Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Những bóng ma văn chương vờn quanh Paris muôn đời

Từ Balzac đến Max Jacob, một Cuộc Hành Hương tìm về những Thiên Tài Quá Vãng.

Published

on

THE GHOSTS OF LITERARY GREATNESS THAT FOREVER HAUNT PARIS

Peter Wortsman

Giống như Thánh tích của một vị Thánh là tập hợp những di vật được trưng bày cố định tại nhà tưởng niệm Maison de Balzac – một bảo tàng quý giá náu mình giữa những nếp gấp thời gian ở Quận 16 thuộc Paris, từng chứng nhân cho những tham vọng lớn lao, đồng thời kể lại câu chuyện về từng khoảnh khắc của nhà văn.

Honoré de Balzac (1799 – 1850)
Ảnh. NPR

Trong số những hiện vật này là bộ dụng cụ viết lách, bao gồm dao bào để chuốt đầu nhọn, món quà từ bạn-thư-tín-hóa-nhân-tình của Balzac, và sau này, trở thành vợ ông, Quý Bà Hańska. Một món quà khác cũng từ bà, một cây gậy đặc trưng cũng nằm trong bộ sưu tập, có đầu trên được nạm màu ngọc lam mang dáng hình huy hiệu của dòng tộc nhà văn, và được gắn liền với sợi dây chuyền từ thời thơ ấu của bà. Chủ đề quyển sách của người hâm mộ khác, Delphine de Girardin, La Cane de Monsieur de Balzac (tạm dịch Cây gậy của Monsieur de Balzac) cũng hiện diện; và báu vật ấy sống động như thể ta có thể cảm nhận lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi trên chiếc núm chạm khắc và nghe những thanh âm vọng lại cùng nhịp bước chân trên con đường lát đá tưởng tượng.

Ở một phòng khác là mô phỏng đúc đồng tinh tế lấy mẫu từ bàn tay phải của tiểu thuyết gia với các đốt ngón tay hằn rõ những nếp nhăn mệt mỏi, thèm khát được cầm bút.

Một nơi trang trọng khác được dành cho bộ pha cà phê cafétière của ông, một tách cà phê bằng gốm trắng đặt trên chiếc bình cao như một vương miện, được trang trí với những diềm đỏ và dòng chữ lồng HB, là chén Thánh và vạc lọc đã thúc đẩy quá trình viết lách dài 15 giờ không ngừng nghỉ, một guồng máy đã cho ra đời hơn 20 tác phẩm, nhưng sớm làm trì trệ trái tim ông và cuối cùng là thúc đẩy cái chết trẻ của ông.

Đây, cũng thế, là chiếc bàn viết có chân nhỏ chắc chắn, bục giảng của những sử thi về tấn trò đời. Khắc trên bề mặt bằng gỗ óc chó là những vết xước và đường rãnh tựa chữ tượng hình, một kiểu bản thảo thứ hai, lưu lại sự uyển chuyển của những nét bút chảy tràn caffeine. Balzac tỏ lòng kính trọng với chiếc bàn như với người yêu cùng nhau trải qua gian khổ từ lâu: (Nó) chứng kiến những buồn khổ của tôi, những đau đớn của tôi, niềm vui sướng to lớn, và mọi thứ […] Cánh tay của tôi gần như bào mòn nó bằng sức nặng văn chương”.

*

Alexandre Dumas (1802 – 1870)
Ảnh: IMDb

Những độc giả trung thành của Ba chàng lính ngự lâm hay Bá tước Monte Cristo sẽ được chìm đắm vào con đường lát đá chật hẹp trong tòa lâu đài từng xuất hiện trong các cuốn sách của Alexandre Dumas, mà ông từng gọi là Château de Monte-Cristo, nay được bảo tồn như một địa danh lịch sử ở Port Marley (Yvelines), chỉ cách Paris một chuyến tàu ngắn ra ngoại ô. Được thiết kế theo những mô tả của tác giả, ngôi nhà và những khoảng sân, bao gồm một phòng khách kiểu Moorish được trang trí công phu và một xưởng viết theo trường phái Gothic mà bao quanh là lũy hào nước, phản ánh lối sống hào phóng và xa hoa của ông. “Khi bạn có vinh hạnh được sinh ra trong dòng tộc Dumas, bạn sẽ sống một cuộc đời thượng lưu […] và không từ chối bản thân cho bất cứ một niềm vui nào”, ông đã viết, thành thật đúng nghĩa, và phí hoài gia tài kiếm được từ ngòi bút của mình. Và tinh thần hào hứng ấy vẫn rõ ràng sau khi ông đã qua đời hơn một thế kỷ, ở những thực đơn dính vết thức ăn cùng món trộn ông yêu, món trứng tráng hàu ông thích.

*

Marcel Proust (1871 – 1922)
Ảnh: LitHub

Cây gậy đi đường của Monsier Proust vẫn được giữ nguyên trạng, trông hơi cẩu thả, như thể ông chỉ vừa để nó lại trước khi nó rơi xuống chiếc giường có bộ khung đánh bóng sau một đêm khuya đi dạo nào đó, trước khi ngả mình xuống để ghi lại ấn tượng và sự hỗn loạn những ký ức khuấy động. Tấm trải giường xanh lam trông như vừa có người nằm ngủ. Vách ngăn của tấm bình phong được bọc bằng gỗ sồi, như bộ khung thực chất của chiếc giường, để đảm bảo sự cách âm tuyệt đối. Gỗ sồi, than ôi, làm nặng thêm chứng bệnh hen suyển của ông. Bạn thật sự có thể nghe những tiếng ho này tràn khắp không gian.

Các đồ nội thất và đồ vật đã được tập hợp lại trong căn phòng nhỏ bất khả xâm phạm này tại Bảo tàng Carnavelet thuộc quận 3, dựa trên gợi ý của một người bạn ngưỡng mộ ông – Nữ bá tước Anna de Noailles, được tập hợp từ 3 khu nhà ở sau cùng: tại số 102 Đại lộ Haussmann, số 8 Rue Laurent Pichat, và 44 Rue Hamelin ở Quận sáu, nơi Proust cuối cùng đã từ bỏ những vấn vương hồn ma đeo bám tâm trí mình.

Bộ sưu tập bao gồm: một chiếc bàn gỗ khảm trang trí công phu hầu như không được sử dụng, Proust viết hầu hết trên giường, một giá sách, một chiếc ghế dài để đọc có độ ngả tùy chỉnh và nơi tựa khuỷu tay, một tấm thảm, một chiếc đĩa nạm ngọc, một chiếc gương cầm tay, một chiếc bàn chải khắc chữ lồng tên ông, chiếc kẹp giữ cà vạt, đĩa mạ bạc, gậy đi bộ đã nói trên, một chiếc ghế con, tấm bình phong, bàn nhỏ cạnh giường, đèn, gương, các dụng cụ viết, đồng hồ bỏ túi, lịch bàn, lược chải tóc, bàn chải gỗ mun gạt bụi cho mũ và một loại khác bằng gỗ hồng mộc, và một chiếc đón gót bằng ngà – nói ngắn gọn, tất cả những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống một nhà văn.

*

Victor Hugo (1802 – 1885)
Ảnh: Britannica

Khi bàn làm việc được trưng bày trong phòng ngủ chính được phục hồi tại Maison Hugo, ở Place des Vosges quận tư, nó tiết lộ, Victor Hugo đã viết đứng. Chính tại đây, ông đã sáng tác phần lớn kiệt tác của mình, Những người khốn khổ, với hơn 1.900 trang giấy, một trong những cuốn tiểu thuyết dài nhất từng được viết ra. Làm thế nào mà đôi chân của ông có thể trụ vững, tôi không thể ngừng tự hỏi, trong sự vô hạn của từ ngữ và thời gian để viết ra chúng? Chẳng lẽ ông không bao giờ mỏi mệt sao? Tôi tưởng tượng ông đang tựa vào núm ngăn kéo bằng gỗ sồi được chạm khắc hình đầu sư tử, lấy sức mạnh từ loài thú ấy và sự dũng cảm của cây sồi.

*

Paris – Kinh đô Ánh sáng, vẫn ẩn chứa trong mình những vùng ngoại ô tâm tối. Làm thế nào có đủ thời gian để tôi ghé thăm trại giam Drancy trong một nỗ lực tìm về những mảng thơ mờ dần trong kí ức Max Jacob trong ngày chủ nhật lễ thánh xanh xám và u mưa này. Theo lịch Pháp, ngày lễ Saints de Glace (tạm dịch Mùa đông gai đen), theo niềm tin đã tồn tại từ lâu từ thời Trung Cổ và được toan định ngày diễn ra, là ngày dành riêng cho các Thánh Mamert, Pancras và Servais; theo truyền thống được diễn ra vào các ngày 11, 12 và 13 tháng 5; khi tên của các vị Thánh được nông dân khấn nguyện để ngăn chặn sự giảm nhiệt độ đột ngột và sương giá rất nguy hiểm cho mùa màng.

Max Jacob (1876 – 1944)
Ảnh: Museu Picasso

Bầu trời bất chợt chuyển sang màu xám tang thương và đột ngột nổ tung thành những trận mưa trút nước khi xe buýt kéo vào thị trấn. Trời quang mây tạnh, và rồi mây kéo về, mưa lại bùng nổ, không thể định trước.

Khu phức hợp đúc sẵn hình chữ U của Cité de la Muette, một mạo hiểm viễn tưởng trong giai đoạn lập kế hoạch, được xây dựng vào những năm 1930 nhưng chưa bao giờ hoàn thành, ban đầu dự định sẽ đưa các công nhân nhà máy vào một môi trường sống hoàn hảo, lành mạnh. Nhưng các cư dân đã không bao giờ chuyển đến. Kế hoạch thay đổi. Tầm nhìn viễn vông ấy bị phá hủy đến tận cùng đen tối. Từ tháng 8 năm 1941 đến tháng 8 năm 1944, hàng ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em, trong đấy có Max Jacob, tất cả hậu duệ người Do Thái, đã bị cảnh sát Pháp vây bắt theo lệnh của Gestapo, và không có thức ăn, nước uống hoặc điều kiện vệ sinh nào đầy đủ trong một trại tập trung tạm thời, từ chỗ bị trục xuất đến các trại tử thần ở Ba Lan. Sau khi Paris được giải phóng, Cité đã được sử dụng một thời gian ngắn để huấn luyện các kẻ nằm vùng thực tập, trước khi được thanh tẩy, làm sạch và tân trang lại thành một Habitation à Loyer Modéré (HLM), một dự án nhà ở thu nhập thấp. Nhiều cư dân hiện tại của nó là dân nhập cư Bắc Phi, những người chắc chắn phát ra cái nhìn bối rối và khó chịu với những du khách lần mò khai thác một quá khứ không mấy tốt đẹp.

Một tấm biển ở lối vào Cầu thang số 10 đánh dấu nơi Max Jacob chết. Paris được chống đỡ bằng các tấm bia tưởng niệm của các nhà thơ, nghệ sĩ và nhà soạn nhạc; nhưng điều này đôi khi kéo trũng nhịp đập con tim chúng ta.

Một người đàn ông lập dị, không ngừng mâu thuẫn, một nhà thơ, họa sĩ, tác giả và nhà phê bình nghệ thuật của trường phái Tượng trưng và Siêu thực; người đồng tính, gốc Do Thái, duyên dáng và gắt gỏng; Jacob là một trong những người bạn đầu tiên mà Picasso có ở Paris, và là một chiến hữu của ông tại Bateau Lavoir ở khu phố Montmartre trứ danh – bệ phóng cho những tiên phong nghệ thuật. Theo tiếng gọi của Chúa Kitô, ông chuyển đổi sang Công giáo và đến tu viện Benedictine của vùng Saint Benoît-sur-Loire, ở Loiret, để hầu chuyện cùng Chúa và trốn khỏi toán quân chiếm đóng Đức quốc xã.

Khi bị tố cáo bởi một kẻ nằm vùng, ông bị giải đến Drancy, nơi ông nằm và bị viêm phổi phế quản mà không có thuốc men ở trại tạm giam. Christopher Wood đã ra mặt với những người bạn có ảnh hưởng để cố gắng thay mặt chính quyền nước Đức thả ông ra. Nghệ sĩ, nhà văn và nhà sản xuất phim Jean Cocteau, người có mối giao tế với quân đội Đức cấp cao, đã cố gắng để ông được trả tự do nhưng vô ích. Có tin đồn rằng, khi được hỏi yêu cầu giúp đỡ, người bạn cũ của Picasso đã trả lời rằng: “Max là một thiên thần, ông ta không cần sự giúp đỡ của tôi, ông ấy sẽ mọc cánh và bay đi”.

Jacob không để lại vật lưu niệm nào tại Drancy. Tôi đứng nhìn chằm chằm vào những tấm kim loại nhỏ gắn chặt trên tường từng xuất hiện trong trí nhớ ông, cố gắng rút ra ý nghĩa, nhưng khi một cậu bé phăng phăng băng về phía tôi trên chiếc xe đạp mà tôi buộc phải nhảy qua một bên, chỉ ngay lúc đó tôi mới cảm thấy một sự mạo phạm với nơi trang nghiêm này. Tại sao nhà nước Pháp không chỉ định nó là một di tích lịch sử và để lại Cité de la Muette như một căn phồng trống rỗng không có người ở và bị đồn ma ám?

Nhưng ngay sau đó, The Beggar Woman of Naples, (tạm dịch Người phụ nữ ăn xin ở Napoli) một bài thơ văn xuôi của Max Jacob xuất hiện trong tâm trí tôi. Trong đó, nhà thơ cận thị, được biết đến với kính một bên chèn dưới hàng lông mày ngờ vực và chiếc mũi nổi bật, nhớ lại cách anh thả bố thí vào giỏ một người phụ nữ ăn xin ở Napoli, và ngạc nhiên khi không bao giờ được cảm ơn, cho đến khi cuối cùng anh ta cũng hiểu được rằng vị khất sĩ vô ơn anh vừa bố thí hóa ra là một thùng gỗ màu xanh lá cây chứa một cục đất đỏ và một vài quả chuối thối.

Ngay vừa lúc đó mưa dứt hạt, mây dâng cao và mặt trời ló dạng. Các thánh băng thương xót xen vào. Tốt hơn, tôi nghĩ, Drancy không nên là một kho chuối thối rữa, mà nên là nơi để học đi xe đạp.

Hết.

Ngô Thuận Phát dịch từ bài được thực hiện bởi Peter Wortsman.

Đọc bài gốc tại Literary Hub.


Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuận Phát tại đây.


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Bài học đạo đức thâm sâu trong truyện cổ tích: Khi các cô gái kết hôn với quái vật

Published

on

Beauty and the Beast (Người đẹp và Quái vật) là cuốn sách vừa ra mắt, tập hợp những câu chuyện cổ tích từ khắp nơi trên thế giới, khám phá sự khác lạ của mối quan hệ vượt ranh giới giống loài.

Trong cả hai phiên bản Người đẹp và Quái vật của Disney, giữa khung cảnh bộ đồ dùng làm bếp nhảy múa, nhạc đệm lãng mạn và điệu waltz ngất ngây, thật dễ dàng bỏ qua việc câu chuyện này kỳ lạ như thế nào. Đây là một câu chuyện - được kể lại bởi tập đoàn hùng mạnh nhất trong lĩnh vực giải trí dành cho thiếu nhi - về một cô gái phải lòng một con quái vật. Trong bản hoạt hình năm 1991, biểu cảm ngốc nghếch của Quái vật khiến hắn ta trông giống con người và đáng yêu hơn hẳn, giảm bớt sự kỳ quặc trên. Nhưng trong bản live-action năm 2017, tạo hình Quái vật lại vô cùng giống… một con quái thú.

Người đẹp và Quái vật bản hoạt hình năm 1991.

Người đẹp và Quái vật bản live-action năm 2017.

Trong bản gốc Người đẹp và Quái vật được phát hành năm 1740 bởi tiểu thuyết gia người Pháp Gabrielle-Suzanne Barbot de Villeneuve, Quái vật được mô tả là một loài lai tạp giữa voi và cá, với “vòi voi quấn quanh cổ”, “cơ thể nặng nề”, “tiếng loảng xoảng khủng khiếp phát ra từ bộ vảy” mỗi khi hắn di chuyển. Nhưng trong phiên bản chuyển thể nổi tiếng nhất - một phiên bản cô đọng dành cho trẻ em từ cựu giáo viên Jeanne-Marie Leprince de Beaumont, ngoại hình của Quái vật được nhường lại cho trí tưởng tượng của độc giả. De Beaumont chỉ nói rằng hắn ta trông “đáng sợ”, và Người đẹp đã phải run rẩy “trước ngoại hình kinh khủng của sinh vật này”. Quái vật có thể trông giống một con trâu nước, hoặc một con gấu, hay một con hổ; hắn ta cũng có thể được miêu tả như một ông già tầm thường, bản chất tốt bụng nhưng ngoại hình thì cực kỳ xấu xí. Đó chính là mục đích của câu chuyện.

De Beaumont luôn lồng ghép các bài học đạo đức mạnh mẽ vào đa số những câu chuyện của mình, và xuất bản chúng như một bản hướng dẫn giáo dục dành cho trẻ nhỏ. Bà không phải là người duy nhất làm vậy. Jack Zipes viết trong cuốn sách Fairy Tale as Myth/Myth as Fairy Tale năm 1983: “Truyện cổ tích không thể trở nên phổ cập, trừ khi chúng hoàn toàn nhất quán với các nguyên tắc cơ bản về cách nam giới trong xã hội tìm cách sắp xếp mối quan hệ để thoả mãn mong muốn và nhu cầu của họ.” Thật vậy, như Maria Tatar đã chỉ ra trong phần giới thiệu tuyệt vời về tuyển tập mới Beauty and the Beast: Classic Tales About Animal Brides and Grooms From Around the World (Người đẹp và Quái vật: Những câu chuyện kinh điển về những cô dâu và chú rể động vật trên khắp thế giới), câu chuyện về Người đẹp và Quái vật vốn dành cho những cô gái có thể bị áp đặt vào những cuộc hôn nhân sắp đặt. Người đẹp bị cha mình trao đổi để nhận lại sự an toàn và của cải, và bị gửi đến sống với một người lạ đáng sợ. Tatar giải thích câu chuyện của De Beaumont nhấn mạnh sự cao quý trong hành động hy sinh thân mình của Người đẹp, đồng thời khiến độc giả phấn khích “vì một mối quan hệ đòi hỏi sự đè nén mong muốn của bản thân và phục tùng ý chí của một con quái vật.”

Nhưng Người đẹp và Quái vật cũng là một bổ sung tương đối hiện đại cho nhiều điển tích có từ hàng ngàn năm trước: những câu chuyện về con người phải lòng động vật. Những ví dụ đặc trưng đến từ Ấn Độ, Iran, Na Uy và Ireland; Tatar liệt kê những câu chuyện về vua ếch, công chúa chim, cô dâu chó, và chồng là chuột muskrat. Về cơ bản, mỗi câu chuyện là một biểu hiện cho sự lo ngại về hôn nhân và các mối quan hệ - về tính thú của các giới, và sự xa lạ giữa đàn ông và phụ nữ. Có một số câu chuyện, như Người đẹp và Quái vật, cảnh báo về sự phù phiếm hoặc độc ác. Nhưng nhiều câu chuyện chỉ đơn giản minh hoạ cho sự thôi thúc cơ bản của con người – phổ biến trong các nền văn minh – là sử dụng các câu chuyện để giải nghĩa cuộc sống.

*

Tatar viết: “Người đẹp và Quái vật là câu chuyện về sức mạnh của sự đồng cảm”, nhưng là một câu chuyện tăm tối và xạ lạ. Ngấm ngầm bên trong nó là nhiều quan ngại liên quan đến cấu trúc xã hội và cảm xúc hôn nhân: sợ hãi đối phương, không muốn rời xa gia đình, sợ thay đổi bản thân trong một mối quan hệ mới. Câu chuyện của De Beaumont “phản ánh mong muốn chuyển đổi những câu chuyện cổ tích từ vai trò giải trí thành những câu chuyện ngụ ngôn về hành vi tốt, là phương tiện để truyền dạy và khai sáng cho trẻ em về các đức tính tốt và giáo dục tốt.” Ngoại hình quyến rũ của Người đẹp kết hợp hoàn hảo với đức hạnh và lòng vị tha của cô, điều này tương phản với sự phù phiếm, tham lam và gian ác của các chị em cô.

Khi bố của Người đẹp lên đường để bắt kịp chuyến tàu vừa cập cảng, ông hỏi các cô con gái của mình muốn quà gì. Những người chị em của Người đẹp yêu cầu quần áo và đồ trang sức khác; Người đẹp, vì không muốn gây phiền hà cho cha mình hay làm xấu mặt các chị em mình, chỉ yêu cầu duy nhất một bông hoa hồng - thứ sẽ định hình số phận của cô. Cha của cô bị ngã ngựa và được dẫn lối vào ngôi nhà bí ẩn không người ở, nơi ông được cho ăn và nghỉ ngơi. Vào buổi sáng, ông nhớ tới việc phải ngắt một bông hồng cho Người đẹp, nhưng hành động không kiêng nể của ông đã triệu hồi Quái vật, kẻ đã kết án tử hình cho ông, nhưng lại cho phép cha của Người đẹp gửi một trong những cô con gái của mình đến chết thay.

Người đẹp, dĩ nhiên, hy sinh bản thân mình. “Con thà bị con quái vật đó nuốt chửng còn hơn chết vì đau buồn khi phải mất cha.” Hành động của cô đã nói với độc giả rằng việc “cứu” gia đình mình bằng cách bước vào một hôn nhân sắp đặt là hành vi cao cả, đồng thời chuẩn bị cho họ tinh thần hy sinh chính bản thân mình trong một viễn cảnh tương tự. Tatar viết: “Khát khao vật chất và leo thang xã hội thúc đẩy các bậc cha mẹ giao con gái của họ cho loài cầm thú, và các câu chuyện phản ánh hành vi này như là tập quán xã hội của thời kỳ xa xưa. Nhiều cuộc hôn nhân sắp đặt khiến ta có cảm giác như bị trói vào tay một con quái vật.”

Tương tự, nhiều câu chuyện trong tuyển tập của Tatar là “huyền thoại khởi đầu” – các câu chuyện kể về những nghi lễ đa dạng khi bước vào tuổi trưởng thành, cho dù bằng cách giết rồng, hành trình qua các quốc gia hay giao ước với những linh hồn kỳ lạ và không đáng tin cậy. Trong Cupid và Psyche, Psyche bị ép kết hôn với một con quái vật, và nàng bị cấm nhìn thấy gương mặt hắn ta. Hàng đêm, hắn ta làm tình với nàng trong bóng tối. Nhưng các chị em của nàng (cũng là những kẻ nhiều chuyện quỷ quyệt) thuyết phục nàng dùng một ngọn đèn để nhìn trộm, lúc đó nàng phát hiện hóa ra đó là thần Cupid, “người đẹp trai và quyến rũ nhất trong các vị thần”. Tuy nhiên, hậu quả của việc bất chấp quy tắc của nàng thật là thảm khốc. Thần Cupid biến mất, và Psyche phải vượt qua những nhiệm vụ bất khả thi để chứng minh giá trị của mình với Venus, người mẹ độc đoán của Cupid.

Amore e Psiche bởi Giuseppe Crespi, cảnh Psyche dùng ngọn đèn để nhìn trộm Cupid.

Trong một câu chuyện của người Ghana, Tale of the Girl and the Hyena-Man (Câu chuyện về cô gái và chàng linh cẩu), một cô gái trẻ tuyên bố cô sẽ không lấy người chồng mà cha mẹ đã chọn. Thay vào đó, cô ấy chọn một người lạ, “một chàng trai trẻ, có sức mạnh và vẻ đẹp tuyệt vời”. Thật không may, anh ta hoá ra là một con linh cẩu giả dạng - gã đã đuổi theo vợ mình khi cô biến mình thành một cái cây, sau đó là một vũng nước, sau đó là một hòn đá. Câu chuyện kết thúc ngắn gọn: “Truyền thuyết về cuộc phiêu lưu của cô được truyền lại cho tất cả mọi người, và đó là lý do tại sao cho đến ngày nay phụ nữ không được phép tự chọn chồng cho mình và đó cũng là lý do tại sao trẻ em cần học cách vâng lời người lớn tuổi.”

Những câu chuyện cảnh báo phụ nữ về hiểm nguy của quyền tự quyết và hậu quả của sự tò mò không kiểm soát cũng phổ biến tương tự những câu chuyện khuyên răn các chàng trai về thói hoang dại hiển nhiên của đàn bà. Khi cô dâu là động vật, họ biến thành người nội trợ đảm đang và có năng lực, nhưng thú tính vẫn còn trong họ. Trong The Swan Maidens (Tiên nữ thiên nga), một thợ săn bắt gặp một nhóm phụ nữ trẻ đang tắm trong hồ sau khi trút bỏ áo choàng làm từ lông vũ. Anh ta giấu đi một chiếc áo choàng, khiến một trong những thiếu nữ bị mắc kẹt trong hình dạng con người, bất lực nhìn những người chị em của mình hóa thiên nga bay về trời. Người thợ săn kết hôn với cô; họ có hai đứa con và sống hạnh phúc bên nhau, nhưng một ngày nọ, khi cô tìm thấy chiếc áo choàng lông vũ bị giấu đi, cô lập tức mặc nó vào và trở lại hình dạng thiên nga, bay đi và bỏ rơi chồng con mình.

Tiên nữ thiên nga dường như nói lên mong muốn bẩm sinh của phụ nữ, cũng như cảm giác trung thành và tình thân đối với bộ tộc nguyên thuỷ của một người. Nó cảnh báo độc giả nam về sự khác biệt tiềm ẩn trong phụ nữ, những người từ lâu được quy là quá gần gũi với thiên nhiên, quá hoang dã. Nhưng nó cũng làm sáng tỏ những gì Tatar miêu tả là “bản chất áp bức bí mật của hôn nhân, với nhiệm vụ trong nom và nuôi dạy con cái. Những cô dâu động vật là những người bạn đời tuyệt vời khi đảm nhận nhiệm vụ trong gia đình, nhưng có một cái giá phải trả: Họ không được phép nắm giữ chìa khoá tự do của mình.

*

Rất nhiều yếu tố nguyên sơ và cảnh báo trong truyện cổ tích được Angela Carter đề cập hoặc lật tẩy trong The Bloody Chamber (Căn hầm đẫm máu), một tuyển tập truyện năm 1979 lấy cảm hứng từ truyện dân gian. Trong tiêu đề câu chuyện, nhân vật nữ chính bán mình cho cuộc hôn nhân, bỏ qua những nghi ngờ của mẹ cô; sau đó cô “rời đi Paris, rời xa thời con gái, rời xa không gian yên tĩnh trắng muốt trong căn hộ của mẹ tôi để đến đất nước không thể đoán được về hôn nhân.” Cuối hành trình là người chồng người mà thực sự là một con quái vật – không phải một con thú mà là một kẻ sát hại phụ nữ hàng loạt. Cuối cùng nhân vật nữ chính không phải được cứu bởi một người đàn ông mà bởi người mẹ liều lĩnh, dũng cảm và nổi loạn của cô.

Những cạm bẫy đạo đức trong truyện cổ tích tràn ngập trong các câu chuyện của Carter, nhưng bà từ chối tuân theo các quy ước của họ. Trong Căn hầm đẫm máu, Carter đã tạo nên một câu chuyện ngụ ngôn nữ quyền, riêng biệt và chứng minh rằng ngay cả những mô hình kể chuyện lâu đời nhất cũng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những trải nghiệm vào lo lắng đương thời.

Hết.

Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc The Dark Morality of Fairy-Tale Animal Brides được thực hiện bởi Sophie Gilbert, đăng tại The Atlantic.

Ảnh đầu bài: Minh họa Người đẹp và Quái vật, 1913 bởi Warwick Goble

*

Có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Trà chiều

Cách nhìn thế giới qua lăng kính của Định luật Newton (Định luật II và III)

Published

on

Lần trước, chúng ta đã cùng nhau đi tìm một cái nhìn mới, cùng nhau nhìn nhận Định luật I của Newton qua lăng kính của cuộc sống sau khi đã tách rời nó khỏi các ý nghĩa vật lí ban đầu. Lần này, chúng ta hãy cùng nhau đi trên hành trình ấy một lần nữa, nhưng lần này là với Định luật II và III của Newton, hai định luật mà theo tôi về ý nghĩa và tầm quan trọng của nó có thể còn thú vị hơn cả Định luật I khi được đặt dưới một góc nhìn mới.

*

Định luật II Newton nói rằng:

Nếu một vật chịu tác dụng của một lực làm thay đổi vận tốc của vật thì véc tơ gia tốc luôn cùng hướng với lực tác dụng lên vật, độ lớn gia tốc sẽ tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật.

Thật ra định luật này rất đơn giản và dễ hiểu, nhưng với cách phát biểu như trên thì có lẽ sẽ khiến nhiều người cảm thấy hơi choáng váng; bản thân tôi tuy đã hiểu khá rõ về định luật này mà khi đọc lại cũng cảm thấy như vậy. Nhưng dù là khó hay dễ hiểu thì hôm nay chúng ta vẫn sẽ tạm gác lại những ý nghĩa vật lí của định luật trên và thử nhìn nhận lại bằng một góc nhìn khác. Khi ấy, một lập luận cũng có phần đáng để suy ngẫm sẽ dần hiện ra:

Khi một “lực” - tức một việc gì đó xảy ra và tác động đến chúng ta - nếu như “lực” đó đủ mạnh nó sẽ làm con người chúng ta thay đổi. Chúng ta sẽ thay đổi theo chiều hướng của “lực” đã tác động vào ta, nhưng thay đổi đến mức nào, chúng ta sẽ “dịch chuyển” bao nhiêu xa so với con người mình trước đây thì lại phụ thuộc vào “khối lượng” và độ lớn của “lực” ban đầu.

Về phần “lực” thì khá là dễ hiểu, khi một “lực” mạnh, tức một sự việc nghiêm trọng xảy ra trong cuộc đời chúng ta thì hiển nhiên nó sẽ làm con người chúng ta thay đổi. Sự kiện đó càng tồi tệ, càng trầm trọng (theo chiều hướng xấu), hay thậm chí là càng tuyệt diệu (theo chiều hướng tốt) thì con người chịu tác động của sự kiện sẽ thay đổi càng nhiều.

Nhưng độ lớn của “lực” không phải là yếu tố duy nhất và quyết định tất cả, còn có “khối lượng” nữa. Trong trường hợp này, “khối lượng” có thể được hiểu là bản chất của con người chúng ta. Nó bao gồm những thứ như: cách chúng ta suy nghĩ về thế giới, cách chúng ta định nghĩa về bản thân mình, chúng ta kiên định hay dễ thay đổi đến mức nào, chúng ta trân trọng những giá trị nào, chúng ta tin vào những gì,…

Nói tóm lại là, khi con người chúng ta chịu sự tác động của thế giới, chúng ta sẽ thay đổi, còn thay đổi như thế nào, thay đổi nhiều hay ít thì lại phụ thuộc vào “lực” tác động của thế giới và bản thân mỗi người chúng ta.

Nghe qua thì có vẻ là một điều hiển nhiên nhỉ? Nhưng việc chúng ta có thể rút ra cái điều khá là hiển nhiên này khi đặt một định luật vật lí dưới một góc nhìn khác chẳng phải là rất thú vị ư?

Dưới sự tác động từ thế giới bên ngoài và những suy nghĩ nội tâm bên trong, theo dòng chảy của thời gian, con người sẽ thay đổi, cả về ngoại hình bên ngoài lẫn bản chất bên trong. Dù có muốn hay không, ai rồi cũng sẽ thay đổi, có người nhiều, có người ít, nhưng chắc chắn là sẽ có, bởi vì nó là tất yếu, như một quy luật cho vạn vật trên thế giới này. Bạn của 10 năm trước khác với bây giờ như thế nào? Liệu bạn có bao giờ tự hỏi 10 năm sau, bản thân bạn khi ấy sẽ có những nhận xét, những suy nghĩ gì về con người bạn lúc này?

Các định luật vật lí vốn được sinh ra để mô tả, để thấu hiểu cách mà vạn vật trong vũ trụ này vận hành, nhưng bằng một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó, ít ra trong trường hợp này, khi ta sử dụng một góc nhìn mới, những quy luật về cuộc sống cũng dần hiện ta từ các định luật. Bây giờ chúng ta sẽ đến với Định luật III của Newton, một định luật vô cùng đơn giản, dễ hiểu, ai cũng có thể quan sát được, một quy luật cơ bản trong toàn vũ trụ nhưng đồng thời cũng lại rất thân thuộc, thậm chí là vì nó quá thân thuộc nên nhiều người đã vô thức xem nó là một lẽ hiển nhiên, nên đã vô tình bỏ qua và chưa bao giờ nhận ra.

Định luật III Newton nói rằng:

Khi một vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng sẽ tác dụng lên vật A một lực. Hai lực này cùng độ lớn, cùng phương nhưng lại ngược chiều.

Bản thân tôi thì thích cách phát biểu tiếng Anh của định luật này hơn:

For every Action, there is an equal and opposite Reaction.

Có thể tạm dịch là: Ứng với mỗi một “hành động”, sẽ có một “phản hành động” có cùng độ lớn nhưng lại ngược chiều.

Tại sao để bay lên thì tên lửa lại phải phóng ra một ngọn lửa về phía sau, tại sao để tung người nhảy lên thì chúng ta phải co chân lại, tại sao để bước đi thì bàn chân phải đạp xuống mặt đất, tại sao để chạy thì bàn chân lại càng phải đạp xuống mặt đất mạnh hơn nữa? Tất cả những điều đó đều là những biểu hiện của Định luật III Newton.

Để có thể bước đi, bạn sẽ phải dùng chân đẩy một lực xuống mặt đất, để rồi mặt đất sẽ đẩy bàn chân bạn tiến về phía trước. Để chạy, bạn sẽ phải đạp xuống mặt đất mạnh hơn nữa để mặt đất đẩy cơ thể bạn đi xa hơn nữa. Để nhảy, bạn phải co chân lại, vốn cũng là để đạp xuống mặt đất, để rồi nền đất đẩy bạn bay lên. Với tên lửa cũng như vậy, để bay lên cao tên lửa sẽ phải đốt cháy nhiên liệu và phóng chúng về phía sau.

Và khi chúng ta kết hợp Định luật II và Định luật III dưới góc nhìn mới này lại, một điều thú vị hơn nữa lại hiện ra: Khi thế giới làm bạn thay đổi thì bạn cũng sẽ làm thay đổi thế giới, ngược lại, khi bạn làm thay đổi thế giới thì thế giới cũng sẽ làm bạn thay đổi.

“Thế giới” ở đây có thể hiểu theo nghĩa hẹp: là cuộc sống của bạn, là thế giới nội tâm, cách bạn suy nghĩ, kể cả mọi người hay các đồ vật xung quanh cũng có thể được xem là “thế giới”. Không cần phải suy nghĩ quá sâu xa, cầm một quyển sách lên để đọc đã là một cách tác động vào “thế giới” rồi, chỉ cần dấu tay của bạn chạm vào một trang sách thì đã có thể nói là bạn vừa tác động và làm thay đổi “thế giới”. Ngay cả việc viết ra một dòng chữ cũng là làm thay đổi thế giới, vì chẳng phải là trước khi bạn viết ra dòng chữ đó thì nó chưa từng tồn tại hay sao? Và nếu có một ai đó khác hay thậm chí là chính bạn đọc lại dòng chữ ấy, thì dòng chữ, nó lại một lần nữa xuất hiện ở một nơi nó chưa từng tồn tại trước đó – nơi tâm trí của một con người.

“Thế giới” cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng: đơn giản là thế giới, là thành phố, là núi đồi, là cả Trái Đất, là cả vũ trụ này. Bạn có bao giờ ngẫm nghĩ về những gì loài người đã làm được trên thế giới này, trên hành tinh này chưa? Người ta nói rằng nếu toàn bộ lịch sử Trái Đất chỉ xảy ra trong một ngày, tức 24 giờ hay 86.400 giây, thì nền văn minh nhân loại sẽ chỉ xuất hiện vào giây phút cuối cùng của ngày hôm đó. Tức là tới tận lúc 23h 59 phút 59 giây, tới tận giây phút cuối cùng của 24 giờ đặc biệt này, trong nền văn minh nhân loại mới chớm nở. Nếu cả hành tinh này chỉ vừa mới sinh ra và đã tồn tại được 86.399 giây, thì đến tận giây thứ 86.400 nền văn hóa của toàn thể nhân loại mới bắt đầu những bước đi đầu tiên.

Trong một giây đó, tức khoảng 50.000 năm qua, hãy xem loài người đã làm được những gì. Từ những sinh vật chỉ biết bước đi dưới bầu trời và ngắm nhìn những vì sao, chỉ là một phần của thế giới tự nhiên, với đôi bàn tay và trí tuệ của mình, loài người đã tách mình ra khỏi tự nhiên và trở thành những sinh vật thống trị hành tinh này. Chúng ta có mặt ở khắp mọi lục địa trên Trái Đất, biến đổi thế giới, xây dựng hàng nghìn thành phố, đẩy lùi và thu hẹp thiên nhiên hoang dã, dựng nên những tòa nhà thách thức cả bầu trời, đặt chân lên Mặt Trăng, hướng những ống kính hiện đại nhất vào không gian vũ trụ, đưa được thiết bị hạ cánh để thăm dò trên hành tinh khác. Dù là tốt hay xấu, thì có một điều là chắc chắn, mặc cho tuổi đời vô cùng ngắn ngủi, nhân loại đã thay đổi thế giới này, đã và vẫn đang để lại những dấu chân vững chãi trên nền cát của lịch sử Trái Đất.

Và dĩ nhiên là thế giới mới do chính con người tác động và tạo ra này cũng đã tác động ngược trở lại con người. Bạn có biết không, bộ não con người đã thu nhỏ đi khoảng 10% trong suốt 40.000 năm qua, không phải là vì chúng ta đang ngày càng kém thông minh, mà có lẽ là do chúng ta đã tự thuần hóa chính mình khi chúng ta tự tách khỏi thiên nhiên và sống trong những “khu rừng bê tông” do chính mình xây dựng nên. Một con người cổ đại thì luôn cần phải đấu tranh để sinh tồn, luôn phải ghi nhớ mọi thứ, từ phương hướng đến địa hình, đến vị trí và cách tìm kiếm những nguồn tài nguyên quý giá như nước và thức ăn; còn con người hiện đại với cuộc sống có phần nhẹ nhàng hơn thì không mấy ai có được những kĩ năng và kiến thức ấy cả.

Con người đã thay đổi, khai thác và cả hủy hoại thế giới. Thế giới cũng đã đáp trả lại bằng những tài nguyên thiết yếu đang dần cạn kiệt, bằng đủ mọi loại ô nhiễm đang tác động xấu đến chính cuộc sống của mỗi con người: từ ô nhiễm không khí, đất, nước, đến cả ô nhiễm ánh sáng và âm thanh, bằng những hiện tượng thời tiết ngày càng khắc nghiệt, bằng khí hậu biến đổi nhiều đến mức có thể không đảo ngược được nữa.

Đã là một con người, thì một điều là chắc chắn, mỗi ngày bạn đều đang tác động vào thế giới và mỗi ngày thế giới cũng đang tác động vào bạn, từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất cho đến những điều vô cùng vĩ đại. Vậy còn bạn, bạn muốn để lại những dấu chân nào cho thế giới trong khoảng thời gian ngắn ngủi bạn nán lại nơi đây? Và bạn muốn thế giới sẽ khiến cho bản thân mình thay đổi đến mức nào so với thời điểm hiện tại trước khi bạn rời khỏi?

Câu trả lời cho hai câu hỏi trên, sẽ thay đổi như thế nào theo dòng chảy thời gian? Liệu bản thân mỗi người chúng ta có thể tự trả lời hoàn chỉnh hay không?

Hay sẽ là một ai đó khác, vào một ngày nào đó khác, sẽ trả lời đầy đủ hơn sau khi chúng ta đã rời khỏi?

Hết.

Stern

Ảnh đầu bài: The Wall Street Journal

*

Bài viết có liên quan



Đọc bài viết

Trà chiều

[Infographic] Hành trình 39 năm: Nỗ lực, dấn thân, cống hiến

Published

on

By

Trải qua một chặng đường dài hình thành và phát triển, Phương Nam chiếm một góc cố định trong tâm tưởng người Việt khi nhắc đến văn hóa, và rộng hơn, vượt biển khơi để trở thành đầu tàu giới thiệu văn hóa Phương Nam với bạn bè quốc tế.

39 năm - thời gian dài của những nỗ lực, dấn thân và cống hiến. Sinh nhật mỗi năm chỉ có một lần, cùng Ban Biên Tập Bookish.vn nhìn lại hành trình 39 năm hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Văn hóa Phương Nam qua từng cột mốc quan trọng mà trong đó, mỗi cột mốc đều mang ý nghĩa lớn, đánh dấu tâm huyết của nhiều con người, tập thể.

*

Hành trình 39 năm nhìn lại – Nỗ lực và tiếp tục nỗ lực

Ban Biên Tập thực hiện

*

Chuỗi bài Hành trình 39 năm nhìn lại

39 năm nhìn lại - Phương Nam trong chúng ta

Câu chuyện về Thành phố sách Phương Nam: Wonderland của các Alice yêu sách

Phương Nam Book City – “Nhà” của nhiều người trẻ mê văn hóa

Xuân, Hạ, Thu, Đông: Bốn mùa Phương Nam tại Đường Sách TP. HCM

Đọc bài viết

Cafe sáng