Phía sau trang sách

thế giới đã thay đổi. hoặc phụ nữ bao giờ cũng thế mà ta không biết

“Nếu cần thì gọi hai người đàn ông làm chứng, nếu không có đủ đàn ông thì một đàn ông và hai đàn bà”
(Con Bò, câu 282 – kinh Qur’an)

Published

on

#Metoo, Time’s Up hay #OscarsSoWhite đã bắt đầu gặt hái những thành công nhất định kể từ khi dậy sóng 1-2 năm trước sau cơn rúng động bê bối của Harvey Weinstein. Lần đầu tiên sau bấy nhiêu năm, những giá trị phụ nữ được đưa lên, xem xét và nhìn nhận một cách đúng đắn và đầy đủ. Và không gì khác, chính những giải thưởng như Oscar hay BAFTA vừa qua đã cho thấy những nỗ lực cố gắng (dẫu cho vẫn còn khiêm tốn) của những gì mà vụ mùa ấy đáng thu được. Từ lời phát biểu công tâm của Joker Joaquin Phoenix với sự phân biệt đối xử người da màu cho đến câu đùa thâm sâu của Issa Rae “Xin chúc mừng những người đàn ông ấy”, ta vẫn thấy đâu đó giá trị người da màu và phụ nữ vẫn còn bỏ lửng. Nhưng dẫu sao, từ đó nhìn vào sự cố gắng, những bộ phim kỳ công như Judy, Marriage Story, Little Women hay Bombshell đã phần nào cho thấy phụ nữ ngày nay không còn giậm chân tại chỗ. Họ có thể ra tranh cử tổng thống như Hillary Clinton, trở nên giàu có như Rihanna, quyền lực như Beyoncé hay cất lên tiếng nói đầy tính cá nhân như Lady Gaga,… và còn nhiều điều họ có thể làm hơn thế nữa.

Nhưng ở một khía cạnh khác, phần lớn những yếu tố nữ quyền ta thấy trong dòng chảy xa hoa của Hollywood hay lớp hào nhoáng của nền giải trí thường là khía cạnh mở. Có nghĩa ở đó, phụ nữ đấu tranh cho vị trí của mình, quyền lợi của mình, cho những thứ mà mình có thể làm tốt tương đương một người đàn ông nhưng lại không được công nhận đủ. Ở đó họ vẫn có quyền sống, vẫn có thể được công nhận; nhưng nếu giảm xuống một nấc, khi họ không sống một cách tự do, không những bị đàn ông hạ bệ mà còn bị hủ tục chen lấn? Đó là khi tiếng nói phụ nữ đã không còn mở. Đó là đợt tấn công toàn thể. Một cách hoài nghi, văn chương Hồi giáo chính là mặt bị giản thể ấy. Cho đến nay, văn chương của địa hạt này vẫn còn ít được quan tâm, có chăng dậy sóng đôi chút khi Salman Rushdie lãnh án tử hình vắng mặt từ các thủ lĩnh tôn giáo cực đoan. Thế nhưng, cũng như vẻ đẹp và sự huyền bí Đông phương, văn chương Hồi giáo lạ lùng nhưng cá tính, đồng thời là tiếng nói mạnh mẽ dấn sâu vào đời sống phụ nữ như nhát dao xé toang hủ tục, phơi bày ra thế giới hiện thực những gì ta vẫn chưa biết, thâm sâu nhưng cũng không kém phần hài hước.

Bài viết này đề cập đến năm cuốn sách, cả những cuốn hư cấu và tự thuật. Trong đó gồm hai cuốn văn chương hiện thực châm biếm của nhà văn người Liban Rachid El-Daif mà Thuận dịch trong những năm vừa qua – Cho xem đùi nào LeilaCon miu cái của nàng Sikirida. Thêm vào đó, phiên bản “Crazy Rich Asians” của thế giới Hồi giáo đến qua cây viết Rajaa Alsanea mang tên Những tiểu thư Hồi giáo. Hai cuốn tự truyện đau xót làm dậy sóng dư luận những năm về trước, một của Nojoud – cô bé Ly hôn tuổi lên 10; và một của Latifa – cái tên giả mà vì những vạch trần hiện thực cô sẽ phải mang suốt đời còn lại, được tái hiện trong Khuôn mặt bị đánh cắp.

Ở đó, một mặt hiện lên vẻ đẹp của các quốc gia Hồi giáo từ phong cảnh, con người cho đến cảnh ngộ bị băm nát, nổ tung của những xung đột lên cao. Trong chính những cảnh huống ấy, hình tượng người phụ nữ – vai vế vốn luôn bị xem thường trong xã hội này – hiện lên một cách nổi bật. Họ có thể dũng cảm trong nét giễu nhại của Rachid El-Daif, có thể hiện đại theo chuẩn trong tiểu thuyết của Rajaa; nhưng ở mặt khác, họ cũng bị tự do ruồng bỏ, hà khắc xem thường như trong trường hợp Nojoud hay Latifa. Ở đó, vấn đề phụ nữ không là duy nhất; các nhà văn kể trên khéo léo lồng ghép những hệ tư tưởng giao thoa giữa các phông nền văn hóa – truyền thống dưới góc nhìn của thời đại mới. Ta có thể thấy những đối lập về giới, là sự xung khắc những giá trị mới cũ, hay tính nữ vượt lên dẫu cho những nhầy nhụa khinh thường. Dẫu cho không nhiều, năm cuốn sách trên ít nhiều mở ra cánh cửa lạ lẫm của địa hạt văn chương này – nơi còn nhiều bỏ ngõ, nhưng vàng vẫn luôn tồn tại ẩn sâu.

Tái hiện xã hội

Dù là tiểu thuyết hay tự thuật đi chăng nữa, đời sống xã hội Hồi giáo đương thời không ít thì nhiều đã được tái hiện trọn vẹn trong những cuốn sách này. Từ Liban – quốc gia tự do nhất khu vực Ả Rập cho đến Yemen đói nghèo hay Afganistan nội chiến, từ Ả Rập Saudi hào nhoáng cho đến Palestine xách động; tất cả được đem vào đây âm ỉ cháy. Bỏ lại sau lưng hiện thực tàn khốc của cuộc xung đột tôn giáo biến thành nội chiến, của những phiến loạn – chiến tranh; ở đôi nhịp thời khắc ta vẫn thấy dôi dư ra cảnh tượng tươi đẹp của đời sống con người. Đó có thể là những đường dây điện thoại nặng trĩu của Afganistan mà vì những hủ tục bóp nghẹn, chúng phải tải sức nặng của tất cả những lời than thở, những tiếng thở dài, những lời than vãn và những nụ hôn không thể thực hiện trong thế giới thực. Hay đó cũng có thể là đời sống hiện đại của những trung tâm thương mại, của những cô gái hút shisha, uống rượu, mặc thời trang thế hệ mới và lái BMW. Muôn mặt được đưa ra cho những phông nền, nhưng dẫu cho những tươi đẹp ấy, hiện thực sau rốt bỗng chốc khiến chúng chỉ như tia nắng lướt qua bầu trời âm u.

Ẩn đằng sau cái vẻ đẹp thức thời ấy, là chiến tranh, là nội chiến, là xung đột tôn giáo, là diệt chủng con người. Chúng lấy đi không chỉ vẻ đẹp cảnh quan, mà ở một mặt nào đó, là cả những chân kiềng của giá trị con người – tự do, niềm vui sống và được thể hiện mình. Ở đó, phụ nữ có thể bị quất bằng roi bọc chì khi họ mang giày trắng – màu lá cờ Taliban. Họ cũng có thể một đi không trở về một tối nào đó, bởi những xung đột tôn giáo giữa Cơ Đốc giáo, Hồi giáo; hay cả trong nội bộ dòng chảy Hồi giáo, giữa dòng Shite, Sunnite hay Druze. Ở đó, giết người là chuyện thường tình, không ai bận tâm lấy lại công bằng cho người thân mình; vì cũng như không khí, cái chết với họ nhan nhản ở khắp mọi nơi. Không khí là cái chết, mà không khí cũng là nhân quyền, hư vô, mênh mông và không lối thoát. Ở đó, như Rachid viết: “Nói cho cùng thì những cái chết vô tội vạ đã trở thành chuyện thường ngày ở Liban. Người ta có thể giết ai đó chỉ vì kẻ này đã từ chối không nhường đường khi lái xe, hay nhường chỗ khi xếp hàng mua bánh. Người ta giết nhau trong dửng dưng. Ở Liban, thời gian đó, giết người thậm chí không còn bị qui định là một tội ác. Tội ác chỉ là khi giết người có chủ ý”.

Artwork background: Võ Khánh Trang

Giá trị con người ở thời khắc ấy trở nên rẻ rúng trước những cai trị hà khắc của tôn giáo cực đoan. Là sự cầm tù tự do của Taliban, là cái chết ép uổng của những cô bé lên 9 lên 10 không thể cất lên tiếng nói để rồi bị lạm dụng thân thể chỉ vì hai chữ “tự do”, “danh dự” của người đàn ông trong gia đình mình. Ở đó, những đứa bé vẫn chưa kịp lớn đã bị đưa đi như món hàng cứu viện xách động từ Iraq – chúng thanh toán lẫn nhau do những nguyên do còn bẩn thỉu hơn, như trộm ô tô, tranh cửa hiệu để tống tiền, buôn bán ma túy, dẫn gái, giành chỗ đậu xe, v.v. Xã hội Hồi giáo trong những cuốn sách này không được nhắc đến một cách tự thân, chúng chìm ẩn trong những cấu trúc ngữ nghĩa và ngôn từ tràn lan; thế nhưng đó là cảnh tượng không thể làm ngơ. Chúng hiển hiện, nổi bật chỉ như một dụng ý ngầm, nhưng đó còn là tiếng gào thét vào thế giới tự do, văn minh; của một xã hội không còn đói nghèo, bất công và cả chiến trận. Thế nhưng xã hội Hồi giáo không chỉ có thế, dường như chỉ là bước đầu.

Những luồng tư tưởng

Không khó để nhận ra những xung đột mới – cũ, Đông – Tây giữa các nhân vật trong cuốn sách này. Nếu bốn cô gái của Rajaa trong Những tiểu thư hồi giáo đại diện cho cách sống mới – kiểu “live fast, die young, be wild, have fun”; thì những nhân vật trường thọ như má Adiba trong Con miu cái của nàng Sikirida hay Z trong Cho xem đùi nào Leila lại như những rường cột niềm tin, truyền thống, về những ý nghĩ cổ điển. Nếu Rachid quăng thẳng vào những hủ tục xa xưa lát cắt sắc lẹm từ cái vốn được coi là không trong sáng, lành mạnh trong xã hội Hồi giáo – sex; thì Rajaa còn cất tiếng nói mạnh hơn, khi xây dựng hình tượng Michelle – một nữ anh hùng thời đại với những lý lẽ đóng đinh như thể Doris Lessing từng xây nên Anna Wulf trong Cuốn sổ vàng.

Ở đó Rachid El-Daif cười vào rường cột những luật lệ hà khắc một cách đầy châm biếm mỉa mai như thể một tình tiết trong Con miu cái của nàng Sikirida khi ông xây dựng cảnh huống để cho Sikirida và chính cháu gái mình cùng kết hôn giả với người đàn ông lái taxi – Abu Brahim trước sự chứng kiến đúng luật của thầy dòng, để má Adiba không phải bận tâm về sự hướng thần của mình. Kết hôn được cho là một trong những vấn đề tế nhị và có phần thiêng liêng trong fatwa, thế nhưng dù cho thế nào, con người ta vẫn cố tìm lấy khoảng hở để sống đúng cuộc đời mình. Dùng một thứ thiêng liêng tự thân để cười vào những cố định vô lý, Rachid một lần nữa cho thấy những nghịch lý làm giới hạn đi sự sống của con người; và cũng tái khẳng định ở một mặt nào đó, dẫu sao đi nữa con người sẽ vẫn luôn hướng về phía tự do – hướng về những thứ vốn thuộc về họ mà không một ai có thể lấy đi.

Và một lần nữa, điều này còn khẳng định đúng ở Những tiểu thư hồi giáo khi Rajaa xây dựng song song giữa một bên là những gì xã hội muốn và một bên là những gì các cô gái thời cô làm. Xã hội của cô mong muốn phụ nữ phải đi lại ít thôi, nói ít thôi để tìm được một tấm chồng. Xã hội ấy cũng xé toạc những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, cô lập các mối quan hệ của con cái mình trong hiển hình của những người cha người mẹ. Xã hội này đồng thời căm ghét Valentine, gọi nó là tội ác màu đỏ. Xã hội thời bấy giờ cũng tạo nên thứ gọi là Uỷ ban phát huy đức hạnh và ngăn ngừa đồi bại, hay ngắn gọn hơn là Cảnh sát Tôn giáo, để ngăn ngừa những người khác giới đi gặp gỡ nhau. Thế nhưng vượt lên trên những cố định ấy, những cô gái của Rajaa vẫn tụ tập, chia sẻ với nhau dưới sự bảo trợ của Nuwayyen những quan tâm chính trị, việc chơi đùa các chàng trai hay tư duy sống cho chính bản thân mình của Michelle hay Lamees để rồi từ từ Gamrah hay Sadeems cũng tưởng thưởng chính lối sống ấy.

Thế nhưng nhìn nhận ở mọi khía cạnh, sự khác biệt ấy là điều hiển nhiên và khó dung hòa dù cho là xã hội nào. Mới – cũ, Đông – Tây vẫn luôn tồn tại song song trong mỗi một ngày. Một cách văn chương và đầy mới mẻ, cả Rachid và Rajaa đã cho ta thấy cách những đối ngẫu luôn sống cạnh nhau và khẳng định rằng, con người dẫu sao sẽ luôn vươn lên và sống đời mình chẳng chóng thì chầy chỉ là thời gian.

Những đối lập về giới

Trong bộ phim Marriage Story, nhân vật Nora do Laura Dern thủ vai đã có một phát biểu đậm tính luật sư được nhào nặn ra để 1) suy tôn nữ quyền và 2) mang cho cô giải Oscar danh giá thế này: “Người ta chẳng chấp nhận nổi những người mẹ bợm rượu, quát nạt con cái, mắng chúng là lũ khốn. […] Thử nghĩ xem, hình mẫu một người cha tốt đẹp chỉ mới được hình thành khoảng ba mươi năm gần đây thôi. Trước đó, các ông bố có quyền im lặng, lơ đãng, không thể dựa dẫm được và ích kỉ, tất cả chúng ta đều nói rằng mình muốn họ khác đi. Nhưng về cơ bản, ta chấp nhận họ. Ta yêu họ vì những khiếm khuyết của họ, nhưng người ta hoàn toàn không chấp nhận những khuyết điểm tương tự ở người mẹ. Ta không chấp nhận về mặt quy ước vai trò, ta cũng không chấp nhận về mặt tinh thần. Vì nền tảng trong đức tin Do Thái-Kitô giáo của chúng ta là dù Mary, Đức Mẹ của Chúa Jesus có như thế nào đi chăng nữa, bà cũng phải hoàn hảo. Bà là trinh nữ nhưng vẫn mang thai, kiên định ủng hộ con mình và ôm xác con khi con qua đời. Mà ông bố thì chẳng có ở đấy. Ông ta thậm chí còn không làm gì. Chúa ở trên thiên đường. Chúa là cha, và Chúa không xuất hiện. Vậy nên cô phải hoàn hảo […] Cô luôn phải tuân theo một chuẩn mực khác, đòi hỏi cao hơn.

Chán hết chỗ nói, nhưng đời là thế đấy”.

Ảnh: Phim Marriage Story (2019)

Và vâng, là đúng thế, đời là thế đấy và chán hết chỗ nói. Điều này cũng đúng trong trường hợp văn chương khi phần lớn (và hầu hết) những nhân vật nam trong các cuốn sách này đều như được đúc ra từ một khuôn. Họ là những người cha (của Amal, của Nojoud, của má Adiba) xấu xa, gia trưởng, độc đoán. Họ là những người đàn ông chưa kịp lớn (“tôi” và “cha tôi” trong Cho xem đùi nào Leila). Họ cũng là những người suy nhược, như tràng dài những anh người yêu của bốn cô gái (Waleed, Rashid, Falie, Khalid, Firas,…). Từ góc nhìn Rajaa là điều bình thường – khi cô là tác gia nữ nhìn về phía đàn ông dưới một xã hội không mấy thiện cảm. Nhưng với trường hợp Rachid, dường như đồng thời là sự suy tôn hình tượng những người phụ nữ, khi ông không ngại đứng dưới lập trường của người đàn ông cất lên tiếng nói đầy tính nữ.

Một cách cụ thể và đầy tỏ tường như trong Cho xem đùi nào Leila, những hành động trẻ con của “tôi” như Ngồi phơi đầu dưới mặt trời đổ lửa, tóc đẫm dầu ôliu, một ngày 21 tháng 6, một ngày chủ nhật, 10 giờ sáng (giờ mùa hè ở Beyrouth) để phản đối việc người cha lục tuần mong muốn kết hôn vì sợ cô đơn. Còn hơn cả thế, người cha ấy cũng không thua kém đứa con của mình, “Cha tôi mãi là một đứa trẻ cần được chăm chút, bảo vệ, và chúng tôi, những đứa con của ông, luôn có trách nhiệm phải lo lắng cho ông. […] Ông hành xử hệt như con thú động dục tuy bên ngoài ai cũng nghĩ là một người già trầm tĩnh”. Rachid điềm tĩnh khi nói về những nhân vật đàn ông của mình. Ông xây dựng họ như những bản photocopy di truyền, trong mối quan hệ cha – con như sự tiếp nối thời đại không bao giờ ngưng. Không những thế, ở Con miu cái của nàng Sikirida, Redouan và cha của cậu cũng trùng hợp thay – cùng làm phụ nữ mang thai để rồi biến mất. Đàn ông trong hai cuốn sách của ông là một sinh vật (có lẽ) thèm khát đến kỳ động dục, suy nghĩ nhiều hơn ở giữa hai chân thay vì trí não – có lẽ cũng là một điểm mỉa mai khác nữa.

Không những thế, ở đây, cái giả hình tính đực cũng được đưa ra như thứ ngụy biện cho những nghịch lý của một xã hội mà những điều luật được diễn dịch bởi giới đàn ông. Trong Ly hôn tuổi lên 10, cô bé Nojoud từng giải thích cảnh ngộ chính mình như sau: “Không chỉ hắn làm hại em, mà cả gia đình em, gia đình của riêng em cũng bảo vệ hắn. Tất cả những điều đó chỉ vì một vấn đề… Vấn đề gì nhỉ? Vấn đề danh dự!”. Danh dự là thứ làm nên cốt cách của họ, danh dự đúc kết trong chính con dao jambia của xã hội Yemen, danh dự khiến cha bán con, như má Adiba còn Amal thì bị ruồng bỏ. Danh dự không hơn một thứ hảo danh mà dòng giống đực dùng để che đi chính cái bất lực của bản thân mình. Danh dự được người phụ nữ cảm nhận và gào thét lên trong nỗi tù đày của thân phận mình.

Ở đó đàn ông từ chối lấy người phụ nữ đã trao cho anh trinh tiết của mình hay từ bỏ người từng yêu chỉ vì khác biệt tôn giáo, danh tiếng hay gia đình. Cuộc sống của bốn cô gái được Rajaa khắc họa trong chính cái khuôn mực thước ấy. Ở đó dù cho thế nào thì người đàn ông cũng phải dũng mãnh để khi lên giường “nếu không dũng mãnh được như ngựa giống thỉ tôi thà chết còn hơn! Tôi không thể nào chấp nhận người ta nghi ngờ nam tính của tôi, thà giết chết tôi đi!” Nực cười một kiểu, chính những giả hình ấy lại được phát hiện bởi cô gái trẻ sau hai mối tình đứng lên làm lại từ đầu không cần ai khác, chứ không phải bởi nhà hiền triết, một người suy tư hay một ai khác đấu tranh cho quyền phụ nữ “Dù có sự khác biệt lớn về tuổi tác – họ đều được đúc từ cùng một khuôn thôi: thụ động và yếu đuối. Họ là nô lệ của những hủ tục và truyền thống lâu đời cực kỳ bảo thủ dù đầu óc được học hành khai sáng của họ giả vờ bác bỏ những điều đó! Đó là cái khuôn đúc ra tất cả đàn ông ở cái xã hội này. Họ chỉ là những con tốt mà gia đình họ di chuyển trên bàn cờ thôi”.

Và phụ nữ, họ còn nhận ra rất nhiều điều khác.

Sự vươn lên của tính nữ

Tình dục, tự do – hai khía cạnh được nhắc đến như sự vươn lên của vương triều phụ nữ trong cuốn sách này. Rachid một cách tài tình mở toang cách cửa sức sống của người phụ nữ trong nền xã hội rối ren. Ông phá bỏ gông cùm, đánh tan bài xích, vượt lên trên hết bằng lối ra của một nhân tố ít được nhắc đến nhất từ trước đến nay, một thứ thiêng liêng, chỉ một với một, hết sức kín đáo và hoàn toàn riêng tư – sex. Rachid xây dựng cốt truyện châm biếm như cách xây dựng nội dung, ở đó ông đi theo kiểu 1) bùng binh và 2) đường song song mở ra hai hướng. Với Cho xem đùi nào Leila, đó là kiểu bùng binh quan hệ mà không nghi ngờ gì nữa, là bí mật lớn nhất và cũng là cái hài hước nhất của toàn tác phẩm. Hai cặp nhân vật, Z – Leila, tôi – cha tôi xoay qua xoay lại như một vòng tròn. Bốn người bọn họ được giữ với nhau không những chỉ bằng từ trường trái đất, mà còn là bởi những cuộc làm tình. Cả bốn người họ, nếu như được viết ra giấy để rồi bắt cặp, không trừ cả đến giới tính thì đều ít nhất làm tình với nhau một lần (chỉ trừ một cặp cha – con). Thế nhưng dù thế, ta dễ nhận ra, sex trong văn chương Rachid không mang ý nghĩa thô bỉ, mà nó lại còn hàm chứa nhiều điều hơn thế.

Vốn dĩ xã hội Hồi giáo mà người ta biết là nơi nghiêm khắc trong những việc này. Bằng áo burqa, bằng khăn hijab; tín đồ Hồi giáo ngăn ngừa những cơn khơi gợi dục tính một cách như thế. Thế nhưng, trong tác phẩm mình, Rachid mở rộng vấn đề ấy một cách không biên giới – không tuổi tác, không giới tính, không quan hệ, không giai tầng. Xét vào bối cảnh, sex trong thế giới Hồi giáo được ông mang vào như lưỡi của một chiếc kéo, cả hai cắm phập vào nhau và dĩ nhiên, cùng cười vào nhau, cùng phản ánh nhau. Ở đó ta thấy đời sống sôi động của người phụ nữ, khi ra đường có thể là những cái chai di động do burqa quá rộng, nhưng khi lên giường họ hoàn toàn là một sinh thể rất khác, nồng nàn, ẩn chứa và vỡ tung ra. Tình dục đối với họ, cũng như những người khác, đơn thuần là một hành động giản đơn, một hành động tự nhiên như ăn, uống, chạy nhảy hay bơi lội. Họ sống ở đó và được là mình, họ là người, và chính những hành động ấy mới chính là họ, hành động của một con người và cư xử như một con người.            

Nếu Cho xem đùi nào Leila là cách khai thác yếu tố bùng binh, thì Con miu cái của nàng Sikirida là kiểu đường thẳng mở ra hai hướng, giao nhau duy nhất ở niềm ham muốn. Phụ nữ trong văn chương của ông là người có gout, dẫu cho hoàn hảo hay khiếm khuyết, xinh đẹp hay xấu xa. Sikirida – một ả ngoại quốc không hơn không kém, không tính chung thủy, không phải tầng lớp cao sang; thế nhưng luôn luôn ham muốn làm tình với đàn ông trẻ, trẻ hơn cả mình, dẫu cho chỉ trong một không gian nhỏ của nhà vệ sinh với con trai người bán rau. Trong khi đó, Amal – cô bé chỉ mới cấp 3, giàu có, xinh đẹp nhưng lại khuyết tật không thể đi được – lại dần tìm được cảm hứng sau cuộc làm tình với Redouan – kẻ hiến thân mà như cô nói, chỉ thích đàn ông học thức, thông minh và hơn cả mình. Rõ ràng ta thấy, phụ nữ trong các tác phẩm ông không những tìm về chính mình, mà họ còn tự do để được lựa chọn. Họ thể hiện tính nữ của mình trong cuộc làm tình, họ cho thấy sự kiểm soát bản thân trong việc chọn ai để thi hành điều đó.

Rachid đập tan ảo tưởng kiểm soát phụ nữ của đàn ông một cách như thế. Không xây dựng hình ảnh phụ nữ dáng dấp anh hùng; ông chỉ đơn giản cho thấy vai trò chủ động của họ trong hành động cấm ở nơi họ sống. Phụ nữ từ đó vươn lên, mở tung bản ngã và được là mình. Chính ở điều này tính văn chương của Rachid được bộc lộ, vì không như người khác dễ dàng sa ngã vào cái thô bỉ mỹ học mang danh tình dục; ông mượn nó để làm phương tiện phát ngôn của mình, một cách gián tiếp nhưng đầy sức mạnh. Ngoài ra, hình tượng được ông sử dụng: từ con miu cái – như cách phụ nữ bộc lộ bản tính cho đến cái đùi của Leila – như đại diện cho vẻ đẹp tính nữ. Con miu cái dẫu bị Sikirida từ bỏ, mang xa đến đâu cuối cùng vẫn sẽ trở về như ám chỉ nói, phụ nữ dẫu bị ngăn cách đến mức độ nào, bản tính vẫn dẫn họ về và làm lại mình. Z – người phụ nữ xấu xí không ai thèm lấy, tuôn lệ nước mắt khi nhìn thấy chiếc đùi Leila – một biểu trưng cho cái đẹp, cho tính nữ mà cô không hề có – đã ngầm ý rằng, phụ nữ có thể không đẹp hoặc không hoàn hảo; nhưng tính nữ vượt xa hơn thế, nó là bản chất, nó là bản ngã, mà chính thông qua việc khao khát có một đứa con, tính nữ đè chết cái đẹp: “Ông ấy bố thí tôi được làm vợ ông ấy bởi vì tôi quá xấu. Nhưng ông ấy không thể ngăn cản tôi có thai”.

Và trực tiếp hơn, Khuôn mặt bị đánh cắp của Latifa sẽ là gì nếu không phải là tiếng kêu tự do của những con người áp bức quá lâu? Ở đó, Taliban triệt tiêu phụ nữ. Họ giam phụ nữ trong chiếc burqa phùng phình và lưới mắt cáo để che ánh mắt. Ở đó, phụ nữ không được khám bệnh còn bác sĩ nữ không được hành nghề. Đó đều là những phương thức không phải giam cầm, mà đó là cách bọn chúng tiêu diệt phụ nữ Afganistan. Tương tự như thế, xã hội Yemen giết chết những người phụ nữ trong cuộc hôn phối mà những bé gái lên 9 lên 10 còn chưa biết được thế nào để trở thành vợ, thành mẹ, để thành đàn bà chỉ vì hai tiếng danh dự của gia đình mình. Thế nhưng, họ là những phụ nữ không cam chịu. Nojoud đứng lên ly hôn khi mới 10 tuổi mặc cho những thành kiến xã hội còn đó, Latifa đến Pháp như cách cất lên tiếng nói cho phụ nữ Afganistan để rồi sẽ mãi sống cái tên giả, bởi những cực đoan nơi quê nhà luôn chờ đón cô bằng một cái chết không hề báo trước. Họ mạnh mẽ, quyết tâm, kiên trì để sống đời sống mình, dù bước ra từ văn chương hay ngoài đời thực, họ là những người sẽ luôn và sống đúng với mình, với những gì cuộc sống cho phép.

Kết

Bằng chất hài hước vốn có của mình, Rachid El-Daif đã khắc họa một cách thành công tính nữ trong sex – một cách tinh tế và đầy sức mạnh. Trong khi đó, Rajaa Alsanea khơi gợi cách phụ nữ hiện đại vượt lên chính những danh xưng người khác gán chết cho mình – họ tân tiến, học thức, làm chủ bản thân. Nojoud và Latifa như bằng chứng sống cho sức mạnh phụ nữ; họ mạnh mẽ, vươn mình và không chần chứ bất cứ một ngưỡng vọng nào. Từ châm biếm, hòa nhã, phức tạp đến chân thật mà không kiểu cách, những cuốn sách này một cách mạnh mẽ mở toang cánh cửa đóng kín từ lâu của xã hội Hồi giáo, từ đó cho thấy sức mạnh của người phụ nữ. Thế giới đã thay đổi. Hoặc phụ nữ bao giờ cũng thế mà ta không biết.

Hết.

minh.

Đọc tất cả bài viết của minh. tại đây.


Nữ tính trong văn chương



Phía sau trang sách

Thời tái chế: Quyền vứt bỏ đồ vật không làm con người hạnh phúc

Published

on

By

Thời tái chế - tập thơ của Mai Văn Phấn (nhà thơ được giải thưởng văn học Cikada 2017 của Thụy Điển) một lần nữa khẳng định dấu ấn thi pháp độc đáo trong sự kết hợp hài hòa với những suy niệm về quá trình mục rữa của thế giới hiện đại.

Khi con người bị đồ vật bỏ rơi trong Thời tái chế

Những cuộc cách mạng công nghiệp đã khiến cho con người ngày càng sở hữu nhiều đồ vật. Đặc quyền ấy khiến họ có thêm một đặc quyền thứ hai đối nghịch: quyền vứt bỏ đồ vật. Nhưng trong thế giới của Thời tái chế, câu chuyện diễn ra ngược lại: con người bị đồ vật bỏ rơi.

Ngay từ tiêu đề, Thời tái chế đã cung cấp cho ta một chìa khóa gợi ý để giải mã tác phẩm này: chất liệu tái chế không phải là chất liệu gốc, nhưng nó không tồn tại độc lập như cá thể riêng biệt mà bắt nguồn từ một chất liệu gốc có trước. Như vậy, có thể hiểu chất liệu tái chế tự thân nó phần nào cũng là chất liệu gốc (cho một chuỗi những tái - tái chế diễn ra sau đó trong trường hợp khả dĩ). Chính sự bất lưỡng phân này khiến chất liệu tái chế vừa là phép cộng vừa là phép trừ so với chất liệu gốc: phép cộng cho một chất phụ trợ để biến đổi sang đời kế tiếp, phép trừ vì đã mất đi sự cô đặc độc nhất của phẩm tính nguyên thủy. Để hiểu tập thơ này, có lẽ ta cũng cần đi theo một tinh thần như vậy - đó là thế giới mà sự phân chia giữa chủ thể và khách thể không phải lúc nào cũng rõ ràng:

“Mọi người lần lượt tự thú từng là giẻ lau, chổi cùn, hót rác, quyển sách long gáy, chiếc ghế gãy một chân, bàn là chập điện. Tự nhận mình là tấm chăn đã rách, đôi giày há mõm, bộ quần áo lỗi thời, chiếc hộp nhựa lâu năm dính đầy bụi bẩn. Giờ tất cả đang tự giác đến nơi tập kết để được phân loại, bị tiêu hủy, hoặc đợi tái sinh.”

Đôi khi, chính linh hồn cũng bị đồ vật hóa: “Những linh hồn chiếm lĩnh cảnh quan, mang tên đồ vật. Đây linh hồn xà phòng, thùng rác, băng vệ sinh, sách bút, quạt máy, khăn tắm, mâm bát, mồi nhậu, xoong nồi…” Và con người trong sự bất lực của chính mình không thể làm gì khác, ngoại trừ việc: “Tôi nằm xuống đợi giấc mơ khác.”

Do đó, có thể nói Thời tái chế là quá trình biến chủ thể thành khách thể, khách thể thành chủ thể, vật tác động trở thành vật bị tác động và ngược lại. Khi quá trình này kết thúc, cá thể chuyển hóa vẫn cùng lúc mang cả những đặc tính cũ và mới.

Bút pháp biến hóa đa dạng

Thời tái chế thuộc thể loại trường ca nhưng lại được trình bày như một tiểu thuyết ngắn với chín chương, lần lượt có các tiêu đề như sau: Điểm nhìn, Thẫm đỏ, Sân khấu, Lối rẽ, Đồ tể, Đối thoại, Mô hình, Giấc mơ, Kết nối. Thông qua đó, nhà thơ cho thấy sự biến hóa đa dạng trong bút pháp qua từng chương:

Chương I và II miên man trong những hình ảnh vừa trừu tượng, vừa cụ thể, khiến ta không thể tìm được mối nối giữa các sự kiện tưởng chừng dễ nắm bắt - có phần nào gợi nhớ đến hình thức thơ văn xuôi.

Chương III tường thuật một vở kịch nhân sinh từ lúc đêm diễn chuẩn bị bắt đầu đến khi màn nhung đã buông xuống; bằng những câu ngắn gọn, nhịp điệu nhanh, miêu tả chi tiết nhưng từ ngữ giản dị, chương này phần nào mang hơi hướm của kĩ thuật viết kịch bản phim: chỉ thuật lại những gì mắt thấy tai nghe, không đi sâu vào nội tâm nhưng thông qua hành động, tâm tư của nhân vật sẽ được bộc lộ.

Chương IV kể câu chuyện về một người con gái chờ đợi người yêu đi mãi không về lại mang dáng dấp của một truyện ngắn. Phần mở đầu tường thuật lại câu chuyện với bước nhảy thời gian nhanh chóng chỉ trong hai câu ngắn gọn khiến ta liên tưởng đến cách kể của chuyện cổ tích: “Người con gái ấy chờ đợi người con trai ra đi và mãi không về. Chị đã thành một bà lão già nua, run rẩy.” Phần tiếp theo là đối thoại giữa đôi tình nhân về tự do và lí tưởng. Phần kết lại mang tính sử thi với hình ảnh biểu tượng về con thuyền lật úp. 

Chương V kể những câu chuyện về bảy (loại) người đồ tể khác nhau. Họ được định hình qua những tình huống biến họ thành phi nhân, rồi từ đó, họ như bị đóng băng thành một mẫu vật tiêu biểu để trưng bày vào đúng thời điểm chữ được viết xuống. Nghệ thuật nắm bắt khoảnh khắc, biến cái cụ thể thành cái tiêu biểu trong dung lượng câu chuyện vỏn vẹn chừng trăm chữ ở chương này khiến ta nhớ đến thể loại truyện cực ngắn. Chương VII cũng mang phong cách tương tự như chương V.

Chương VI được viết dưới hình thức năm mẫu đối thoại tựa một vở kịch.

Chương VIII và IX là một cái kết trọn vẹn khi quy hồi về tự sự trữ tình như chương I và II, một cấu trúc vòng tròn cho thấy vạn vật tự nhiên và cả con người, cho dù có bị suy hóa và băng hoại đến đâu, cuối cùng cũng sẽ tìm được điểm cân bằng.

Khi tiến hành trò chơi giữa các hình thức qua mỗi chương như thế, Mai Văn Phấn dường như đã thiết lập được một cấu trúc tương tự truyện khung (frame story). Nhưng ở đây, không phải là truyện lồng trong truyện mà là thể loại lồng trong thể loại. Tập trường ca ôm lấy kết cấu tiểu thuyết trong chín chương, mỗi chương lại ôm lấy kết cấu truyện ngắn trong từng phân đoạn, truyện ngắn trong từng phần đoạn đến lượt nó lại như vòng tròn nhỏ nhất trong chuỗi vòng đồng tâm ôm lấy cái hạt cốt lõi, nguyên sơ nhất là thơ ca. Từ chương mở đầu đến chương kết thúc của Thời tái chếnhư một hành trình đi từ sự mơ hồ của thơ đến sự sáng rõ của văn xuôi.

Máu là chất dẫn truyền cho hình thức chuyển điệu

Trong những chuyển điệu liên tiếp về hình thức, một hình ảnh xuyên suốt được Mai Văn Phấn sử dụng để kết nối những đơn vị chương với nhau là máu. Máu trong Thời tái chế vừa mang tính tinh thần vừa mang tính vật chất. “Máu phun trào. Máu đắp lên máu trong chiến trận. Rừng hoang mất máu thối rữa xác chết. Sông suối, ao hồ mất máu trương phềnh xác chết.” Trong phần trích này, ở hai câu đầu máu mang tính vật chất, như kết thành những khối nặng nề chất chồng lên nhau; ở hai câu sau máu lại mang tính tinh thần trong phạm trù là linh hồn của thiên nhiên.

Có khi, máu được đặc tả ở góc độ khứu giác: “Giấc mơ máu xông lên mùi hăng nồng nặc,” có khi ở góc độ thị giác với sự kết hợp bất ngờ: “Tôi đau giấc mơ cây cỏ úa vàng, trút xuống từng cơn thiếu máu.” Có khi máu mang tính thời đoạn: “Lá khô đưa tôi về một thời mất máu, một thời khinh rẻ máu, một thời gian lận máu, một thời lợi dụng, tụng ca máu.” Có khi máu trở thành một đấng cứu thế: “Ta dừng lại quỳ xuống tạ ơn máu!”, “Không thể trả ơn được máu,” “Máu vô giá và bất tử.” Nhưng chính máu cũng nằm trong một vòng “tái chế” của riêng nó: “Giọt máu ấy bây giờ có hình hạt sương mang ánh sao khuya, giọt mưa trong lành buổi sớm, vệt nước cam em bé vừa uống lỡ rớt xuống cằm.”

Vì sao máu là hình ảnh được tác giả nhấn mạnh trong Thời tái chế? Phải chăng vì máu là một trong những đơn vị cơ bản nhất của sự sống, là chất liệu gốc mà dù có bị tái chế bao nhiêu lần vẫn giữ nguyên tầm quan trọng của nó. Do đó, máu là chất dẫn truyền cho ta quay về những giá trị cốt lõi nhất của tự nhiên, của việc sống, việc làm người; rằng đôi khi để vượt qua những thời điểm khó khăn, ta chỉ cần dừng lại một phút để cảm nhận dòng máu nóng hổi vẫn chảy trong cơ thể mình.

“Máu điềm nhiên từng bước khoan dung, bình an tựa hơi thở của bé thơ đang ngủ... Mọi người và tôi bắt đầu thở mạnh, không còn sợ hãi. Chúng tôi bỗng chốc có cùng nhóm máu, cùng nằm yên cho dòng sông đỏ tươi ấm nóng đi qua.”

Đó có thể là một “giải pháp” mà nhà thơ Mai Văn Phấn đã gợi ý cho chúng ta khi sống trong Thời tái chế ngày nay.

Thông tin tác giả

Sinh 1955, tại Kim Sơn - Ninh Bình, hiện sống và sáng tác tại thành phố Hải Phòng. Đoạt một số giải thưởng Văn học Việt Nam và quốc tế, trong đó có Giải thưởng Hội Nhà văn VN 2010, Giải Văn học Cikada của Thụy Điển 2017. Đã xuất bản 16 tập thơ và 1 tập phê bình & tiểu luận tại Việt Nam; 15 tập thơ ở nước ngoài và trên mạng phát hành sách của Amazon. Thơ Mai Văn Phấn được dịch sang 25 ngôn ngữ, gồm: tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Thụy Điển, Hà Lan, An-ba-ni, Serbia, Macedonia, Montenegro, Slovakia, Ru-ma-ni, Thổ Nhĩ Kỳ, Uz-bék, Kazakh, Ả-Rập, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Ne-pan, Hin-đi và Ben-ga-li (Ấn Độ).

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Gót sen ba tấc: Có ai hiểu nỗi đau kim liên?

Published

on

By

Gót sen ba tấc của nhà văn Phùng Kí Tài khắc họa sinh động những tâm tình buồn vui, những chuyện dở khóc dở cười xoay quanh phong tục bó chân thiếu nữ đã tồn tại gần một nghìn năm suốt chiều dài lịch sử phong kiến Trung Quốc.

Chuẩn mực cái đẹp trong đôi chân chỉ vừa vặn dài hơn điếu thuốc lá

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Thời phong kiến Trung Quốc từng tồn tại quan niệm thẩm mĩ rằng chân phụ nữ phải nhỏ mới đẹp. Độ dài chuẩn mực chỉ nên từ ba đến bốn tấc, trong đó dài hơn bốn tấc gọi là “thiết liên”, tầm bốn tấc là “ngân liên”, và ở đỉnh cao nhất được mọi người ngưỡng vọng gọi là “kim liên” thì chỉ vỏn vẹn có ba tấc - tức dài hơn điếu thuốc lá một chút. Vì quan niệm này, những bé gái tầm từ bốn đến chín tuổi đã bị buộc phải bó chân để bàn chân không phát triển nữa và có thể uốn nắn lại hình dạng: chỉ giữ ngón cái tự nhiên, bốn ngón còn lại quặp cong xuống lòng bàn chân.  

Phong tục bó chân bắt nguồn từ thời Ngũ Đại Thập Quốc vào thế kỉ thứ 10, vốn chỉ dành cho những vũ công thuộc tầng lớp thượng lưu, sau đó dần thịnh hành trong giới quí tộc đời Tống, và phổ biến rộng nhất trong mọi giai tầng xã hội vào đời Mãn Thanh rồi thoái trào vào những năm đầu thế kỉ 20.

Lấy bối cảnh Trung Quốc trải dài từ những năm cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20, Gót sen ba tấc thuật lại toàn bộ những thăng trầm trong cuộc đời của nữ nhân vật chính Qua Hương Liên. Ở tuổi lên bảy, Hương Liên bị bà ngoại buộc phải bó chân, chịu trăm bề đau đớn như bao bé gái thời bấy giờ. Nhưng cũng nhờ đôi chân nhỏ ba tấc ấy, vào năm mười bảy tuổi, Hương Liên lọt vào mắt xanh của lão gia đại phú Đồng Nhẫn An – chủ hiệu đồ cổ Dưỡng cổ trai vốn mê mẩn gót sen. Cô nhanh chóng được gả vào nhà họ Đồng danh giá, làm con dâu cả. Nhà họ Đồng vốn xác định vị trí quyền lực của con dâu dựa trên đôi chân chứ không phải thứ bậc hay tài trí. Chính vì vậy, Đồng Nhẫn An thường tổ chức Hội thi chân để con dâu trong nhà phân cao thấp dưới sự chứng kiến của những giám khảo là bạn bè ông trong giới tri thức – cũng là dân nghiện gót sen. Bị cuốn trong vòng xoáy tranh đua này khi bước chân vào nhà họ Đồng, Hương Liên đã trải qua bao phen sóng gió để từng bước khẳng định mình trong một xã hội mà đôi chân cũng cần phải trang điểm thật kĩ càng, và khi cưới xin, người ta chỉ nhìn chân mà không xem mặt.

Gót sen - nghệ thuật hay sự tàn nhẫn?

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Trong Gót sen ba tấc, công đoạn bắt đầu bó chân cho một bé gái được Phùng Kí Tài miêu tả rất chi tiết. Sự chi tiết này tạo độ tin cậy như một tài liệu tham khảo nhưng đồng thời cũng khiến người đọc rùng rợn trước nỗi đau khi hủy hoại một bộ phận cơ thể bẩm sinh tự nhiên.

“Dải vải bó chặt bốn ngón, quấn xuống lòng bàn chân, vòng lên mu bàn chân, kéo chặt ra sau gót rồi lại bó bốn ngón một vòng nữa. Đoạn bà lật ngửa bàn chân lên, lấy sức kéo về phía sau, bắt bốn ngón quặp hẳn vào lòng bàn chân. Hương Liên chỉ cảm thấy chỗ này đau, chỗ kia chặt, chỗ đó tức chỗ nọ gãy, nhưng bà không cho em kịp cảm nhận kĩ từng vị, cứ làm thật nhanh, quấn thêm hai vòng như trước. Sau đó bà kéo dải vải về phía trước, quấn kĩ ngón chân cái còn để chừa ra ngoài, rồi cứ từng lượt từng lượt từ trước ra sau, bó chặt cứng bốn ngón chân quặp vào lòng bàn chân, chặt như lấy kìm kẹp chặt, không thể động cựa một li một lai, nửa li nửa lai nào.”

Nhưng đó chưa phải là tất cả, “gãy được đốt ngón chân mới thành một nửa, rụng cả xương ngón chân mới gọi là hoàn thành.” Và công đoạn tạo dáng cho bàn chân sau khi bó còn đau đớn hơn gấp bội phần: “Bà nhặt ít mảnh bát vỡ, đập vụn ra, đệm dưới bàn chân khi bó lại. Hễ em bước đi, mảnh bát vỡ cứa nát chân em. Mấu cán chổi của bà có vụt đen đét như thế nào, Hương Liên cũng không chịu nhúc nhắc nữa. Bị đòn còn hơn chân bị cứa đau. Bàn chân nát bó kín trong đám vải vỡ mủ ra. Mỗi lần thay vải bó, bao giờ bà cũng phải lôi tuột cả máu mủ lẫn thịt thối. Thực ra đó là cách bó chân có từ lâu đời ở nông thôn miền Bắc. Thịt có rữa, xương có gãy mới có thể thay hình đổi dáng như ý muốn.”

Tuy nhiên, điểm tạo nên giá trị đặc biệt của Gót sen ba tấc lại không chỉ đơn thuần nằm ở việc Phùng Kí Tài nêu ra những đau đớn, bất hạnh một người phụ nữ bó chân phải gánh chịu - vốn là điều người đời sau dễ dàng nhận thấy ở hủ tục này. Tác phẩm của Phùng Kí Tài tinh tế hơn khi ông chỉ ra những phức cảm xoay quanh đôi chân bó bằng cách xây dựng một nhân vật ở phía đối trọng với Qua Hương Liên là Đồng Nhẫn An. Là một nhà buôn đồ cổ nhưng chỉ bán đồ giả, Đồng Nhẫn An không những tinh thông các mánh lới phân biệt đồ thật - đồ giả, mà còn thâm tường nghệ thuật gót sen từ cổ chí kim. Cách Đồng Nhẫn An tín ngưỡng đôi chân khiến ta nhớ đến nhân vật lão già Utsugi trong tác phẩm Nhật ký già si của nhà văn Tanizaki Junichiro. Cũng như Utsugi cuồng vọng đôi chân con dâu; với Đồng Nhẫn An, bó chân không chỉ là nghệ thuật mà đã được nâng thành thứ tối cao tựa tôn giáo, thành nghi thức ông bắt buộc con cháu phải tuân theo.

Điều lạ lùng là dù cực đoan như thế, người đọc lại không thể ghét bỏ nhân vật này. Trong ngòi bút của Phùng Kí Tài, Đồng Nhẫn An không phải là đen, còn Qua Hương Liên là trắng. Khi kể chuyện dưới điểm nhìn của Đồng Nhẫn An, Phùng Kí Tài không viết với giọng điệu phê phán, đả kích; ông để nhân vật tự đưa ra chính quan điểm của mình. Và bằng kiến văn sâu rộng, Phùng Kí Tài thuyết phục được ta tin rằng trong đôi mắt của đàn ông thời xưa việc bó chân không chỉ đơn thuần là hình thái áp đặt phụ quyền nhằm hạn chế chuyển động nữ nhi, mà còn vì họ thực sự nhìn thấy vẻ đẹp trong đôi chân bó. Vì thế, Gót sen ba tấc không rơi vào vòng cực đoan phê phán một chiều. Phùng Kí Tài dường như cho người xưa một cơ hội biện minh, và đồng thời đưa người đọc rơi vào phức cảm trong việc phân định đúng sai.

Nghệ thuật kể chuyện xuất sắc với giọng văn linh hoạt

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Gót sen ba tấc nằm trong bộ ba tác phẩm văn học “tầm căn” (tìm về cội nguồn, những giá trị xưa cũ) của Phùng Kí Tài bên cạnh Roi thần, Âm dương bát quái. Với chủ đề gót sen, tác phẩm này tưởng chừng sẽ mang màu sắc nặng nề, buồn bã nhưng thực tế, Phùng Kí Tài lại đem đến cho người đọc góc nhìn hài hước, lí thú khi biến tục bó chân thành một trò chơi nghệ thuật, đồng thời vẫn giữ được nét trầm buồn trước những suy tư về thời cuộc biến đổi.

Trước khi chính thức vào hồi thứ nhất của câu chuyện, Gót sen ba tấc có phần dẫn nhập với tiêu đề “Vài lời dông dài”. Ở phần này, tác giả đã liệt kê một loạt chuyện hoang đường xảy ra ở vệ Thiên Tân trong cùng một ngày: một gia đình giàu có bố thí cháo cho người tàn tật khắp thiên hạ tạo nên cảnh tượng hỗn loạn đến mức chẳng ai hay loài động vật nào dám ra đường, một phu nhân nhà quí tộc nọ ăn táo bị chẹn ngang họng phải nuốt con rắn nhỏ dài để đẩy hột táo rơi xuống bụng... Những diễn biến này tuy thoạt kì thủy có vẻ không ảnh hưởng nhiều đến mạch truyện chủ đạo nhưng chính nó đã góp phần tái hiện bối cảnh sống động cho câu chuyện chuẩn bị bắt đầu. Ngoài ra, nó còn có tác dụng là chất phụ trợ cho sự phi lí hóa, pha loãng đi cảm giác về tính hiện thực của câu chuyện sẽ được kể trong khi vẫn cùng lúc giữ được màu sắc hiện thực với những chi tiết lịch sử có thật về tục bó chân. Đây là một lựa chọn nghệ thuật kể chuyện tài tình của Phùng Kí Tài.

Trong Gót sen ba tấc, văn phong của Phùng Kí Tài sinh động vì ông liệt kê tất cả những yếu tố có thể kết hợp với nhau trong một tổ hợp được đưa ra. Điều đó khiến câu văn ông vừa có sinh khí vừa đặc biệt hài hước bằng cách phóng đại những chi tiết. Ở điểm người khác đã dừng lại thì Phùng Kí Tài không chịu bỏ lỡ cơ hội tiềm năng để chi tiết phát triển, cứ khiến nó nở bừng ra như một nhánh cây căng tràn sức sống, không ngừng mọc thêm nhánh con, từ nhánh con mới lại có nhiều nhánh khác sinh thành. Dưới đây là một ví dụ:

“Nếu vị nào chưa hề nghiên cứu, ngàn lần xin đừng góp chuyện bừa. Vị bảo bó chân thật khổ, nhưng bó rồi cũng thật đẹp đấy! Vị chửi chân bó xấu, hừm, chân bó lại mắng vị mới xấu kia! Nếu triều Thanh không đổ, làm sao có khóc có cười, muốn sống muốn chết, bó rồi cởi, cởi rồi bó, lại bó lại cởi, lại cởi lại bó? Người thời bấy giờ thật sự coi chân bó hơn cả đầu óc. Nhưng các vị chớ có tưởng bây giờ tiệt nòi chân bó thì vạn sự đại cát. Không bó chân thì có thể bó tay, bó mắt, bó tai, bó óc, bó lưỡi, rồi cũng lại có khóc, có cười, muốn sống, muốn chết, bó bó cởi cởi, cởi cởi bó bó, cởi bó bó cởi, bó cởi cởi bó.”

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Ở ví dụ này, ta có thể thấy hai đơn vị “cởi” và “bó” được ông khai thác triệt để ra sao, khi thì ông ghép “bó” với một loạt bộ phận cơ thể khác nhau, khi thì ông song điệp giữa “bó” và “cởi” bằng cách thay đổi thứ tự xuất hiện. Một ví dụ khác:

“Người ta bảo việc nào cũng chỉ có một cái lí, còn tôi, tôi bảo việc nào cũng có hai cái lí. Mỗi người có cái lí của mình, thế là thiên hạ thái bình. Mọi người tranh nhau một cái lí, thế là thiên hạ bất an. Người xưa thích tìm ra sự thật, truy cứu xem gà đẻ ra trứng hay trứng nở ra gà. Ai đẻ ra ai mặc xác! Có gà chén, có trứng xơi, anh chén gà, tôi xơi trứng, anh chén trứng, tôi xơi gà; hoặc anh chén cả trứng lẫn gà, tôi cũng xơi cả gà lẫn trứng, thế chẳng đều ăn ngon, đều no bụng cả sao?”

Ở đây, ông lại tiến hành trò chơi giữa hai đơn vị là “trứng” và “gà”. Đây chính là cách Phùng Kí Tài biến những triết lí nhân sinh sâu sắc thành những câu văn hài hước, dí dỏm, dễ tiếp thu với nhiều người đọc.

Và dĩ nhiên, Gót sen ba tấc không chỉ có phong vị hài hước. Văn phong Phùng Kí Tài thay đổi linh hoạt tùy theo điểm kể. Ở phần dẫn truyện, vì kể dưới góc nhìn thánh thần, của một người ở vị thế biết tất cả nên ông chọn văn phong hài hước, châm biếm. Nhưng ở hồi thứ nhất, khi kể chuyện dưới góc nhìn của một đứa trẻ mới bảy tuổi chưa hiểu nhiều sự đời đã bị buộc phải bó chân, giọng văn ông lại trở nên xót thương, đồng cảm. Ở những phân đoạn miêu tả họa tiết giày, với kiến thức hội họa từ thời gian làm giáo viên mĩ thuật, ông khiến người đọc mê mẩn bởi lối tả cực kì chi tiết những mẫu hoa văn, những đường trang trí. Và khi viết về cái chết, ông dùng những câu đơn giản nhất để đẩy tiến trình đi đến cửa tử một cách nhanh chóng lại càng cho thấy hiện thực khắc nghiệt, không có thời gian để khóc thương hay suy ngẫm về sự mất mát.

Bên cạnh chủ đề bó chân, Gót sen ba tấc còn bàn đến chủ đề thật - giả. Không chỉ tranh bị làm giả mà cả gót sen cũng có thể làm nhái. Vậy giá trị của một con người dựa trên những chuẩn mực vốn giả dối sẽ ra sao? Một lần nữa, Phùng Kí Tài khiến ta chiêm nghiệm vấn đề nhân sinh giữa thật và giả. Giả quá đến mức nào đó cũng hóa thật. Và cái thật không phải lúc nào cũng là cái đúng. Cái đúng cũng không hẳn luôn là cái tốt đẹp.

Thông tin tác giả

Phùng Kí Tài

Phùng Kí Tài là một trong số những nhà văn nổi tiếng trong thời kì văn học mới của Trung Quốc kể từ sau 1977 đến nay. Ông sinh năm 1942 ở thành phố Thiên Tân nhưng gốc gác ở thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang.

Sau khi tốt nghiệp trung học, nhờ tầm vóc cao lớn, Phùng Kí Tài tham gia hội bóng chuyền rồi chuyển sang làm giáo viên dạy vẽ, chuyên vẽ theo lối cổ. Trong “cách mạng văn hóa”, ông chịu nhiều khổ cực như bao trí thức khác, từng làm công nhân, nhân viên bán hàng, dạy học và nhiều công việc khác nữa. Những nỗi cực nhọc cùng những công việc không hợp sở trường không hề làm ông nhụt chí, mà lại làm giàu cuộc đời sáng tác của ông.

Tác phẩm tiêu biểu:

- Gót sen ba tấc
- Roi thần
- Âm dương bát quái

Nhận xét báo chí nước ngoài

Ảnh: Facebook Tao Đàn

“Một tiểu thuyết thật sự xuất sắc, hấp dẫn với hàm lượng văn chương cực phẩm. Phùng Kí Tài kể chuyện thông minh, phần lớn nhờ sự dửng dưng mỉa mai khôi hài, khi chọn tục bó chân như một phương tiện khảo sát quá khứ Trung Quốc để đưa ra lời bình phẩm về thời nay.”
- The New Yorker

“Vừa đáng sợ vừa hài hước, vừa quái lạ vừa thực tế, vừa diễm tình vừa thuần khiết, vừa mơ hồ vừa chi tiết, câu chuyện này hoàn toàn choán hết tâm trí ta.”
- Library Journal

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Chiếc hộp Pandora: Màu thanh tân nơi chốn thê lương

Published

on

By

Bên trong Chiếc hộp Pandora hẳn nhiên là tai họa – điều đó chúng ta đều đã biết. Nhưng một câu hỏi khác, có lẽ cũng quan trọng không kém: “Thế còn bên ngoài thì sao?” Tiểu thuyết Chiếc hộp Pandora của Dazai Osamu đã dò xét thật kĩ lưỡng phần bên ngoài chiếc hộp - tức tâm tư của người mở hộp.

Chiếc hộp Pandora có bối cảnh diễn ra vào giai đoạn Nhật Bản vừa thất bại sau chiến tranh, đang trong quá trình phục hồi lại. Lúc bấy giờ, bệnh lao phổi còn là một căn bệnh nan y.

Tác phẩm được viết dưới hình thức epistolary (thư từ) của một người thanh niên tên là Koshiba Risuke gửi cho bạn mình kể về những ngày tháng điều trị bệnh lao của anh ở một viện điều dưỡng kì lạ tên là Kenkodojo. Nơi đó, mọi người đều được đặt những biệt danh thân mật. Koshiba được những người trong viện gọi là Hibari (chim sơn ca).

Thông qua những lá thư, Hibari đã tái hiện lại chi tiết đời sống hàng ngày ở Kenkodojo. Tại đây có qui định gọi giám đốc bệnh viện là viện trưởng, bác sĩ là chỉ đạo viên, y tá là trợ lí, bệnh nhân là học viên... với chủ trương xem bệnh viện như trường học để bệnh nhân tự tin, lạc quan hơn, quên đi căn bệnh của mình. Ở thời điểm hiện tại, mô hình được đề cập trong truyện vẫn còn gợi ra nhiều điều đáng học hỏi trong công tác y tế.

Chiếc hộp Pandora đã được chuyển thể thành hai phiên bản phim điện ảnh vào năm 1947 và năm 2009.

Số phận trắc trở của một tiểu thuyết từ mối tâm giao giữa nhà văn và độc giả

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Chiếc hộp Pandora được viết dựa trên nhật kí giường bệnh của Kimura Shosuke (1921-1943), một độc giả hâm mộ Dazai. 

Shosuke sinh ra ở làng Aodani (hiện tại là thành phố Joyo), quận Tsuzuki, tỉnh Kyoto; là con trai trưởng trong một gia đình kinh doanh bán sỉ trà Uji với bố là ông Kimura Jutarou và mẹ là bà Toyo. Ông là người con thứ hai trong gia đình có sáu anh chị em.

Năm 1936, ông tốt nghiệp trường Kyoto Thực Tu Thương Nghiệp. Để nối nghiệp gia đình, ông học việc trong một hiệu buôn trà ở thành phố Shizuoka, nhưng rồi bị nhiễm bệnh lao và phải nhập viện. Hồi hương khi bệnh tình đã thuyên giảm, ông tiếp tục trị liệu tại nhà và đồng thời nuôi chí làm nhà văn, ông đã tự xuất bản truyện ngắn trong một tạp chí làm chung với những người đồng chí hướng.

Vào khoảng thời gian ấy, sau khi đọc một truyện ngắn của Dazai đăng trên báo Bungei (Văn nghệ) số tháng 4 năm 1940 có tên là Zenzo wo omou (Tạm dịch: Nghĩ về Zenzo), Shosuke đã hoàn toàn ái mộ Dazai. Zenzo trong tiêu đề truyện ngắn này là chỉ nhà văn Kasai Zenzo (1887-1928), quê ở tỉnh Aomori, đồng hương với Dazai. Ông đã qua đời vì bệnh lao sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh tật. Có lẽ vì vậy mà Shosuke - một người cũng đang mang căn bệnh tương tự, khi đọc Nghĩ về Zenzo lại dễ dàng đồng cảm hơn. Vào cuối tháng 7 ngay trong năm đó, Shosuke đã gửi thư cho Dazai, mối liên lạc qua thư từ của hai người đã bắt đầu từ đây.

Kimura Shosuke

Ngày 27.3.1941, Shosuke lập kế hoạch tự tử bằng Bromisoval - một loại thuốc thôi miên và an thần, nhưng thất bại. Tháng 7 năm đó, chứng thổ huyết và bệnh lao của ông lại chuyển biến xấu. Ngày 15.8.1941, ông vào viện điều dưỡng Kusaka thuộc tỉnh Osaka, quận Nakakawachi, làng Kusaka (hiện tại là thành phố Higashiosaka) để tiếp tục điều dưỡng. Cuối năm, ông lại chuyển sang viện điều dưỡng Kamejima thuộc tỉnh Aichi.

Tháng 2.1942, ông rời viện trở về nhà nhưng tháng 9 năm đó bệnh tình lại chuyển biến xấu hơn. Cuối năm đó, ông lại nhập viện điều dưỡng Kyoto ở thành phố Kyoto.

Ngày 13.5.1943, vì bệnh tật đau đớn, Shosuke đã tự tử bằng Bromisoval và qua đời ở tuổi 22. Ông để lại di chúc rằng muốn trao toàn bộ 12 quyển nhật kí cho Dazai, và dựa vào nguồn tư liệu đó Dazai đã viết tiểu thuyết Hibari no koe (Tạm dịch: Tiếng hót chim sơn ca; hoặc có thể hiểu là Giọng nói của Hibari) vào năm 1943. Tác phẩm này đã không được phát hành vì ngay trước khi xuất bản thì nhà in bị không kích dẫn đến việc toàn bộ số sách vừa in bị thiêu hủy. Sau chiến tranh, Dazai đã viết lại Hibari no koe dựa trên bản in thử còn sót lại lúc bấy giờ, đổi tên tác phẩm thành Chiếc hộp Pandora. Tác phẩm này bắt đầu được đăng tải trên tuần báo Kahoku từ 22.10.1945 đến 7.1.1946, tổng cộng có 64 kì.

Hình thức thư từ được truyền tải sống động dưới ngòi bút của Dazai

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Với nhiều lần chuyển viện, trải qua nhiều phương pháp trị liệu khác nhau, 12 quyển nhật kí của Kimura Shosuke là nguồn tài liệu thực tế dồi dào cho Dazai viết Chiếc hộp Pandora. Tuy nhiên, ông không viết tác phẩm này dưới hình thức nhật kí như nguồn tư liệu gốc mà chuyển thành hình thức thư từ. Có lẽ, lựa chọn này phần nào là sự phản chiếu lại mối quan hệ thư tín của chính Dazai và Shosuke trên thực tế.

Hình thức thư từ đồng nghĩa với việc kể lại chuyện đã qua khiến tác phẩm chủ yếu là lời trần thuật nội tâm của người viết thư. Tuy nhiên, nội dung của những lá thư lại không hẳn chìm trong thì quá khứ. Đôi khi, Dazai tạo cảm giác tươi mới về thì hiện tại bằng cách để người viết thư tả lại môi trường xung quanh diễn ra như thế nào khi anh đang viết (có người qua lại chào hỏi ngắt quãng mạch viết của anh, những gì anh đang thấy, những gì anh nghe được...), tâm trạng của anh lúc viết những dòng đó, những hoạt động vừa diễn ra ngay trước khi viết.

Về người đọc thư trong Chiếc hộp Pandora, ta chỉ biết đó là một nhà thơ và không biết được danh tính cũng như thông tin nào cụ thể hơn. Điều này tạo khoảng trống cho sự hóa thân của người đọc vào vị trí người trực tiếp trao đổi thư từ với Hibari (người viết thư).

Chiếc hộp Pandora cũng viết theo dạng monologic khi không đưa ra những bức thư từ hai phía mà chỉ trình hiện cho người đọc biết chiều gửi thư từ một phía. Do đó, ở những phân đoạn Hibari tạm dừng kể chuyện và chia sẻ với bạn thư về nhân sinh quan của mình, tác phẩm khiến ta phần nào hoài nhớ Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi của Rainer Maria Rilke.

Chiếc hộp Pandora có lối kể chuyện theo kiểu slice of life, trình bày từng lát cắt cuộc sống hằng ngày với cách dựng truyện phản cao trào. Không hề có một kịch tính chung để dẫn đến cao trào cho toàn bộ câu chuyện, hay có thể nói là kịch tính tự triệt tiêu trong từng chương: một vấn đề đưa ra từ đầu chương sẽ được giải quyết ngay cuối chương đó. Việc này xảy ra có lẽ là do hình thức thư từ bởi tâm lí chung của một người khi viết thư là thuật lại trọn vẹn câu chuyện khi mọi thứ đã được giải quyết. Vì vậy, người đọc cũng không nhất thiết phải đọc hết Chiếc hộp Pandora trong một lần đọc mà có thể mỗi ngày đọc một chương như cách ta chậm rãi đọc thư của một người bạn phương xa rồi ngồi viết hồi âm và chờ đợi một cánh thư nữa lại đến với tất cả tấm chân tình.

Tâm tư sôi sục của những thanh niên trước thời cuộc đất nước

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Trong Chiếc hộp Pandora, hình ảnh con thuyền được lặp lại nhiều lần qua tự sự của Hibari dường như để gợi sự liên kết đến con thuyền của Noah – là thứ duy nhất cứu rỗi con người và động vật trong sự kiện Đại Hồng Thủy mà Chúa tạo ra để trừng phạt sự suy đồi nhân thế. Có lẽ con thuyền chính là hình ảnh đối lập với chiếc hộp Pandora, là chút hi vọng còn sót lại. Và những con thuyền kiêu hãnh lướt trên đạo lộ thủy triều này – theo Dazai, không gì khác hơn, chính là những thanh niên mang lại hương vị tuổi trẻ tràn đầy nhiệt huyết cho một cuộc tái thiết Nhật Bản mới.

“Những người thuộc thế hệ cũ chỉ có thể hiểu tâm tư tình cảm của chúng tôi như là một thứ dũng khí bồng bột hay sự khủng hoảng ở chặng cuối của tuyệt vọng. Thật đáng buồn... Thực sự, trong khi người lớn đang tiếp tục to tiếng để tranh luận đến cùng về trách nhiệm của cuộc chiến tranh, về lòng ái quốc, thì chúng tôi quyết định bỏ lại họ ở phía sau và ngay lập tức lên đường theo lời kêu gọi trực tiếp của Thiên Hoàng. Tôi cảm thấy chính điều đó mới là những đặc trưng của một nước Nhật kiểu mới.”

Chiếc hộp Pandora nói lên nỗi niềm băn khoăn của người thanh niên trước thời cuộc đất nước. Và có lẽ thông qua đó, Dazai cũng phần nào bày tỏ quan điểm nghệ thuật của chính mình khi chọn góc nhìn từ cuộc sống của những thanh niên nhỏ bé, bị gạt ra ở một góc khuất bên lề xã hội khi mắc căn bệnh ác tính nhưng vẫn đau đáu trước thời cuộc, rằng cuộc sống phải được nhìn nhận từ chính sự tươi mới, từ nhịp đập nóng hổi trong vòng quay không ngừng tự tái tạo mỗi ngày khi mặt trời mọc chứ không phải từ những lí thuyết khô khan trên sách vở hay những chân lí thuộc về một thiểu số trọng yếu của thời đại.

Và theo Dazai, con đường để trụ vững trên bản đồ thế giới là không ngừng học hỏi, tiếp thu kiến thức chung của nhân loại một cách sâu sắc – đây cũng chính là tư duy khiến Nhật Bản trở thành cường quốc từ thời Meiji.

“Người Nhật nhất định phải nghiên cứu Kinh Thánh trước khi nghiên cứu khoa học và triết học phương Tây. Mặc dù tôi không phải là người theo đạo Thiên Chúa, nhưng nếu Nhật Bản không hề nghiên cứu Kinh Thánh mà chỉ tìm hiểu sơ sài mỗi bề nổi của nền văn minh phương Tây, thì tôi tin rằng đây thực sự là nguyên nhân đại bại của Nhật Bản.”

Đã đến thời kì lên ngôi của sự thanh cao và tươi sáng

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Chiếc hộp Pandora cũng bàn đến quan niệm về “karumi” (thanh thoát) như một thi tính thiết yếu nói riêng và như một phẩm tính quan trọng nói chung về nghệ thuật, về lẽ sống ở đời.

“Hãy nhìn chú chim bay trên bầu trời. Đó không phải là vấn đề mang tính học thuyết. Đó là sự dối trá và vô dụng. Chỉ bằng cảm xúc, tôi có thể hiểu mức độ thuần khiết của con người. Vấn đề là cảm xúc. Là vần điệu. Nghệ thuật nếu không thanh cao và tươi sáng thì tất cả chỉ là nghệ thuật rởm.”

Và Dazai đã để cho nhân vật, hay một phần nào đó trong chính ông khẳng khái thốt lên: “Đã đến thời kì lên ngôi của sự thanh cao và tươi sáng.” Vì vậy, khác với tâm cảm bi đát thể hiện trong một số tác phẩm của Dazai, ở Chiếc hộp Pandora, ta cảm nhận được sự dịu dàng trong nỗi u hoài, màu thanh tân nơi chốn thê lương. Dù phải đối diện với căn bệnh không thể chữa khỏi, các nhân vật vẫn đưa ra rất nhiều quan điểm sống tích cực. Có lẽ, vẻ đẹp của con người khi bước ra từ nỗi đau mà vẫn giữ được nét ngây thơ trong sáng chính là sự thanh cao bậc nhất.

Chiếc hộp Pandora cấu thành từ những lá thư, ta có thể hiểu cái kết trong truyện chỉ là kết tạm. Những bức thư, những tâm tình, đời sống của nhân vật vẫn sẽ tiếp diễn, chỉ là ta không được đọc nó nữa. Và như Dazai đã viết, chính ta cũng phải lao vào cuộc sống như một cây nho đang vươn mình lớn lên.

Thông tin tác giả

Dazai Osamu (1909 – 1948) sinh ra ở thị trấn Kanagi, tỉnh Aomori vào năm 1909, tên thật là Tsushima Shuji. Gia đình Dazai có mười một người con. Vì mẹ quá ốm yếu, không thể trông nom hết con cái nên Dazai sống với một người dì. Ông bắt đầu viết từ khá sớm và trong năm 1930, ông đã ghi danh học khoa Ngữ văn Pháp tại trường đại học Tokyo. Sinh thời, Dazai từng cố gắng tự sát nhiều lần với những lí do khác nhau. Tự sát trở thành một yếu tố then chốt trong những tác phẩm của ông. Dazai đã có một văn nghiệp lẫy lừng trước Thế chiến nhưng những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông lại là các sáng tác ở giai đoạn hậu chiến khi ông phê phán cả đất nước và chính bản thân mình. Tâm thế đó một lần nữa khiến ông rơi vào tuyệt vọng dẫn đến việc tự sát và qua đời năm 1948.            

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng