Trà chiều

Những bóng ma văn chương vờn quanh Paris muôn đời

Từ Balzac đến Max Jacob, một Cuộc Hành Hương tìm về những Thiên Tài Quá Vãng.

Published

on

THE GHOSTS OF LITERARY GREATNESS THAT FOREVER HAUNT PARIS

Peter Wortsman

Giống như Thánh tích của một vị Thánh là tập hợp những di vật được trưng bày cố định tại nhà tưởng niệm Maison de Balzac – một bảo tàng quý giá náu mình giữa những nếp gấp thời gian ở Quận 16 thuộc Paris, từng chứng nhân cho những tham vọng lớn lao, đồng thời kể lại câu chuyện về từng khoảnh khắc của nhà văn.

Honoré de Balzac (1799 – 1850)
Ảnh. NPR

Trong số những hiện vật này là bộ dụng cụ viết lách, bao gồm dao bào để chuốt đầu nhọn, món quà từ bạn-thư-tín-hóa-nhân-tình của Balzac, và sau này, trở thành vợ ông, Quý Bà Hańska. Một món quà khác cũng từ bà, một cây gậy đặc trưng cũng nằm trong bộ sưu tập, có đầu trên được nạm màu ngọc lam mang dáng hình huy hiệu của dòng tộc nhà văn, và được gắn liền với sợi dây chuyền từ thời thơ ấu của bà. Chủ đề quyển sách của người hâm mộ khác, Delphine de Girardin, La Cane de Monsieur de Balzac (tạm dịch Cây gậy của Monsieur de Balzac) cũng hiện diện; và báu vật ấy sống động như thể ta có thể cảm nhận lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi trên chiếc núm chạm khắc và nghe những thanh âm vọng lại cùng nhịp bước chân trên con đường lát đá tưởng tượng.

Ở một phòng khác là mô phỏng đúc đồng tinh tế lấy mẫu từ bàn tay phải của tiểu thuyết gia với các đốt ngón tay hằn rõ những nếp nhăn mệt mỏi, thèm khát được cầm bút.

Một nơi trang trọng khác được dành cho bộ pha cà phê cafétière của ông, một tách cà phê bằng gốm trắng đặt trên chiếc bình cao như một vương miện, được trang trí với những diềm đỏ và dòng chữ lồng HB, là chén Thánh và vạc lọc đã thúc đẩy quá trình viết lách dài 15 giờ không ngừng nghỉ, một guồng máy đã cho ra đời hơn 20 tác phẩm, nhưng sớm làm trì trệ trái tim ông và cuối cùng là thúc đẩy cái chết trẻ của ông.

Đây, cũng thế, là chiếc bàn viết có chân nhỏ chắc chắn, bục giảng của những sử thi về tấn trò đời. Khắc trên bề mặt bằng gỗ óc chó là những vết xước và đường rãnh tựa chữ tượng hình, một kiểu bản thảo thứ hai, lưu lại sự uyển chuyển của những nét bút chảy tràn caffeine. Balzac tỏ lòng kính trọng với chiếc bàn như với người yêu cùng nhau trải qua gian khổ từ lâu: (Nó) chứng kiến những buồn khổ của tôi, những đau đớn của tôi, niềm vui sướng to lớn, và mọi thứ […] Cánh tay của tôi gần như bào mòn nó bằng sức nặng văn chương”.

*

Alexandre Dumas (1802 – 1870)
Ảnh: IMDb

Những độc giả trung thành của Ba chàng lính ngự lâm hay Bá tước Monte Cristo sẽ được chìm đắm vào con đường lát đá chật hẹp trong tòa lâu đài từng xuất hiện trong các cuốn sách của Alexandre Dumas, mà ông từng gọi là Château de Monte-Cristo, nay được bảo tồn như một địa danh lịch sử ở Port Marley (Yvelines), chỉ cách Paris một chuyến tàu ngắn ra ngoại ô. Được thiết kế theo những mô tả của tác giả, ngôi nhà và những khoảng sân, bao gồm một phòng khách kiểu Moorish được trang trí công phu và một xưởng viết theo trường phái Gothic mà bao quanh là lũy hào nước, phản ánh lối sống hào phóng và xa hoa của ông. “Khi bạn có vinh hạnh được sinh ra trong dòng tộc Dumas, bạn sẽ sống một cuộc đời thượng lưu […] và không từ chối bản thân cho bất cứ một niềm vui nào”, ông đã viết, thành thật đúng nghĩa, và phí hoài gia tài kiếm được từ ngòi bút của mình. Và tinh thần hào hứng ấy vẫn rõ ràng sau khi ông đã qua đời hơn một thế kỷ, ở những thực đơn dính vết thức ăn cùng món trộn ông yêu, món trứng tráng hàu ông thích.

*

Marcel Proust (1871 – 1922)
Ảnh: LitHub

Cây gậy đi đường của Monsier Proust vẫn được giữ nguyên trạng, trông hơi cẩu thả, như thể ông chỉ vừa để nó lại trước khi nó rơi xuống chiếc giường có bộ khung đánh bóng sau một đêm khuya đi dạo nào đó, trước khi ngả mình xuống để ghi lại ấn tượng và sự hỗn loạn những ký ức khuấy động. Tấm trải giường xanh lam trông như vừa có người nằm ngủ. Vách ngăn của tấm bình phong được bọc bằng gỗ sồi, như bộ khung thực chất của chiếc giường, để đảm bảo sự cách âm tuyệt đối. Gỗ sồi, than ôi, làm nặng thêm chứng bệnh hen suyển của ông. Bạn thật sự có thể nghe những tiếng ho này tràn khắp không gian.

Các đồ nội thất và đồ vật đã được tập hợp lại trong căn phòng nhỏ bất khả xâm phạm này tại Bảo tàng Carnavelet thuộc quận 3, dựa trên gợi ý của một người bạn ngưỡng mộ ông – Nữ bá tước Anna de Noailles, được tập hợp từ 3 khu nhà ở sau cùng: tại số 102 Đại lộ Haussmann, số 8 Rue Laurent Pichat, và 44 Rue Hamelin ở Quận sáu, nơi Proust cuối cùng đã từ bỏ những vấn vương hồn ma đeo bám tâm trí mình.

Bộ sưu tập bao gồm: một chiếc bàn gỗ khảm trang trí công phu hầu như không được sử dụng, Proust viết hầu hết trên giường, một giá sách, một chiếc ghế dài để đọc có độ ngả tùy chỉnh và nơi tựa khuỷu tay, một tấm thảm, một chiếc đĩa nạm ngọc, một chiếc gương cầm tay, một chiếc bàn chải khắc chữ lồng tên ông, chiếc kẹp giữ cà vạt, đĩa mạ bạc, gậy đi bộ đã nói trên, một chiếc ghế con, tấm bình phong, bàn nhỏ cạnh giường, đèn, gương, các dụng cụ viết, đồng hồ bỏ túi, lịch bàn, lược chải tóc, bàn chải gỗ mun gạt bụi cho mũ và một loại khác bằng gỗ hồng mộc, và một chiếc đón gót bằng ngà – nói ngắn gọn, tất cả những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống một nhà văn.

*

Victor Hugo (1802 – 1885)
Ảnh: Britannica

Khi bàn làm việc được trưng bày trong phòng ngủ chính được phục hồi tại Maison Hugo, ở Place des Vosges quận tư, nó tiết lộ, Victor Hugo đã viết đứng. Chính tại đây, ông đã sáng tác phần lớn kiệt tác của mình, Những người khốn khổ, với hơn 1.900 trang giấy, một trong những cuốn tiểu thuyết dài nhất từng được viết ra. Làm thế nào mà đôi chân của ông có thể trụ vững, tôi không thể ngừng tự hỏi, trong sự vô hạn của từ ngữ và thời gian để viết ra chúng? Chẳng lẽ ông không bao giờ mỏi mệt sao? Tôi tưởng tượng ông đang tựa vào núm ngăn kéo bằng gỗ sồi được chạm khắc hình đầu sư tử, lấy sức mạnh từ loài thú ấy và sự dũng cảm của cây sồi.

*

Paris – Kinh đô Ánh sáng, vẫn ẩn chứa trong mình những vùng ngoại ô tâm tối. Làm thế nào có đủ thời gian để tôi ghé thăm trại giam Drancy trong một nỗ lực tìm về những mảng thơ mờ dần trong kí ức Max Jacob trong ngày chủ nhật lễ thánh xanh xám và u mưa này. Theo lịch Pháp, ngày lễ Saints de Glace (tạm dịch Mùa đông gai đen), theo niềm tin đã tồn tại từ lâu từ thời Trung Cổ và được toan định ngày diễn ra, là ngày dành riêng cho các Thánh Mamert, Pancras và Servais; theo truyền thống được diễn ra vào các ngày 11, 12 và 13 tháng 5; khi tên của các vị Thánh được nông dân khấn nguyện để ngăn chặn sự giảm nhiệt độ đột ngột và sương giá rất nguy hiểm cho mùa màng.

Max Jacob (1876 – 1944)
Ảnh: Museu Picasso

Bầu trời bất chợt chuyển sang màu xám tang thương và đột ngột nổ tung thành những trận mưa trút nước khi xe buýt kéo vào thị trấn. Trời quang mây tạnh, và rồi mây kéo về, mưa lại bùng nổ, không thể định trước.

Khu phức hợp đúc sẵn hình chữ U của Cité de la Muette, một mạo hiểm viễn tưởng trong giai đoạn lập kế hoạch, được xây dựng vào những năm 1930 nhưng chưa bao giờ hoàn thành, ban đầu dự định sẽ đưa các công nhân nhà máy vào một môi trường sống hoàn hảo, lành mạnh. Nhưng các cư dân đã không bao giờ chuyển đến. Kế hoạch thay đổi. Tầm nhìn viễn vông ấy bị phá hủy đến tận cùng đen tối. Từ tháng 8 năm 1941 đến tháng 8 năm 1944, hàng ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em, trong đấy có Max Jacob, tất cả hậu duệ người Do Thái, đã bị cảnh sát Pháp vây bắt theo lệnh của Gestapo, và không có thức ăn, nước uống hoặc điều kiện vệ sinh nào đầy đủ trong một trại tập trung tạm thời, từ chỗ bị trục xuất đến các trại tử thần ở Ba Lan. Sau khi Paris được giải phóng, Cité đã được sử dụng một thời gian ngắn để huấn luyện các kẻ nằm vùng thực tập, trước khi được thanh tẩy, làm sạch và tân trang lại thành một Habitation à Loyer Modéré (HLM), một dự án nhà ở thu nhập thấp. Nhiều cư dân hiện tại của nó là dân nhập cư Bắc Phi, những người chắc chắn phát ra cái nhìn bối rối và khó chịu với những du khách lần mò khai thác một quá khứ không mấy tốt đẹp.

Một tấm biển ở lối vào Cầu thang số 10 đánh dấu nơi Max Jacob chết. Paris được chống đỡ bằng các tấm bia tưởng niệm của các nhà thơ, nghệ sĩ và nhà soạn nhạc; nhưng điều này đôi khi kéo trũng nhịp đập con tim chúng ta.

Một người đàn ông lập dị, không ngừng mâu thuẫn, một nhà thơ, họa sĩ, tác giả và nhà phê bình nghệ thuật của trường phái Tượng trưng và Siêu thực; người đồng tính, gốc Do Thái, duyên dáng và gắt gỏng; Jacob là một trong những người bạn đầu tiên mà Picasso có ở Paris, và là một chiến hữu của ông tại Bateau Lavoir ở khu phố Montmartre trứ danh – bệ phóng cho những tiên phong nghệ thuật. Theo tiếng gọi của Chúa Kitô, ông chuyển đổi sang Công giáo và đến tu viện Benedictine của vùng Saint Benoît-sur-Loire, ở Loiret, để hầu chuyện cùng Chúa và trốn khỏi toán quân chiếm đóng Đức quốc xã.

Khi bị tố cáo bởi một kẻ nằm vùng, ông bị giải đến Drancy, nơi ông nằm và bị viêm phổi phế quản mà không có thuốc men ở trại tạm giam. Christopher Wood đã ra mặt với những người bạn có ảnh hưởng để cố gắng thay mặt chính quyền nước Đức thả ông ra. Nghệ sĩ, nhà văn và nhà sản xuất phim Jean Cocteau, người có mối giao tế với quân đội Đức cấp cao, đã cố gắng để ông được trả tự do nhưng vô ích. Có tin đồn rằng, khi được hỏi yêu cầu giúp đỡ, người bạn cũ của Picasso đã trả lời rằng: “Max là một thiên thần, ông ta không cần sự giúp đỡ của tôi, ông ấy sẽ mọc cánh và bay đi”.

Jacob không để lại vật lưu niệm nào tại Drancy. Tôi đứng nhìn chằm chằm vào những tấm kim loại nhỏ gắn chặt trên tường từng xuất hiện trong trí nhớ ông, cố gắng rút ra ý nghĩa, nhưng khi một cậu bé phăng phăng băng về phía tôi trên chiếc xe đạp mà tôi buộc phải nhảy qua một bên, chỉ ngay lúc đó tôi mới cảm thấy một sự mạo phạm với nơi trang nghiêm này. Tại sao nhà nước Pháp không chỉ định nó là một di tích lịch sử và để lại Cité de la Muette như một căn phồng trống rỗng không có người ở và bị đồn ma ám?

Nhưng ngay sau đó, The Beggar Woman of Naples, (tạm dịch Người phụ nữ ăn xin ở Napoli) một bài thơ văn xuôi của Max Jacob xuất hiện trong tâm trí tôi. Trong đó, nhà thơ cận thị, được biết đến với kính một bên chèn dưới hàng lông mày ngờ vực và chiếc mũi nổi bật, nhớ lại cách anh thả bố thí vào giỏ một người phụ nữ ăn xin ở Napoli, và ngạc nhiên khi không bao giờ được cảm ơn, cho đến khi cuối cùng anh ta cũng hiểu được rằng vị khất sĩ vô ơn anh vừa bố thí hóa ra là một thùng gỗ màu xanh lá cây chứa một cục đất đỏ và một vài quả chuối thối.

Ngay vừa lúc đó mưa dứt hạt, mây dâng cao và mặt trời ló dạng. Các thánh băng thương xót xen vào. Tốt hơn, tôi nghĩ, Drancy không nên là một kho chuối thối rữa, mà nên là nơi để học đi xe đạp.

Hết.

Ngô Thuận Phát dịch từ bài được thực hiện bởi Peter Wortsman.

Đọc bài gốc tại Literary Hub.


Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuận Phát tại đây.


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Một đốm diêm tàn

Ngày tuyển U22 giành huy chương vàng SEA Games và phủ kín sóng truyền thông, có một chuyện quan trọng khác xảy ra – Công ty Diêm Thống Nhất chính thức thông báo dừng sản xuất.

Published

on

Thật khó diễn đạt cảm xúc của tôi trong buổi sáng ấy. Làn sóng ký ức ập tới, ồ ạt vỗ vào từng góc não, lớp sau xô lớp trước. Mùi diêm sinh ngắn ngủi và mong manh đã góp phần định hình tuổi thơ. Từ ngọn nến sinh nhật đến câu đố vui trên báo Thiếu Niên Tiền Phong, từ tủ hàng của mẹ đến nơi bố ngồi xem thời sự, từ lúc ngây ngô đến khi nổi loạn.

Biểu tượng con chim bồ câu ngậm bông hồng, sải cánh bay trên nền trời xanh đã ăn sâu vào tâm khảm tôi, tưởng chừng không thể tan biến. Chúng đáng lẽ phải luôn hiện hữu trong thực tế, dù tôi mỗi năm lại già đi và cuộc sống vốn luôn đổi thay.

Đợt sóng ký ức dừng lại ở tuổi 20, nơi bức ảnh này ra đời. Đó là một ngày Hà Nội mùa Đông tại cà phê Cộng. Hộp diêm Thống Nhất trên bàn, ba ly nước, hai chiếc gạt tàn.

Và tôi sực nhớ ra nhiều điều khác, những mảnh rời rạc được chắp vá, tạo thành bức tranh quá vãng hoàn chỉnh. 20 tuổi, tôi từng coi Anything but Ordinary của Avril Lavigne là ca khúc phản thân.

“Sometimes I get so weird
I even freak myself out
I laugh myself to sleep
It’s my lullaby

Sometimes I drive so fast
Just to feel the danger
I want to scream
It makes me feel alive…”

Bị khùng bị điên là đặc quyền của tuổi 20 phải không? Chặng đường nào đã dẫn tôi rời khỏi Anything but Ordinary, những cuộc trò chuyện bất tận về truyện của Haruki Murakami, tình yêu và tình bạn trong năm tháng ấy?

https://www.youtube.com/watch?v=0pdOTyk5azQ

Gần đây, tôi có cuộc nói chuyện dài sau nhiều năm với một trong những người bạn thân ở tuổi 20. Haruki Murakami thật sự có biệt tài đưa mọi viễn cảnh mờ nhạt và tế vi nhất phô diễn trên câu chữ. Tôi đã quên gần hết nội dung cuốn Tazaki Tsukuru Không Màu, nhưng màn tái ngộ đập vào mặt tôi ký ức về một cuộc hội thoại trong sách. Chính là khi Tsukuru gặp lại Xanh, thành viên thuộc nhóm bạn tâm giao thời niên thiếu của anh, nay đã thành sales xịn trong hãng xe Lexus. Xanh phệ bụng, mỗi tuần đi đánh golf một lần để tiếp khách. Xanh chỉ làm việc với giới thượng lưu. Kết thúc của chương sách như sau:

“Khoảng thời gian ba mươi phút có thể là ngắn ngủi đối với hai người bạn cũ sau mười sáu năm hội ngộ. Chắc chắn còn nhiều chuyện chưa nói hết. Nhưng đồng thời, Tsukuru cũng cảm thấy giữa hai người đã gần như chẳng còn gì quan trọng để nói với nhau hơn nữa”.

Cái cách diêm Thống Nhất có thể khơi dậy tất cả những điều này mới thật sống động và kỳ quặc. Trong đêm, khi ngoài phố là tiếng reo hò và chiêng trống của đoàn xe đi bão, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: “Những người bạn năm 20 của tôi, các bạn có khỏe không?”.

P/S: Và sau đó, trước những than van và nuối tiếc của cộng đồng, Công ty Diêm Thống Nhất đã quyết định tiếp tục sản xuất diêm!

Hải Âu

Đọc bài viết

Trà chiều

Tình yêu không ai bán, nhưng chúng ta lại đang mua (rất nhiều)

Published

on

Nếu bạn tình cờ có người yêu và xài mạng Viettel vào những năm 2010, tình yêu lúc đó là 3k/100 tin nhắn/ngày, giới hạn 80 kí tự một tin nhắn có dấu hoặc 160 kí tự tin nhắn không dấu. 10 năm sau, tình yêu là khung chat mạng xã hội, online 15 phút trước nhưng không đọc, seen 3 giờ trước nhưng không trả lời.

Thời gian thay đổi phương tiện biểu đạt tình cảm, nhưng đồng thời cũng thay đổi cách thức diễn giải tình yêu.

Thời cổ đại, triết gia Hy Lạp Plato tin rằng dạng thức tình yêu cao nhất là không-lãng mạn, không-sex; như tình gia đình hay tình huynh đệ. Người ta không cưới vì yêu, vì yêu làm quái gì khi kiếm cái ăn nhét vào mồm và sinh con đẻ cái mới là vấn đề sống còn. Nhiều nền văn hóa xem tình yêu như một căn bệnh không may mà tất cả chúng ta đều phải trải qua để bước vào đời, như bệnh sởi (Mark Manson).

Mãi đến thế kỉ 19, khi chủ nghĩa Lãng mạn bước ra sân khấu thế giới, cảm xúc con người mới đột nhiên có giá trị. Những cặp đôi bắt đầu mơ màng về tình yêu thiêng liêng, hạnh phúc cùng nhau đến suốt kiếp. Tình yêu kiểu đại gia Gatsby: đốt tiền hàng tuần tổ chức tiệc tùng với hy vọng người trong mộng vô tình đặt chân đến nhà. Tình yêu kiểu bà Bovary: “Tình yêu, cô tin, phải đến, bất thần, với tiếng sét đinh tai và tia chớp chói lòa, một cơn bão từ trên trời giáng xuống đời mình, như một cuộc tàn phá, tước nát lý tưởng như chiếc lá và ném linh hồn của mình xuống đáy vực sâu.”

Các nhà sinh hóa thế kỉ 20 giải thiêng tình yêu là nồi lẩu hormone của serotonin, dopamine, oxcytoxin và một nhúm các chất hóa học khác. Mọi người kêu lên: Nếu tình yêu là kết quả của hormone thì đó cũng là hormone của tôi. Việc tôi tiết hormone với người này mà không tiết hormone với người kia chứng tỏ tình yêu vẫn là định mệnh viết trong sách trời.

Mọi người chắc chưa?

Chúng ta tin tình yêu không ai bán nhưng kì thực lại đang mua một tá định nghĩa về tình yêu. Từ những nhà làm phim, nhà buôn bán, nhà marketing. Phim ảnh và mạng xã hội bán cho chúng ta tình yêu là kim cương và danh vọng, là ba vòng và sáu múi, là người sẵn sàng chết trong lòng một ít hay bán trong nhà một mớ vì ta. Dạng người khiến ta thổn thức bồi hồi, dạng người khiến ta tiết hormone tình yêu ào ạt là dạng người mà ta xem qua phim, đọc trong sách, lướt trên mạng ngày này qua tháng nọ. Chẳng có tình yêu thiên định, chỉ có tình yêu được đóng gói đẹp đẽ và bán cho ta với giá hời.

Mua những gói tình yêu có sẵn, khi yêu, chúng ta yêu ai đó không vì chính bản thân họ, mà yêu những ảo tưởng về họ mà ta dựng lên trong đầu mình. Tình yêu thăng hoa khi đối phương hành xử y hệt định nghĩa của mình về tình yêu. Nhưng ảo tưởng thì không có thật và tình yêu dựa trên ảo tưởng cũng vậy. Ngay lúc chàng soái ca bắt đầu ngoáy mũi, ngay lúc nàng kẹo ngọt bất ngờ chửi thề, tình yêu văng mảnh.

Nhưng chính thời điểm người ta vỡ mộng về nhau cũng chính là lúc tình yêu thật sự bắt đầu. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta trả lời tin nhắn sau 30 giây, và lúc họ không nhắn được một cái tin tử tế trong vài ngày. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta khiến mình tiết hormone hạnh phúc, và lúc họ gây cho mình những ức chế của hormone. Yêu là chấp nhận yêu lúc người ta nói yêu mình, và lúc họ nói không còn yêu mình nữa. Vì có thể loại tình yêu nào có thể bất thần chuyển thành ghét bỏ khi người ta từ chối yêu mình?

Chẳng mấy ai chịu ở lại để dọn những mảnh tình ảo tưởng vỡ và để sự thật trần trụi của yêu đương cứa vào tay. Chúng ta bỏ chạy ngay khi tình yêu vừa kịp đến, chọn mua tình yêu ăn liền thay vì bỏ công cực nhọc nấu nướng, để Bích Phương cứ phải hát đi hát lại: “Tại sao anh yêu biết bao người mà vẫn không hiểu tình yêu?”

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Điều gì quan trọng hơn?

Vài ý nghĩ sau khi đọc Cỗ Máy Thời Gian của H. G. Wells.

Published

on

Cỗ máy thời gian đưa nhà du hành tới năm 802.701 sau Công Nguyên. Ở đó, con người đã chia thành hai chủng. Một chủng lao động quần quật dưới lòng đất lạnh, tăm tối và hôi thối; một chủng sống đời nhàn hạ, lụa là, biếng nhác trong ánh mặt trời. Một chủng vượt trội về ưu thế tiến hoá do phải đấu tranh, giành giật thực phẩm; một chủng ngày càng suy thoái, tàn nhược do được sống trong nền công nghiệp hoá tối ưu đến mức sức lao động của con người trở nên thừa thãi.

Năm 1895, H. G. Wells hẳn không thể hình dung nổi cái gọi là AI hay ASI. Trí tuệ nhân tạo mà Stephen Hawking và Elon Musk luôn nhắc đến như quỷ dữ đang được triệu hồi là khái niệm quá trừu tượng trong thế kỷ 19. Thậm chí vẫn chưa thật quen trong hiện tại này, thời điểm này.

H. G. Wells có thể mường tượng đến cảnh Trái Đất nóng lên nhiều lần, độ nghiêng trục quay Trái Đất thay đổi dẫn đến những biến đổi về khí hậu và hệ sinh thái. Tuy nhiên trong những tưởng tượng xa nhất của ông, con người vẫn sống và chỉ bị tuyệt diệt bởi điều kiện tự nhiên như mặt trời hết năng lượng và tàn lụi. Ông không thể hình dung ra cảnh một con robot vô tri bỗng dưng hoá thành đấng sáng tạo với IQ cao hơn con người 12.000 lần và có thể thổi bay cả hành tinh chỉ trong vài giờ.

Học thuyết Kurzweil dựa trên Luật tăng tốc theo cấp số nhân nói rằng, chỉ trong 14 năm từ 2000 tới 2014, con người đã tạo ra khối lượng phát triển tương đương với khối lượng của toàn thế kỷ 20 dồn lại. Một người ở thế kỷ 19 nếu có thể du hành đến hôm nay, anh ta sẽ chết điếng chỉ vì Siri của Apple chứ chưa nói đến những AI cao cấp và đắt đỏ hơn cả ngàn lần khác.

Chỉ cần nhắm mắt lại và suy nghĩ về tất cả những điều này, tôi lại thấy số phận con người thật quá nhạt nhẽo và bé nhỏ trong vũ trụ. Và tôi không hiểu tại sao lại phải mất thời gian hằn học một ai đó. Không phải vì tôi nhân ái, mà vì tôi còn bận ngước cổ lên tìm sao trăng và phân tích bộ gân của một cái lá cây. Tôi quan tâm tới chuyện chòm Đại Hùng Tinh đang ở đâu trên trời hơn chuyện bị ai đó nghĩ sai, thật sự.

Rảnh quá thì coi hành trình tới ngày tàn của thời gian còn hơn.

https://www.youtube.com/watch?v=uD4izuDMUQA

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng