Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Phỏng vấn ma cà rồng

Đúng như tiêu đề tác phẩm, Phỏng vấn ma cà rồng (Interview with the Vampire) có thể được tóm tắt đơn giản là: chuyện đời một ma cà rồng được kể lại dưới hình thức phỏng vấn.

Published

on

Narration

Một trong những điểm đầu tiên khiến tôi băn khoăn khi đọc Phỏng vấn ma cà rồng là tại sao Anne Rice lại chọn kể câu chuyện này dưới hình thức phỏng vấn? Vì khi đọc khoảng năm, sáu chục trang đầu tiên, tôi đã đoán rằng cách kể chuyện của tiểu thuyết này vẫn sẽ cứ như thế: nghĩa là phỏng vấn chỉ như cái cớ để câu chuyện bắt đầu, nó không được thể hiện rõ nét và xuyên suốt trong tác phẩm dưới dạng hình thức hay nội dung. Vì vậy, cuộc phỏng vấn ở đây giống như độc thoại hơn là đối thoại, phóng viên đóng vai trò giống như độc giả hơn là người chất vấn. Ban đầu, tôi đã đoán câu chuyện diễn ra dưới hình thức phỏng vấn là để xen kẽ hai tuyến thời gian: tuyến thời gian quá khứ trong những sự kiện Louis thuật lại, tuyến thời gian hiện tại khi anh đang ngồi phỏng vấn với người phóng viên. Tôi cũng nghĩ rằng động cơ của hành vi kể chuyện sẽ được nhấn mạnh vì vô hình trung, hình thức phỏng vấn thường khiến người đọc tự đặt câu hỏi rằng tại sao nhân vật lại chấp nhận yêu cầu phỏng vấn. Có thể hiện tại Louis đang gặp vấn đề gì đó (anh bị truy đuổi, hoặc sức khỏe yếu đi…) buộc anh phải thuật lại tường tận câu chuyện đời mình cho thế giới con người biết; và khi đó, câu chuyện anh kể sẽ không được liền mạch, nó luôn bị ngắt quãng bởi các đợt tấn công từ những yếu tố ngoại tại hay nội tại (chẳng hạn như kẻ thù ập đến căn hộ ấy, những tràng ho bỗng dưng kéo dài vì một chất độc nào đó trong cơ thể…). Tuy nhiên, đã không có bất kì tình tiết tương tự nào xảy ra, câu chuyện được kể liền mạch như một dòng sông thuận hòa xuôi thẳng ra biển, chỉ thi thoảng rẽ nhánh đây đó vào hai ven bờ ở những đoạn Louis tạm nghỉ ngơi và có chút tương tác với phóng viên để câu chuyện này còn có vẻ như được kể dưới hình thức phỏng vấn. Nếu như phỏng vấn chỉ là cái cớ, là thứ xuất hiện ở điểm đầu tiên – cuối cùng và vài đoạn ở giữa, vậy thì tại sao ngay từ đầu Anne Rice không kể thẳng câu chuyện này dưới ngôi thứ nhất? Khi đặt ra câu hỏi này, tôi nhớ lại vài chuyện, đồng thời cũng tìm được câu trả lời cho mình.

Tôi nhớ đến tác phẩm Trà Hoa Nữ (La Dame aux camélias) của Alexander Dumas và Lũ người quỷ ám (Demons) của Dostoevsky. Trong Trà Hoa Nữ, Dumas đã không trực tiếp bắt đầu câu chuyện bằng giọng kể ở ngôi thứ nhất của Armand dù rằng phần lớn câu chuyện rồi cũng sẽ được kể dưới góc nhìn của anh. Thay vào đó, ông đã chọn một nhân vật nam vô danh làm người kể chuyện để nhân vật ấy tìm đến Armand và người đọc được nghe câu chuyện từ ngôi thứ nhất của Armand kể cho nhân vật nam nghe – nhưng thực chất cũng là kể cho độc giả nghe. Trong Lũ người quỷ ám, Dostoevsky lại có cách xử lí hơi khác một chút. Câu chuyện gia đình bà Varvara được kể lại qua lời kể của ông Anton Lavrentyevich – một người bạn thân của Stepan Verkhovensky và ông Stepan Verkhovensky là tình nhân của bà Varvara. Câu chuyện Anton kể cho người đọc nghe về gia đình Varvara phần lớn là những chuyện do ông Stepan kể lại cho Anton nghe. Tuy câu chuyện có hiện diện người kể chuyện ở ngôi thứ nhất nhưng thực chất toàn bộ nội dung vẫn được kể ở ngôi thứ ba, Anton chỉ xuất hiện ở đầu-cuối truyện và một vài điểm ngừng nghỉ giữa các phần trong câu chuyện.

Tôi chưa đọc nhiều sách lí luận văn học để biết hiện tượng này gọi là gì, vậy nên trong bài viết này, tôi tạm chia ra: lối tường thuật sơ cấp (trực tiếp) và lối tường thuật thứ cấp (gián tiếp). Ở lối tường thuật sơ cấp, độc giả sẽ tiếp xúc trực tiếp với nguồn kể chuyện, nó đồng thời cũng là nguồn đầu tiên, không bị lẫn qua công đoạn xử lí từ các nguồn trung gian, tựa như ta uống nước suối từ chính dòng suối chảy trong rừng, không phải uống nước suối trong chai đã qua công đoạn lọc của nhà máy. Ở lối tường thuật thứ cấp, độc giả sẽ tiếp xúc gián tiếp với nguồn kể chuyện thông qua một hay nhiều trung gian; lối tường thuật này không hẳn làm cho chất liệu câu chuyện bị lọc bớt đi như nước suối trong chai nhưng khi tiếp cận với lối tường thuật này, một khoảng cách nhất định sẽ được thiết lập giữa độc giả và câu chuyện, người đọc ý thức được rằng nhân vật đang kể chuyện (hay ngôi thứ ba khách quan đang kể chuyện) không chỉ để cho mình biết mà trước nhất, cho một nhân vật khác trong câu chuyện được biết. Theo cách chia này, những câu chuyện chỉ sử dụng duy nhất một ngôi kể chuyện (thứ nhất, thứ hai, thứ ba) xuyên suốt tác phẩm áp dụng lối tường thuật sơ cấp. Trong khi đó, những tác phẩm như Trà Hoa Nữ, hay Lũ người quỷ ám lại áp dụng lối tường thuật thứ cấp. Tuy vậy, lối tường thuật thứ cấp trong hai tác phẩm này, cũng như trong Phỏng vấn ma cà rồng không phải là sự đan xen liên tục giữa thứ cấp và sơ cấp, giữa nguồn trung gian và nguồn sơ khởi, giữa người kể chuyện và người trực tiếp trải nghiệm. Thực tế, những tác phẩm này vẫn được kể theo lối tường thuật sơ cấp, chúng chỉ có vỏ bọc là lối tường thuật thứ cấp ở vài điểm trọng yếu hoặc ngơi nghỉ trong tác phẩm. Đến đây, chúng ta quay về câu hỏi đầu tiên nhưng dưới cách diễn đạt khác: tại sao những câu chuyện này không được kể xuyên suốt theo lối tường thuật sơ cấp khi lối tường thuật thứ cấp chỉ như một lớp màn mỏng, phất phơ ở vài điểm nhỏ lẻ trong câu chuyện, khi mà bản thân câu chuyện cũng không hướng người đọc dành sự quan tâm đến nguồn thứ cấp – ở đây là người kể chuyện trung gian (nhân vật nam vô danh trong Trà Hoa Nữ, Anton Lavrentyevich trong Lũ người quỷ ám, phóng viên trong Phỏng vấn ma cà rồng), khi mà nguồn sơ cấp – ở đây là người trực tiếp trải nghiệm vẫn chiếm lĩnh vị trí chính yếu (Armand trong Trà Hoa Nữ, gia đình Varvara trong Lũ người quỷ ám, Louis trong Phỏng vấn ma cà rồng)?

Câu trả lời của tôi là: khoảng cách, độ lùi, sự bí ẩn.

Khoảng cách. Khi người đọc được tiếp xúc câu chuyện ở hình thức sơ cấp với vỏ bọc là thứ cấp, họ có một khoảng cách nhất định với nhân vật. Chính khoảng cách này tạo ra sự bí ẩn cho nhân vật, câu chuyện được kể.

Sự bí ẩn ấy khiến độc giả thấm thía hơn rằng có thể nhân vật vẫn còn nhiều góc khuất mà họ đã không kể ra cho nguồn thứ cấp biết, hoặc nguồn thứ cấp không kể lại cho độc giả biết. Đôi khi, cảm giác này sẽ đem lại chút kích thích theo kiểu trinh thám.

Độ lùi. Lối tường thuật thứ cấp chủ yếu hình thành dựa trên sự kể và kể lại. Chính vì vậy, nó thường không mang đến cảm giác trải nghiệm trực tiếp như lối tường thuật sơ cấp ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Một nhân vật có thể kể lại toàn bộ cuộc đời anh ta cho người khác nghe nghĩa là anh đã sống sót và vượt qua những biến cố khó khăn, hiểm nghèo. Sự thật hiển nhiên này khiến người đọc không mấy lo lắng cho nhân vật khi anh gặp nguy hiểm vì họ nhận thức rõ ràng đó là chuyện trong quá khứ được kể lại, đó không phải là thực tại. Nói cách khác, độ lùi trong lối tường thuật thứ cấp là tác nhân làm giảm đi kịch tính câu chuyện, nó dịch chuyển sự quan tâm của người đọc từ sự kiện sang phương thức, từ tâm trạng hồi hộp sang trầm tư sâu lắng.

Tôi nghĩ rằng cả ba tác phẩm Trà Hoa Nữ, Lũ người quỷ ám, Phỏng vấn ma cà rồng đều đã tận dụng được tốt từ hai đến ba đặc điểm tối ưu trong lối tường thuật thứ cấp mà tôi vừa nêu ở trên. Phỏng vấn ma cà rồng là tác phẩm được viết theo lối gothic, vậy nên việc tạo cảm giác về khoảng cách và sự bí ẩn là cần thiết; hơn nữa, bản thân ma cà rồng luôn là nhân vật dễ tạo ra/cần tạo ra cảm giác bí ẩn cho độc giả. Độ lùi cũng là thứ cần thiết trong tác phẩm này vì những gì Louis đã trải qua không quan trọng bằng việc anh nghĩ gì về nó.

Style

Sau khi đọc Chiến tranh và Hòa bình của Lev Tolstoy, tôi đã giữ thói quen đọc lướt qua những bình luận của độc giả trên Goodreads. Lần này, với Phỏng vấn ma cà rồng, tôi tìm được một nhận xét khá hài hước, thú vị từ độc giả Daniel Marcos:

“I really wanted lo like this book, my hopes were high, because I LOVE vampire books and this is one of the most important, and it is without a doubt, the most boring one.
I hate Anne Rice’s writing, it makes me want to cut my veins.
Let me give you an example:

My keyboard is very beautiful, I like how the “Q” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “Q” I also like how the “E” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “E” I also like how the “W” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “W” I also like how the “R” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “R” I also like how the “T” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “T” I also like how the “Y” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “Y” I also like how the “U” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “U” I also like how the “I” feels underneath my finger when I press the button to type the letter “I”.

Yes, it is THAT repetitive. The characters ramble and ramble and ramble and ramble about things that 1.- Do not make sense with the story 2.- Have been said a thousand times before 3.- Are beautiful, everything in this book is beautiful, the flowers are beautiful and she describes them for 7 pages, the windows is beautiful, the coin on the floor is beautiful, the moth documentary is beautiful…. it makes me want to kill myself.”

Tôi đã không ngăn được bản thân mình phì cười khi đọc nhận xét này. Các đánh giá một sao trên Goodreads bao giờ cũng hài hước. Dù vậy, tôi không đồng ý hoàn toàn với nhận xét trên. Đúng là Anne Rice miêu tả lặp đi lặp lại rất nhiều thứ trong tác phẩm này nhưng tôi không cảm thấy quá nhàm chán vì mỗi lần lặp lại, bà đều cố gắng miêu tả nó khác đi, nhìn nó dưới một góc cạnh khác (tuy không phải lần nào cũng khác nhau, song cũng tuyệt đối không phải là trùng lặp hoàn toàn). Có lẽ, với những người khác nhau, họ sẽ để ý những thứ khác nhau trong những điều bà hay lặp lại. Còn với tôi, tôi đặc biệt lưu ý đến cách bà miêu tả những ngọn lửa trong tác phẩm này. Nếu phải chọn một hình ảnh mang tính biểu tượng cho Phỏng vấn ma cà rồng, tôi sẽ chọn hình ảnh ngọn lửa bởi lẽ lửa đóng vai trò rất quan trọng trong câu chuyện này, nó góp mặt ở hầu hết những biến cố chính trong truyện. Trong vô số những thứ Anne Rice miêu tả trùng lặp, có lẽ sẽ sót lại đôi thứ quả thật là thừa, bỏ đi cũng không hề ảnh hưởng đến câu chuyện. Tuy nhiên, các miêu tả xoay quanh “lửa” tuyệt đối không nằm trong nhóm đó. Trích dẫn dưới đây là đoạn văn miêu tả lửa tôi thích nhất trong tác phẩm này:

“Một khúc gỗ đang rơi rất chậm xuống đống lửa, trượt xuống trong một chu trình sẽ mất cả đêm mới kết thúc được, và trên thân nó lỗ chỗ những vết rỗ, một thứ vật chất đã chọc xuyên qua đó và nhanh chóng cháy rụi, và trong mỗi lỗ nhỏ đó là một ngọn lửa tí hon nhảy múa, hòa mình vào ngọn lửa lớn hơn; những cái miệng đen của chúng dường như những khuôn mặt tạo thành một dàn hợp xướng; và dàn hợp xướng đang ngân nga mà không phát ra tiếng động. Dàn hợp xướng ấy không cần phải hát; chỉ bằng một hơi thở trong ngọn lửa bất tận, chúng đã tạo nên một bài ca thầm lặng của riêng chúng.”

Ban đầu, dù thấy đoạn miêu tả này hay nhưng tôi đã nghĩ nó hơi thừa. Về sau, tôi mới phát hiện đoạn miêu tả này chẳng thừa chút nào vì nó là set-up tinh tế cho những gì sắp diễn ra, nó là một điềm báo, một sự gợi nhắc khéo léo.

Tôi chưa đọc bản gốc nên không thể đưa ra nhận xét cá nhân về chất lượng bản dịch ở khía cạnh đúng sai. Tuy nhiên, nếu là cảm nhận mang hướng cảm tính khi đọc trên văn phong dịch sang tiếng Việt, tôi nghĩ rằng bản dịch của Hải Âu đã truyền tải được khá chính xác không khí cổ điển của thế kỉ 18, 19 – thời điểm câu chuyện diễn ra. Trước khi đọc tác phẩm này, tôi không tìm hiểu bất kì thông tin nào trên mạng nhưng trong quá trình đọc, văn phong dịch khiến tôi nhớ đến tác phẩm Biệt thự bảy đầu hồi (The House of the Seven Gables) của Nathaniel Hawthorne qua bản dịch của Việt Nam khảo dịch xã trước 1975. Đó là tác phẩm được xếp vào thể loại gothic, thời gian câu chuyện diễn ra cũng là ở thế kỉ 19. Để tìm câu trả lời lí giải cho cảm giác về sự giống nhau ở văn phong, không khí của hai tác phẩm này, tôi đã tra thông tin về Phỏng vấn ma cà rồng trên mạng. Và tôi không cần phải đọc nhiều, câu trả lời nằm ngay ở dòng đầu tiên: Phỏng vấn ma cà rồng là tiểu thuyết thuộc thể loại gothic horror. Thể loại này là sự kết hợp giữa hai đặc tính: lãng mạn và kinh dị; các câu chuyện thường diễn ra trong bối cảnh là những tòa lâu đài, biệt thự u ám, cổ kính. Có lẽ vì vậy mà phần lớn những đoạn miêu tả cảnh vật hay đồ vật trong Phỏng vấn ma cà rồng cũng như Biệt thự bảy đầu hồi đều có sự song hành giữa tính lãng mạn và tính kinh dị. Ở trên, tôi đã trích dẫn một đoạn miêu tả lửa trong Phỏng vấn ma cà rồng, dưới đây tôi sẽ ví dụ minh họa bằng một trích dẫn trong Biệt thự bảy đầu hồi:

“Còn về ngôi nhà cổ kính trong câu chuyện này, tất cả những đặc điểm của nó từ sườn nhà bằng gồi, vách ván, mái nhà và lớp hổ bị tróc, cho đến cả cái ống khối đồ sộ vĩ đại ở chính giữa, cũng chỉ có vẻ là phần nhỏ nhất của cái sự thực về ngôi nhà ấy. Biết bao kinh nghiệm của nhân loại đã qua tại đó, với bao đau khổ và cả đôi chút niềm vui khiến cho các tấm gỗ đều nhầy nhụa như thể bị nhiễm sự ẩm ướt của một trái tim. Chính đó là một trái tim lớn của con người, có sinh lực riêng biệt, đầy kỉ niệm dồi dào và bi đát.”

After credit

Ở đoạn kết của Phỏng vấn ma cà rồng, một lần nữa, ưu điểm bí ẩn – trinh thám trong lối tường thuật thứ cấp lại phát huy tác dụng. Phân đoạn kết thúc của tác phẩm này không hiểu sao lại khiến tôi nhớ đến những cảnh after credit trong các phim siêu anh hùng của Marvel. Ý tôi là, nó nhắc khéo khá rõ ràng rằng sẽ có phần tiếp theo nữa, các bạn đừng bỏ lỡ. Và quả thật, Anne Rice đã viết tiếp không chỉ một mà đến mười một phần tiếp theo trong tổng số mười hai phần của series The Vampire ChroniclesPhỏng vấn ma cà rồng chỉ mới là khởi đầu.

Hết.

Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Khách không mời: Khi mọi thứ đều cong

Published

on

By

khach khong moi

  Em thường nhìn vào những khu nhà cao mới xây, em thấy không cái nhà nào thẳng cả […] Nàng chưa bao giờ thấy ai có sống mũi thẳng một trăm phần trăm. Cũng đúng như bạn chẳng bao giờ thấy một cái cây, một bức tường, một cái chân bàn, hay một cây cột điện thoại nào thẳng một trăm phần trăm.

Tôi đọc Geling Yan rất vô tình. Trong một lần lướt xem những đầu sách nào chuẩn bị được in ở các thị trường lớn trên thế giới, thì The Secret Talker lọt vào mắt tôi với cái bìa khá ấn tượng cùng tên tác giả gợi nhớ nhiều tới gốc gác Trung Quốc. Thông thường, những thị trường lớn này hay ưa chuộng các tác giả châu Á có phần đặc biệt – họ viết hoặc phản ánh những điều bị cấm (trường hợp Diêm Liên Khoa, Lý Dực Vân) hoặc thật sự khác biệt với phong cách nổi trội (trường hợp Tàn Tuyết, Dư Hoa…). Và cũng vì thế, Geling Yan để lại một ấn tượng sâu sắc nhưng tôi vẫn chưa có khái niệm gì về bà sau lần chạm mặt tình cờ ấy.            

Tiếp sau đó, trong một lần đi tìm sách cũ ở những ngõ ngách Saigon, tôi bỗng lại gặp một quyển sách khác của bà, Khách không mời. Thú thật đây không phải là lần đầu tiên tôi bắt gặp nó, nhưng với chiếc bìa không để lại quá nhiều ấn tượng thì tôi đã lướt qua nó rất nhiều lần trước đây. Nhưng dĩ nhiên duyên phận đã lôi kéo vào vòng xoáy này khi tuần trước nhớ tên tác giả, tuần sau đã gặp sách của bà, thêm vào đó là dịch giả vô cùng tiếng tăm, nên tôi đã thử và đọc cuốn này. Khách không mời thật sự mới lạ, vì so với hầu hết những tiểu thuyết Trung Quốc khác tôi từng đọc qua viết về Cách mạng Văn hóa, hậu Phong trào Tứ Thanh hay thời chuyển giao quyền lực của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình hay biến cố Thiên An Môn… thì Khách không mời lại tập trung vào một quãng thời gian mới hơn, gần đây hơn nhưng cũng đầy vận động với một Trung Quốc đương thời.

Không thể phủ nhận chính việc đặt Khách không mời vào bối cảnh của thời “mở cửa” đã trở thành một trong những lý do khiến nó mới mẻ, độc đáo và không bị nhàm chán. Nếu văn chương Xô Viết dễ bị hình dung như văn chương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Trung Đông là tiếng nói mới của phụ nữ bị áp bức thì Trung Quốc như phần lãnh thổ rộng lớn của mình, lại có nhiều cái tên - từ văn chương hậu Cách mạng văn hóa, làn sóng linglei đến trào lưu tiểu thuyết quan trường… Geling Yan cũng từ đó phát triển và phối trộn những màu sắc đặc trưng rất Trung Hoa. Bà lùi về quá khứ một chút với thời nghèo đói, bà tiến vài bước đến kì tương lai, và hay ho là Khách không mời nằm được ở giữa, với chủ đề mới, rặc tính Đông phương nhưng hầu như rất ít tác phẩm nào từng gợi nhớ đến, mà gần đây nhất có thể coi Parasite của Bong Joon-ho như sự thấu cảm cùng chung chủ đề.

Nếu ai tìm hiểu về Geling Yan thì chắc sẽ không thể quên gia tài đồ sộ những cuốn tiểu thuyết của bà. Về nhà (tựa gốc Coming Home) hay Kim Lăng Thập tam thoa (The flowers of war) từng được Trương Nghệ Mưu chuyển thể, đã lấy đi nhiều giọt nước mắt lãnh đạm, khi thì trong chiến tranh Trung – Nhật, khi thì là tình yêu và sự cứu rỗi. Phần lớn những nhân vật của bà đều là phụ nữ. Họ bị bán đứng, xem thường, rẻ rúng và trở thành trò tiêu khiển trong chiến tranh hay như phụ nữ nông thôn thường thấy – vất vả, cơ cực. Bước ra từ Khách không mời, bà phá vỡ motif thường thấy của mình, khi không đặt chân bước vào chiến tranh, cũng không tạc thù miêu tả phụ nữ, mà rộng ra hơn và linh hoạt hơn với những vấn đề lớn hơn, vĩ mô hơn và nhất quán hơn.

Nhân vật chính của Khách không mời là Đan Đông, một người đàn ông ưa nhìn ở độ tuổi trung niên sống trong xí nghiệp sản xuất nay phải hoạt động cầm chừng ngày có ngày không. Hơn 10 tháng nay họ không nhận gì ngoài những phiếu lương có vẻ như vô giá trị. Được ở đấy với Tiểu Mai – người vợ xinh đẹp, họ có giá thuê chỗ ở rẻ, được ăn cắp điện để nấu nướng, có nước nóng rửa ráy, mua được thịt thà không phải qua kiểm định và có cá hộp hết hạn để trả thay lương. Sống trong tận cùng của những nghèo xơ xác ấy, trong một lần đi phỏng vấn làm bảo vệ khách sạn, một con đường mới đã mở ra cho Đan Đông – đó là đóng giả phóng viên để được ăn tiệc miễn phí và nhận về tiền “xin lỗi đã làm phiền”.

Geling Yan mô tả khá hay hình tượng người đàn ông này. Bà không chỉ nêu bật cái khổ, bà còn dồn ép nhân vật của chính mình vào con đường khốn đốn, tận cùng. Trong những buổi ăn tiệc ấy, ngoài Đan Đông thì những con rệp ăn tiệc khác nay cũng đánh mồi thấy được sự béo bở. Chúng cướp quyền sở hữu trí tuệ là mánh khóe làm giả danh thiếp của anh, chúng thuê thêm người làm thợ chụp ảnh, và dĩ nhiên, cảnh sát không thể ngó lơ. Một vài tuần sau chiến lược càn quét của ngành công an đã tàn phá mâm cổ miễn phí, và cũng như bao kẻ khác, Đan Đông hay Tiểu Mai cuối cùng cũng phải chui vào tấm lưới muôn phương vây bủa.

Song song với việc bị đẩy đi đến đường cùng, Đan Đông cũng phải đối mặt với những thứ khác đang kềm giữ anh. Có thể tưởng tượng người đàn ông ấy là một miếng cam nay bị vắt kiệt, mà bàn tay ấy, khốn thay không phải bởi những tầng lớp giàu sang – mà là những người còn nghèo hơn anh. Đó là nỗi thương cảm của một người nghèo dành cho những người nông dân nghèo còn kiết xác hơn cả mình với những tham nhũng, bắt bớ, quan liêu. Đó còn là sự mông lung giữa dục tính thật sự và việc lợi dụng người cùng khổ khác, mà hiển hiện nhất chính là Mười Khó với lời thỉnh cầu về một bài báo vách trần sự thật, trong khi anh chỉ là một tay lừa bịp không hơn không kém. Anh tự nhủ rằng Mày phải cẩn thận trong những ngày này, hoặc mày sẽ bị đẩy vào tình huống mà ở đó phải chạm trán với cái nghèo khó trên mọi nẻo đường.

Vượt thoát ra khỏi Đan Đông, Geling Yan xây dựng một bầu không khí được chia ra thành hai tầng lớp dựa trên nhận thức, giữa một bộ phận những người cảm được trò mèo của nhịp sống hiện đại (như Đan Đông, người họa sỹ già Trần Dương) và một bộ phận những người còn lại. Mối quan hệ một mặt thâm giao với Trần Dương – người phản đối những trò mê dụ, người bị tổn thương khi giá trị con người đã xuống thấp nhất - giữ anh lơ lửng cùng mối quan tâm với những bác nông dân, những người cùng khổ và không có gì. Đan Đông đã bị dồn nén từ cả 2 phía, không chỉ người giàu, mà là kẻ hèn trong cơn quằn quại.

Một người không phải cứ bán thân mình thì mới là mãi dâm. Một người thậm chí có thể trở thành một con điếm còn bẩn thỉu hơn bằng cách bán một thứ gì đó quý hơn cả thân xác mình, dường như là lời miêu tả đúng nhất những trò điêu ngoa của lớp thị dân được thời sung túc. Khi bị đồng tiền chi phối, họ có thể làm những bữa tiệc ăn thịt chim công; nặng hơn một chút họ mua thánh bán thần, họ mua chuộc báo chí để mọi sự thật thành ra bẻ cong. Đau đớn hơn cả khi họ lừa dối cùng chung một dòng giống người, họ bắt bớ, chiếm đoạt; họ lừa đảo từng đồng lương ít ỏi, từng căn họ xây thêm để làm giàu nữa cho bản thân mình.

Nhưng ngay cả khi những người giàu có nhất ấy chường mặt ra ngoài, trong bản thân họ luôn là tình thế chông chênh lo sợ ngai vàng ấy một ngày bị cướp đi mất. Trong họ luôn là nỗi bất an nghe tin một cơn bão tới. Tầng lớp dưới cùng thì sợ chiến dịch dọn dẹp loài con rệp ăn tiệc, tầng lớp giàu sang thì sợ phanh khui trốn thuế, đầu tư lừa bịp hay ti tỉ những công việc khác. Tất cả bọn họ đều có một tật: Trần Dương thì bứt đầu lông cọ vẽ, tổng giám đốc Võ thì bóp que diêm, Hồng Ngọc thì đùa giỡn với chiếc dép lê đi trong nhà. Họ làm những điều không cần suy nghĩ này để tự trấn tĩnh bản thân. Để hiểu được cái gì làm cho họ rối trí.

Với Khách không mời, Geling Yan hay Nghiêm Ca Linh đã mang đến một bữa tiệc khỏa thân trong chính trải nghiệm của việc nói lên sự thật.Với cuốn sách này bà một lần nữa chứng minh được tên tuổi mình, khi luôn linh hoạt với đời sống và mở thế giới quan một cách rộng khắp lướt qua thực tại. Hiện đại, sắc sảo, tinh tế và vô cùng mạnh mẽ; có thể nói đây là một trong những cuốn sách có tầng sâu nhất của bà, vượt thoát khỏi những tiểu thuyết thời hậu Cách mạng văn hóa thường thấy, nhưng dẫu sao cũng dễ thấy rằng, nó còn thiếu một chút đột phá với những thể nghiệm trên cùng.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu – Một hành trình mạnh mẽ

Published

on

By

thao go phep mau featured

Tháo gỡ phép màu của Julie Yip – Williams có lẽ là một tựa sách gây nhiều băn khoăn khi ta lần đầu bắt gặp. Thế nhưng khi đã đi hết hành trình của người phụ nữ đầy bản lĩnh và kiên cường này, ta sẽ hiểu vì sao đến cuối cùng thì Phép màu cũng cần được tháo gỡ, và điều quan trọng nhất không phải là ta có được điều gì từ sự kỳ diệu, mà là ta hiểu được gì từ sau cuộc sống vốn luôn hạn hữu này.

Được viết như một ghi chép về cuộc đời mình, Julie - người mẹ, người vợ, người bạn, người phụ nữ tràn đầy cảm hứng – đã kể về quá trình trưởng thành, nhận thức, buông bỏ và thấu hiểu chính cuộc sống này. Sinh ra với bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh mà bước ngoặt đầu tiên đã là thử thách, liệu cô có giữ được mạng sống ở tuổi lên 3?

Những năm miền Nam Việt Nam mới được giải phóng, cuộc đời của một đứa trẻ không thể nhìn thấy là rất khó đoán, và đó cũng là lý do vì sao bà nội vẫn luôn nghĩ rằng cái chết là thứ quá đỗi êm dịu với một đứa bé như cô. Như một phép màu bỗng chốc xảy ra, vị thầy thuốc từ chối ban phát vị thuốc chết; và cũng chính sự kiện ấy đã làm nảy sinh một sự cố thủ từ chính mẹ cô – người phụ nữ vốn được dạy bảo phải phục tùng chồng – nay lần đầu tiên đứng lên bảo vệ con mình, và đi đến quyết định di cư sang Mỹ.

Với gốc gác là dòng tộc Hoa, sau cơn chính biến Nạn kiều 1978, cô cùng gia đình rời khỏi Việt Nam, đến Hongkong và sau cùng là thẳng đến Mỹ. Với một đứa trẻ gần như mù lòa vì đục thủy tinh thể, hành trình lênh đênh đến hơn 3 tháng trên một chiếc thuyền ọp ẹp mà vẫn bình yên kỳ thực là một phép màu. Như sau này cô cũng thừa nhận, quá nhiều phép màu đã đến với cô, là thứ tạo ra, tái sinh và giúp cô sống tiếp trong cuộc đời này.

Và dĩ nhiên, Phép màu chưa dừng ở đó. Sau khi được các bác sỹ ở Mỹ phẫu thuật can thiệp dẫu cho không thể hoàn toàn sáng mắt, cô phần nào có lại thị lực dẫu bị sa sút, ở một trạng thái mà ta vẫn gọi là ‘mù pháp lý’. Cô chăm chỉ học tập, gạt bỏ hết mọi định kiến người khác áp đặt lên mình, tốt nghiệp Havard và trở thành luật sư ở một hãng luật danh tiếng. Chưa dừng ở đó, cô còn gặp được Josh – người đàn ông của đời mình, có một căn nhà ở khu Brooklyn và hơn hết là 2 thiên thần nhỏ - Mia và Bella.

Thế nhưng một ngày năm 2013 khi 37 tuổi, cô được chuẩn đoán mắc phải ung thư đại tràng, và tình hình còn xấu hơn nữa khi đó là giai đoạn IV đang có dấu hiệu di căn ra khắp cơ thể. Trong những ngày nằm ở bệnh viện đối mặt ban đầu với ung thư, những con số thống kê nhấp nháy trên màn hình Ipad được Josh đưa ra chỉ có khoảng 0.08% phụ nữ dưới 40 tuổi có thể mắc phải bệnh này, và tỷ lệ sống sót là 6-15%. Phép màu lại một lần nữa tiếp tục hiển hình khi có tới 99% khả năng Julie không mắc ung thư; nhưng lần duy nhất này thật sự khắc nghiệt.

Một điểm đặc biệt là với cuốn hồi kỳ này, Julie không cố che giấu một điều gì cả. Cô không tự an ủi bản thân với chút hy vọng hão huyền, khi việc di căn từ nơi màng bụng đã lan ra đến tử cung, phổi và sau này là xương và gan. Cô đã thử đến 3 lần thí nghiệm lâm sàng với các loại thuốc khó tìm khác nhau, các phương pháp mới mẻ, các loại đông – tây y,,, cô không từ chối bất cứ điều gì. Thế nhưng ung thư ngày càng tai ác, sau cơn hòa giải với những lần xạ trị tưởng chừng bình yên thì ngay lập tức nó quay trở lại và tấn công cô.

Trong những ngày chiến đấu với những hạch nhỏ xuất hiện nơi phổi và đầu thời kỳ di căn vào xương, trong Julie là một vũ trụ của những cảm xúc. Cô khóc than, bất lực cho số phận mình; cô nổi đóa với Chúa – nếu Ngài có tồn tại – vì việc chọn cô; cô giận dữ với bất cứ một yêu cầu nào không được đáp ứng và cả ganh tị với ‘Cô vợ Hai Lẳng Lơ’ – biệt hiệu của người sẽ thay cô chăm sóc Josh cùng các con gái khi cô rời đi.

Từ người du lịch 5 châu đến tận Nam Cực nay chuyến đi cuối cùng là quần đảo Galapagos, nơi những nguyên sơ vẫn được bảo tồn - nơi cô cảm nhận được Josh trong mối quan hệ và là tình yêu cuối đời của mình. Trong những tháng ngày đối chọi ở trên giường bệnh, cô vẫn níu kéo một chút hơi sức để các con gái không thấy mình đã từ bỏ. Cô dũng cảm chiến đấu với ung thư, nhưng theo một cách thực tế, lý trí và cũng mạnh mẽ.

Thay vì than khóc vì chính cái tạ mình đang đeo phải, thay vì mù quáng tin tưởng vào việc điều trị ở giai đoạn cuối; cô ở đó và lên kế hoạch cho những người thân yêu nhất. Hợp nhất căn nhà để các con gái có không gian riêng khi chúng lớn lên, nhờ vả chị gái chăm sóc hai cô gái nhỏ, nhắn gửi cô giáo phụ trách về việc học đàn, gửi gắm đến Josh về niềm hạnh phúc, tự lên kế hoạch cho tang lễ mình… Tất cả được cô chăm chút kỹ càng như chuyến cuối cùng bên lề cái chết, là chốn hội ngộ với bà cố tổ – nơi cô vốn nghĩ không quá đáng sợ mà chỉ đơn thuần là dịp gặp mặt như những ngày xưa.

Nhà văn trinh thám Sidney Sheldon từng nói ‘Phép Màu có thật trong cuộc sống này... với điều kiện, ta phải tự mình tạo ra chúng’, và cuộc đời của chính Julie là một Phép màu. Biết rằng Phép màu đã đến rồi đi, cô đã trân trọng, yêu thương và tận dụng hết mọi khoảnh khắc; để khi cánh cửa mới mở ra, những Phép màu sẽ được tháo xuống, gỡ ra và truyền tiếp cho thế hệ sau bằng chính niềm tin, sự hy vọng cũng như niềm hân hoan. Dũng cảm, thẳng thắn và rất xúc động – hành trình của Julie Yip – Williams là niềm ham sống, khát khao tự do, vươn lên số phận. Một chặng đường vô cùng mạnh mẽ.

Hết.

Chiêu Dương

Ảnh đầu bài: Kafla Bookstore

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Cafe sáng