Trà chiều

Tình yêu trong tiểu thuyết: Ai dạy bạn yêu?

Má tôi không được đi học vì ông ngoại tôi bảo rằng, “Con gái biết chữ chỉ để đọc tiểu thuyết, viết thư cho trai, ái tình lãng mạn cho lắm chỉ tới chỗ chửa hoang.”

Published

on

Nhận được lá thư tình đầu tiên, má tôi hối lộ trẻ em hàng xóm đọc giùm. Những lá thư tình tiếp theo là động cơ thúc đẩy má tôi tự học. Bà mua cuốn vần, lén học lúc nấu cơm. Sợ bị bắt gặp bà thường dúi cuốn vần vào trong lò đốt cháy. Không biết bà đốt cháy bao nhiêu cuốn vần mà về sau bà có thể viết thành câu, chữ lớn như con gà đang bưới bếp, chữ nhỏ như cái trứng cút, gà chạy nhấp nhô không thẳng hàng. Khi làm giấy tờ cần phải ký tên, bà viết nguyên tên chứ không phải đánh chữ thập như nhiều người khác. Bà thích đọc nhưng đọc rất chậm vì còn mãi đánh vần. Tôi nghĩ bà có thể đọc được thư tình người ta gửi cho bà ngày xưa nhưng viết thư tình chắc là không nổi.

Vào thập niên hai mươi, ông ngoại tôi kết luận người đọc có thể học hỏi (hay học đòi) chuyện yêu đương trong tiểu thuyết. Thời đó đâu có ai dạy dỗ về tình yêu, trai gái còn không được phép cầm tay nhau thế mà ai cũng biết yêu, không đổ thừa cho văn học gây ra hậu quả tai hại (như chửa hoang) thì đổ thừa cho ai? Ngày nay, qua những cuộc nghiên cứu, người ta quan niệm đọc văn học có thể làm chúng ta khôn ngoan hơn, hiểu biết hơn, và dễ cảm thông và biết yêu thương đồng loại hơn. Nhưng chúng ta có thể học được gì về tình yêu trong văn chương? Bạn có tự hỏi bằng cách nào bạn nhận ra sự hiện diện của cái gọi là tình yêu, bạn học về tình yêu ở đâu, ai dạy bạn yêu, làm thế nào để bạn nhận ra đó là tình yêu? Sau khi bạn trả lời những câu hỏi này tôi chắc rằng bạn cũng đồng ý với tôi, một phần nào đó, những hiểu biết chúng ta có được về tình yêu được rút ra từ truyện, thơ, nhạc, và phim. Âm nhạc và phim ảnh nếu không xuất phát từ văn chương thì cũng bị ảnh hưởng đậm đà bởi văn chương.

Trong bài tản mạn này tôi chỉ muốn trả lời một câu hỏi: Tôi tìm thấy gì về tình yêu qua những quyển sách tôi đã đọc?

*

Thập niên hai mươi, văn học Việt Nam có gì ghê gớm mà ông ngoại tôi sợ hãi đến độ không cho má tôi đi học. Kim Bình MaiHồng Lâu Mộng dịch từ truyện Tàu? Truyện Kiều, Lục Vân Tiên ghê gớm lắm sao? Còn tôi, tôi bị má tôi “đầu độc” bằng thơ tình ngay từ thuở ấu thơ khi bốn năm tuổi tôi nghe bà hát ru cháu ngoại bằng những bài tình ca ngọt lịm. Đó là câu ca dao ở thể lục bát như Đưa tay mà ngắt ngọn ngò. Thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ. Ở thể song thất lục bát như, Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ. Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu. Anh về học lấy chữ nhu. Chín trăng em đợi mười thu em chờ. Và Phụ mẫu đánh anh quằn quại treo tại góc thành, đứt dây rớt xuống dạ không đành bỏ em. Còn nhiều nữa, tôi không thể kể hết ra đây.

Khi tôi vào trung học thì người ta chẳng những không sợ là con gái đi học biết chữ sẽ viết thư tình cho trai, mà chúng tôi còn được cho học thơ tình, như Chinh phụ ngâm khúc: Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại. Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang. Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương. Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng. Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy. Thấy xanh xanh những mấy hàng dâu. Hàng dâu xanh ngắt một màu. Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai. Rồi những mối tình hiền lành trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng và Đoạn tuyệt của Nhất Linh, sách của Tự Lực Văn Đoàn chúng tôi “bị bắt học” từ những năm đệ ngũ. Thói thường, những gì bị bắt học thì không nhớ hay chỉ nhớ loáng thoáng mập mờ, những mối tình tôi thật sự chú ý và nhớ rất dai là những mối tình trong những quyển sách dịch tôi đọc vào thập niên bảy mươi.

Có thể nói đây là giai đoạn tôi đọc sách nhưng chỉ chú ý đến chuyện tình. Hai chuyện tình để ấn tượng sâu đậm trong tôi ở trong hai quyển Cuốn theo chiều gió và Anna Karenina. Ở tuổi mười tám tôi đọc Cuốn theo chiều gió và ngay lập tức tôi bị nhân vật Scarlett O’Hara hớp hồn. Scarlett, là mẫu phụ nữ Tây phương trái ngược với khuôn mẫu phụ nữ Á Đông chung quanh tôi. Tôi lớn lên với quan niệm phụ nữ là đóa hoa chỉ có thể ở một chỗ mà tỏa hương, rủ bướm nhưng không được bay theo. Để thoát khỏi cảnh yêu thầm nhớ trộm nàng chủ động tỏ tình với Ashley Wilkes. Tình yêu là như vậy đó, nồng nàn, sôi nổi, bồng bột, hơi điên cuồng. Tôi khâm phục sự siêng năng, tính thực tế, dám nghĩ dám làm của Scarlett. Nếu Scarlett sinh ra vào thời này có lẽ nàng sẽ là Giám đốc điều hành của một công ty lớn nào đó.

Tuy nhiên, Scarlett không biết yêu là gì. Nàng say mê Ashley chỉ vì Ashley dám từ chối nàng, anh chàng tóc bạch kim trí thức này trở nên một đối tượng nàng muốn chinh phục. Ba mươi năm sau đọc lại, tôi nhìn thấy sự nhẫn tâm của Scarlett khi nàng chiếm người chồng tương lai của cô em gái. Nhẫn tâm với rất nhiều người nhưng Scarlett yêu Ashley rất chân tình. Phải yêu lắm Scarlett mới vượt lên sự ghen tuông và nhường cả xưởng cưa để Ashley làm phương tiện sinh sống nuôi vợ con. Trong tôi, cái định nghĩa về tình yêu đã thay đổi. Không phải sự sôi nổi nồng nàn của Scarlett, mà cái quan hệ đầm ấm tương kính giữa vợ chồng Melanie-Ashley, là định nghĩa của tình yêu. Tôi vẫn tin Scarlett còn yêu Ashley vì vẫn chưa chinh phục được chàng.

Ban đầu khi đọc Anna Karenina tôi thích mối tình của Anna với Alexei Vronsky. Một tình yêu đầy đam mê, vượt luân lý, bất chấp dư luận, thiếu một người là mặt trời thôi mọc, chim thôi hót, mây ngừng bay, và những vì sao thôi lấp lánh. Tôi ghét Karenine, xấu trai và khô khan, vì ông đã nói dối với cậu bé con của hai người là mẹ cậu đã chết và ngăn cấm Anna không được gặp mặt con. Tôi ghét xã hội quí tộc Nga thời bấy giờ dung dưỡng tội lỗi của đàn ông nhưng khắc nghiệt với đàn bà. Nhìn lại tôi thấy Karenine là một người đáng thương. Khi biết vợ ngoại tình ông ta vẫn giữ thể diện cho vợ. Chỉ cần nàng trở về là ông bỏ qua tất cả. Cái đam mê cháy bỏng giữa Alexei và Anna không phải là tình yêu. Tình yêu được Tolstoy kín đáo diễn tả qua mối tình bền bỉ của Levine dành cho Kitty. Nếu ở Cuốn theo chiều gió tôi yêu nhân vật phụ Melanie hơn nhân vật chính Scarlett thì ở Anna Karenina tôi yêu nhân vật phụ Levine hơn nhân vật chính Vronsky. Đọc lại, Anna là một người phụ nữ đẹp nhưng xa hoa phù phiếm mè nheo. Giá mà Anna đừng xiêu lòng, thì chắc Vronsky sẽ còn yêu nàng lâu dài hơn. Vronsky cũng như Scarlett, sau khi chinh phục được đối tượng là xong một cuộc tình.

Anna Karenina

Quan sát vài tác phẩm, cổ điển cũng như hiện đại, của tác giả nam cũng như nữ, tôi thấy nhà văn rất thực tế khi viết về tình yêu. Dù họ có biến hóa gán ghép bao nhiêu chi tiết lãng mạn vào truyện, họ vẫn dàn xếp cho cốt truyện diễn tiến trên căn bản, chữ tình đi đôi với chữ tiền. Không có tiền thì không có tình yêu.

Lấy Kiêu hãnh và định kiến làm thí dụ. Nếu Mr. Darcy không có tiền để trả nợ cho gia đình của Elizabeth Bennet, chưa chắc cô gái thông minh và kiêu hãnh này đã tha thứ cho Darcy cái tội coi thường nhan sắc của nàng lúc ban đầu. Nếu Vronsky không là con nhà giàu thì cho dù có tán tỉnh đến đâu chưa chắc đã quyến rũ Anna ra khỏi tổ ấm của ông chồng khắc khổ Karenine. Độc giả hẳn vẫn còn nhớ là khi yêu Vronsky, Anna vẫn phải sống nhờ vào tiền của chồng, còn Vronsky tuy giàu có nhưng đó là nhờ sự chu cấp của bà mẹ. Nếu Anna không tự tử nàng sẽ làm gì để tự nuôi bản thân nàng cùng với hai đứa con, một với Karenine và một với Vronsky, khi một ngày nào đó Vronsky chán cái tính ghen bóng gió của nàng và nhan sắc của nàng không còn nữa? Nếu Heathcliff trong Đồi gió hú không bị gia đình Linton khinh rẻ vì nghèo và mất Catherine vào tay Edgar Linton thì chắc đã không biến tình yêu thành oán hận và làm cho cả hai gia đình Earnshaw và Linton tán gia bại sản. Còn chàng Gatsby vĩ đại, đây mới chính là một quyển tiểu thuyết mà giá trị của tiền là động cơ chủ yếu để đạt tình yêu. Daisy đã từ chối bỏ trốn với Gatsby để kết hôn với người chồng giàu có. Gatsby cố gắng đủ cách, kể cả bán rượu lậu, để trở thành một người giàu có với mục đích chiếm lại Daisy. Gatsby xem Daisy là biểu tượng của sự giàu sang mà chàng không thể vói tới trong quá khứ vì nghèo. Còn Tình yêu thời thổ tả thì khỏi nói, Florentino chỉ chinh phục được Fermina khi ông trở nên ông chủ của một công ty tàu du lịch giàu có. Scarlett đã chẳng lấy Rhett Butler làm chồng nếu anh ta không giàu có nhờ buôn lậu trong lúc chiến tranh.

Đọc văn học là để tìm hiểu chính mình. Đọc tình yêu trong văn học là để giải thích những chọn lựa của chính mình và dùng những đau khổ hay hạnh phúc của các nhân vật trong truyện để rút kinh nghiệm cho mình. Tôi đọc truyện tình để thấy sự thay đổi trong tôi quan niệm về tình yêu. Lúc còn trẻ tôi thấy tình yêu là sự thu hút của Romeo và Juliet, chui xuống gầm bàn run rẩy nắm tay nhau và trao đổi cái hôn. Về già tôi nhận ra Romeo lúc ấy đã mười tám còn Juliet chỉ mới mười ba, cái gọi là tình yêu đó có thể vi phạm pháp luật. Loài người đã tốn nhiều bút mực để định nghĩa tình yêu nhưng không thể đồng ý với nhau bởi vì mỗi người định nghĩa tình yêu mỗi khác. Nếu loài người không thể đồng ý với nhau về định nghĩa tình yêu, liệu người ta có thể đồng ý với nhau về định nghĩa của chung tình và ngoại tình? 

Romeo và Juliet

Gabriel Garcia Marquez đã nêu ra một lập luận về sự chung tình và ngoại tình khác với khái niệm chung tình mà tôi biết. Trong quyển Tình yêu thời thổ tả, Florentino và Fermina trao đổi thư tình khi còn bé. Lớn lên Fermina nhận ra Florentino nghèo và xấu trai, nàng nhận lời kết hôn với Urbino, một bác sĩ giàu có và là nhà chuyên môn chữa trị bệnh dịch tả. Khi Urbino chết rồi, và lúc Florentino cố gắng chinh phục lại, Fermina khám phá chồng bà đã ngoại tình với một người đàn bà khác. Florentino suốt cuộc đời dành trọn trái tim cho Fermina. Nỗi đau vì mất người tình làm ông đau đớn và tìm quên bằng cách quan hệ tình dục với 622 người đàn bà khác. Florentina quan hệ tình dục với 622 người đàn bà nhưng vẫn được Marquez xem là chung tình với Fermina. Trong khi Urbino chỉ ngoại tình với một người đàn bà thì bị xem là ngoại tình. Trớ trêu không?

Dag Hammarskjöld, một tác giả danh tiếng người Thụy Điển, bảo rằng “Có lẽ mối tình lớn nhất là mối tình không được đáp lại.” Nếu đồng ý với ông, tôi sẽ nói mối tình của Humbert dành cho Lolita là tình yêu lớn. Và mối tình của Hanna với Michael trong Người đọc cũng là tình yêu lớn vì cả hai, người này yêu người kia, nhưng không được đáp lại, cùng một lúc. Rồi có một bài hát nói ngược lại, rằng: “The greatest thing, you’ll ever learn. Is to love and be loved in return.” Nghĩa là bài học lớn nhất bạn sẽ học trong cuộc đời, là yêu và được yêu trở lại. Thật là chẳng ai có thể đồng ý với ai về tình yêu.

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà 


Bài viết cùng chủ đề




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng