Trà chiều

Taylor Swift: Nàng nhạc sĩ yêu văn chương

Với Taylor Swift, âm nhạc không chỉ là giai điệu cảm xúc, là nhật kí cá nhân, là người bạn tâm giao để trút bầu những muộn phiền trong cuộc sống…; trên tất cả, âm nhạc với người con gái ấy dường như là một câu chuyện được kể ra bằng sự say đắm ngôn ngữ không khác gì phương thức của văn chương.

Published

on

Nhiều bản nhạc Taylor viết ra không đơn thuần chỉ là các phiến đoạn cảm xúc ngắn mà những tác phẩm ấy dường như có cấu trúc hoàn chỉnh như một truyện ngắn hẳn hoi: All Too Well, White Horse, You Belong With Me, Back to December… Và chính Taylor cũng tiết lộ sách là nguồn cảm hứng lớn cho trí tưởng tượng của cô bên cạnh âm nhạc. Dưới đây là những chia sẻ của Taylor Swift về việc đọc sách với độc giả nhà xuất bản Scholastic trong chương trình giao lưu trực tuyến “Read Every Day”.

Chuyển từ Philadelphia đến Nashvile, việc đó đã ảnh hưởng đến bạn như thế nào trên phương diện là một người viết nhạc?

Taylor Swift (TS): Tôi bị ám ảnh với thơ ca từ khi còn rất sớm bởi những cuốn sách mà tôi yêu thích từ lúc ấy là sách của Dr. Seuss, Shel Silverstein và tất cả những sách có câu chuyện kết nối với nhau qua nhịp điệu. Đó luôn là loại sách tôi thích đọc vì chúng có âm điệu như một bản nhạc. Giống như khi bạn đọc một dòng thơ mà nhịp thơ dừng ngay tại điểm kết thúc những câu thơ, giọng thơ khi đó sẽ vang lên giống như lời bài hát vậy. Tiết học tiếng Anh đã luôn luôn là tiết học tôi thích nhất vì tôi được đọc, được viết và hơn cả là vì có thơ.

Những giáo viên có nhận ra khả năng sáng tạo của bạn sớm không?

TS: Có một giáo viên đã nói với mẹ tôi – tôi nghĩ đó là khi tôi học lớp một: “Tôi bảo các em trong lớp viết một bài tiểu luận, và em ấy viết đầy cả bốn trang giấy. Vì thế, tôi muốn cô biết rằng đó có thể là lĩnh vực con bé yêu thích. Bé viết không ngừng.” Tôi lúc nào cũng yêu thích việc kể ra một câu chuyện hay với những nhân vật thú vị, đó là lí do tại sao rất nhiều bài hát của tôi là những câu chuyện.

Bản nhạc đầu tiên mà bạn viết là gì?

TS: Bản nhạc đầu tiên mà tôi thực sự hoàn thành không phải là một bản nhạc ngẫu hứng, bản nhạc tám phút được viết năm tôi 12 tuổi có tên gọi là Lucky You kể về một cô gái khác biệt. Cô ấy tin vào chính mình. Tôi không biết làm sao mà bản nhạc này bị rò rỉ trên mạng nữa nhưng đó thật là một trải nghiệm kinh khủng khi mọi người đưa nó lên vì giọng tôi nghe giống như “Tôi hát như một con sóc. Tôi mới 12 khi đó.” Nhưng bạn có dịp nhìn lại những trải nghiệm đầu tiên của mình với việc viết và từng trải nghiệm ấy đã giúp bạn dần trở thành con người hiện tại. Vì thế, tôi không nghĩ rằng bạn có thể coi thường bất cứ sự sáng tạo nào bạn làm ra khi còn rất trẻ.

Có phải sách là nguồn cảm hứng lớn cho âm nhạc và cuộc sống của bạn?

TS: Sách đã luôn là nguồn cảm hứng lớn cho trí tưởng tượng của tôi. Tôi đã từng là fan trung thành của thể loại truyện cổ tích dành cho người lớn, bạn có thể thấy nhiều chi tiết trong bài hát của tôi giống như Romeo and Juliet và The Scarlet Letter, đó đều là từ vốn kiến thức đọc của tôi. Đó là những câu chuyện đã cùng tôi lớn lên. Vì vậy, bạn biết đấy, điều này hoàn toàn nhờ vào việc đọc.

Cô Fisher, một giáo viên ở Michigan muốn biết: “Việc đọc sách đã ảnh hưởng đến những lựa chọn trong cuộc sống của bạn, đặc biệt là trong sự nghiệp như thế nào?”

TS: Rất nhiều cuốn sách tôi thích đọc khi còn nhỏ là loại sách dạy bạn một bài học nào đó – kiểu vui nhộn như Amelia Bedelia, hoặc là The Giving Tree dạy ta phải biết tử tế với người khác. Những câu chuyện đó thực sự đính kèm một chuẩn mực đạo đức xứng đáng để là cuốn sách đầu tiên mà các bậc phụ huynh hay giáo viên của chúng ta giới thiệu cho con trẻ. Nếu đó là những câu chuyện đầu tiên bạn được đọc, nó sẽ có ảnh hưởng thực sự đến tính cách của bạn. Đối xử tốt với người khác là tinh thần chủ đạo mà tôi thực sự yêu thích ở những cuốn sách này.

Danny: Tuổi thơ của bạn như thế nào?

TS: Tôi lớn lên ở một trang trại trồng cây Giáng sinh. Chúng tôi chăm sóc cây Giáng sinh để những người khác có thể mua về và đặt trong nhà họ. Và có rất nhiều loài động vật khác nhau chạy vòng quanh chúng tôi, tôi nhớ rằng có rất nhiều không gian để chạy nhảy, để đuổi bắt những câu chuyện hoang dã, tôi cảm thấy đó đã là khoảng thời gian tôi thực sự có thể cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Nhưng, bạn biết đó, tôi không nghĩ rằng bạn nhất thiết phải có một không gian rộng mở để tưởng tượng. Bạn có thể thấy được những thứ đẹp đẽ, huyễn tưởng, những thứ không có thực và những thứ kì ảo tại bất cứ nơi nào bạn lớn lên nếu bạn chịu khó suy nghĩ và nắm bắt tâm trí mình. Nhưng tôi đã có một tuổi thơ vui vẻ. Nó giống như một tia chớp thoáng qua vậy, nên tôi muốn cảm ơn bạn vì đã đặt câu hỏi này. Thực sự là một câu hỏi hay.

Câu hỏi tiếp theo đến từ tập thể lớp ba của cô Zeidler. Các em muốn biết: “Quyển sách chị yêu thích nhất mà bố mẹ đã đọc cho chị là gì?”

TS: Bắt đầu từ khi chị còn rất nhỏ. Quyển đầu tiên là Big Bird on the Farm, sau đó là Winnie the Pooh và chị thích tất cả những tập thơ kinh điển dành cho trẻ em, những quyển sách dạng như thế rồi cả truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích.

Thật vui khi có thể thoát ra nơi mà các em đang sống rồi nhảy vào cuộc đời của một nhân vật khác. Em biết đấy, khi em đọc một cuốn sách, nếu em thực sự có thể hòa mình vào một nhân vật nào đó, em sẽ cảm thấy mình có thể vượt thoát và đến một nơi nào đó. Cũng phần nào giống như sự hồi hộp mà mọi người có được khi đến rạp và xem câu chuyện diễn ra trên màn ảnh vậy. Nhưng chẳng có gì thực sự giống như việc đọc cả. Em chỉ cần tìm một nơi thật yên tĩnh và cứ thế mà đi đến thế giới khác.

Câu hỏi tiếp theo đến từ tập thể lớp bốn của cô Chris Tweedie ở Singapore. Các em muốn biết: “Chị chọn những cuốn sách chị muốn đọc bằng cách nào?”

TS: Chị chọn những cuốn sách chị muốn đọc khi nghe nhiều điều cực kì hấp dẫn về chúng, hoặc nếu như những cuốn sách đó có liên quan đến lịch sử thì chị cũng rất quan tâm. Hồi chị còn nhỏ, người ta có xuất bản những cuốn nhật kí của một người lính tham gia nội chiến hoặc của con gái người lính trong cuộc Cách mạng Mỹ. Họ đã từng xuất bản tất cả những loại sách như thế về lịch sử, và chị thực sự đắm mình vào những câu chuyện đó vì lúc nào chị cũng yêu thích ý tưởng quay ngược trở về thời gian và biết được mọi thứ như thế nào cách đây hàng trăm năm.

Alexandra: Những việc chị đã phải làm khi ở tuổi của chúng em để bây giờ trở thành một nghệ sĩ thành công?

TS: Ừm, giai đoạn trung học sẽ có đôi lúc khó khăn. Bước vào trung học và nhận ra rằng tất cả mọi người ít nhiều đều có khoảng thời gian tồi tệ trong giai đoạn này, thật khó để thích ứng và em sẽ phải luôn cố hình dung ra ai là người mình muốn kết bạn và có thể là bạn, mình phải cư xử như thế nào… Thời trung học cũng là một trong những khoảng thời gian khó khăn nhất với chị để thích ứng. Vì vậy, nếu như em gặp phải bất kì khó khăn nào, cứ nghĩ rằng rất nhiều người cũng như thế. Em có thể cảm thấy rất cô đơn khi không biết ai là bạn của mình và khi em không biết phải nói chuyện với ai hoặc ngồi kế ai trong giờ ăn trưa. Không ai hiểu được cảm giác đó dữ dội và kinh khủng như thế nào, những quyết định kiểu như sẽ ngồi ăn với ai trong bữa trưa. Đó thực sự là những giây phút căng thẳng với chị khi nhìn lại khoảng thời gian trung học. Nếu em tập trung học thật nhiều hết mức có thể vào những thứ em yêu thích, đó sẽ là lối thoát cho những ngày tồi tệ ấy. Chị cũng có những ngày rất khó khăn ở trường học và chị chờ từng ngày dài qua đi để về nhà đàn guitar, viết lời bài hát trong sổ tay riêng. Với chị, việc đó khiến chị cảm thấy ổn. Vậy nên, em có thể tìm việc gì đó giúp em bộc lộ bản thân mình, thời trung học sẽ không quá khó khăn nếu em có một điều nào đó để trông đợi sau khi giờ học kết thúc. Một câu hỏi tuyệt vời. Ừm, đúng là sẽ rất khó khăn, các em à. Cố lên nhé.

Marnie: Bạn đã từng viết một cuốn tiểu thuyết và cũng thắng một cuộc thi thơ. Bạn có thể kể chi tiết hơn cho chúng tôi biết về việc đó không?

TS: Tôi đã từng thắng giải một cuộc thi thơ với bài thơ có tên là Monster in My Closet. (tạm dịch: Con quỉ trong phòng tôi) Đó là khi tôi học lớp bốn, tôi đã viết bài thơ rất dài, dài, dài này đại loại là: “Có một con quỉ trong phòng của tôi và tôi không biết phải làm gì. Bạn có bao giờ thấy nó chưa? Nó có bao giờ tấn công bạn?” Bài thơ có 12 khổ. Tôi đã gửi đến cuộc thi thơ quốc gia và khi thắng giải, người ta gửi tặng tôi quyển sách qua đường bưu điện, thế là tôi được đọc hết tất cả các bài thơ của những đứa trẻ khác. Vui lắm. Một vài năm sau đó khi tôi khoảng chừng 12 hay 13, gia đình tôi nghỉ hè tại bãi biển. Tôi nhớ những người bạn ở nhà rất nhiều nên đã dành cả ngày nhốt mình trong phòng, đối diện với máy tính chỉ để viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi cho tất cả bạn bè trong trường trở thành nhân vật trong tiểu thuyết đó để đỡ nhớ họ, và tôi gửi cho họ đọc những chương trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết đó kết thúc với độ dài khoảng 400 trang. Viết dù ở dạng thức nào cũng là lối thoát cho tôi, không chỉ là viết nhạc. Nếu như bạn có thể theo đuổi một câu chuyện và bạn có cách để kể nó theo ý muốn, đôi lúc cả thế giới của bạn dường như bừng sáng rực rỡ chỉ với việc bạn có thể lôi câu chuyện ấy ra và viết nó xuống giấy. Cảm ơn bạn vì câu hỏi này.

Câu hỏi tiếp theo đến từ một học sinh lớp 7 ở California: “Taylor, chị thường đọc sách như thế nào? Giáo viên của em nói rằng chúng ta nên đọc sách mỗi ngày.”

TS: Chị cũng nghĩ thật là tốt khi có thể đọc mỗi ngày. Chắc chắn rồi. Hoàn toàn là như thế. Cô giáo của em đã đúng về việc này. Chị đang cố gắng đọc càng nhiều càng tốt và đọc những thứ khác nhau. Chị cố gắng đọc báo, những bài báo chứa thông tin hữu ích mỗi ngày. Chị cố gắng cập nhật tình hình về quyền con người, những gì đang diễn ra trên thế giới và chính trị, những vấn đề trong thế giới của chúng ta, bởi vì, em biết đó, những việc ấy rất quan trọng. Chị nghĩ ở độ tuổi 22 của mình hiện tại, việc hiểu những gì đang diễn ra trên thế giới thực sự tối cần thiết. Nhưng khi còn đang học ở trường, chị nghĩ đây là giai đoạn em nên mở rộng trí tưởng tượng của mình, và nếu em muốn thoát khỏi nơi này, đến một thế giới khác hoặc đọc một cuốn sách như sách lịch sử, sách khoa học viễn tưởng về người ngoài hành tinh, nếu thích em hãy cứ đọc. Em biết đấy, bất cứ lĩnh vực nào em quan tâm, chị nghĩ đọc mỗi ngày là điều quan trọng, nhưng điều đó không có nghĩa là em không được đọc những gì em thích. Em biết không, điều tuyệt vời là có rất nhiều loại sách khác nhau mà em có thể đọc. Chị thích đọc những cuốn sách như The Hunger Games (dành cho lứa tuổi từ 12 trở lên) và Harry Potter. Các em thật đặc biệt.

Kel: Bạn có nhớ quyển sách đầu tiên mà bạn đọc say mê đến mức không thể dứt ra, và rồi khi đọc xong, quyển sách ấy có làm bạn phải thốt lên: “Ôi, thật tuyệt vời!” không?

TS: Ồ, thật là một câu hỏi rất rất thú vị. Ôi trời ơi. Tôi nghĩ ra được vài quyển sách như thế. Đó là quyển Stargirl của Jerry Spinelli. Và quyển To Kill a Mockingbird của Harper Lee đã thực sự thay đổi cách tôi nhìn cuộc sống. Sau khi đọc hết The Hunger Games, tôi cũng rất buồn vì sê-ri này đã kết thúc. Tôi đã từng muốn đọc đi, đọc lại những quyển sách ấy. Và, có rất nhiều quyển sách mang tính gây nghiện như thế, cũng có nhiều nhà văn rất giỏi trong việc đặt câu kết thúc ở cuối mỗi chương khiến bạn cứ muốn đọc chương kế tiếp. Việc đó làm tôi thực sự ngưỡng mộ các nhà văn.

Lớp học của cô Lasko ở New Jersey muốn biết: “Bạn chỉ viết về những kỉ niệm của bạn thôi, hay bạn có sáng tạo những ý tưởng, câu chuyện từ trí tưởng tượng của mình không?”

TS: Tôi lấy cảm hứng từ nhiều nguồn khác nhau. Đôi lúc, bạn biết đấy, từ chuyện một người bạn của tôi đang cãi nhau với bạn trai và tôi viết về những gì họ đã trải qua. Hoặc tôi xem được một cảnh hay tuyệt vời trong một bộ phim rồi tôi nghĩ: “Nếu như mình có thể viết được nhạc cho khoảnh khắc đó, giai điệu ấy sẽ vang lên thế nào nhỉ?” thế là tôi có ý tưởng cho bài hát mới. Và rồi cũng có nhiều trường hợp tôi viết các bản nhạc về những vấn đề trong mối quan hệ của chính mình.

Cody: Quá trình viết nhạc của bạn như thế nào? Bạn mất bao lâu để viết xong một bài hát, và bạn bắt đầu bằng cái nào trước, giai điệu hay lời? Rồi khi bạn kết hợp cả hai, bạn có bao giờ sửa đổi chúng?

TS: Quá trình viết nhạc của tôi mỗi lần mỗi khác nhau. Đó là lí do vì sao tôi rất vui khi viết nhạc bởi vì bạn luôn luôn không thể dự đoán trước bất cứ điều gì. Bạn không bao giờ biết cái nào sẽ đến trước. Và rất khó để giải thích bạn đã lấy những ý tưởng đó từ đâu. Bạn biết đấy, đôi lúc bạn có một ý tưởng tuyệt vời và bạn nói với mọi người, “Tôi không biết ý tưởng này đến từ đâu.” Đại loại thế, giống như có một đám mây nhỏ lơ lửng trước mặt bạn và có một ý tưởng ghi trên đó. Tôi thích nghĩ những ý tưởng này giống như mảnh ghép đầu tiên của trò chơi ghép hình vậy. Có thể tôi sẽ lấy được một mảnh ghép và tôi không biết nó sẽ trở thành câu đầu tiên của bài hát hay câu cuối cùng của bài hát hay một phần của đoạn điệp khúc hay có khi chỉ là một phần của đoạn hát đệm. Công việc sau đó của tôi là phải định hình được những mảnh ghép còn lại của trò chơi này, phải đặt chúng ở đâu và phải tạo ra bài hát hoàn chỉnh như thế nào từ ý tưởng nhỏ này. Tôi thường viết nhạc vào lúc bốn giờ sáng, hoặc lúc đi dạo trong sân bay, tôi có ý tưởng và cứ thế mà viết lời bài hát lên một cuộn khăn giấy. Chẳng ai biết trước được khi nào tôi bắt đầu viết một bài hát, bạn bè tôi cũng đã quá quen thuộc với cách tôi tóm lấy một ý tưởng nào đó. Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi khi có ý tưởng cho một bài hát mới là tôi sợ mình sẽ quên nó đi mất, vì thế tôi thường hay thu âm lại giọng của mình trong điện thoại. Bạn bè tôi cũng quen với việc khi chúng tôi đang ngồi trong xe, họ đang nói không ngừng, không ngừng về ngày hôm qua của mình, rồi họ quay ra đằng sau và thấy tôi đang thu âm trong điện thoại của tôi, tôi lấy tay che miệng và hát nhỏ, rồi họ sẽ nói như thế này, “Cậu lại viết nhạc nữa rồi. Cậu nên cho tớ biết khi nào cậu sắp viết và tớ sẽ ngưng nói chuyện. Ổn mà.”

Cô từng nói rằng mình là fan của The Hunger Games (dành cho lứa tuổi từ 12 trở lên) và cô đã viết một số bản nhạc cho phim chuyển thể từ tác phẩm này. Vậy chúng tôi muốn biết cô làm thế nào để lời nhạc khớp với không khí của quyển sách và tâm trạng của nhân vật?

TS: Tôi đã viết hai bản nhạc cho The Hunger Games, một bài có tên là Eyes Open, một bài có tên là Safe and Sound. Tôi viết Safe and Sound chung với The Civil Wars. Khi chúng tôi ngồi lại với nhau để viết, chúng tôi đã bàn luận về việc làm sao để viết một bài hát diễn tả mối quan hệ giữa Katniss và Rue, chúng tôi cũng muốn bài hát này tượng trưng cho mối quan hệ giữa Katniss và Prim nữa. Vì vậy, bài hát phần nào giống như lời hát ru, phần nào giống như lời động viên: “Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Em cứ nhắm mắt lại. Rồi sẽ ổn thôi. Chúng ta sẽ an toàn.” Mọi thứ diễn ra trong thế giới của The Hunger Gamesrất tàn khốc và tràn ngập bóng tối. Vậy nên chúng tôi muốn viết một bài hát đem lại niềm tin rằng vẫn còn khả năng ngày nào đó mọi thứ sẽ bình yên và họ có thể vươn mình đứng dậy từ trong bóng tối ấy. Thật thú vị khi viết dưới góc nhìn của một người khác, sống trong một thế giới rất khác với thế giới bạn đang sống, việc đó đã dạy tôi nhiều bài học quí giá.

Evelyn: Đến bây giờ, tổng cộng bạn đã đọc được bao nhiêu cuốn sách?

TS: (Cười) Ừm, 4522 quyển. Ôi không, tôi không biết nữa. Bạn biết đấy, dù bạn đọc bất cứ loại sách gì, bạn cũng sẽ nhận được một lượng kiến thức và nó sẽ ảnh hưởng đến bạn dù bạn có nhận ra hay không. Điều quan trọng là bạn đọc nhiều thể loại sách ở mức bạn có thể – những quyển sách cực kì ngắn mà khi bạn vừa đọc thì đã đến ngay kết thúc rồi, và những quyển sách dài kinh khủng khiến đôi lúc bạn cảm thấy thật khó khăn để đọc hết, rồi sách hư cấu, sách về những câu chuyện có thật. Nếu như bạn cứ tiếp tục đọc những loại sách khác nhau, bạn sẽ hình dung ra được thể loại mình yêu thích nhất là gì, khi đó bạn sẽ học được rất nhiều. Thật là một câu hỏi thú vị. Có lẽ tôi cần phải suy nghĩ kĩ lưỡng về việc này một khoảng thời gian dài và chắc là tôi sẽ không bao giờ tìm ra được câu trả lời thực sự. (Cười) Câu hỏi khó nhất của ngày hôm nay. Tôi tự hào về bạn.

Samantha: Cuộc sống của bạn đã thay đổi thế nào những năm gần đây, và bạn cảm nhận bản thân mình như thế nào?

TS: Samantha, bạn dễ thương quá, tôi thích bạn. Cuộc sống của tôi đã thay đổi rất nhiều sáu năm gần đây vì tôi phát hành album đầu tiên vào năm 16 tuổi, và một khi nhiều người biết đến âm nhạc của tôi, bạn cũng đoán được rồi đó, cuộc sống của bạn khi ấy sẽ thay đổi nhiều. Giống như là việc mỗi ngày bạn rời khỏi nhà, bạn biết rằng bạn sắp trò chuyện với rất nhiều người lạ. Bạn biết không? Khi bạn trưởng thành, bố mẹ thường dặn bạn điều gì?  Đừng nói chuyện với người lạ. Tôi cảm thấy phần nào phải thay đổi suy nghĩ đó bởi vì mỗi lần tôi rời khỏi nhà, tôi lại gặp được những người dễ thương, họ đến gần tôi và nói, “Tôi đã mua album này,” hoặc “Tôi thích bài hát này,” và “Chụp một tấm hình với tôi chứ?” Đó là một cách khác để sống cuộc đời của bạn vì bạn phải dự đoán trước những việc bất ngờ xảy ra. Đến cửa hàng tạp hóa có thể mất nhiều thời gian hơn, nhưng không phải chỉ vì việc đó mất nhiều thời gian hơn và bạn phải trò chuyện thêm với một vài người mà có nghĩa là bạn không thể sống một cuộc sống bình thường theo cách bình thường. Việc nổi tiếng thật phiền phức nhưng cũng rất vui. Tôi cảm giác mình vẫn sẽ là một người giống như bây giờ nếu tôi không nổi tiếng. Cuộc sống của tôi đã khác trước rất nhiều. Tôi có một cuộc sống rất, rất không bình thường nhưng tôi cảm giác việc gần gũi với gia đình giúp tôi vẫn là bản thân mình giống như thể bây giờ tôi đang học ở một trường đại học nào đó hoặc đang cố gắng tìm việc, bất cứ việc gì mà không phải là âm nhạc. Tôi nghĩ điều quan trọng là bạn nhận được sự ảnh hưởng tốt trong cuộc đời mình, cho dù ảnh hưởng đó là từ giáo viên, bố mẹ, bạn bè, chỉ cần là những người có phẩm chất tốt và thực sự ảnh hưởng đến bạn theo hướng tích cực, tôi nghĩ bạn nên gần gũi với những người ấy. Cảm ơn bạn rất nhiều vì câu hỏi này.

Clarissa: Khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong cuộc đời bạn là gì?

TS: Tôi sẽ kể bạn nghe câu chuyện về bài hát tôi đã viết có tên là Mean. Đó là bài hát tôi viết về một nhà phê bình. Khi bạn ra một album hoặc khi bạn trình diễn một tiết mục trên TV, tất cả những nhà phê bình đều viết những gì họ nghĩ. Đôi lúc họ rất tế nhị, nhưng đôi lúc thì không. Và tay phê bình này đã viết về tôi, hắn dùng những lời tồi tệ nhất, tàn nhẫn nhất. Đó chẳng phải là lời phê bình có tính xây dựng. Bạn cũng biết đấy, khi giáo viên dạy bạn nói rằng, “Em có thể làm cái này tốt hơn. Em có thể làm cái kia tốt hơn.” Không chỉ đơn giản là như thế. Điều đó có nghĩa là gã ấy hoàn toàn ghét tôi. Thế là tôi viết bài hát Mean để bày tỏ rằng điều đó đã làm tôi cảm thấy bất lực như thế nào, tôi cảm thấy như thể mình chẳng làm được gì hoặc nói gì để gã đừng chỉ trích tôi nữa. Khi bài hát ấy được phổ biến, nó đã trở thành một bản nhạc chống nạn bắt nạt, và có nhiều người hâm mộ gặp tôi nói rằng, “Bài hát này thực sự đã giúp em đứng vững trước nhóm bạn bắt nạt em ở trường.” Điều đó thực sự làm tôi xúc động. Tôi vô cùng tự hào khi bài hát đã trở thành nguồn động viên như thế khi nó chào đời thế giới này. Chúng tôi cuối cùng đã thắng hai giải Grammy cho Mean. Vậy nên tôi nghĩ đó là khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong toàn bộ cuộc đời mình. Cảm ơn bạn vì câu hỏi này. Bạn rất dễ thương. Và thân thiện nữa.

Hết.

Buổi giao lưu trực tuyến này được thực hiện vào tháng 10.2012. 

Chú thích thêm:

Romeo and Juliet: đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Romeo và Juliet
The Scarlet Letter:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Chữ A màu đỏ
The Giving Tree:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Cây táo yêu thương
The Hunger Games:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Đấu trường sinh tử
Harry Potter:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Harry Potter
To Kill a Mockingbird:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Giết con chim nhại

Kodaki
Dịch từ blog của NXB Scholastic


Bài viết có liên quan

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ Sách đến Phim

What Happened to Monday: Sự chật chội của một danh tính

Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức?

Published

on

By

What Happened to Monday là một phim mà tôi chắc rằng khi đọc qua logline, bất kì nhà sản xuất hay khán giả đại chúng nào cũng thấy ngay sự mới mẻ, hấp dẫn của nó. Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức? Thế thì, một gia đình có bảy chị em sẽ xoay sở ra sao để cùng nhau tồn tại? Hoặc ngắn gọn hơn nữa, ngay từ câu tagline của bộ phim cũng đã gợi nhiều suy ngẫm kích thích người xem: “Bảy chị em, một danh tính.”

Cái hay trong ý tưởng kịch bản phim nằm ở việc nó đồng thời vừa mới mẻ lại vừa gần gũi. Tình trạng dân số thế giới ngày càng gia tăng là vấn nạn có thật và ở những nước đông dân, người ta cũng đã quá quen với những khuyến nghị về việc hạn chế số lượng con trong mỗi hộ gia đình. What Happened to Monday chỉ đẩy chuyện này lên mức cực đoan để Max Botkin – tác giả kịch bản gốc trình bày những quan điểm của mình về con người và xã hội. Ý tưởng kịch bản phim phần nào đó có nét giống với truyện ngắn 2BR02B của Kurt Vonnegut. Cả hai đều đặt câu chuyện trong bối cảnh một xã hội kiểm soát dân số bằng những biện pháp ngặt nghèo, chỉ khác ở cách thức kiểm soát. Cách thức kiểm soát dân số trong What Happened to Monday đã được đề cập ở trên, còn cách thức kiểm soát dân số trong 2BR02B lại là: để một người được sinh ra, trước tiên phải có một người tình nguyện chết. Do đó, tuy có một chút trùng lặp với 2BR02B nhưng nhờ sự khác biệt trong cách thức kiểm soát, What Happened to Monday vẫn có thể xem là ý tưởng kịch bản độc đáo. Tôi nghĩ rằng có thể xếp kịch bản phim vào dạng high-concept – đây là miếng mồi ngon cho các nhà làm phim Hollywood. Kịch bản What Happened to Monday hoàn toàn có thể được viết lại với những nhân vật khác, tình tiết khác mà vẫn cho ra câu chuyện thú vị như cách các nhà làm phim đã xào nấu ý tưởng kịch bản Groundhog Day (1993) thành nhiều câu chuyện về vòng lặp thời gian ra đời sau này như: About Time (2013), Edge of Tomorrow (2014), Before I Fall (2017), hay bộ phim kinh dị sắp sửa ra mắt là Happy Death Day (Sinh nhật chết chóc).Có thể trong tương lai, nhiều bộ phim lấy tiền đề tương tự như What Happened to Monday cũng sẽ được ra đời.

Tuy nhiên, What Happened to Monday lại cócách triển khai câu chuyện quá cũ kĩ mặc dù tiền đề là một ý tưởng high-concept mới mẻ. What Happened to Monday được xếp vào thể loại dystopian sci-fi, thế nhưng tôi cảm thấy gần hai phần ba phim lại giống thể loại hành động hơn. Mọi tình tiết trong phim gần như được thúc đẩy bằng những cảnh hành động và cả cách nhân vật giải quyết vấn đề cũng khiến người xem dễ cảm thấy bạo lực là thứ chính yếu để chiến thắng. Tình trạng này khiến tôi nhớ đến phim In Time (2011). In Time cũng có một ý tưởng tiền đề rất hay đến mức tôi nghĩ ai đọc qua logline của phim hẳn đều sẽ muốn xem phim ngay. Thế nhưng, cách triển khai câu chuyện của In Time cũng lại qui về những cảnh hành động đậm chất Hollywood quen thuộc khiến bộ phim trở nên nhàm chán. Cả In Time lẫn What Happened to Monday đều thuộc thể loại sci-fi và đều mắc tình trạng rốt cuộc sci-fi chỉ để làm nền cho action. Trong một bộ phim sci-fi kể về thế giới dystopia (thế giới trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn ở thì tương lai) như What Happened to Monday, tôi nghĩ nếu câu chuyện được xử lí theo hướng thiên về tâm lí nhân vật như The Lobster (2015) thì có thể phim sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn về mặt thông điệp khi đặt ra câu hỏi muôn thưở của Hamlet: “Tồn tại hay không tồn tại?” Còn ở bộ phim này, có lẽ câu hỏi chỉ dừng lại ở mức đơn giản là What Happened to Monday? như chính tiêu đề phim. Và do đó, chí ít ta cũng được hưởng chút thú vị của thể loại trinh thám – vốn là nơi hay đặt ra câu hỏi dạng này.  

Điểm đánh giá: 6.5/10

Kodaki

Đọc bài viết

Giai điệu dẫn lối suy tư

Chuyện học đàn guitar của tôi

Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu.

Published

on

By

Tôi ít khi nào viết bằng tiếng Việt để được buông xả cảm xúc thoải mái nhất có thể. Dù buồn cách mấy, tôi luôn cố gắng viết bằng tiếng Anh để làm dịu bớt đi sự kịch tính hóa nỗi buồn vốn chẳng có gì nghiêm trọng mà tôi thường có xu hướng sẽ viết quá lên khi dùng tiếng Việt. Thế nhưng, khoảng hai năm gần đây, tôi bắt đầu đặt lại câu hỏi, liệu mình có thật sự buông hết cảm xúc thoải mái khi viết tiếng Việt và giản lược hóa tối đa những suy nghĩ phức tạp bên trong khi viết bằng tiếng Anh không? Dường như, câu trả lời “có” không còn bật ra đơn giản như ngày xưa nữa. Đôi khi, viết bằng tiếng Việt, vì biết rằng sẽ có nhiều người dễ dàng đọc được, tôi lại tự kiềm nén cảm xúc của mình trong vô thức nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn muốn viết những dòng này bằng tiếng Việt. Dù sao, tôi vẫn là một dòng nước yếu ớt nếu thừa nhận thẳng thắn, tôi không phải là lửa dù lửa hừng hực cháy bên trong tôi, tôi không phải là đất dù thoạt nhìn bề ngoài có vẻ lí tính, tôi cũng không phải là khí dù lí tưởng cuộc đời tôi tản mác như khí. Tôi vẫn là nước. Và một cung nước hướng nội có lẽ cũng chẳng dễ dàng chia sẻ những điều này nơi chốn công cộng – lí do thỉnh thoảng tôi tự cho phép mình làm điều này có lẽ do có sự tác động của một chút lửa và một chút khí trong phạm trù giao tiếp. Nhưng đến đây, sự sa đà vào chi tiết lại đích thị là của nước – như Frozen 2 cứ lặp đi lặp lại ý này: nước lưu giữ mọi kí ức. Trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau – có lẽ là tác phẩm gần nhất tôi đọc được, Đoàn Minh Phượng cũng có luận điểm tương tự như thế. Và chẳng phải Masaru Emoto có viết hẳn hai cuốn sách về điều này còn gì. Nên tôi cố gắng dừng lại việc lan man ở đây, mào đầu dài dòng thế này là đủ. Cái tật đi vòng bụi rậm vẫn cứ không tha cho tôi.

Năm vừa rồi, một trong những điều khiến tôi biết ơn nhất có lẽ là việc xem được phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi có cảm tình với bộ phim này ngay từ tựa phim, đó là hoàn cảnh tôi thường xuyên trải qua những năm học đại học và một vài năm đầu sau khi vừa tốt nghiệp. Tôi không được biết về thông tin phim trước đó. Đơn thuần trước thời điểm phim sắp chiếu hai - ba tuần, trong một lần đi xem phim, tôi thấy poster của phim đã được dán ở phần phim sắp chiếu từ lúc nào. Ngay giây phút nhìn thấy tấm poster và tên phim như thế, tôi đã quyết định khi nào phim ra, chắc chắn sẽ đi xem, bất kể nội dung thế nào, trailer ra sao, diễn viên và ekip gồm những ai, tôi chỉ có một linh cảm mơ hồ trong đầu rằng phim sẽ hay. Đương nhiên sau đó, trước khi vào rạp, tôi đã có thời gian nắm hết những thông tin cơ bản. Tuy vậy, khoảnh khắc những dòng chữ cuối cùng trên credit chạy hết, tôi vẫn ngỡ ngàng vì hạnh phúc khi được xem một phim Việt Nam hay đến thế, duyên dáng đến thế, dễ thương đến thế. Đã lâu rồi tôi không có cảm xúc này khi xem phim Việt từ lần xem Chàng vợ của em (cũng là một phim ban đầu tôi không kì vọng nhiều nhưng xem thì thấy nó hay đến ngỡ ngàng, chạm vào cảm xúc của tôi một cách kì lạ) cách đó đúng một năm. Tôi thường ít khi thú nhận mình thích phim Việt nào, nhưng Chàng vợ của emTrời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ nằm trong số ít ỏi phim Việt sản xuất những năm gần đây tôi có thể hăng hái đi khoe khắp chốn để mong chí ít là những người xung quanh mình có thể bớt đi chút thành kiến dành cho phim Việt; đặc biệt là với trường hợp Chàng vợ của em. Thế nhưng, Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ mới chính là bộ phim mang đến cho tôi nhiều giá trị hơn bất cứ phim nào tôi từng xem trong đời. Nếu như thời điểm phim đang chiếu nhằm vào lúc tôi đã mở lại Facebook, chắc chắn tôi sẽ viết một bài khen phim đăng ở đây. Tôi vẫn nhớ vào thời điểm phim gặp khó khăn về doanh thu vì được xếp quá ít suất chiếu, tôi đã luôn băn khoăn việc mở lại Facebook để thể hiện sự ủng hộ của mình dành cho đoàn phim, để dụ dỗ thêm được người bạn nào xem thì hay chừng ấy. Nhưng rốt cuộc, tôi vẫn không mở lại Facebook. Đó là thời điểm tôi vẫn còn quá mệt mỏi. Thời gian này không hẳn mọi thứ đã tốt đẹp hơn nhưng về cơ bản có lẽ tôi đã học cách kiểm soát được cơn mệt mỏi một chút. Tất cả có lẽ là nhờ việc tôi đã tập guitar sau khi xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Đó là một việc rất quan trọng với tôi năm nay, đủ quan trọng để tôi nghĩ rằng nên viết nó trong bài note này, để khi trí nhớ trở nên kém cỏi hơn, tôi vẫn có thể tri ân bộ phim và khoảng thời gian ấy.

Ngày còn học đại học năm nhất, bộ phim nhạc kịch đầu tiên tôi phải lòng là Moulin Rouge! – đây là một câu chuyện đã trở nên quá cũ kĩ, nhàm chán với những người quen biết tôi nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây. Sau đó, tôi đắm chìm trong một loạt các phim nhạc kịch khác: The sound of music, West Side Story… Vẫn còn rất nhiều phim nhạc kịch tôi chưa xem, tôi cũng không nhớ cơ sự vì đâu mà chuyện xem phim nhạc kịch của mình bị gãy đổ. Nhưng tóm lại, với tôi, một phim nhạc kịch hay là điều gì đó rất tuyệt vời, kiểu tuyệt vời thật hiển nhiên không cần phải chứng minh. Tôi cứ ngỡ ai cũng sẽ dễ dàng thích phim nhạc kịch giống tôi. Nhưng quả là nếu con số đó đông đảo thì phim nhạc kịch đâu chết yểu, thỉnh thoảng chỉ tìm lại được chút vinh quang trong vài phim lẻ tẻ chứ không rầm rộ cả một dòng như siêu anh hùng. Sau này, khi ra rạp xem phim nhiều rồi, chấm dứt chuỗi ngày chỉ xem trên màn hình máy tính nhỏ xíu ở nhà, tôi mới biết nguyên nhân người ta không thích xem phim nhạc kịch. Đó là một câu trả lời chung quen thuộc mà có lẽ mọi người đã nghe quá nhiều rồi: “Không hiểu sao đang nói chuyện bình thường tự nhiên hát, sao mà cứ hát suốt…” Trong một vài lần đầu tiên nghe những lời bình luận này, tôi có chút bực tức. Họ không nhận ra vẻ đẹp quá đỗi hiển nhiên của nhạc kịch hay sao? Nhưng lâu dần tôi cũng quen và chấp nhận, chỉ là đôi khi cảm thấy chút cô đơn. Việc người ta khó khăn để thích một phim nhạc kịch đến vậy rốt cuộc khiến tôi hiểu ra vỉ sao ngày xưa, thưở bé tí lúc tôi còn ôm nhiều mộng mơ với âm nhạc, tranh thủ hát mọi lúc mọi nơi, bất cứ khi nào có thể: trên đường lên xuống cầu thang, lúc tắm, lúc ngồi chờ mẹ nấu ăn, lúc làm những công việc tay chân lặt vặt… tôi đã bị mắng là khùng, điên, sao cứ suốt ngày hát như thế. Ngẫm lại thì việc đó cũng nào khác gì cách các nhân vật trong phim nhạc kịch hát mọi lúc mọi nơi. Nhưng tôi nghĩ, khi người ta còn hát được dù trong hoàn cảnh nào thì điều đó thật đẹp, thật đáng trân trọng. Tuy vậy, khi lên đại học, tôi khởi sự đọc sách nhiều hơn, mải mê theo đuổi những suy nghĩ trong đầu, từ lúc nào đó không còn hát nhiều nữa, tôi dần trở thành một nhân vật bình thường trong một bộ phim drama bình thường nào đó về cuộc sống, nơi mọi người không giải quyết vấn đề của mình bằng cách hát hò mà cứ chau mày, đi qua đi lại, vò đầu bứt tóc, máy động tay chân để nghĩ ra giải pháp. Vì vậy, tôi càng trân quý hơn khoảng thời gian được thưởng thức một phim nhạc kịch tuyệt vời nào đó đang chiếu rạp. Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi là một trong những phim như thế.

Tôi nhớ rằng trước khi bước vào rạp xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có chuyện gì đó đang khiến tôi rất buồn bã. Vậy mà khi xem xong phim, tôi bỗng nhiên cảm thấy mọi thứ có thể trở nên nhẹ nhàng hơn chỉ bằng cách ta cầm một cây đàn, tấu lên giai điệu nào đó và nhẹ nhàng hát vang. Vừa trở về nhà, tôi tức tốc vớ lấy cây ukulele đã lâu không đàn chỉnh lại dây rồi hát vu vơ. Không phải hát những bài hit đã được ai đó sáng tác trước đây, chỉ đơn thuần là ngay khoảnh khắc đó, tôi nghĩ gì trong đầu thì hát ra ngoài cũng như thế, còn hợp âm thì chọn vòng đệm rất cơ bản là C – F – G – Am hoặc C – Am – F – G, đôi khi có pha thêm Em, Dm – tóm lại là những hợp âm cơ bản trong giọng C. Cứ đàn hú họa và hát hú họa, ban đầu chẳng có gì ăn khớp với nhau, nhưng tôi chỉ hát cho một mình tôi, nào có ai lắng nghe mà tôi phải sợ hãi và đòi hỏi sự hoàn hảo nơi bản thân. Dần dà, tôi tự điều chỉnh lời, giai điệu đang hát cho khớp một chút với vòng hợp âm đang đệm, rồi trong lúc hát bậy hát bạ như thế, cũng có khi một vài giai điệu hay ca từ nảy ra khiến tôi khá hài lòng. Nhưng tôi đều không thu âm cũng như ghi chép lại lời. Tôi muốn những gì hát trong đêm đó sẽ ở lại trong đêm đó, sẽ chỉ là những thanh âm phù du như gió thoảng qua một vùng đất xa lạ. Bởi vì tôi biết chỉ cần cố gắng ghi âm lại, tôi sẽ bắt đầu vòng luẩn quẩn như trước đây, cảm thấy không hài lòng về chính bản thân mình, và lại chỉnh chỉnh sửa sửa, nó trở thành một công việc cực nhọc, toát mồ hôi hột, không còn niềm vui nữa, trong khi lúc ấy tôi đã quá mệt mỏi nhưng lại không muốn làm phiền ai, chỉ cần giãi bày trong âm nhạc là đủ. Hôm ấy, rốt cuộc tôi đã đàn đến bốn giờ sáng. Vào hôm sau đi làm, tôi rất mệt mỏi về mặt thể chất, người nóng ran vì ngủ không đủ giấc, mắt cứ lờ đờ, nhưng tinh thần tôi thì sảng khoái, vui tươi, không còn mỏi mệt nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy mình có thể làm được rất nhiều việc. Hôm ấy làm xong tôi không đi la cà đây đó nữa, tôi chạy ngay về nhà đề tiếp tục đàn. Nhưng qua một đêm đàn ukulele từ mười hai giờ đêm đến bốn giờ sáng, tôi đã lại chán tiếng đàn quá vui vẻ của ukulele. Tuy nhiên, tôi cũng không thể đàn piano – nó đã bị hư ở thời điểm ấy. Tôi trộm nghĩ đến guitar – một nhạc cụ tôi đã từ bỏ rất lâu. Khi bắt đầu học guitar trong một tháng vào năm 2009, tôi đã nghĩ nó không hợp với mình, tôi chẳng đàn được bài nào cả vì đặt mục tiêu là đàn classic (lẽ ra lúc ấy tôi nên học đệm hát thì cơ sự ngày nay đã khác đi nhiều), thế nên tôi bỏ học guitar để quay lại chuyên tâm với piano. Nhưng guitar là một nhạc cụ tôi đã mơ ước có thể cầm đàn và hát từ hồi còn rất nhỏ, có lẽ từ cấp một hay cấp hai. Tuy nhiên, khi có cơ hội học đàn vào năm lớp Tám, tôi đã chọn piano. Tôi nghĩ mình phải tiếp xúc với âm nhạc một cách bài bản nhất qua piano rồi guitar thì có thể chờ lên đại học cũng được. Tôi đã không thất hứa với mình. Vừa đậu đại học, tôi lập tức làm hai điều: ghi danh học tiếng Nhật ở trường Đông Du và đăng kí học đàn guitar. Điều đầu tiên tôi đã kiên trì thực hiện đến cùng và tạm đạt được một cái đích, điều thứ hai tôi lại bỏ dở dang. Và điều thứ hai luôn khiến tôi canh cánh bên lòng. Trong suốt mười năm qua, có nhiều lúc hơi chán piano một chút, thi thoảng tôi lại cầm guitar lên, nhưng rồi lại buông xuống. Khi biết đàn ukulele một chút, tôi đã nghĩ như vậy là đủ rồi, giải tỏa được nỗi buồn vì không thể tập guitar được rồi. Nhưng ukulele là ukulele, guitar là guitar. Chỉ cách nhau số lượng có hai dây nhưng không cái nào thay thế được cái nào. Ukulele không có những quãng âm trầm, đục, buồn như guitar. Nếu như không có Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có lẽ đến giờ này, cây classic guitar mà chị hai đã mua tặng tôi năm 18 tuổi vẫn còn xếp xó ở một góc khuất đằng sau tủ quần áo, không được ai cầm lên, nâng niu, vuốt ve, cùng nó phiêu lưu vào thế giới âm nhạc. Dư âm của buổi tối hôm trước khi thức đến bốn giờ sáng ôm đàn ukulele hát ca vẫn còn đọng lại nhiều năng lượng tích cực trong tôi, khiến tôi nghĩ hay là hôm nay mình cứ thử cầm guitar lên và làm điều tương tự xem thế nào, dẫu sao cũng chỉ có mình tôi, không cần phải e ngại, ngượng ngùng sự thiếu hoàn hảo. Cầm guitar lên, tôi nhận ra mình chẳng nhớ một chút hợp âm nào ngày xưa từng được học, cho dù chỉ là hợp âm đơn giản. Tôi chỉ nhớ duy nhất thế bấm cơ bản của C. Dù ở piano hay guitar, C luôn là hợp âm đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, là kim chỉ nam để tôi nhớ ra cấu trúc của một hợp âm trưởng, là thứ giữ cho ta khỏi đi lạc khi sắp xếp lại một quãng giọng trong trường hợp trí nhớ đã trở nên quá lẩn thẩn. Đôi khi, tôi ước gì mình cũng tìm được C cho cuộc đời mình. Nhưng không có C, cuộc đời tôi chỉ là những nốt nhạc cách nhau một cung rồi nửa cung hơi lộn xộn mà nhiều khi tôi phải cố gắng sắp xếp cho ra một trật tự nào đó.

Một người bạn từng nói với tôi rằng, khi bắt đầu tập guitar đệm hát, bài đầu tiên nên tập là Diễm xưa của Trịnh Công Sơn vì bài ấy vừa đơn giản, giai điệu vừa hợp với guitar, chưa kể điệu slow rock có thể giúp cả bốn ngón tay móc đều đặn và khi tập thì sẽ dần học cách nhớ dây bass của từng hợp âm. Khi đã tập được Diễm xưa rồi thì cứ thế tiến tới những bài khác của Trịnh Công Sơn mà cũng dùng điệu slow rock. Tôi đã từng thích nhạc Trịnh những năm cuối cấp hai rồi có một quãng thời gian bị ngắt giữa chừng ở năm cấp ba, đến khi học đại học, có thời gian tôi từng nghĩ mình không thích nhạc ông nữa vì một lí do có phần hơi trẻ trâu: Trịnh cứ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại đến mức nhàm chán nên nếu bỏ đi phần lời rất thơ thì giai điệu của nhiều bài cứ na ná nhau. Tôi cho rằng đó là lười biếng nhưng khi ấy lại không chịu tìm hiểu kĩ hơn rằng cũng có rất nhiều người thường lặp lại vòng hợp âm mình yêu thích. Giờ đây tôi mới hiểu rằng lặp lại vòng hợp âm thì đã sao, quan trọng là sự biến tấu trong giai điệu, nhiều khi chỉ cần một chỉnh sửa nho nhỏ, một thay đổi trật tự đâu đó trong vòng hợp âm quen thuộc là ta đã có chút cảm giác khác biệt. Tôi có xem một video Taylor Swift hát live trên Youtube và phía dưới video đó có rất nhiều bình luận đem lại cho tôi cảm giác những con người ấy cũng giống hệt mình ngày xưa, họ mỉa mai rằng Taylor có một vòng hợp âm cứ dùng đi dùng lại mãi là G – D – Em – C.  Tôi lên Ultimate – Guitar xem qua một loạt hợp âm các bài của Taylor để kiểm tra sự tình thì quả là cũng đúng thật như vậy. Nhưng tôi lại có một cảm nhận khác, giống như bộ phận khán giả ở phía ngược lại với nhóm người chê bai: nếu chỉ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại mà Taylor có thể sáng tác được rất nhiều bài hát thì cũng rất tài tình. Vậy nên, tôi trở lại bình thường với việc Trịnh Công Sơn cứ dùng đi dùng lại những hợp âm buồn quen thuộc như: Am, Em, Dm.

Tôi nhớ rằng năm lớp Tám, lúc bắt đầu học organ, ngay từ những ngày đầu tôi cũng đã có cảm tình với Am, Em, Dm khi chúng vang lên những âm điệu buồn da diết. Thực ra thì hợp âm thứ nào cũng sẽ như vậy thôi. Nhưng khi pha trộn giữa hợp âm trưởng và các hợp âm màu đúng nơi đúng lúc, chúng sẽ lại càng tỏa sáng hơn nữa những nỗi buồn rực rỡ. Tuy vậy, cũng là Am, Em, Dm nhưng khi đàn trên guitar lại cho cảm giác còn buồn hơn cả khi đàn chúng trên piano. Trong một lần lang thang một forum chỉ dẫn kinh nghiệm về đàn guitar, tôi nhớ có một bạn từng nêu ý kiến rằng hợp âm Am, Em là hai hợp âm sẽ vang lên đẹp nhất khi đàn trên guitar. Theo cảm nhận của riêng cá nhân mình ở thời điểm hiện tại, tôi cũng đồng tình với ý kiến ấy. Vậy nên, chả trách sao Trịnh Công Sơn cứ viết những bản tình ca buồn với Am, Em khi ôm đàn guitar. Vào buổi tối khởi sự tập Diễm xưa, tôi cũng mê mẩn thanh âm của Am khi rải điệu slow rock. Tôi không nhớ mình đã đàn Diễm xưa bao nhiêu lần nhưng khi chưa thuần thục lắm, tôi đã vội chuyển sang một bài khác của Trịnh Công Sơn, rồi một bài khác nữa, một bài khác nữa vẫn của ông. Rốt cuộc, hôm đó tôi cũng đàn đến tầm ba bốn giờ sáng. Hôm sau cũng vậy, hôm sau nữa cũng vậy. Việc không tập đi tập lại một bài hát trong cùng một buổi khiến tôi không chán dù có một giai đoạn tôi cảm tưởng như bài nào cũng hơi đàn được một ít nhưng rốt cuộc không đàn được bài nào ra hồn. Tuy nhiên, chính đặc điểm cứ dùng một vòng hợp âm quen thuộc của Trịnh Công Sơn hóa ra lại giúp ích cho tôi rất nhiều. Dù tôi đàn nhiều bài khác nhau của ông nhưng thực chất chỉ dịch chuyển tay trái chừng ấy hợp âm. Sau khoảng gần một tuần, tôi bắt đầu quen với cách dịch chuyển những hợp âm cơ bản đó và “bùm”, bỗng nhiên tôi đàn được cùng lúc rất nhiều bài của ông, chưa kể là còn những bài pop của nhiều người khác cũng dùng hợp âm tương tự như thế. Khi đó, tôi tạm biệt ông với sự biết ơn trong lòng và bắt đầu tập những bài tôi thích trong phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi không nhớ đã tập những bài trong phim mất bao lâu nhưng suốt cả tháng Mười, gần như hôm nào tôi cũng thức đến hai ba giờ sáng để tập đàn lung tung bất cứ bài nào chợt nghĩ đến, và trong bất kì buổi tập nào, bao giờ tôi cũng đàn trước nhất những bài hát trong Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi như một nghi thức, một lễ chào cờ, một sự tri ân rồi mới bắt đầu những bài khác.

Khi đàn được hơn một tuần, những ngón tay trái của tôi bắt đầu xuất hiện những vết chai. Càng đàn, chúng càng trở nên dày hơn và bắt đầu bong tróc, nhìn có vẻ ghê ghê nhưng trong lòng tôi lại thấy rất vui, đó là bằng chứng tôi đã luyện tập tích cực dù rằng có một hôm, khi phải gõ bàn phím để viết một bài review sách thật dài, tôi cảm thấy rất đau ngón tay, mỗi một kí tự được gõ ra là một lần đau. Tôi nhớ rằng khi tập đàn piano rồi hôm sau có gõ bàn phím, tôi cũng không đau tay như thế. Piano không làm đau những đầu ngón tay mà chỉ làm mỏi cổ tay khi tập lâu nhưng qua một giấc ngủ là tiêu biến. Tuy nhiên, cảm giác đau đó quá nhỏ nhoi so với niềm vui mà guitar mang lại cho tôi. Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu. Khi đàn guitar nhiều hơn, tôi mới phát hiện ra những động tác để đàn nó tạo ra sự tiếp xúc thân mật hơn so với piano: dù đàn đứng hay ngồi thì thân thể bạn cũng tiếp xúc với guitar nhiều hơn. Trong khi đó, piano lại khá tách biệt so với người đàn: ta chỉ tiếp xúc nó qua mười đầu ngón tay và một bàn chân để giậm pedal. Với guitar, tay bấm hợp âm của bạn trước tiên phải nắm chặt cần đàn; như vậy, so với piano là được thêm phần tiếp xúc ở lòng bàn tay; và tay còn lại để rải hay quạt dây thì cũng phải tì thêm một phần khuỷu tay vào thùng đàn; nếu như ngồi đàn thì phần thùng đàn còn tiếp xúc với đùi của ta nữa. Biết rằng so sánh như thế này thì có hơi khập khiễng nhưng tôi nghĩ rằng xét về độ quấn người thì guitar giống như một chú chó thân thiện luôn muốn được ôm ấp, còn piano thì giống như một cô mèo kiêu kì, đòi hỏi sự tiếp xúc ở mức độ tinh tế, nhẹ nhàng vừa phải. Thời điểm ấy, tôi đã quá mệt mỏi nên guitar cho tôi cảm giác thân tình hơn là piano và tôi cứ thế bấu víu vào nó. Nhưng tôi vẫn dùng piano để dò hợp âm và nó cho tôi cảm giác tự do, thoải mái hơn guitar rất nhiều. Nhạc cụ nào cũng có một loại cảm giác đặc thù riêng.

Đầu tháng Mười một, tôi phải tạm gián đoạn việc tập guitar trong chín ngày. Tôi nhớ rằng khi ngồi một mình trên chuyến bay ra Đà Nẵng, với nhạc Billie Eilish vang lên trong tai, mắt nhìn ra khung cửa sổ ngập mây nhuộm vàng trong buổi chiều, đầu ngón tay cái của tôi đã liên tục chạm vào bốn ngón tay trái bị chai đi rất nhiều khi tập đàn. Tôi cứ chạm mãi và phát hiện rằng mình nhớ cảm giác khi đàn guitar rất nhiều, nhiều hơn tôi tưởng. Bốn đầu ngón tay cứng ngắc như được dán keo sắt đó tựa thể vết tích của một cuộc tình. Tôi không muốn nó biến mất. Và rồi, tôi bắt đầu lo sợ sau khi kết thúc chuyến đi thì bốn ngón tay này đã mềm lại. Tôi cứ quẩn quanh trong những suy nghĩ đó, về guitar, âm nhạc, những bài hát tôi viết từ năm cấp hai từng khao khát một lúc nào đó thu âm có beat đàng hoàng mà đến nay vẫn chưa thực hiện chỉ vì tôi lười, và những chuyện khác nữa… Tôi nhớ rằng mỗi sáng tỉnh dậy, tôi đều chạm vào bồn đầu ngón tay đó. Và bây giờ thì tôi biết rõ hơn mình muốn làm gì rồi. Không phải cho một tương lai quá xa. Chỉ trong một năm trước mắt này thôi. Tôi muốn dành thời gian để thực hiện điều bản thân đã luôn khao khát được làm từ những năm cấp hai. Tôi muốn lại một lần nữa nghe theo điều trái tim mách bảo và thật chuyên tâm thực hiện nó. Xét theo lí trí, tôi biết đây không phải là điều mình giỏi nhất, như nhiều người cũng từng nói, nó không dành cho tôi, tôi nên tập trung làm việc từ trước đến giờ tôi vẫn luôn làm tốt nhất. Khi tự vấn bản thân, tôi biết rằng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn muốn một lúc nào đó còn có thể viết thêm một tiểu thuyết nữa, nhiều nhiều tiểu thuyết nữa tôi đã ấp ủ từ lâu. Tôi vẫn nhớ cảm giác say sưa khi miệt mài theo đuổi một câu chuyện trong suốt quãng thời gian dài, tỉ mẩn viết ra nó là như thế nào dù nó đã lùi quá xa trong kí ức của tôi, đã bảy năm rồi tôi không viết thêm được một tiểu thuyết nào nữa, nhưng tôi vẫn nhớ cảm giác khi hoàn thành tuyệt vời như thế nào. Giống như trong lời bài hát They can’t take that away from me. Đó là một thứ cảm xúc tinh khôi như mối tình đầu khó quên mà tôi nghĩ rằng dù có mắc bệnh Alzheimer, tôi vẫn nhớ nó với một sự tiếc nuối mơ hồ khôn ngần đâu đó trong tiềm thức. Nhưng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Hiện tại tôi không còn đủ trí lực để xây dựng những câu chuyện dài hơi nữa. Nghĩ đến việc viết tiểu thuyết đã trở thành một điều gì đó thật sự mệt mỏi, đau đớn dù đầu năm nay tôi đã cố gắng xốc lại tinh thần, lập ra danh sách những tác phẩm cần phải đọc để lấy tư liệu, tham khảo trước khi viết, lại còn đã nghĩ ra gần xong cả dàn ý sơ lược nữa. Nhưng cuối cùng, ngay cả việc đơn giản hơn việc viết là đọc tư liệu mình đã lập danh sách chuẩn bị tôi còn không làm nổi thì huống gì là viết. Cuối cùng, đến mùa thu năm nay, tôi đã quyết định sẽ không cố gắng cho việc viết nữa. Tạm thời trong năm sắp tới đây là như thế. Nói vậy không có nghĩa là tôi chọn âm nhạc như một cách để thoát li việc viết. Bản thân hai việc này tách biệt nhau hoàn toàn. Dù tôi có mệt mỏi, chán nản với việc viết hay không thì sớm muộn gì, tôi cũng muốn thực hiện điều tôi của năm cấp hai ngày đó đã luôn khao khát. Huống hồ, bây giờ cũng không còn là sớm nữa, gần như đã có chút hơi muộn. Nhưng không sao, muộn còn hơn là không bao giờ. Tôi không muốn phụ lòng tôi của ngày đó khi tôi của ngày nay đã tạm có đủ chút ít phương tiện, kiến thức ở mức cơ bản để làm điều tôi của ngày đó luôn muốn làm. Có thể những gì tôi sắp làm trong thời gian tới sẽ không cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh đúng nghĩa, nhưng tối thiểu tôi sẽ cố gắng để nó trở thành những bản ghi âm nghe tạm ổn, ít tạp âm như vật chứng cho một thời tôi đã từng viết nhạc say sưa đến vậy dù không biết gì về nhạc lí; và mai này, lỡ có chuyện gì xảy ra, tôi cũng sẽ không hối tiếc vì đã hoàn thành được ý nguyện ngày xưa rồi.

Cuối cùng của cuối cùng: mỗi lần sử dụng Facebook, lướt qua News Feed của mọi người, cảm giác là một loser lại hiện diện lên rõ rệt trong tôi. Khi không dùng Facebook, trong đời sống thường nhật, tôi đã có cảm giác loser. Dùng Facebook chỉ càng khuấy đậm hơn cảm giác đó. Vậy nên, tôi biết rằng để lại Facebook sẽ không thể nào tập trung làm việc được vì còn phải mất thời gian đấu tranh với sự tự ti trỗi dậy bên trong. Tôi sẽ lại deactive thêm một thời gian dài nữa. Hi vọng lần tới, khi reactive Facebook, lúc đó, tôi đã hoàn thành được kha khá sản phẩm. Tôi không muốn đây lại là một dự định dở dang. Trời ơi, tôi muốn làm nhạc.

Một lần nữa, cảm ơn đoàn làm phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Cảm ơn vì đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều. Với tôi, việc biết đàn guitar đệm hát trong năm nay thật sự là một món quà quý giá, một sự cứu rỗi.

Ngoài ra, việc tôi có thể tiếp tục đàn, sắp tới là làm beat và thu âm những bài sáng tác ngày xưa, là một phần rất lớn nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình, vô vị lợi của T. và K. Cảm ơn hai bạn rất nhiều. Tôi không biết phải viết gì để diễn tả sự biết ơn trong lòng mình. Mọi lời hoa mĩ đều là thừa thãi và đều không đủ. Tôi nghĩ việc đáp trả thiết thực nhất mà tôi có thể làm là cố gắng viết nhạc tốt hơn để không uổng công hai bạn đã dành thời gian dạy nhạc cho tôi. Cảm ơn rất nhiều, thật lòng cảm ơn…

Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những người bạn, những anh chị em, đồng nghiệp… đã dành cho tôi nhiều sự chân thành, tử tế trong năm qua và những năm trước đây.

Cảm ơn vì tất cả.

Kodaki   

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Destruction Babies – Sự đơn sắc của gam màu hủy hoại

Họ – những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc.

Published

on

By

Destruction Babies (có nơi dịch tiêu đề tiếng Anh của phim là Distraction Babies, ở bài viết này, tôi sử dụng tiêu đề Destruction Babies) là một trong số ít phim những năm gần đây khiến tôi rất băn khoăn về nội dung dù rằng tình tiết phim không khó hiểu, không có những yếu tố thường dễ đánh đố người xem như: thời gian đa tuyến, gián điệp, điều tra, giấc mơ trong giấc mơ, những sự kiện phi tuyến tính… Không, Destruction Babies không có những yếu tố ấy. Ngược lại, phim dễ hiểu một cách đáng ngờ. Câu chuyện của phim đơn giản đến mức có thể sẽ khiến bạn phải ngẩn ngơ tự hỏi “chỉ có thế thôi ư” sau khi phim kết phúc.

Toàn bộ phim có thể dễ dàng tóm gọn như sau: một thanh niên manh động thích lấy chuyện bạo lực làm trò vui. Chỉ đơn giản như thế. Tôi nghĩ rằng phim sẽ lí giải vì sao Ashihara Taira – cậu thanh niên mới mười tám tuổi ấy lại thích đánh nhau như vậy. Tôi thậm chí còn tưởng tượng một cốt truyện kiểu như Chí Phèo của Nam Cao lúc chỉ mới thoạt xem qua trailer. Nhưng Destruction Babies không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng như Taira không hề có bất cứ khoảnh khắc nào hành động khác đi ngoài sự phá hủy, ở anh không hề có chút dịu dàng hay yêu thương. Chuyện đánh người vô cớ của Taira khiến tôi nhớ đến tiêu đề một bộ phim có sự tham gia của James Dean: Rebel Without a Cause. Tôi không còn nhớ nội dung của Rebel Without a Cause nhưng quả thực, hành động của Taira đúng là nổi loạn vô cớ. Điều ấy khiến tôi tự hỏi đạo diễn Mariko Tetsuya làm phim này với mục đích gì? Vì không trả lời được câu hỏi ấy, tôi cảm thấy mình không thể hòa hợp với Destruction Babies. Hay nói cách khác, tôi cảm thấy mình không thể thích nó. Dù vậy, tôi vẫn muốn viết vài dòng về phim để lưu lại những suy nghĩ của mình trong lúc này.

Destruction Babies có khá nhiều cảnh long take và những cảnh long take này thường nằm ở vị trí quan trọng trong câu chuyện. Tuy vậy, những cảnh long take trong phim không phải thuộc dạng có chuyển động máy phức tạp khiến khán giả dễ trầm trồ về kĩ thuật của người quay. Phần lớn các cảnh long take của Destruction Babies đều giữ máy ở một góc cố định hoặc chỉ di chuyển khung hình đôi chút: những cảnh Taira đánh người thường được quay theo kiểu này. Tôi nhận thấy việc giữ long take thay vì cắt ghép liên tục trong cảnh chiến đấu đã tạo ra không khí phảng phất cảm giác tài liệu, nó cho phép người xem quan sát những khoảnh khắc yếu ớt của nhân vật trong nhịp điệu thong thả, nó không tách rời chủ thể với bối cảnh xung quanh là những căn nhà, những người đi đường nán lại nhìn – điều này lại càng khiến ta cảm thấy những cuộc đánh nhau của Taira là vô nghĩa như bất kì cuộc đánh nhau nào ta đã có dịp chứng kiến trên đường phố. Vì thế, các cảnh đánh nhau trong phim không mang màu sắc thường thấy như những cảnh tương tự trong phim hành động.

Tôi không rõ kịch bản Destruction Babies tuân theo kiểu cấu trúc nào. Chắc chắn, phim không theo cấu trúc ba hồi, lại càng không thể là cấu trúc hai hồi. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi tạm xếp phim vào cấu trúc một hồi (có thể phim thuộc dạng cấu trúc nào đó đã được phân loại nhưng tôi không biết) với kiểu câu chuyện về sự suy thoái (thuật ngữ là fall down hoặc descending story – nếu tôi nhớ không nhầm). Tuy nhiên, kiểu câu chuyện suy thoái theo truyền thống thường sẽ cho nhân vật ở một điểm xuất phát tốt đẹp và càng đi đến kết thúc, nhân vật càng tồi tệ hơn; tương tự, kiểu câu chuyện về sự vươn lên (rise up hoặc ascending story) sẽ vận hành theo hướng ngược lại. Thế nhưng, trong Destruction Babies, ngay từ khởi điểm, Taira đã luôn là một người thích đánh đấm, Yuya đã luôn là một người thích trêu đùa kẻ khác, Nana thì lại luôn ăn cắp vặt... Họ - những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc. Vì vậy, xét Destruction Babies vào kiểu câu chuyện suy thoái sẽ có phần đúng và sẽ có phần sai: đúng ở chiều vận động theo hướng đi xuống của nhân vật, sai ở sắc thái đối nghịch lẽ ra phải có của một câu chuyện suy thoái thì trong Destruction Babies lạichỉ có sự đơn sắc của gam màu hủy hoại. Sự đơn sắc vốn là điều các nhà kể chuyện thường tránh nhưng ở Destruction Babies dường như đây lại là thứ đạo diễn Mariko Tetsuya cố tình tạo ra. Với Destruction Babies, quá khứ và tương lai của nhân vật đã bị loại bỏ, trở thành thứ không quan trọng, chỉ có hiện tại mục rữa là điều duy nhất hiện diện.

Một trong những cảnh tôi thích nhất phim chỉ đơn giản là cảnh long take góc toàn từ trên cao cho thấy hình ảnh chiếc xe chạy qua một khúc cua trong đêm tối. Khi ấy, nhạc nền lại là bản nhạc đã được sử dụng trong cảnh toàn long take đầu phim giới thiệu quang cảnh ban ngày của thành phố cảng nơi Taira sinh sống. Khúc nhạc có tiết tấu hỗn loạn ấy được sử dụng cho điểm bắt đầu của cả hai cuộc hành trình: một khởi sự vào ban ngày, một khởi sự vào đêm tối, dường như đang có ý thực hiện phép so sánh thông qua điểm chung giữa góc máy và âm nhạc. Tuy nhiên, cảnh trong đêm tối lại gợi cảm giác buồn bã nhiều hơn. Không hiểu sao nó khiến tôi nghĩ đến On the road dù rằng tôi cũng chẳng còn nhớ nội dung cụ thể của quyển sách ấy. Có lẽ là tinh thần tuổi trẻ cứ miệt mài lao đi trong đêm tối, ngỡ rằng có thể đến bất cứ nơi đâu cho đến khi dừng chân lại mới phát hiện mình vẫn đang ở một điểm chẳng khác biệt mấy so với điểm khởi đầu. Cũng giống như ánh sáng phát ra từ chiếc xe khi mờ khi tỏ qua những hàng cây, cho đến một góc khuất nào đó, luồng sáng của nó hoàn toàn tắt ngúm trong tầm mắt người quan sát.

Tôi rất thích diễn xuất của Yagira Yuya trong phim này. Tôi có thể thấy được sự điên dại trong ánh mắt, nụ cười của anh. Vai diễn của Suda Masaki trong Destruction Babies không có nhiều điểm khác biệt so với vai diễn của cậu trong Drowning Love (cùng sản xuất năm 2016); vì vậy, tôi không đặc biệt ấn tượng lắm với cậu trong phim này. Komatsu Nana vẫn hoàn thành tốt vai diễn của em. Destruction Babies khiến tôi nhớ đến một phim ngắn em từng tham gia: There Is No Tomorrow (2016). There Is No Tomorrow cũng nói về sự nổi loạn. Trong phim ấy, Julien Levy định nghĩa sự nổi loạn là “mong muốn có được thứ gì đó lớn lao hơn sự tồn tại” (This insurrection is about expecting more from existence). Tôi tự hỏi, những bạn trẻ trong Destruction Babies liệu có mong muốn điều gì đó tương tự như thế không. 

Điểm đánh giá: 5/10
Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng