Phía sau trang sách

Pedro Páramo: Tác phẩm viết về và viết bởi cái chết

Pedro Páramo là tác phẩm viết về và viết bởi cái chết. Một cách tài tình sau khi đi một vòng xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết, ta nhận thấy tất cả những nhân vật trong này, dù già trẻ lớn bé, xuất hiện nhiều hay chỉ trong một khung cảnh, tất cả đều đã chết.

Published

on

“Thực tình họ đã quá ồn ĩ vì một người chết của gia đình rồi. Nếu là người thân của họ thì có lẽ họ sẽ chẳng khóc lóc thảm thiết đến như thế đâu”.

Mexico và vẻ đẹp tràn đầy năng lượng của mình từng đến với tôi thông qua văn chương cũng như phim ảnh. Nếu phim ảnh là Coco với cảm xúc và sự tươi trẻ, là Roma với những gam màu trắng đen của thói đời lên xuống; thì Mexico trong văn chương của Jack Kerouac là những ngày rong ruổi tuổi trẻ, là mảnh đất của hoang dại, là khát khao được thoát khỏi chiếc lồng ngột ngạt của mực thước xã hội. Và Mexico thì còn gì nữa? Là lễ hội của phông nền văn hóa, là Carlos Fuentes với Nàng Aura từng đọc khi 19 20, và thật lòng mà nói, là chẳng hiểu gì. Nhưng như một nhân duyên tình cờ, nhờ yêu thích Jorge Amado mà tôi tạt ngang Márquez trong cơn đồng mộng, và ở một truyện ngắn được in trong quyển Tuyển truyện ngắn (mà tôi không thể nhớ tên), ông đã nói: “Tôi có thể kể xuôi toàn bộ tác phẩm này từ đầu đến cuối rồi lại kể ngược từ cuối lên đầu”. Cứ thế Pedro Páramo đến với tôi qua dây chuyền nền văn chương Mỹ Latin, và quả thật, Márquez đã một lần nữa đóng vai Jorge Amado khi cho thấy cái nhìn cực kì quái lạ vào sâu trong Juan Rulfo – một trong những nhà văn mà tôi vô cùng đồng tình, vĩ đại nhất văn chương Mexico.

Pedro Páramo xoay quanh câu chuyện về một chàng trai đi tìm cha, nhưng tiểu thuyết này cũng không thoát ra khỏi cái đặc trưng của văn chương Mỹ Latin nói chung và Mexico nói riêng của thời kỳ này. Đọc sâu vào Pedro Páramo ta vẫn thấy đâu đó là hình dáng của tên độc tài, là đời sống áp bức, là khởi nghĩa nổi dậy, là sự giằng xé nội tâm đi tìm bản chất của người. Tất cả viết trong phông nền đậm màu hiện thực kỳ ảo dưới ngôi kể từ nhiều góc nhìn, không – thời gian được cắt ra từng lớp và xếp chồng lên nhau. Từ Alejo Carpentier đến García Márquez, từ Jorge Amado đến Carlos Fuentes, và nay là Juan Rulfo; tất cả những ngòi bút ấy đều mang trong mình sứ mệnh văn chương để kể câu chuyện trong những huyễn hoặc viễn tưởng khó mà nghĩ đến. Và Pedro Páramo dường như là tiểu thuyết đầu tiên (mà tôi từng đọc qua) căn chỉnh và hài hòa đầy đủ các yếu tố này.

Những vấn đề châu Mỹ

Pedro Páramo là nhân vật được chọn trở thành tiêu đề cho tiểu thuyết này, nhưng y không hẳn là nhân vật chính. Từ Pedro Páramo, Juan Rulfo tỏa ra những con đường văn chương thông qua các nhân vật gắn kết dù ít hay nhiều nhưng đều có quan hệ nào đó với y. Với Pedro Páramo, Juan Rulfo đã khắc họa một cách thân quen hình ảnh tên cường hào địa chủ điển hình cho tầng lớp bóc lột ở xã hội Mexico thời bấy giờ, mà ta có thể nhìn thấy sự tương đồng với Horácio của Amado trong Đất dữ hay người bà bất lương của Erendira trong truyện ngắn cùng tên của Márquez. Tên địa chủ ấy cũng như những mẫu hình khác: hung tợn, dữ dằn; nhưng trái lại, lại si mê một tình yêu không thể có được. Tuy tài sản, đất đai, quyền hành dường như nắm được mọi thứ trong tay nhưng nhìn chung, y và những người như y lại có đời sống bất hạnh.

Say mê Susana – người phụ nữ ốm yếu suy kiệt dần sau cái chết của cha mình, mất đi người con duy nhất thừa nhận – Miguel bởi chính bức tường mình đã xây nên sau cuộc nhảy ngựa, cộng thêm là sự trỗi dậy của cách mạng chống địa chủ; tất cả làm cho cuộc sống của Pedro Páramo xoay vần trong cơn bão chớm đến. Từ một người khinh thị luật pháp, rằng: “Ô hay, luật pháp nào kia, hở Fulgor. Luật pháp từ đây trở về sau này sẽ do chúng ta làm nên”; nay sớm nhận ra sự trừng phạt đang đến gần: “Chúng ta sống trên miền đất nhờ đấng Toàn năng sản đủ thứ. Nhưng tất cả các thứ quả sản ra ở đây đều chua. Chúng ta bị kết tội chỉ được hưởng những quả chua đó”. Rồi cuối cùng là cái chết tan tành của y vào trong hư vô về lại tro bụi.

Juan Rulfo khắc họa Pedro Páramo một cách tài tình, không phải tuýp người nóng nảy dễ kích động đâm giết chém thuê như Horácio của Amado, mà thay vào đó, y là kiểu người nham hiểm và mang trong mình đầy đủ đường đi nước bước hệt như nhân vật Quốc trưởng được lấy mẫu chung từ phần lớn những tên độc tài của khu vực Nón phương Nam, mà Porfirio Díaz là đại diện chính, của Alejo Carpentier trong Sự tráo trở của phương pháp. Như thể khi đối đầu với lực lượng cách mạng, y đã dùng El Tilcuate như lá chắn cho mình; hay khi phải trả nợ cho nhà Preciado, y đã nghĩ ra cách cưới Dolores để không kéo dài thêm khoảng nợ trong khi bản thân chẳng yêu thích gì cô. Việc xây dựng một nhân vật táo bạo và có chiều sâu như thế làm nổi bật lên trên hình tượng của con người ấy, tuy là văn chương nhưng dường như không quá xa vời cuộc sống thực tại của đất nước này.  

Bên cạnh nhân vật chính là chủ đồn điền Media Luna, Juan Rulfo cũng khéo léo đồng thời cho thấy cuộc sống của con người dưới thời khắc ấy, và cùng đó, vạch rõ cho người đọc thấy chế độ độc tài có thể biến đổi con người ta đến mức độ nào. Những nhân vật trong câu chuyện đáng thương này có thể kể đến như mẹ của người kể chuyện – Dolores, như cha xứ Renteria, người cô Eduviges, anh chàng bị mất hết ruộng đất Toribio Aldrete, người đàn bà cất lên tiếng nói từ dưới nấm mồ Dorotea,… tất cả được Juan Rulfo xây dựng như quần thể của những phê phán bất công cất lên từ dưới lòng đất. Pedro Páramo là cuốn tiểu thuyết phức tạp và đòi hỏi sự tập trung gần như cao độ của người đọc mặc cho một thời lượng vô cùng khiêm tốn, bởi nhẽ, nó được cấu thành hầu hết nhờ những chồng chồng lớp lớp của câu chuyện, cạnh đó, là sợi dây quan hệ giữa mỗi nhân vật trong câu chuyện này. Đôi khi họ quen biết rõ nhau, nhưng cũng đôi khi họ chẳng quan hệ gì và góp phần vào đây chỉ như chút hương thoáng qua, nhưng cần thiết. Juan Rulfo một cách chậm rãi kể tuần tự câu chuyện, đôi khi đảo ngược thời gian, và từ trong đám lộn xộn những bi kịch ấy, ta nhận ra cuộc sống dưới thời khắc cũ có thể mong manh đến mức độ nào.

Dolores, vì một khát khao hạnh phúc làm cho mù mờ con mắt bởi tuổi thanh xuân, người từng nói rằng:”Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc! Cám ơn Thượng đế đã cho con don Pedro […] Dẫu rằng có bị ruồng bỏ con cũng cam lòng” đến cuối cùng vẫn phải căm phẫn người đàn ông ấy, vì bỏ bà đi, và quyết nhờ đứa con trai duy nhất lấy lại những thứ đã mất. Dorotea, người bị ám ảnh bởi ước mơ có một đứa con, cuối cùng cũng phải tan rã trong hầm mộ nghe tiếng thầm thì. Ông bà Donis, ngọn nguồn tương đồng của Trăm năm cô đơn, khi là hôn phối cận huyết, là tự dằn vặt bản thân và phải phủ khăn ăn lên mặt để tránh sự kết tội của Chúa như khi ăn món sẻ nướng Ambelopoulia: “Tôi chỉ mãi mãi ở trong nhà này kể từ khi ông ta đã biến tôi từ em gái thành người vợ của ông ấy. Kể từ độ ấy tôi chỉ ở trong nhà vì tôi ngại dân chúng nhìn thấy mình”. Hay như Toribio Aldrete, người mất hết ruộng đất bởi những luật lệ về quyền dụng ích do chính Pedro Páramo gây ra, đã phải kết thúc cuộc sống bằng cái chết thốt ra như lời tuyên ngôn: “Người ta nói rằng sức mạnh ở phía sau ta”, và hồn ma ấy vẫn vất vưởng trong căn phòng kia hàng trăm năm trời, chưa bao giờ mất đi chính bởi xung động bất công còn mãi trường tồn.

Nhưng trên hết, nằm trên những mưu mô của con người như phương cách tồn tại trong lòng xã hội nhiễu nhương của những tên độc tài, vấn đề tôn giáo và đức tin – ngọn nguồn về bản chất con người, luôn được đưa ra như chút manh mún cuối cùng của đạo đức tàn suy. Ở đây xuất hiện nhân vật cha xứ Renteria, người luôn bị dằn vặt bởi sứ mệnh và cuộc sống phía trước. Ông từng phân vân khi đến tha tội cho Miguel, người đã giết anh ông, cưỡng hiếp cháu gái ông; nhưng vì sức mạnh của 25 đồng bạc, dường như nó khiến ông phải ngã mũ rồi nằm khóc trong kho chứa đồ Thánh vì sự bất lương của bản thân mình. Trong khi đó, việc xá tội cho bà Eduviges bởi việc tìm đến cái chết một cách tự thân lại không thể, dù đó chỉ là một, hai hay một trăm từ lặp lại vô nghĩa, nhưng nếu không có tiền để cầu kinh Thánh Gregor, thì cái chết ấy sẽ phải xuống địa ngục mà không có bất cứ một sự xá tội nào: Cái gì đã bắt đức cha từ chối tha lỗi khi việc nói ra một từ, hai từ, hay một trăm từ là một việc dễ dàng nếu như những từ này đích thực cần thiết cho việc cứu giúp một linh hồn. Đức cha đã biết gì về thiên đường và địa ngục? Tuy nhiên, đức cha, do hòa mình vào trong một làng không tên tuổi, đã biết chắc những ai là người đáng được lên thiên đường. […] Ta đang duyệt lại các tên Thánh như thể ta nhìn thấy những con dê cái đang nhảy ra”.

Xã hội lúc ấy làm con người ta hoài nghi về chính bản thân mình, họ tự vấn bản thân về giá trị của sự sống – cái chết, bởi mỗi kết cục trên cuộc đời này đều có tính tương đối, như một câu nói mở đầu tiểu thuyết: “Bò lên hay trườn xuống hoàn toàn phụ thuộc vào người đang đi trên nó”. Không khó nhận ra khi trong tiểu thuyết này, Juan Rulfo dùng rất nhiều những đối ngẫu trong suy nghĩ, đối thoại để khắc họa nên cái chông chênh của xã hội lúc ấy. Một ví dụ như sau, về cái chết, giữa một bên là người bà thủa ấu thời của Pedro Páramo – người vẫn còn sống, và một bên là của Dorotea – người đàn bà lắng nghe tiếng thì thầm của những xác chết – như mình: “Tất cả đều được hoàn thiện trong cái chết có Thượng đế làm nhân chứng nhân. Người ta chỉ chết khi muốn chết chứ không phải do Thượng đế sắp đặt” Hiển nhiên cuộc sống mang theo nó công việc. Cái duy nhất khiến chân tay người ta hoạt động là niềm tin rằng khi nhắm mắt xuôi tay sẽ được mang từ nơi này đến nơi khác. Nhưng khi người ta chết rồi thì một cánh cửa đã khép bước họ lại và chỉ mở ra cho họ một cánh cửa dẫn đến địa ngục, đã thế thì chẳng nên sinh ra trong cõi đời này làm gì”.

Juan Rulfo dùng chính sự đối ngẫu như thế làm con người ta bỗng chốc nhận ra cái chông chênh của bản thân mình. Nhưng dù ở khía cạnh nào đi nữa, Pedro Páramo một cách thẳng thừng cho thấy giá trị của con người có thể bé nhỏ đến mức độ nào. Họ nhỏ bé không những trước tạo hóa bao la, bất lực trước sự sống, cái chết; mà còn vỡ vụn bởi chèn ép hạ bệ thời cuộc, bởi quyền lực tập trung vào tay địa chủ. Juan Rulfo dùng Juan Preciado như lời khẳng định về hiện thực lúc ấy, ông không viết những dòng này bằng từ ngữ của thì hiện tại hay tương lai, mà sự xuất hiện dưới nấm mồ của Juan hay Dorotea như lời tái khẳng định cho ngày hôm nay. Cuối cùng rồi thì, như Carlos Fuentes viết trong Nàng Aura: Họ muốn chúng tôi sống đơn lẻ […] Bởi lẽ theo lời họ, cô đơn là điều cần thiết để đạt được sự thánh thiện”.

Phong cách nghệ thuật thân quen

Ảnh: radionica.rocks

Dịch giả Nguyễn Trung Đức trong bài giới thiệu quyển sách đã nói rằng, nếu Alejo Carpentier là người mở đường cho chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo vào trong văn chương Mỹ Latin, thì Juan Rulfo – theo tôi, chính là người nắm được trào lưu văn chương ấy một cách xuất sắc. Và rõ ràng đúng là như thế. Với Pedro Páramo và thời điểm ra đời của nó, dường như đây là cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, độc đáo và cách tân mới lạ so với trào lưu văn học theo khuynh hướng cách mạng trước đó. Pedro Páramo không hẳn cách ly hẳn so với khuynh hướng tiền tố, ta dễ thấy việc xây dựng hình tượng tên địa chủ và cao trào cách mạng nổi dậy vẫn mang đậm hệ tư tưởng cách mạng, thế nhưng việc xây dựng tiểu thuyết trong không khí lạ lẫm của văn chương mới là điều làm nên sức hút của tác phẩm này.

Pedro Páramo là tác phẩm viết về và viết bởi cái chết. Một cách tài tình sau khi đi một vòng xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết, ta nhận thấy tất cả những nhân vật trong này, dù già trẻ lớn bé, xuất hiện nhiều hay chỉ trong một khung cảnh, tất cả đều đã chết. Mở đầu tiểu thuyết, Juan Rulfo gài cắm người đọc vào con đường đi xuống mãi không có gió, để gắn hồn ma quanh quẩn vào trong văn chương, tiếng động làm thành một tiếng nói chung. Nếu ở Nàng Aura, Carlos Fuentes dùng âm thanh như cách khuếch tán nỗi sợ vào trong người đọc, khi đó là tiếng mèo gào, tiếng vấy sột soạt; còn Jorge Amado là tiếng kêu của các loài vật, là tiếng thét gào vĩnh biệt của chú ếch khi bị rắn độc nuốt; thì với Pedro Páramo, đó là âm thanh của im lặng, của mưa, của tiếng nện gót trên đá lót đường, của vó ngựa đường xa, của góa phụ than khóc, của tiếng rì rầm không bao giờ ngơi nghỉ: “Tôi lại nghĩ rằng nếu như tôi chỉ nghe thấy cái thanh tịnh là vì tôi chưa quen với cái thanh tịnh hoặc cũng có thể là đầu tôi chứa đầy tiếng ồn và tiếng nói”. Chính âm thanh được tả bằng không gian phẳng của ngòi bút ít nhiều trở thành những tạp âm trắng quẩn quanh trong tai người đọc, ám ảnh và đau xót để rồi hiển nhiên thay vì là Pedro Páramo, tên đầu tiên của tiểu thuyết này đáng ra lại là Los murmullos – Những lời thì thầm.

Juan Rulfo dùng một cách dày đặc những chi tiết hiện thực kì ảo, không như Márquez hay Carpentier chỉ như chấm phá trong lòng hiện thực. Chính không gian u huyền đến từng khoảng không của Pedro Páramo dường như là yếu tố chính làm nên một tiểu thuyết hay, không một cận trên hay giới hạn nào, và có lẽ bởi chính lối viết mới mẻ ấy, tự bản thân nó đặt ra chuẩn mới cho tiểu thuyết Mexico nói riêng và châu Mỹ Latin nói chung. Sau gần một thập kỉ tiếp nối, văn chương Mexico mới chứng kiến thêm một cây bút cá tính tương tự Juan Rulfo đã từng, và đó là Carlos Fuentes. Đọc Nàng Aura (rất tiếc đây là tác phẩm duy nhất của ông được chuyển ngữ) và Pedro Páramo, ta thấy nhiều sự tương đồng. Nếu Nàng Aura tràn ngập những khoảng không tối tăm, những âm thanh u huyền, không có gì rõ ràng hay cụ thể, chỉ là tiếng động, là trống rỗng; thì Pedro Páramo cũng tương tự thế. Nhưng một cách rõ ràng, Pedro Páramo đã thoát ra khỏi những lớp văn chương dày đặc để sống đời thực tại riêng mình, nhưng âu đó cũng là điều bình thường, bởi những thúc đẩy thời đại, bởi văn chương và vai trò của nó thay đổi từng thời kỳ, dưới nhiều góc nhìn.

Nếu quy kết ngôi nhà mà chàng nghiên cứu lịch sử ở trong những ngày chìm vào mộng mị với Aura và không gian mà Juan Preciado và Dorotea dưới những nấm mồ; ta thấy khoảng không của 2 tiểu thuyết này là một. Từ không gian đen thẫm chỉ có vài ngọn nến mỏng manh le lóm, giá trị con người được dần hiện ra. Nếu Nàng Aura tập trung nhiều vào tình cảnh con người, vào cảnh ngộ cô độc của mỗi cá thể trên cuộc đời này; thì Pedro Páramo và thời thế của nó cho thấy cả một quãng dài số phận. Những nhân vật mà Juan Rulfo mang vào tiểu thuyết này không nhiều, nhưng cũng không thể nói là ít; ít nhiều nó gây cho người đọc nhầm lẫn hay ngộ nhận. Nhưng nếu để bỏ một nhân vật hay tổ khúc nào đó đi, tất cả sẽ lại dẫn hướng về khuynh hướng lụn bại domino của toàn cuốn sách.

Thể như đôi tình nhân trong một đêm hè, họ không dính dáng quá nhiều tới cốt truyện chung, nhưng qua đó, ta thấy con người dù cho những đè nén của chế độ độc tài, họ vẫn trân trọng tình cảm dành cho nhau. Hay như anh em nhà Doris, họ là sự ngột ngạt của thời đại, là những lỗi lầm tự mình cảm thấy nhưng bất lực không thoát ra được. Ngoài ra, ở nhân vật luật sư Gerardo Trujillo là sự xuống cấp xã hội, sự xem thường tri thức, và là cái vô vọng của tầng lớp ấy dưới đế chế thống trị. Thêm vào đó, Damiana Cisneros – người giúp việc nhà cho Pedro Páramo, luôn dồn nén trong mình thứ tình cảm thiếu thời một lần bỏ lỡ, và sau này để bù đắp cho thiếu sót ấy, trở thành người dắt gái cho Pedro và đến xưng tội với cha Renteria trong tình cảnh say rượu như một vòng lẩn quẩn. Dù lớn hay bé, nội tại hay ngoại hàm, những nhân vật này của Juan Rulfo đã làm nên sự gắn kết cảnh tình chặt chẽ, một mặt cho thấy câu chuyện của bản thân mình, mặt kia cho thấy xã hội lúc ấy đã biến chuyển ra sao. Do đó hoàn toàn đồng tình khi cho rằng Pedro Páramo đã thoát ra khỏi những ước lệ văn học, mà nó quá ước lệ để trở nên phơi bày hiện thực một cách trần trụi nhất trong khi ước lệ vừa phải khó mà làm được.

Để nhớ lại cái bao trùm tiểu thuyết này, chẳng phải anh chàng sử gia của Nàng Aura đã sống trong căn phòng thông với ánh sáng khí trời đối lập hoàn toàn với khoảng không đen ngòm nơi bà Consuelo sống; và cũng chẳng phải trong Pedro Páramo, mọi âm thanh tự nhiên đều được gói gọn trong lớp vỏ của địa ngục cứ đi xuống mãi? Juan Rulfo đã sắp đặt 2 khía cạnh tối – sáng, trắng – đen rất gần nhau, nhưng để bước qua được khoảng không ấy, là cả sự nhập nhằng của văn chương, là cơn tự vấn bản thân trong mỗi nhân vật. Pedro Páramo mang rất ít trong mình câu chuyện của những tự vấn lương tâm cá nhân, nhưng nó là áng sử thi cho thấy lửa trên bình nguyên châu Mỹ có thể sáng rực đến mức độ nào. Với Pedro Páramo, phong cách đặc trưng của văn chương Mỹ Latin lần đầu tiên bừng sáng và đánh mạnh vào trong tâm thức người đọc, và Juan Rulfo chứ không ai khác – trở thành huyền thoại trong những cây viết của khu vực nói tiếng Tây Ban Nha, một lần và mãi mãi như thế.

Hết.

minh.

*

Bình địa trong lửa (Juan Rulfo): Một cõi đọa đày

Bình địa trong lửa (Juan Rulfo)

Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng