Chuyện người cầm bút

Những ngày lạc trong thế giới ma cà rồng

Chuyện là năm 2015, tôi dịch xong một cuốn sách có tên “Phỏng vấn Ma cà rồng” (Interview with the Vampire).

Published

on

Dưới đây đơn giản là những dòng lảm nhảm về việc tôi đã sống thế nào trong thời gian dịch cuốn sách trên.

Chuyện cũ năm ấy – 2014

Nếu bắt chước lối hành văn kiểu Thôn Thượng Xuân Thụ, có thể tôi sẽ mở đầu thế này:

Theo chỗ tôi được biết, “nỗi” là danh từ được dùng để biểu thị một trạng thái cảm xúc của con người. “Nỗi” tương đương với “feeling” trong Anh ngữ và 感觉 trong Hán ngữ. Rõ ràng, “nỗi” là một từ trung tính ở cả mặt ngữ nghĩa lẫn từ loại, có nghĩa là đứng trước danh tính từ mang sắc thái tiêu cực hay tích cực đều được.

Nhưng không, người ta không dùng “nỗi” như vậy.

“Nỗi” chỉ được dùng trước những từ mang sắc thái tiêu cực. Người ta nói “nỗi buồn”, “nỗi cô đơn”, “nỗi đau”… chứ không nói là “nỗi vui”, “nỗi hạnh phúc”, “nỗi cực khoái”. Đó rõ ràng là một sự bất công, tựa như một con mèo mà suốt đời bị bắt đi lon ton chứ không bao giờ được phép nhảy tót xuống đất từ lầu ba của một tòa nhà.

“Niềm” thì khác. “Niềm” là danh từ chỉ dùng trước danh tính từ mang sắc thái tích cực. Điều này đã được ghi rõ trong từ điển và được đông đảo người Việt Nam công nhận như một lẽ tự nhiên là con chó không thể nhảy từ dưới đất lên cây và đứng trên đó mà sủa được.

Tôi hết sức thông cảm cho “nỗi”. Vì thế, tôi quyết định cho “nỗi” đứng trước một thứ lẽ ra phải là “niềm” vui.

Nỗi cô độc là niềm vui của tôi.

Tôi đã sống với nỗi cô độc như thế nào?

Mấy ngày nay, tôi quyết định chia tách hai phần mình ra để sống với những công việc đang cần hoàn thiện: việc công ty và việc dịch sách.

Vào tối muộn và sớm mai, tôi nghe R&B và khởi sự khám phá một phần của thế giới K-pop. Tôi tìm hiểu kĩ và sâu hơn về anh trai có nghệ danh G-Dragon – thần tượng đỉnh cao của rất nhiều cô cậu thanh thiếu niên thời nay. Tôi mở bài Crooked và nhắm mắt tưởng tượng cảnh anh nắm tay Kiko nhảy múa như hai con khỉ xổng chuồng trên đường phố Seoul.

Kế tiếp, tôi tìm hiểu về Kahi. Kahi là một ca sĩ kiêm vũ công khá nổi tiếng ở Hàn. Năm nay chị đã hơn 30 tuổi, cao, gầy, cung Ma Kết, có má lúm đồng tiền giống Liu Wen. Tôi đặc biệt thích chị trong mv It’s Me

Từ chiều đến tối chưa muộn lắm, tôi nghe Jazz và nhạc cổ điển. Khoảng hơn tuần trước, tôi dành nhiều thời gian nhất cho Frank Sinatra, mặc dù người ta vẫn còn tranh cãi về việc ông có phải ca sĩ hát nhạc Jazz hay không. Bài My Kind Of Town của ông tình cờ lại có đoạn dạo đầu hết sức Ghibli.

“Now this could only happen to a guy like me
And only happen in a town like this
So may I say to each of you most gratefully
As I throw each one of you a kiss

This is my kind of town, Chicago is
My kind of town, Chicago is
My kind of people, too
People who smile at you…”

Từ tuần vừa rồi và cho đến bây giờ, tôi chọn nhạc cổ điển để giải trí buổi chiều. Tôi chưa bao giờ nghe kĩ Bach, Beethoven, Chopin, Mozart, Vivaldi, Debussy, Haydn và Schubert đến như vậy. Nghe đi nghe lại, nghe đi nghe lại, nghe đi nghe lại… Tôi cố gắng thẩm thấu từng nốt nhạc (hoặc ngược lại) và học cách phân biệt từng người. Phải gió, tôi chả có tí kiến thức gì về nhạc lý và nhạc cổ điển thì càng không. Tôi chỉ ngệt mặt ra nghe như một con ngỗng. Đến lúc ấy, tôi mới thực hiểu điều bác Xuân Thụ muốn truyền đạt khi vẽ ra cảnh bạn Hoshino đến quán cà phê nghe nhạc cổ điển. Lần thứ nhất Hoshino đắm chìm trong bản tam tấu Archduke:

“Một số ý nghĩ chợt đến trong đầu hắn – phần lớn là liên quan đến bản thân hắn. Nhưng càng nghĩ về bản thân, hắn càng thấy đời mình có vẻ thiếu thực chất. Hắn bắt đầu cảm thấy mình như một thứ phụ tùng vô nghĩa”.

Lần thứ hai Hoshino nghe một bản Concerto của Haydn:

“Người ta sinh ra là để sống phải không nào? Nhưng càng sống mình càng mất đi cái gì ở bên trong mình, và rốt cuộc mình trở thành trống rỗng. Và mình dám chắc là càng sống, mình sẽ càng trống rỗng hơn, vô giá trị hơn”.

Kiểu như người lâu nay bị điếc tự dưng khỏi hẳn một bên tai phải không bác Xuân Thụ?

Trong lúc nghe nhạc cổ điển, tôi xoay vần với những con chữ nói về New Orleans và ma cà rồng. New Orleans, giả như bị bệnh gì đó sắp chết đến nơi, tôi nhất định phải cho Go to New Orleans vào To Do List Before Become Nothing của mình.

Sau một vài ngày nghe và đọc sâu, tôi nhận ra nhạc của Beethoven là phù hợp nhất với những câu chuyện ma quái về ma cà rồng và một thành phố của những linh hồn. Trong khi đó, nhạc Mozart có vẻ hợp với việc phân tích số liệu và Schubert thì hẳn là dành cho việc viết nhảm nhí (khi trời đang mưa).

Trong phim The Shining, sau một thời gian giam mình tìm ý tưởng sáng tác thì tác giả vẫn không thu hoạch được gì ngoài bệnh khùng.

Ngoài ra, tôi uống cà phê và trà xanh. Tất nhiên là tôi có ăn cơm, nhưng việc này mờ nhạt đến nỗi tôi không chắc là có tưởng tượng ra hay không nữa. Tôi phải ăn cơm, vì nếu không có cơm thì cà phê sẽ bào mòn dạ dày và trà xanh sẽ đục thêm vài lỗ thủng nữa. Hiện giờ dạ dày tôi vẫn chưa đau, có vẻ vẫn chưa thủng nên chắc việc ăn cơm là có thật.

“Uống trà ư? Đúng là một người phụ nữ nhạt nhẽo!”

Hôm qua và hôm nay có mấy cô gái nhắn tin, gọi điện cho tôi để hỏi việc khóa Facebook hơi lâu (so với trước kia). Tôi chẳng biết nói gì hơn từ “bận”. Nhưng không hẳn, đó là một sự giải thoát. Đó chắc chắn là một sự giải thoát đối với tôi.

Hiện tại năm ấy – 2017

Thật ra để nói cho công bằng, trong những ngày cuối sống cùng ma cà rồng, dòng nhạc symphonic metal mà đặc biệt là các ca khúc của Within Temptation mới thực sự nâng tôi sống dậy mà làm cho xong việc. Còn ở khoảng giữa của công chuyện đó thì là Enya. Tôi vẫn nhớ cảm giác khi nghe bài Marble Halls của bà và đọc những dòng chữ viết về vùng núi hoang lạnh ở Đông Âu – nơi được cho là cội nguồn của ma cà rồng. Cảm giác ấy rất kỳ lạ, giống như tôi vừa mở được hai cánh cửa vốn dĩ chẳng liên quan gì tới nhau nhưng lại thông tới cùng một thế giới. Trước đó nữa, ở phần đầu câu truyện thì tôi mới gắn bó nhiều với Jazz. Có lẽ vì bối cảnh lúc ấy vẫn còn ở New Orleans.

Khá nhiều mùa của American Horror Story được quay tại New Orleans. Và tương tự vậy là tả pín lù các thể loại phim ma cà rồng và người sói nổi tiếng khác.

Khi ma cà rồng của tôi đến Paris là lúc tôi chuyển sang nghe Chopin và Beethoven nhiều hơn hết thảy. Chưa bao giờ tôi thấy rõ được sức tác động của âm nhạc lên khả năng đọc hiểu và cảm nhận ngôn từ đến thế. Có lẽ đó là một phần lý do khiến người ta say mê và thậm chí sẵn sàng đánh đổi một đời cho âm nhạc. Mỗi giai điệu, mỗi chất nhạc, mỗi ca từ… sẽ dẫn ta đến một nơi chốn, thời đại và tư tưởng khác nhau. Âm nhạc có thể vực ta dậy từ đáy sâu vực thẳm hoặc nhận ta xuống bùn sâu từ thiên đường.

Bởi vì nhận thức này và nhiều nhận thức khác nữa, tôi cho rằng những ngày sống cùng ma cà rồng, đi từ nước Mỹ sang Đông Âu, dừng lại ở Paris rồi quay về Mỹ chính là trải nghiệm đáng quý nhất của quá trình dịch thuật. Kiến thức mới về nhiều lĩnh vực là thành quả đáng kể hơn hết, chứ không phải cuốn sách được xuất bản.

Và còn một điều cực kỳ quan trọng mà tôi thu vén được sau quãng thời gian ấy, đó là người ta có thể sống ổn, thậm chí ổn hơn rất nhiều khi không còn phụ thuộc cảm xúc vào mạng xã hội.

Đôi lời cảm ơn

Khi dịch xong Phỏng vấn Ma cà rồng, tôi tưởng đã biến luôn thành ma cà rồng. Trong vài năm, dù có vô vàn ý nghĩ, tôi không thế thốt ra điều gì cụ thể về tác phẩm này. Có thể tôi bị quá tải hoặc đơn giản là… lười. Vì vậy, tôi muốn dành lời cảm ơn đặc biệt đến Kodaki  – người đã dành thời gian nghiền ngẫm và biên một bài phân tích chất lượng cao cho Phỏng vấn Ma cà rồng.

Nói thật, đọc áng văn này của cô Anne Rice mệt và nản phết đấy! Bạn không tin thì cứ thử lên Goodreads lướt qua phần review sách là rõ thôi. Tuy nhiên bộ phim chuyển thể lại là câu chuyện hoàn toàn khác. Tôi đố bạn tìm ra phim nào khác quy tụ được Brad Pitt, Tom Cruise, Kristen Dunst, Antonio Banderas và Christian Slater về chung chỗ như thế. Ngầu dễ sợ! Không đọc sách thì thôi nhưng phim Phỏng vấn Ma cà rồng nên thử tìm xem bạn nhé.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng