muốn là hành động. Mà thật ra việc có thể muốn rồi làm bất cứ lúc nào cũng không phải là thứ quan trọng. Đại loại người ta sống trong nó và cố gắng hòa nhập với nó hay vờ như hòa nhập với nó chứ không phải bản chất vốn là hòa nhập và hòa nhập với thời gian. Đại loại, đại loại vậy.

Năm ngoái. À không. Lâu lắm rồi. Năm kia. Không. Chưa tới. Kia nữa. Là cách đây mấy sự kia kia của năm. Đại loại, cột mốc thì không còn quan trọng nữa. A! Tôi mới phát hiện ra hôm nay mình thích chữ đại loại. Nó biểu hiện một sự vừa thỏa hiệp mà vừa không thỏa hiệp thì phải. Đã đồng thuận rồi đó nhưng còn phải xét thêm. Là chữ mang tính chất trung tính và hơi vô trách nhiệm. A ha, nó còn là chữ chứa trong mình sự mâu thuẫn nữa chứ. Nói chung là thích đó.

Quay lại với cái kia kia. Sao nhỉ? (Ồ, giờ thì tôi thấy là hôm nay mình cũng thích chữ sao nhỉ rồi). Ờ thì vào thời điểm của cái kia kia. Sự tàn nhẫn của tôi bộc lộ rõ. Tại sao tôi lại ghi nhớ nó và cứ lặp đi lặp lại mãi. Khoảng thời gian đó tôi cứ muốn đọc sách. Tôi cứ muốn có một luồng suy nghĩ chạy qua đầu mình để mình đỡ phải mất công suy nghĩ, hoài nghi, tự vấn… vân vân và vân vân  các công đoạn tư duy của nó. Và khoảng thời gian đó thì ông ngoại tôi bị bệnh. Điều tàn nhẫn nhất là hôm đó, khi nghe kết quả về bệnh của ông, mọi người trong nhà lo lắng. Chị tôi đã khóc khi biết bệnh của ông không còn phương cách nào cứu chữa. Hôm đó, tôi vẫn đang ngồi nhà đọc sách. Khoảng thời gian đó không hiểu sao tôi lại thích ngồi trong cửa phòng bấm chốt, tách ly với mọi thứ ngoài kia và đọc, không muốn bị ai làm phiền, kể cả là người nhà, kể cả là bất cứ thứ tin tức nào. Chị tôi gõ cửa. Phải gõ cửa nhiều lần tôi mới ra mở. Đơn thuần là tôi đang đọc dở một trang. Tôi còn một hai đoạn. Tôi còn một hai dòng. Tôi còn một vài chữ. Tôi phải đọc cho hết trọn một trang hay trọn một ý. Rồi tôi đánh dấu trang lại bằng một kẹp sách. Gấp cuốn sách lại và ra phòng mở cửa cho chị. Tôi làm tất cả các công đoạn đó một cách qui củ từng bước từng bước một với cái sự không có một điều gì có thể hối thúc tôi trong đầu. Chị tôi khóc rồi trách tôi vì sao không khóc, rồi trách tôi không khóc cũng được nhưng sao không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào cũng được nhưng sao có thể để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, đề lộ cái vẻ mặt bình thản như thế cũng được nhưng sao có thể giờ phút này mà vẫn còn tâm trí mà đọc sách, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, giờ phút này mà vẫn còn tâm trí đọc sách cũng được nhưng sao có thể vẫn chú tâm để làm một việc gì đó ngoài sự lo lắng chung của mọi người…Tại sao và tại sao? Tại sao hồi đó lại như thế? Tại sao tôi cứ muốn phải lặp lại những điều này, những chi tiết này? Chính tôi cũng không biết. “Cái gì được lặp lại nhiều lần nghĩa là cái đó là thứ thật sự quan trọng với mình,” nàng nói với tôi như thế.

Hôm nay cũng là một ngày tương tự như vậy nhưng mức độ nhẹ hơn. Tôi không ngờ và cũng không muốn cái cảm giác cách đây ba năm đó lặp lại, vào chính ngày này. Không có điều gì là giống nhau, mọi việc sẽ khác đi. Sẽ khác đi. Nếu nó trở thành một điều gì đó kinh khủng hơn, tôi chỉ mong một cơ chế nào đó bòn rút sức khỏe và nguồn sống của mình chia bớt cho mẹ. Tôi không muốn mình nhẫn tâm một cách vô trách nhiệm như thế nữa. Sự nhẫn tâm cũng là thứ cần phải có trách nhiệm.

Tôi không khóc.

Khi ông ngoại mất. Khi nhiều điều cứ lần lượt trôi tuột khỏi tay tôi, mọi thứ tình cảm, con người, những thứ mà tôi đặt cho nó cái tên quan trọng…

Vậy mà tôi lại khóc vì nàng, khóc khi nghe nàng nói có thể vứt bỏ tôi một cách dễ dàng, tôi chẳng là gì quan trọng với nàng cả. Tại sao vậy nhỉ? Tôi sợ mất nàng đến như thế ư? Tôi quen với cảm giác mất mát rồi mà. Có những lúc càng mất mát tôi càng thấy hưng phấn. Giống như cách người ta mang balô, đi đường trường rồi trên đường đi mệt mỏi quá mà cứ dần bỏ bớt những thứ mình mang theo để đi nhẹ nhàng hơn. Đó cũng là thứ mất mát làm người ta buồn, không, rất đau. Đôi lúc người ta cố làm cho mình trống đi mà, đôi lúc sự trống đi là cần thiết mà.

Sao nhỉ…
Tôi mâu thuẫn quá.
Nhưng, tôi yêu nàng. Tôi muốn thét lớn lên điều đó. Đó có phải là điều quan trọng không?

Tôi yêu cái cách nàng ngủ. Thi thoảng trán nàng lại nhăn như đang suy nghĩ, trông khuôn mặt của nàng lúc đó rất khó chịu. Có khi lại gợi cho tôi cảm giác hoang mang từ đôi mắt đang nhắm ấy. Tôi yêu cái cách những ngón tay nàng còn đập vào nhau trong lúc ngủ. Tôi yêu hơi thở nhè nhẹ đó. Yêu nó ấm nóng, phả vào ngực tôi đều đặn. Để tôi biết sự tồn tại của nàng. Nàng đang ở ngay đây, bên cạnh tôi. Và tôi sợ nàng biến mất.

Một đôi lúc tôi thoáng nghĩ, dường như tất cả những việc tôi làm ở tuổi 20, hay là cả ở những tuổi trước đó, tất cả đều nằm trong chuỗi nguyên nhân để dẫn đến việc tôi có thể gặp nàng, tôi được nàng yêu. Tôi yêu nàng. Và tôi biết nàng cũng yêu tôi. Điều đó khiến tôi hạnh phúc. Hạnh phúc kinh khủng. Nó là một cái gì đó thật tuyệt vời. Nàng như một ngọn lửa với tôi. Đôi lúc, tôi ôm nàng, tôi ở bên nàng mà cái tiếng nói trong đầu tôi: hãy đốt cháy tôi đi, đốt cháy tôi đi, làm cho tôi nổi loạn, tôi cười, tôi vui, tôi khóc, tôi buồn, tôi đi đứng, tôi chạy nhảy, tôi viết, tôi làm điều này điều kia, tôi chứng kiến sự vụ này sự vụ nọ với một cái gì đó nóng khủng khiếp, cái nóng của sự tiêu hủy và muốn phá hoại đi tất cả. Hãy cứ làm tôi đau. Chẳng sao cả. Vì tôi yêu em.

Ngọn lửa.
Nó là thứ tiêu hủy.
Nhưng đồng thời cũng là thứ mang lại ánh sáng.

Fretto Frek

Đọc bài viết

Cafe sáng