Trà chiều

Vào Trong Hoang Dã – Dear My Aquarius…

Published

on

“Hơn hai mươi tuổi đời, gia đình giàu có, học vấn cao và một tương lại rộng mở phía trước, vậy mà Christopher McCandless (hay Alexander Supertramp như anh tự gọi mình) đã từ bỏ tất cả để dấn thân vào hành trình đơn độc xuyên qua hết thảy các vùng hoang dã của Bắc Mỹ. Dưới ngòi bút sống động của Jon Krakauer, Vào Trong Hoang Dã (Into the Wild), cuốn sách mô tả những trải nghiệm phi thường đó của Christopher McCandless, đã trở thành một cuốn tự truyện nổi tiếng, một tác phẩm khó quên về thiên nhiên và phiêu lưu, ngợi ca một cuộc sống tận hiến và cảm động.”

*

Vài dòng cho Chris, một Bảo Bình phóng khoáng, yêu tự do, nổi loạn, ghét xã hội giả dối với các nguyên tắc, đi vào miền hoang dã và đã chết trong cô độc ở tuổi 24…

“Ông sai rồi. Đừng nên chỉ tìm hạnh phúc trong các mối quan hệ với con người. Thượng Đế phân phát hạnh phúc ở khắp mọi nơi. Vì vậy, chúng ta phải khám phá nó.”

Lúc Chris nói như thế, tôi đã nghi nghi rồi. Là anh nói vậy nhưng thật sự không phải vậy, hay là đúng hơn, trong lòng anh mong một điều gì đó khác đi. Mặc dù câu nói nghe cũng có vẻ logic. Nó là sự diễn giải cho việc vì sao anh muốn sống với tự nhiên. Bởi vì như anh nói hạnh phúc không chỉ nằm ở các mối quan hệ với con người, nó nằm ở khắp mọi nơi nên anh muốn khám phá hạnh phúc khi sống với thiên nhiên là lẽ đương nhiên. Nhưng vẫn có một chút gì đó, buồn và cô độc trong câu nói ấy làm sao. Tôi thực tâm không tin rằng anh nghĩ như vậy. Tôi nghĩ rồi sẽ có lúc anh nghĩ lại và hối hận.

Cảm giác chán ghét con người, xã hội, mọi thứ, sợ hãi, chạy trốn… Tôi cũng đã có rất nhiều. Cũng đã từng muốn nổi loạn, muốn đi đâu đó thật xa. Nhưng tôi khác anh. Đó là vì tôi sợ con người chứ không phải ghét con người… Dù chỉ trong suy nghĩ, nhưng kiểu chạy trốn của tôi là một kiểu thụ động, nhút nhát. Còn cách anh chạy trốn, thật chủ động, thật dũng mãnh và đầy sự kiêu hãnh làm sao… Dù là kiêu hãnh trong đơn độc.

Anh biết không, tôi đã rất bất ngờ khi biết anh là một Bảo Bình đấy. Tôi đã quá mệt mỏi rồi. Tôi muốn dừng lại. Không muốn làm gì nữa. Nên hôm nay, tôi mới muốn chọn một hành động lười biếng nhất: đó là xem phim. Đã định xem You’re the apple of my eyes rồi, anh biết không. Tôi nghĩ một phim mang hơi hướng giải trí, nhẹ nhàng như thế sẽ hợp cho tôi lúc này. Vì tôi không muốn suy nghĩ gì nhiều cả. Tôi chỉ muốn một bộ phim tình cảm nhẹ nhàng, xoa dịu cảm xúc của tôi. Nhưng không hiểu sao, khi tôi bắt đầu định xem thì lại thấy đĩa phim Into the wild bày ngay trước mắt. Tôi đã biết sơ lược câu chuyện về anh từ lâu, cũng đã biết rằng phim này rất hay, được sự đánh giá cao của các nhà chuyên môn. Nhưng tôi vẫn chưa xem. Lúc đó, không biết có một động lực gì, nó thôi thúc tôi xem kinh khủng. Có lẽ chính là cái chết của anh… Dù chỉ nghe thoáng qua, nó khiến tôi suy nghĩ, tại sao một người lại có thể chán ghét xã hội đến như thế, để rồi chạy trốn ở một nơi xa vắng không một người nào và chết… Tôi biết trước nó sẽ làm tôi suy nghĩ nhiều và mệt mỏi. Nhưng thôi, bỗng dưng ngay phút đó, anh ám ảnh tâm trí tôi nhiều quá rồi, anh ạ. Và thế là, tôi xem luôn.

Nửa phần đầu của phim, dù buồn nhưng anh cười như điên, vẫn giao tiếp tốt, bắt bạn rất tốt với xã hội bên ngoài, rất thân thiện. Rõ ràng, anh không phải là một dạng vì quá nhút nhát, sợ hãi, không thể giao tiếp với ai mà muốn chạy trốn mọi thứ như tôi. Anh làm tôi tưởng anh là cung Nhân Mã. Và thú thật, nửa đầu phim, tôi chỉ nghĩ đơn thuần anh đi như thế, đơn thuần là vì anh muốn đi du lịch, muốn sống với thiên nhiên sau tháng ngày gò bó trong ngôi nhà giàu sang và việc học hành mệt mỏi. Tôi chỉ nghĩ anh đi vì sự yêu thích phiêu lưu, khám phá đơn thuần thôi… Vì lúc đó, tôi đâu biết… đâu biết anh lại mang trong mình một nỗi buồn về gia đình lớn đến như thế.

Để rồi… anh khiến cho tôi dần dần đi vào nỗi buồn của anh. Sự đồng cảm đó đến thật lặng lẽ, từ lúc nào mà tôi không hay. Như những giọt nước sau cơn mưa nhẹ rỏ tí tách nhưng vẫn còn có khả năng thấm ướt một vùng đất khô cứng nào đó. Anh mang trong mình quá nhiều nỗi buồn, cả sự nổi loạn, mâu thuẫn, yêu thơ văn và những suy nghĩ rất sâu sắc. Càng về sau, tôi càng thấy mình sai lầm khi lúc đầu đã đoán anh là Nhân Mã. Rõ ràng, một con người như thế không phải là Nhân Mã. Nhưng tôi vẫn không dám nghĩ anh là Bảo Bình. Lúc đó, tôi đoán có lẽ anh là Song Tử. Một Song Tử cũng yêu tự do, phóng khoáng, nổi loạn và chứa hai mặt mâu thuẫn trong con người. Phim kết thúc, tôi vội lên mạng dò ngày sinh và phát hiện ra… anh là cung Bảo Bình. Trời ơi… lại một Bảo Bình nữa đến với tôi sao… Thật kinh khủng. Tôi chạy đi đâu cũng không thể thoát được Bảo Bình. Tôi không nghĩ đó là sự ám ảnh. Bởi vì tôi yêu Bảo Bình. Tôi vẫn muốn nghĩ đó là một thứ tình yêu nào đó vô hình dẫn dắt tôi, một mối dây liên kết vô tình nào đó, để hôm nay tôi không xem You’re the Apple of My Eyes mà xem Into the Wild và biết thêm về anh – một Bảo Bình.

Và anh biết không, tôi cũng ngỡ ngàng khi xem đoạn anh tự độc thoại với quả táo. Và anh cũng nói với quả táo câu: “You’re the apple of my eyes”. Có lẽ nào tên bộ phim đó là lấy từ câu nói của anh chăng?

Từng chi tiết về anh đều khiến tôi bị cuốn hút. Tôi ước mình cũng có thể như anh. Có thể vứt bỏ hết tất cả và đi như thế, đem theo một mớ sách để đọc.

Rồi anh chết…

Trước khi chết, anh đã định nghĩa lại về hạnh phúc trong nước mắt:

“Happiness is only real when shared”

Vâng, anh ạ.

Tôi nhiều lần muốn chạy trốn con người. Tôi sợ con người. Chán ghét tất cả mọi thứ. Nhưng rồi những lần chạy trốn đó, dù chỉ là trong tâm thức, chỉ đơn thuần là tắt Fb cả tháng, tắt điện thoại, không đi ra ngoài, không gặp gỡ ai… Tôi đã từng tự cách li mình nhiều lần như thế trong khoảng một tháng. Tôi không làm được 2 năm như anh… Nhưng mỗi lần chạy trốn đó, cũng khiến tôi nhận ra điều ấy… Mỗi lần chạy trốn con người vì sợ hãi rồi quay trở lại xã hội loài người, tôi lại thấy yêu mến họ hơn trước cả khi chạy trốn… Anh hiểu mà phải không…

Anh giống một Bảo Bình đúng nghĩa. Lúc nào cũng cười và che giấu những đau khổ của bản thân. Dù nhiều chuyện đã xảy ra với anh, không khi nào anh than thở. Anh khó hiểu. Anh yêu người em gái của mình và anh nói rằng có lẽ chỉ duy nhất em ấy là hiểu những gì anh nói. Tôi không biết ở ngoài đời thực anh như thế nào. Nhưng có lẽ anh cũng ít khóc. Tôi nhìn những tấm hình của anh và một lần nữa lại thấy nụ cười đúng chất Bảo Bình. Gần như hình nào anh cũng cười đến híp cả mắt, toét miệng cả ra trông như rất hạnh phúc. Nhưng thật ra, trong anh vẫn rất cô đơn phải không… Anh chỉ dùng nụ cười đó để che giấu thôi. Và trong phim thì tôi chỉ thấy anh khóc duy nhất đúng một lần. Là khi anh viết câu ấy: “Hạnh phúc chỉ có thực khi được chia sẻ”. Nhưng trong chiếc magic bus màu xanh lá cây có đánh số 142 đó, đâu một ai chia sẻ với anh cơn đói khát, chiếc quần jeans mỗi ngày một rộng vì anh quá ốm, sợi dây nịt mỗi ngày lại thêm nhiều lỗ đục mà anh khắc để giữ cho chiếc quần dính chặt vào đôi chân mình, sự bất lực khi xác con bò mà anh giết không đủ lửa nóng để thịt bò chín… những con giòi bu lúc nhúc trong đó, không thể ăn, đơn giản là không thể ăn…rồi cái quang cảnh ấy, đẹp đẽ nhưng quá đỗi hoang vu lạnh lẽo. Cô độc lắm phải không anh? Khi anh cố gắng đọc những quyển sách bên đống lửa nhỏ ít ỏi trong đêm tối lạnh. Khi không thể băng qua được dòng sông đó và cơn mưa ập tớii, buổi tối ấy, cuối cùng, lần đầu tiên anh đã thừa nhận sự cô độc của mình, anh ghi vào cuốn sổ của mình “Dòng sông không thể băng qua. Trời mưa đêm. Cô đơn”…Lonely, lonely, lonely… Hình như lúc đó, từ ấy mới xuất hiện lần đầu tiên. Dù rằng suốt cả bộ phim là sự cô độc của anh nhưng mãi đến cuối phim, anh mới chịu thừa nhận điều đó một cách cụ thể như thế… Lúc đó, tôi chỉ muốn ở bên cạnh anh để chia sẻ sự cô đơn đó, muốn ôm anh thật chặt, không phải như một người tình, chỉ đơn thuần là tìm hơi ấm để chia sẻ tình người với nhau thôi. Một cái ôm để biết rằng cả hai vẫn đang tồn tại trong cuộc sống mà anh biết đó, giáo dục, luật pháp, chính trị, xã hội, tin tức, giải trí… mỗi ngày như đang dần biến chúng ta thành những người vô hình. Đôi lúc, tôi không cảm nhận được sự tồn tại của mình.

Và lần cuối cùng ấy, khi nhìn ánh mặt trời đó, anh khóc, nhưng anh vẫn cười. Anh cười khi nhìn bầu trời và một giọt nước mắt khẽ rơi từ khóe mắt đó. Nhưng nụ cười vẫn đọng lại mãi trên môi anh, bên khung cửa sổ xe bus đó.

Tôi thích anh. Thích sự điên rồ của anh, thích nụ cười anh trong những bức hình, thích nỗi buồn của anh, thích sự cô độc và mãnh mẽ, lí trí của anh, thích từng thứ mà anh suy nghĩ…

Nhưng anh à…

Tôi biết tôi chỉ đang tự dối lòng mình. Tôi chỉ yêu mỗi Bảo Bình đáng yêu của tôi thôi. Tình yêu đó, đã khiến tôi đau đớn và… hạnh phúc. Tôi chỉ đang chạy trốn trong một danh từ chung, một thế giới rộng lớn hơn mang tên là: Bảo Bình. Nhiều lúc, tôi khóc vì nhớ… tôi tự nhủ thầm trong đầu là không phải vì tôi còn yêu người ấy nhiều, chỉ đơn thuần là tôi đang yêu chung chung cung Bảo Bình. Nhưng ngay trong ngày hôm nay, khi được quen biết anh, dù thích anh nhiều như thế, tôi vẫn nhận ra một điều rõ ràng rằng tôi yêu người ấy vì người ấy là người ấy. Không phải vì người ấy là Bảo Bình. Và tôi vẫn còn yêu người ấy nhiều lắm.

Dù vậy, Bảo Bình đã dạy cho tôi nhiều thứ, rất nhiều… Tất cả những Bảo Bình đã đến trong cuộc đời tôi đều cho tôi những bài học quí báu… và đến giờ, tôi vẫn không thể quên được họ, không bao giờ tôi có thể quên họ.

Cũng có lẽ, tôi đã yêu Bảo Bình thật. Một Bảo Bình trừu tượng, tổng hợp lại từ rất nhiều Bảo Bình. Một Bảo Bình trong định nghĩa.

Dù thế nào thì tôi vẫn thích anh, rất rất thích anh. Cảm ơn anh vì ngày hôm nay. Lâu lắm rồi mới có người cho tôi nhiều cảm xúc, có một bộ phim khiến tôi xúc động như vậy. Từ nhỏ tôi vẫn luôn nghĩ, tình yêu là không khoảng cách cả về thời gian lẫn không gian. Vì vậy, tôi đã luôn tỉnh bơ như không mà trò chuyện với những người tôi biết họ sẽ chẳng bao giờ biết đến sự tồn tại của mình. Từ nhỏ, tôi đã luôn yêu những người chết trước mình lâu lắm rồi…

Và tôi sẽ cố gắng sống tốt hơn, mạnh mẽ hơn. Cái mạnh mẽ như anh nói: “It’s not necessary to be strong. But, to feel strong”

“Can you see the sky that I’m seeing?”
Love my lovely Aquarian
Love Aquarius”

Hết.

Một Cự Giải

Ảnh đầu bài: Zing

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng