Trà chiều

Hãy để tôi kể em nghe một câu chuyện tình

Tôi đã có một người ở đây rồi, một người xây nhà cư ngụ trong trái tim tôi với diện tích chiếm đến ba phần tư cơ thể tôi, tâm hồn tôi. Người đó là chính em.

Published

on

Em yêu của tôi,

Tôi luôn muốn gọi em như thế. Dù rằng em đã nói, không biết ngày mai sẽ như thế nào, liệu ngày mai em có còn ý thức để nói chuyện với tôi được hay không, nhưng tôi biết ngày mai với tôi chỉ có một: em sẽ mãi hiện diện trong trái tim tôi dù có ở bất kì không gian địa lí nào, hữu hình hay vô hình, tỉnh thức trong hiện tại hay vô thức trong những giấc mơ; dù là ở đâu, trong trạng thái nào, em vẫn sẽ tồn tại trong tôi, không phải là một phần, không phải là một nửa, mà là đến những ba phần tư của tôi, em có nhớ không? Vậy nên, chuyện ta tạm thời xa cách về mặt địa lí lúc này nào có quan trọng khi em luôn cư ngụ ở địa chỉ nhà gần trái tim tôi, chẳng đâu xa xôi cả.

Khi nghe em nói về việc em đã cực khổ như thế nào để chuẩn bị quà sinh nhật cho tôi, rằng em đã háo hức khi làm quà như thế nào khi mường tượng khuôn mặt tươi cười của tôi, rằng em đã đặt chuông báo thức lúc ba giờ mỗi đêm để cặm cụi làm quà cho tôi lúc gia đình đang ngủ say, tôi thực sự rất xúc động và cảm thấy ấm áp – hơi ấm ấy như lan đến từng ngóc ngách, từng tế bào trong cơ thể tôi – có lẽ cũng giống như cách người ta quảng cáo về công nghệ nano hướng đích, nếu công nghệ ấy thực sự hữu nghiệm như thế trong chuyện chữa bệnh, với tôi, nó cũng chưa chắc hữu nghiệm bằng việc được nghe giọng nói dịu dàng của em, được nhìn khuôn mặt em trìu mến nhìn tôi mỗi ngày. Tôi xúc động và tôi cũng lo lắng cho sức khỏe của em khi em đã phải làm việc nhà rất nhiều, lại còn mỗi ngày thức đêm như thế để làm quà cho tôi, tôi chỉ muốn em có những giấc ngủ thật ngon, thật say để mỗi sáng sớm thức dậy, em sẽ thấy mình như một đóa hoa mới vừa vươn mình khỏi mặt đất và đang hé nụ thôi, đóa hoa đó hãy còn nhiều sức sống lắm, và cứ mỗi ngày trôi qua, vào đêm tối, đóa hoa đó sẽ lặn sâu xuống mặt đất, để rồi khi ngày mai nữa lại đến, hoa một lần nữa vươn mình khỏi mặt đất và vẫn chỉ đang hé nụ thôi, hoa hãy còn nhiều sức sống lắm, rồi chu kì ấy cứ tiếp diễn, tiếp diễn, em sẽ mãi là một đóa hoa vừa mới vươn mình khỏi mặt đất và đang hé nụ, một đóa hoa mãi còn nhiều nhựa sống căng tràn bên trong, không bao giờ héo tàn. Em là một đóa hoa diệu kì như thế. Chỉ cần mỗi tối em ngủ sớm và ngủ một giấc thật sâu, như đóa hoa lặn vào trong lòng đất để đón lấy chất dinh dưỡng, được không em yêu của tôi? Em biết không, với tôi, em đã là một món quà rất quí giá mà cuộc đời ban tặng cho tôi rồi, nếu đòi hỏi hơn nữa, tôi sẽ là người tham lam nhất thiên hạ mất, à không, nhất vũ trụ này, nhất dải ngân hà luôn. Thế có nghĩa là em đã dư sức cân cả một thế giới trong lòng tôi rồi.

Bây giờ, tôi sẽ viết đôi điều tôi muốn kể em nghe. Trong đó, có lẽ tôi sẽ phải “spoil” một tác phẩm, em không phiền lòng chứ? Tôi biết mình không nên tiết lộ khi em chưa đọc, nhưng em cho phép tôi được làm như thế một lần nhé em? Tôi hứa sẽ không tiết lộ quá nhiều để ảnh hưởng đến trải nghiệm của em. Mọi người thường khen tôi viết văn hay – nhưng với tôi, việc viết văn có hay hay không, không quan trọng ở thời điểm này – điều quan trọng với tôi bây giờ hơn là những dòng tôi viết có làm em mỉm cười không, có làm em cảm thấy hạnh phúc và ấm áp khi đọc không – tôi chỉ cần như thế mà thôi; tôi tha thiết, mong mỏi điều đó; dù có được mọi người công nhận là viết hay nhưng cái hay đó không thể khiến em vui cười, khiến em hạnh phúc, khiến em tạm quên đi những muộn phiền, thì cái hay đó chỉ là sự vô nghĩa nằm trên bề mặt câu từ mà thôi. Chưa bao giờ hơn lúc này, tôi lại nỗ lực hết mình để làm việc mọi người vẫn thường công nhận là kĩ năng tôi có thể làm tốt nhất: viết. Và tôi đang cố gắng tận sức để làm, để viết những dòng này chỉ là vì em thôi, vì muốn em vui khi đọc được, muốn tâm trạng của em tốt hơn, muốn tinh thần của em được phấn chấn hơn, em có cảm nhận được không? Tôi yêu em. Yêu em nhiều lắm.

Xin lỗi em vì tôi đã lại vòng vo ở trên, không đi thẳng vào câu chuyện tôi định kể cho em nghe. Thôi, tôi chẳng dông dài nữa. Đó là về câu chuyện trong Nhà Golden. Tôi chỉ xin phép em được spoil một chút thôi để em hiểu lí do tại sao tôi lại thích tiểu thuyết này đến vậy – đây là một trong số hai tiểu thuyết tôi thích nhất khi đọc vào năm 2019 (tiểu thuyết còn lại là Quả chuông ác mộng), 2019 là năm tôi còn đọc sách khá nhiều so với bây giờ, tổng cộng năm đó tôi đọc ba mươi mấy quyển – nói ra để em thấy tỉ lệ chọi của hai quyển này trong danh sách của tôi cũng khá cao đúng không. Hầu như tất cả bạn hữu đọc sách xung quanh tôi đều biết năm 2019, tôi thích nhất là Quả chuông ác mộng. Nhưng thực ra, không ai biết có một quyển tôi cũng thích không kém chính là Nhà Golden – và tôi chưa nói ra điều này với ai cả, tôi cũng chưa viết bài review nào dành cho tiểu thuyết này nên việc mọi người không biết đến là điều dễ hiểu. Tôi chỉ nói cho một mình em biết thôi. Có gì trong Nhà Golden khiến tôi thích đến thế?

Nhà Golden là tác phẩm mà Salman Rushdie có tham vọng xây dựng như một đại tiểu thuyết phản ánh toàn bộ xã hội Mĩ dưới góc nhìn của những người nhập cư – thông qua đó, ông muốn bàn đến một chủ đề lớn hơn là căn tính. Căn tính của mỗi chúng ta ở đâu, hay điều gì làm nên căn tính của ta trong thời buổi toàn cầu hóa hiện nay, khi mà mọi ranh giới địa lí dường như xóa nhòa, khi ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin và giao lưu với những nền văn hóa khác? Chủ đề này nghe có vẻ đao to búa lớn quá phải không em? Đương nhiên, để phản ánh một chủ đề to lớn như thế, Salman Rushdie không thể chỉ đơn giản là tìm một hòn đá to rồi mô tả lại nó. Ông cũng làm một công việc tương tự như bao bậc đại văn hào khác khi tiếp cận một chủ đề lớn là chẻ nhỏ nó ra, đập vỡ hòn đá to ấy để nó thành những mảnh nhỏ li ti hơn, để biết bên trong nó có gì, phân tích và mô tả lại nhiều khía cạnh khác nhau của những mảnh nhỏ ấy để thông qua đó, giúp ta hình dung được hòn đá to khởi thủy đã bị vỡ nát. Và trong rất nhiều hòn đá ông miêu tả để tạo nên khối đá kiến trúc xã hội cho Nhà Golden, tôi chỉ thích một mẩu đá nhỏ duy nhất: câu chuyện về tình yêu giữa D. và Riya. Đó cũng chính là câu chuyện tôi muốn kể cho em trong lá thư này. Câu chuyện này chiếm một dung lượng rất nhỏ trong nhiều câu chuyện của Nhà Golden – vì vậy, tôi hi vọng những gì sắp kể sẽ không ảnh hưởng đến trải nghiệm đọc của em trong tương lai, một lúc nào đó khi em có nhiều thời gian và tinh thần thư thái hơn bây giờ. Tôi sẽ chỉ kể rất ít tình tiết – vì tôi cũng không còn nhớ nhiều nữa, đã đúng hai năm kể từ khi đọc rồi nên tôi quên rất nhiều – tôi sẽ chủ yếu nói về cảm xúc liên đới của mình thôi.

D. là công tử út trong gia tộc Golden nhập cư quyền quý. Từ nhỏ, anh đã có chút băn khoăn về giới tính của mình. Anh không rõ mình là đàn ông hay phụ nữ dù giới tính sinh học của anh là nam. Không phải ai sinh ra cũng có được cảm giác chắc chắn và hài lòng về giới tính sinh học của mình, hay ở chiều ngược lại là không hài lòng và muốn thay đổi (người chuyển giới). Có những người chỉ đơn giản là lưng lửng ở giữa, không phải đồng nhất với giới tính sinh học và cũng không phải chuyển giới, không phải hài lòng mà cũng không hẳn là không hài lòng. D. là một trong số ít những trường hợp như vậy. Và rồi D. gặp được Riya – như một lẽ trớ trêu của số phận, cô lại làm việc ở Bảo tàng Căn cước. Riya là một người hoạt động mạnh mẽ về nữ quyền, hơn ai hết, cô cũng rất đồng cảm và tôn trọng cộng đồng LGBT – theo tôi nhớ là như thế. Riya vừa dịu dàng, vừa mạnh mẽ; thông minh, sắc sảo mà cũng tinh tế, giàu lòng trắc ẩn. D. đã yêu một Riya như thế. Và Riya cũng lập tức yêu anh khi cảm nhận được nỗi u uất trong lòng anh, vẻ đẹp nơi tâm hồn anh là thứ gì đó cô không dễ dàng bắt gặp được ở đàn ông thông thường. Tình yêu của họ thoạt đầu có vẻ như tình yêu của bao cặp đôi dị tính khác. Cho đến một ngày, D. nói với Riya rằng anh cảm thấy mình muốn là một phụ nữ, anh không rõ mình có thực sự là một người phụ nữ trong tâm hồn hay không nhưng anh cảm thấy mình muốn thử làm phụ nữ để biết được câu trả lời cho mối hồ nghi, cho làn sương mờ bao phủ quanh bản dạng giới vẫn luôn làm anh day dứt bấy lâu nay. Khoảnh khắc đó, Riya cứ tưởng mình đã đánh mất anh, đánh mất tình yêu của anh, cô sẽ không còn một người đàn ông yêu mình nữa (Riya là một phụ nữ dị tính), thay vào đó là tình chị em với người phụ nữ vừa xa lạ, vừa thân quen. Nhưng không, D. nói rằng chuyện này không hề ảnh hưởng đến tình yêu anh/cô dành cho Riya. Đó chỉ là vấn đề về bản dạng giới của anh và không liên quan đến tình yêu của hai người. Nhưng với Riya – một người ủng hộ nữ quyền và cộng đồng LGBT, chuyện này vẫn rất khó hiểu và khó chấp nhận dù cô đã trang bị đầy đủ kiến thức. Cô đã quen yêu D. trong hình dáng khi anh là một người đàn ông, yêu anh với tâm thế một người phụ nữ yêu một người đàn ông, cô không phải là người đồng tính để có thể yêu anh trong tâm thế một người phụ nữ yêu một người phụ nữ. D. đã đặt Riya vào một tình thế rất oái ăm và khó khăn. Nếu D. chuyển giới là phụ nữ và có xu hướng tính dục là dị tính, anh/cô không yêu Riya nữa mà chỉ yêu đàn ông thì mọi sự khi đó còn dễ dàng hơn cho Riya – dù thật đau đớn nhưng cô chỉ cần đau một lần rồi dứt khoát từ bỏ tình yêu ấy và cầu chúc cho D. hạnh phúc bên người đàn ông mới là được. Đó là một câu chuyện không hiếm. Nhưng ở đây, việc D. vẫn yêu Riya sau khi đã thú nhận với cô rằng D. muốn chuyển giới lại đặt Riya vào tình thế khó khăn và đau khổ hơn rất nhiều. Cô không phải là người thiếu hiểu biết về vấn đề này để sồn sồn lên trách móc anh, đay nghiến anh. Ngược lại, cô quá thấu hiểu để cảm thông cho anh và cũng chính vì thế, chuốc phần nhiều đau đớn về phía mình. Riya biết D. đã hoang mang như thế nào ở ngưỡng cửa chuyển giới và anh (tôi quyết định sẽ tạm gọi D. là anh để kể lại câu chuyện này khi đứng ở phía Riya) đã chọn không ai khác mà là chính cô để tâm sự đầu tiên, để mong được lắng nghe và được ủng hộ. Riya còn biết làm gì hơn ngoài chuyện gạt đi nỗi đau và vui vẻ chấp nhận anh – giờ đây đã trở thành bạn tình nữ của cô. Là một người luôn đứng ra để bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và cộng đồng LGBT – những người cô không quen biết, lẽ nào Riya lại có thể làm tổn thương chính người phụ nữ/người đàn ông của mình – dù sự tổn thương ở đây không phải là một câu nói ác ý, một hành động thù hằn, hay sự bội phản mà chỉ đơn thuần là sự trốn chạy những lúc cảm thấy mệt mỏi. Trốn chạy. Phải, chỉ đơn thuần là trốn chạy thôi. Có những lúc cô cảm thấy quá đau đớn khi đối diện với D., thậm chí cô còn chẳng biết cảm giác đau đớn của mình khi đó có đúng đắn không khi D. vẫn yêu thương cô tha thiết, cô không biết phải đối diện với con người có tên là D. ấy bằng cách nào. Cô cố gắng yêu thương D. như yêu thương một người phụ nữ. Trong những ngày đầu tập quen làm phụ nữ, có rất nhiều thứ D. còn bỡ ngỡ và phải hỏi Riya: làm sao để là một người phụ nữ thanh lịch, thời trang nhã nhặn; nên dùng loại nước hoa, son môi, trang sức, đồ lót nào; có những từ ngữ hay tác phong nào của nữ giới cần lưu ý… Và Riya đã cố nén đau thương vào bên trong, giữ vẻ ngoài tươi vui để tận tình chỉ D. tất cả những điều ấy. Quá trình này khiến cô đau đến xé lòng khi phải tận mắt chứng kiến chính mình đang hướng dẫn cho người đàn ông mình yêu từng bước không còn là người đàn ông mình yêu nữa, từng bước cũng trở thành một người phụ nữ giống như mình; không có ai khác hướng dẫn D. mà người làm điều đó lại chính là Riya. Vì vậy, không thể trách được Riya nếu như một lúc nào đó cô mệt mỏi rồi buông tay. Và quả thực, cô đã làm như thế. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn. Cô không thể rời xa D. lâu được. Cuối cùng, tình yêu đã chiến thắng nỗi đau trong lòng. Cô chấp nhận sự tổn thương để tiếp tục được ở bên cạnh anh, được yêu anh, để lại được thi thoảng thấy đâu đó bóng dáng người đàn ông cô yêu ngày xưa trong người phụ nữ ngày càng nữ tính hơn. Dù cô đã chấp nhận yêu D. vì D. là chính D. nhưng có lẽ, nỗi đau đó sẽ còn mãi vì D. không đến với cô khi đã hoàn toàn là một người phụ nữ, D. đến với cô trong giai đoạn chuyển giao – mà người chứng kiến sự chuyển giao giữa cũ và mới bao giờ cũng là người đau lòng nhất, nếu so với người chỉ ở một giai đoạn nghiêng hẳn về quá khứ hoặc tương lai.

Đó chưa phải là hồi kết cho câu chuyện giữa D. và Riya nhưng tôi chỉ kể đến đó thôi, phần còn lại, trong tương lai, khi nào có thời gian, em hãy thử đọc một lần nhé. Có lẽ, kể đến đây, em đã hiểu vì sao tôi lại thích câu chuyện này đến thế và lại muốn kể cho em nghe vào dịp đặc biệt như thế này rồi đúng không em?

Tôi đọc Nhà Golden vào đâu đó tầm tháng Năm, tháng Sáu 2019, cũng vào một mùa hè khi trời nắng nóng đến đỉnh điểm thì bắt đầu có những cơn mưa rào như bây giờ, mùa của những ngày dài hơn đêm và ánh hoàng hôn tắt khá muộn để buổi chiều với những vệt nắng vàng lưu luyến lâu hơn trong văn phòng nơi tôi làm việc và đọc quyển sách này. Tôi vẫn còn nhớ khi đọc đến bất cứ đoạn nào kể về chuyện tình của D. và Riya, tôi cũng đều có nhiều cảm xúc lẫn lộn vui buồn, ấm áp, cảm động hòa cùng thích thú, tò mò; và trong đó, nổi bật nhất là thứ cảm xúc ghen tị. Tôi ghen tị với D. vì dù số phận trớ trêu như thế nhưng sao D. quá may mắn khi gặp được Riya, khi có được một người yêu mình mãnh liệt như thế, một tình yêu đẹp như thế. Với tôi thì trong đời, chỉ cần gặp được một người yêu mình như thế, một lần cảm nhận được tình yêu như thế là quá đủ rồi. Nhưng vào mùa hè cách đây hai năm, điều đó dường như rất xa xỉ với tôi. Em biết đấy, thời điểm đó tôi vừa trải qua một cú sốc khiến tôi đóng Facebook và chỉ thỉnh thoảng cập nhật một chút tâm trạng qua Instagram; ngoài giờ đi làm và những lúc xem phim một mình ở rạp thì hầu hết thời gian tôi đều ở nhà, cũng lại chỉ xem phim hoặc đọc sách, không còn động tay gì nữa để viết những tiểu thuyết trong dự định. Tôi cứ lặng lẽ như thế ngày qua ngày trong chiếc vỏ của mình. Khi tìm lại được nhiệt huyết và động lực để theo đuổi ước mơ âm nhạc ngày xưa, tôi cũng không dám mơ mình vẫn còn cơ hội để đắm chìm trong kiểu tình yêu mãnh liệt giống như của D. và Riya. Tôi không dám mơ mình sẽ gặp được một người yêu mình giống như cách Riya đã yêu D. Tôi không dám… Có quá nhiều thứ tôi không dám mơ, không dám nghĩ cho đến khi tôi gặp em. Em yêu à, tôi chưa bao giờ nói với em điều này đúng không? Bây giờ, tôi sẽ nói. Tôi không còn ghen tị với họ nữa vì giờ đây, chính tôi đang được đắm chìm trong một tình yêu như thế cùng em. Tôi không còn phải ao ước có một người nào đó như Riya xuất hiện để ở bên cạnh tôi, yêu tôi nữa. Tôi đã có một người ở đây rồi, một người xây nhà cư ngụ trong trái tim tôi với diện tích chiếm đến ba phần tư cơ thể tôi, tâm hồn tôi. Người đó là chính em. Em là Riya của tôi. Hơn cả thế, em là chính em. Tôi yêu em vì em là chính em, em yêu của tôi. Cảm ơn em đã luôn cố gắng đi cùng tôi trong chặng đường đầy gian khổ nửa năm vừa qua, để rồi một lần nữa tôi lại cảm nhận được tình yêu, cảm thấy mình thật may mắn khi được em yêu thương, khi được gặp em. Dù cũng có những lúc giữa chúng mình tồn tại sự căng thẳng, mệt mỏi, những mâu thuẫn, nhưng tận sâu trong lòng, bây giờ nhìn lại hành trình mình đã đi qua, tôi cảm thấy biết ơn em lắm, và thực sự cảm thấy hạnh phúc. Còn em, em có như thế không? Tôi có khiến em cảm thấy được yêu thương, được trân trọng, được nâng niu không? Đã có lúc nào đó em thực sự cảm thấy hạnh phúc vì tình yêu tôi dành cho em không? Tôi biết rằng mình đã làm em đau buồn và tổn thương rất nhiều, dù có xin lỗi em bao nhiêu lần cũng là không đủ, nhưng tôi hi vọng, dù chỉ một lần thôi, ít nhất tôi đã khiến em cảm thấy thực sự hạnh phúc trong tình yêu này.

Bây giờ, em đã hiểu vì sao việc gặp được em, yêu em lại khiến tôi hạnh phúc đến như thế rồi đúng không. Tôi cũng thêm hiểu được hạnh phúc đôi khi là những điều nhỏ bé, em à. Là được gọi điện cho người mình yêu, nghe giọng nói dịu dàng và nhìn khuôn mặt trìu mến của người đó, là được nói những điều ngọt ngào khiến em vui rồi em chìm trong giấc ngủ hạnh phúc.

Tối nay là đêm trước ngày sinh nhật của tôi rồi. Tôi sinh ra vào lúc chín giờ sáng.            

Em yêu à, tối nay em hãy cố gắng vì tôi ngủ sớm và ngủ một giấc thật ngon nhé. Vì tôi mong được cùng em đón sinh nhật mình vào sáng mai. Cùng đón sinh nhật ở đây không có nghĩa là em phải gọi cho tôi vào buổi sáng, tôi chỉ cần biết rằng ngày mai em thức dậy trong sự tươi tỉnh hơn, tâm trạng phấn chấn hơn, tinh thần và sức khỏe cảm thấy dồi dào hơn – đó đã là món quà lớn nhất với tôi lúc này rồi, em biết không. Vì em là người phụ nữ của riêng tôi, vì em là người tôi yêu.

Concua

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ Sách đến Phim

What Happened to Monday: Sự chật chội của một danh tính

Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức?

Published

on

By

What Happened to Monday là một phim mà tôi chắc rằng khi đọc qua logline, bất kì nhà sản xuất hay khán giả đại chúng nào cũng thấy ngay sự mới mẻ, hấp dẫn của nó. Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức? Thế thì, một gia đình có bảy chị em sẽ xoay sở ra sao để cùng nhau tồn tại? Hoặc ngắn gọn hơn nữa, ngay từ câu tagline của bộ phim cũng đã gợi nhiều suy ngẫm kích thích người xem: “Bảy chị em, một danh tính.”

Cái hay trong ý tưởng kịch bản phim nằm ở việc nó đồng thời vừa mới mẻ lại vừa gần gũi. Tình trạng dân số thế giới ngày càng gia tăng là vấn nạn có thật và ở những nước đông dân, người ta cũng đã quá quen với những khuyến nghị về việc hạn chế số lượng con trong mỗi hộ gia đình. What Happened to Monday chỉ đẩy chuyện này lên mức cực đoan để Max Botkin – tác giả kịch bản gốc trình bày những quan điểm của mình về con người và xã hội. Ý tưởng kịch bản phim phần nào đó có nét giống với truyện ngắn 2BR02B của Kurt Vonnegut. Cả hai đều đặt câu chuyện trong bối cảnh một xã hội kiểm soát dân số bằng những biện pháp ngặt nghèo, chỉ khác ở cách thức kiểm soát. Cách thức kiểm soát dân số trong What Happened to Monday đã được đề cập ở trên, còn cách thức kiểm soát dân số trong 2BR02B lại là: để một người được sinh ra, trước tiên phải có một người tình nguyện chết. Do đó, tuy có một chút trùng lặp với 2BR02B nhưng nhờ sự khác biệt trong cách thức kiểm soát, What Happened to Monday vẫn có thể xem là ý tưởng kịch bản độc đáo. Tôi nghĩ rằng có thể xếp kịch bản phim vào dạng high-concept – đây là miếng mồi ngon cho các nhà làm phim Hollywood. Kịch bản What Happened to Monday hoàn toàn có thể được viết lại với những nhân vật khác, tình tiết khác mà vẫn cho ra câu chuyện thú vị như cách các nhà làm phim đã xào nấu ý tưởng kịch bản Groundhog Day (1993) thành nhiều câu chuyện về vòng lặp thời gian ra đời sau này như: About Time (2013), Edge of Tomorrow (2014), Before I Fall (2017), hay bộ phim kinh dị sắp sửa ra mắt là Happy Death Day (Sinh nhật chết chóc).Có thể trong tương lai, nhiều bộ phim lấy tiền đề tương tự như What Happened to Monday cũng sẽ được ra đời.

Tuy nhiên, What Happened to Monday lại cócách triển khai câu chuyện quá cũ kĩ mặc dù tiền đề là một ý tưởng high-concept mới mẻ. What Happened to Monday được xếp vào thể loại dystopian sci-fi, thế nhưng tôi cảm thấy gần hai phần ba phim lại giống thể loại hành động hơn. Mọi tình tiết trong phim gần như được thúc đẩy bằng những cảnh hành động và cả cách nhân vật giải quyết vấn đề cũng khiến người xem dễ cảm thấy bạo lực là thứ chính yếu để chiến thắng. Tình trạng này khiến tôi nhớ đến phim In Time (2011). In Time cũng có một ý tưởng tiền đề rất hay đến mức tôi nghĩ ai đọc qua logline của phim hẳn đều sẽ muốn xem phim ngay. Thế nhưng, cách triển khai câu chuyện của In Time cũng lại qui về những cảnh hành động đậm chất Hollywood quen thuộc khiến bộ phim trở nên nhàm chán. Cả In Time lẫn What Happened to Monday đều thuộc thể loại sci-fi và đều mắc tình trạng rốt cuộc sci-fi chỉ để làm nền cho action. Trong một bộ phim sci-fi kể về thế giới dystopia (thế giới trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn ở thì tương lai) như What Happened to Monday, tôi nghĩ nếu câu chuyện được xử lí theo hướng thiên về tâm lí nhân vật như The Lobster (2015) thì có thể phim sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn về mặt thông điệp khi đặt ra câu hỏi muôn thưở của Hamlet: “Tồn tại hay không tồn tại?” Còn ở bộ phim này, có lẽ câu hỏi chỉ dừng lại ở mức đơn giản là What Happened to Monday? như chính tiêu đề phim. Và do đó, chí ít ta cũng được hưởng chút thú vị của thể loại trinh thám – vốn là nơi hay đặt ra câu hỏi dạng này.  

Điểm đánh giá: 6.5/10

Kodaki

Đọc bài viết

Giai điệu dẫn lối suy tư

Chuyện học đàn guitar của tôi

Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu.

Published

on

By

Tôi ít khi nào viết bằng tiếng Việt để được buông xả cảm xúc thoải mái nhất có thể. Dù buồn cách mấy, tôi luôn cố gắng viết bằng tiếng Anh để làm dịu bớt đi sự kịch tính hóa nỗi buồn vốn chẳng có gì nghiêm trọng mà tôi thường có xu hướng sẽ viết quá lên khi dùng tiếng Việt. Thế nhưng, khoảng hai năm gần đây, tôi bắt đầu đặt lại câu hỏi, liệu mình có thật sự buông hết cảm xúc thoải mái khi viết tiếng Việt và giản lược hóa tối đa những suy nghĩ phức tạp bên trong khi viết bằng tiếng Anh không? Dường như, câu trả lời “có” không còn bật ra đơn giản như ngày xưa nữa. Đôi khi, viết bằng tiếng Việt, vì biết rằng sẽ có nhiều người dễ dàng đọc được, tôi lại tự kiềm nén cảm xúc của mình trong vô thức nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn muốn viết những dòng này bằng tiếng Việt. Dù sao, tôi vẫn là một dòng nước yếu ớt nếu thừa nhận thẳng thắn, tôi không phải là lửa dù lửa hừng hực cháy bên trong tôi, tôi không phải là đất dù thoạt nhìn bề ngoài có vẻ lí tính, tôi cũng không phải là khí dù lí tưởng cuộc đời tôi tản mác như khí. Tôi vẫn là nước. Và một cung nước hướng nội có lẽ cũng chẳng dễ dàng chia sẻ những điều này nơi chốn công cộng – lí do thỉnh thoảng tôi tự cho phép mình làm điều này có lẽ do có sự tác động của một chút lửa và một chút khí trong phạm trù giao tiếp. Nhưng đến đây, sự sa đà vào chi tiết lại đích thị là của nước – như Frozen 2 cứ lặp đi lặp lại ý này: nước lưu giữ mọi kí ức. Trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau – có lẽ là tác phẩm gần nhất tôi đọc được, Đoàn Minh Phượng cũng có luận điểm tương tự như thế. Và chẳng phải Masaru Emoto có viết hẳn hai cuốn sách về điều này còn gì. Nên tôi cố gắng dừng lại việc lan man ở đây, mào đầu dài dòng thế này là đủ. Cái tật đi vòng bụi rậm vẫn cứ không tha cho tôi.

Năm vừa rồi, một trong những điều khiến tôi biết ơn nhất có lẽ là việc xem được phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi có cảm tình với bộ phim này ngay từ tựa phim, đó là hoàn cảnh tôi thường xuyên trải qua những năm học đại học và một vài năm đầu sau khi vừa tốt nghiệp. Tôi không được biết về thông tin phim trước đó. Đơn thuần trước thời điểm phim sắp chiếu hai - ba tuần, trong một lần đi xem phim, tôi thấy poster của phim đã được dán ở phần phim sắp chiếu từ lúc nào. Ngay giây phút nhìn thấy tấm poster và tên phim như thế, tôi đã quyết định khi nào phim ra, chắc chắn sẽ đi xem, bất kể nội dung thế nào, trailer ra sao, diễn viên và ekip gồm những ai, tôi chỉ có một linh cảm mơ hồ trong đầu rằng phim sẽ hay. Đương nhiên sau đó, trước khi vào rạp, tôi đã có thời gian nắm hết những thông tin cơ bản. Tuy vậy, khoảnh khắc những dòng chữ cuối cùng trên credit chạy hết, tôi vẫn ngỡ ngàng vì hạnh phúc khi được xem một phim Việt Nam hay đến thế, duyên dáng đến thế, dễ thương đến thế. Đã lâu rồi tôi không có cảm xúc này khi xem phim Việt từ lần xem Chàng vợ của em (cũng là một phim ban đầu tôi không kì vọng nhiều nhưng xem thì thấy nó hay đến ngỡ ngàng, chạm vào cảm xúc của tôi một cách kì lạ) cách đó đúng một năm. Tôi thường ít khi thú nhận mình thích phim Việt nào, nhưng Chàng vợ của emTrời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ nằm trong số ít ỏi phim Việt sản xuất những năm gần đây tôi có thể hăng hái đi khoe khắp chốn để mong chí ít là những người xung quanh mình có thể bớt đi chút thành kiến dành cho phim Việt; đặc biệt là với trường hợp Chàng vợ của em. Thế nhưng, Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ mới chính là bộ phim mang đến cho tôi nhiều giá trị hơn bất cứ phim nào tôi từng xem trong đời. Nếu như thời điểm phim đang chiếu nhằm vào lúc tôi đã mở lại Facebook, chắc chắn tôi sẽ viết một bài khen phim đăng ở đây. Tôi vẫn nhớ vào thời điểm phim gặp khó khăn về doanh thu vì được xếp quá ít suất chiếu, tôi đã luôn băn khoăn việc mở lại Facebook để thể hiện sự ủng hộ của mình dành cho đoàn phim, để dụ dỗ thêm được người bạn nào xem thì hay chừng ấy. Nhưng rốt cuộc, tôi vẫn không mở lại Facebook. Đó là thời điểm tôi vẫn còn quá mệt mỏi. Thời gian này không hẳn mọi thứ đã tốt đẹp hơn nhưng về cơ bản có lẽ tôi đã học cách kiểm soát được cơn mệt mỏi một chút. Tất cả có lẽ là nhờ việc tôi đã tập guitar sau khi xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Đó là một việc rất quan trọng với tôi năm nay, đủ quan trọng để tôi nghĩ rằng nên viết nó trong bài note này, để khi trí nhớ trở nên kém cỏi hơn, tôi vẫn có thể tri ân bộ phim và khoảng thời gian ấy.

Ngày còn học đại học năm nhất, bộ phim nhạc kịch đầu tiên tôi phải lòng là Moulin Rouge! – đây là một câu chuyện đã trở nên quá cũ kĩ, nhàm chán với những người quen biết tôi nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây. Sau đó, tôi đắm chìm trong một loạt các phim nhạc kịch khác: The sound of music, West Side Story… Vẫn còn rất nhiều phim nhạc kịch tôi chưa xem, tôi cũng không nhớ cơ sự vì đâu mà chuyện xem phim nhạc kịch của mình bị gãy đổ. Nhưng tóm lại, với tôi, một phim nhạc kịch hay là điều gì đó rất tuyệt vời, kiểu tuyệt vời thật hiển nhiên không cần phải chứng minh. Tôi cứ ngỡ ai cũng sẽ dễ dàng thích phim nhạc kịch giống tôi. Nhưng quả là nếu con số đó đông đảo thì phim nhạc kịch đâu chết yểu, thỉnh thoảng chỉ tìm lại được chút vinh quang trong vài phim lẻ tẻ chứ không rầm rộ cả một dòng như siêu anh hùng. Sau này, khi ra rạp xem phim nhiều rồi, chấm dứt chuỗi ngày chỉ xem trên màn hình máy tính nhỏ xíu ở nhà, tôi mới biết nguyên nhân người ta không thích xem phim nhạc kịch. Đó là một câu trả lời chung quen thuộc mà có lẽ mọi người đã nghe quá nhiều rồi: “Không hiểu sao đang nói chuyện bình thường tự nhiên hát, sao mà cứ hát suốt…” Trong một vài lần đầu tiên nghe những lời bình luận này, tôi có chút bực tức. Họ không nhận ra vẻ đẹp quá đỗi hiển nhiên của nhạc kịch hay sao? Nhưng lâu dần tôi cũng quen và chấp nhận, chỉ là đôi khi cảm thấy chút cô đơn. Việc người ta khó khăn để thích một phim nhạc kịch đến vậy rốt cuộc khiến tôi hiểu ra vỉ sao ngày xưa, thưở bé tí lúc tôi còn ôm nhiều mộng mơ với âm nhạc, tranh thủ hát mọi lúc mọi nơi, bất cứ khi nào có thể: trên đường lên xuống cầu thang, lúc tắm, lúc ngồi chờ mẹ nấu ăn, lúc làm những công việc tay chân lặt vặt… tôi đã bị mắng là khùng, điên, sao cứ suốt ngày hát như thế. Ngẫm lại thì việc đó cũng nào khác gì cách các nhân vật trong phim nhạc kịch hát mọi lúc mọi nơi. Nhưng tôi nghĩ, khi người ta còn hát được dù trong hoàn cảnh nào thì điều đó thật đẹp, thật đáng trân trọng. Tuy vậy, khi lên đại học, tôi khởi sự đọc sách nhiều hơn, mải mê theo đuổi những suy nghĩ trong đầu, từ lúc nào đó không còn hát nhiều nữa, tôi dần trở thành một nhân vật bình thường trong một bộ phim drama bình thường nào đó về cuộc sống, nơi mọi người không giải quyết vấn đề của mình bằng cách hát hò mà cứ chau mày, đi qua đi lại, vò đầu bứt tóc, máy động tay chân để nghĩ ra giải pháp. Vì vậy, tôi càng trân quý hơn khoảng thời gian được thưởng thức một phim nhạc kịch tuyệt vời nào đó đang chiếu rạp. Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi là một trong những phim như thế.

Tôi nhớ rằng trước khi bước vào rạp xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có chuyện gì đó đang khiến tôi rất buồn bã. Vậy mà khi xem xong phim, tôi bỗng nhiên cảm thấy mọi thứ có thể trở nên nhẹ nhàng hơn chỉ bằng cách ta cầm một cây đàn, tấu lên giai điệu nào đó và nhẹ nhàng hát vang. Vừa trở về nhà, tôi tức tốc vớ lấy cây ukulele đã lâu không đàn chỉnh lại dây rồi hát vu vơ. Không phải hát những bài hit đã được ai đó sáng tác trước đây, chỉ đơn thuần là ngay khoảnh khắc đó, tôi nghĩ gì trong đầu thì hát ra ngoài cũng như thế, còn hợp âm thì chọn vòng đệm rất cơ bản là C – F – G – Am hoặc C – Am – F – G, đôi khi có pha thêm Em, Dm – tóm lại là những hợp âm cơ bản trong giọng C. Cứ đàn hú họa và hát hú họa, ban đầu chẳng có gì ăn khớp với nhau, nhưng tôi chỉ hát cho một mình tôi, nào có ai lắng nghe mà tôi phải sợ hãi và đòi hỏi sự hoàn hảo nơi bản thân. Dần dà, tôi tự điều chỉnh lời, giai điệu đang hát cho khớp một chút với vòng hợp âm đang đệm, rồi trong lúc hát bậy hát bạ như thế, cũng có khi một vài giai điệu hay ca từ nảy ra khiến tôi khá hài lòng. Nhưng tôi đều không thu âm cũng như ghi chép lại lời. Tôi muốn những gì hát trong đêm đó sẽ ở lại trong đêm đó, sẽ chỉ là những thanh âm phù du như gió thoảng qua một vùng đất xa lạ. Bởi vì tôi biết chỉ cần cố gắng ghi âm lại, tôi sẽ bắt đầu vòng luẩn quẩn như trước đây, cảm thấy không hài lòng về chính bản thân mình, và lại chỉnh chỉnh sửa sửa, nó trở thành một công việc cực nhọc, toát mồ hôi hột, không còn niềm vui nữa, trong khi lúc ấy tôi đã quá mệt mỏi nhưng lại không muốn làm phiền ai, chỉ cần giãi bày trong âm nhạc là đủ. Hôm ấy, rốt cuộc tôi đã đàn đến bốn giờ sáng. Vào hôm sau đi làm, tôi rất mệt mỏi về mặt thể chất, người nóng ran vì ngủ không đủ giấc, mắt cứ lờ đờ, nhưng tinh thần tôi thì sảng khoái, vui tươi, không còn mỏi mệt nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy mình có thể làm được rất nhiều việc. Hôm ấy làm xong tôi không đi la cà đây đó nữa, tôi chạy ngay về nhà đề tiếp tục đàn. Nhưng qua một đêm đàn ukulele từ mười hai giờ đêm đến bốn giờ sáng, tôi đã lại chán tiếng đàn quá vui vẻ của ukulele. Tuy nhiên, tôi cũng không thể đàn piano – nó đã bị hư ở thời điểm ấy. Tôi trộm nghĩ đến guitar – một nhạc cụ tôi đã từ bỏ rất lâu. Khi bắt đầu học guitar trong một tháng vào năm 2009, tôi đã nghĩ nó không hợp với mình, tôi chẳng đàn được bài nào cả vì đặt mục tiêu là đàn classic (lẽ ra lúc ấy tôi nên học đệm hát thì cơ sự ngày nay đã khác đi nhiều), thế nên tôi bỏ học guitar để quay lại chuyên tâm với piano. Nhưng guitar là một nhạc cụ tôi đã mơ ước có thể cầm đàn và hát từ hồi còn rất nhỏ, có lẽ từ cấp một hay cấp hai. Tuy nhiên, khi có cơ hội học đàn vào năm lớp Tám, tôi đã chọn piano. Tôi nghĩ mình phải tiếp xúc với âm nhạc một cách bài bản nhất qua piano rồi guitar thì có thể chờ lên đại học cũng được. Tôi đã không thất hứa với mình. Vừa đậu đại học, tôi lập tức làm hai điều: ghi danh học tiếng Nhật ở trường Đông Du và đăng kí học đàn guitar. Điều đầu tiên tôi đã kiên trì thực hiện đến cùng và tạm đạt được một cái đích, điều thứ hai tôi lại bỏ dở dang. Và điều thứ hai luôn khiến tôi canh cánh bên lòng. Trong suốt mười năm qua, có nhiều lúc hơi chán piano một chút, thi thoảng tôi lại cầm guitar lên, nhưng rồi lại buông xuống. Khi biết đàn ukulele một chút, tôi đã nghĩ như vậy là đủ rồi, giải tỏa được nỗi buồn vì không thể tập guitar được rồi. Nhưng ukulele là ukulele, guitar là guitar. Chỉ cách nhau số lượng có hai dây nhưng không cái nào thay thế được cái nào. Ukulele không có những quãng âm trầm, đục, buồn như guitar. Nếu như không có Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có lẽ đến giờ này, cây classic guitar mà chị hai đã mua tặng tôi năm 18 tuổi vẫn còn xếp xó ở một góc khuất đằng sau tủ quần áo, không được ai cầm lên, nâng niu, vuốt ve, cùng nó phiêu lưu vào thế giới âm nhạc. Dư âm của buổi tối hôm trước khi thức đến bốn giờ sáng ôm đàn ukulele hát ca vẫn còn đọng lại nhiều năng lượng tích cực trong tôi, khiến tôi nghĩ hay là hôm nay mình cứ thử cầm guitar lên và làm điều tương tự xem thế nào, dẫu sao cũng chỉ có mình tôi, không cần phải e ngại, ngượng ngùng sự thiếu hoàn hảo. Cầm guitar lên, tôi nhận ra mình chẳng nhớ một chút hợp âm nào ngày xưa từng được học, cho dù chỉ là hợp âm đơn giản. Tôi chỉ nhớ duy nhất thế bấm cơ bản của C. Dù ở piano hay guitar, C luôn là hợp âm đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, là kim chỉ nam để tôi nhớ ra cấu trúc của một hợp âm trưởng, là thứ giữ cho ta khỏi đi lạc khi sắp xếp lại một quãng giọng trong trường hợp trí nhớ đã trở nên quá lẩn thẩn. Đôi khi, tôi ước gì mình cũng tìm được C cho cuộc đời mình. Nhưng không có C, cuộc đời tôi chỉ là những nốt nhạc cách nhau một cung rồi nửa cung hơi lộn xộn mà nhiều khi tôi phải cố gắng sắp xếp cho ra một trật tự nào đó.

Một người bạn từng nói với tôi rằng, khi bắt đầu tập guitar đệm hát, bài đầu tiên nên tập là Diễm xưa của Trịnh Công Sơn vì bài ấy vừa đơn giản, giai điệu vừa hợp với guitar, chưa kể điệu slow rock có thể giúp cả bốn ngón tay móc đều đặn và khi tập thì sẽ dần học cách nhớ dây bass của từng hợp âm. Khi đã tập được Diễm xưa rồi thì cứ thế tiến tới những bài khác của Trịnh Công Sơn mà cũng dùng điệu slow rock. Tôi đã từng thích nhạc Trịnh những năm cuối cấp hai rồi có một quãng thời gian bị ngắt giữa chừng ở năm cấp ba, đến khi học đại học, có thời gian tôi từng nghĩ mình không thích nhạc ông nữa vì một lí do có phần hơi trẻ trâu: Trịnh cứ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại đến mức nhàm chán nên nếu bỏ đi phần lời rất thơ thì giai điệu của nhiều bài cứ na ná nhau. Tôi cho rằng đó là lười biếng nhưng khi ấy lại không chịu tìm hiểu kĩ hơn rằng cũng có rất nhiều người thường lặp lại vòng hợp âm mình yêu thích. Giờ đây tôi mới hiểu rằng lặp lại vòng hợp âm thì đã sao, quan trọng là sự biến tấu trong giai điệu, nhiều khi chỉ cần một chỉnh sửa nho nhỏ, một thay đổi trật tự đâu đó trong vòng hợp âm quen thuộc là ta đã có chút cảm giác khác biệt. Tôi có xem một video Taylor Swift hát live trên Youtube và phía dưới video đó có rất nhiều bình luận đem lại cho tôi cảm giác những con người ấy cũng giống hệt mình ngày xưa, họ mỉa mai rằng Taylor có một vòng hợp âm cứ dùng đi dùng lại mãi là G – D – Em – C.  Tôi lên Ultimate – Guitar xem qua một loạt hợp âm các bài của Taylor để kiểm tra sự tình thì quả là cũng đúng thật như vậy. Nhưng tôi lại có một cảm nhận khác, giống như bộ phận khán giả ở phía ngược lại với nhóm người chê bai: nếu chỉ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại mà Taylor có thể sáng tác được rất nhiều bài hát thì cũng rất tài tình. Vậy nên, tôi trở lại bình thường với việc Trịnh Công Sơn cứ dùng đi dùng lại những hợp âm buồn quen thuộc như: Am, Em, Dm.

Tôi nhớ rằng năm lớp Tám, lúc bắt đầu học organ, ngay từ những ngày đầu tôi cũng đã có cảm tình với Am, Em, Dm khi chúng vang lên những âm điệu buồn da diết. Thực ra thì hợp âm thứ nào cũng sẽ như vậy thôi. Nhưng khi pha trộn giữa hợp âm trưởng và các hợp âm màu đúng nơi đúng lúc, chúng sẽ lại càng tỏa sáng hơn nữa những nỗi buồn rực rỡ. Tuy vậy, cũng là Am, Em, Dm nhưng khi đàn trên guitar lại cho cảm giác còn buồn hơn cả khi đàn chúng trên piano. Trong một lần lang thang một forum chỉ dẫn kinh nghiệm về đàn guitar, tôi nhớ có một bạn từng nêu ý kiến rằng hợp âm Am, Em là hai hợp âm sẽ vang lên đẹp nhất khi đàn trên guitar. Theo cảm nhận của riêng cá nhân mình ở thời điểm hiện tại, tôi cũng đồng tình với ý kiến ấy. Vậy nên, chả trách sao Trịnh Công Sơn cứ viết những bản tình ca buồn với Am, Em khi ôm đàn guitar. Vào buổi tối khởi sự tập Diễm xưa, tôi cũng mê mẩn thanh âm của Am khi rải điệu slow rock. Tôi không nhớ mình đã đàn Diễm xưa bao nhiêu lần nhưng khi chưa thuần thục lắm, tôi đã vội chuyển sang một bài khác của Trịnh Công Sơn, rồi một bài khác nữa, một bài khác nữa vẫn của ông. Rốt cuộc, hôm đó tôi cũng đàn đến tầm ba bốn giờ sáng. Hôm sau cũng vậy, hôm sau nữa cũng vậy. Việc không tập đi tập lại một bài hát trong cùng một buổi khiến tôi không chán dù có một giai đoạn tôi cảm tưởng như bài nào cũng hơi đàn được một ít nhưng rốt cuộc không đàn được bài nào ra hồn. Tuy nhiên, chính đặc điểm cứ dùng một vòng hợp âm quen thuộc của Trịnh Công Sơn hóa ra lại giúp ích cho tôi rất nhiều. Dù tôi đàn nhiều bài khác nhau của ông nhưng thực chất chỉ dịch chuyển tay trái chừng ấy hợp âm. Sau khoảng gần một tuần, tôi bắt đầu quen với cách dịch chuyển những hợp âm cơ bản đó và “bùm”, bỗng nhiên tôi đàn được cùng lúc rất nhiều bài của ông, chưa kể là còn những bài pop của nhiều người khác cũng dùng hợp âm tương tự như thế. Khi đó, tôi tạm biệt ông với sự biết ơn trong lòng và bắt đầu tập những bài tôi thích trong phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi không nhớ đã tập những bài trong phim mất bao lâu nhưng suốt cả tháng Mười, gần như hôm nào tôi cũng thức đến hai ba giờ sáng để tập đàn lung tung bất cứ bài nào chợt nghĩ đến, và trong bất kì buổi tập nào, bao giờ tôi cũng đàn trước nhất những bài hát trong Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi như một nghi thức, một lễ chào cờ, một sự tri ân rồi mới bắt đầu những bài khác.

Khi đàn được hơn một tuần, những ngón tay trái của tôi bắt đầu xuất hiện những vết chai. Càng đàn, chúng càng trở nên dày hơn và bắt đầu bong tróc, nhìn có vẻ ghê ghê nhưng trong lòng tôi lại thấy rất vui, đó là bằng chứng tôi đã luyện tập tích cực dù rằng có một hôm, khi phải gõ bàn phím để viết một bài review sách thật dài, tôi cảm thấy rất đau ngón tay, mỗi một kí tự được gõ ra là một lần đau. Tôi nhớ rằng khi tập đàn piano rồi hôm sau có gõ bàn phím, tôi cũng không đau tay như thế. Piano không làm đau những đầu ngón tay mà chỉ làm mỏi cổ tay khi tập lâu nhưng qua một giấc ngủ là tiêu biến. Tuy nhiên, cảm giác đau đó quá nhỏ nhoi so với niềm vui mà guitar mang lại cho tôi. Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu. Khi đàn guitar nhiều hơn, tôi mới phát hiện ra những động tác để đàn nó tạo ra sự tiếp xúc thân mật hơn so với piano: dù đàn đứng hay ngồi thì thân thể bạn cũng tiếp xúc với guitar nhiều hơn. Trong khi đó, piano lại khá tách biệt so với người đàn: ta chỉ tiếp xúc nó qua mười đầu ngón tay và một bàn chân để giậm pedal. Với guitar, tay bấm hợp âm của bạn trước tiên phải nắm chặt cần đàn; như vậy, so với piano là được thêm phần tiếp xúc ở lòng bàn tay; và tay còn lại để rải hay quạt dây thì cũng phải tì thêm một phần khuỷu tay vào thùng đàn; nếu như ngồi đàn thì phần thùng đàn còn tiếp xúc với đùi của ta nữa. Biết rằng so sánh như thế này thì có hơi khập khiễng nhưng tôi nghĩ rằng xét về độ quấn người thì guitar giống như một chú chó thân thiện luôn muốn được ôm ấp, còn piano thì giống như một cô mèo kiêu kì, đòi hỏi sự tiếp xúc ở mức độ tinh tế, nhẹ nhàng vừa phải. Thời điểm ấy, tôi đã quá mệt mỏi nên guitar cho tôi cảm giác thân tình hơn là piano và tôi cứ thế bấu víu vào nó. Nhưng tôi vẫn dùng piano để dò hợp âm và nó cho tôi cảm giác tự do, thoải mái hơn guitar rất nhiều. Nhạc cụ nào cũng có một loại cảm giác đặc thù riêng.

Đầu tháng Mười một, tôi phải tạm gián đoạn việc tập guitar trong chín ngày. Tôi nhớ rằng khi ngồi một mình trên chuyến bay ra Đà Nẵng, với nhạc Billie Eilish vang lên trong tai, mắt nhìn ra khung cửa sổ ngập mây nhuộm vàng trong buổi chiều, đầu ngón tay cái của tôi đã liên tục chạm vào bốn ngón tay trái bị chai đi rất nhiều khi tập đàn. Tôi cứ chạm mãi và phát hiện rằng mình nhớ cảm giác khi đàn guitar rất nhiều, nhiều hơn tôi tưởng. Bốn đầu ngón tay cứng ngắc như được dán keo sắt đó tựa thể vết tích của một cuộc tình. Tôi không muốn nó biến mất. Và rồi, tôi bắt đầu lo sợ sau khi kết thúc chuyến đi thì bốn ngón tay này đã mềm lại. Tôi cứ quẩn quanh trong những suy nghĩ đó, về guitar, âm nhạc, những bài hát tôi viết từ năm cấp hai từng khao khát một lúc nào đó thu âm có beat đàng hoàng mà đến nay vẫn chưa thực hiện chỉ vì tôi lười, và những chuyện khác nữa… Tôi nhớ rằng mỗi sáng tỉnh dậy, tôi đều chạm vào bồn đầu ngón tay đó. Và bây giờ thì tôi biết rõ hơn mình muốn làm gì rồi. Không phải cho một tương lai quá xa. Chỉ trong một năm trước mắt này thôi. Tôi muốn dành thời gian để thực hiện điều bản thân đã luôn khao khát được làm từ những năm cấp hai. Tôi muốn lại một lần nữa nghe theo điều trái tim mách bảo và thật chuyên tâm thực hiện nó. Xét theo lí trí, tôi biết đây không phải là điều mình giỏi nhất, như nhiều người cũng từng nói, nó không dành cho tôi, tôi nên tập trung làm việc từ trước đến giờ tôi vẫn luôn làm tốt nhất. Khi tự vấn bản thân, tôi biết rằng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn muốn một lúc nào đó còn có thể viết thêm một tiểu thuyết nữa, nhiều nhiều tiểu thuyết nữa tôi đã ấp ủ từ lâu. Tôi vẫn nhớ cảm giác say sưa khi miệt mài theo đuổi một câu chuyện trong suốt quãng thời gian dài, tỉ mẩn viết ra nó là như thế nào dù nó đã lùi quá xa trong kí ức của tôi, đã bảy năm rồi tôi không viết thêm được một tiểu thuyết nào nữa, nhưng tôi vẫn nhớ cảm giác khi hoàn thành tuyệt vời như thế nào. Giống như trong lời bài hát They can’t take that away from me. Đó là một thứ cảm xúc tinh khôi như mối tình đầu khó quên mà tôi nghĩ rằng dù có mắc bệnh Alzheimer, tôi vẫn nhớ nó với một sự tiếc nuối mơ hồ khôn ngần đâu đó trong tiềm thức. Nhưng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Hiện tại tôi không còn đủ trí lực để xây dựng những câu chuyện dài hơi nữa. Nghĩ đến việc viết tiểu thuyết đã trở thành một điều gì đó thật sự mệt mỏi, đau đớn dù đầu năm nay tôi đã cố gắng xốc lại tinh thần, lập ra danh sách những tác phẩm cần phải đọc để lấy tư liệu, tham khảo trước khi viết, lại còn đã nghĩ ra gần xong cả dàn ý sơ lược nữa. Nhưng cuối cùng, ngay cả việc đơn giản hơn việc viết là đọc tư liệu mình đã lập danh sách chuẩn bị tôi còn không làm nổi thì huống gì là viết. Cuối cùng, đến mùa thu năm nay, tôi đã quyết định sẽ không cố gắng cho việc viết nữa. Tạm thời trong năm sắp tới đây là như thế. Nói vậy không có nghĩa là tôi chọn âm nhạc như một cách để thoát li việc viết. Bản thân hai việc này tách biệt nhau hoàn toàn. Dù tôi có mệt mỏi, chán nản với việc viết hay không thì sớm muộn gì, tôi cũng muốn thực hiện điều tôi của năm cấp hai ngày đó đã luôn khao khát. Huống hồ, bây giờ cũng không còn là sớm nữa, gần như đã có chút hơi muộn. Nhưng không sao, muộn còn hơn là không bao giờ. Tôi không muốn phụ lòng tôi của ngày đó khi tôi của ngày nay đã tạm có đủ chút ít phương tiện, kiến thức ở mức cơ bản để làm điều tôi của ngày đó luôn muốn làm. Có thể những gì tôi sắp làm trong thời gian tới sẽ không cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh đúng nghĩa, nhưng tối thiểu tôi sẽ cố gắng để nó trở thành những bản ghi âm nghe tạm ổn, ít tạp âm như vật chứng cho một thời tôi đã từng viết nhạc say sưa đến vậy dù không biết gì về nhạc lí; và mai này, lỡ có chuyện gì xảy ra, tôi cũng sẽ không hối tiếc vì đã hoàn thành được ý nguyện ngày xưa rồi.

Cuối cùng của cuối cùng: mỗi lần sử dụng Facebook, lướt qua News Feed của mọi người, cảm giác là một loser lại hiện diện lên rõ rệt trong tôi. Khi không dùng Facebook, trong đời sống thường nhật, tôi đã có cảm giác loser. Dùng Facebook chỉ càng khuấy đậm hơn cảm giác đó. Vậy nên, tôi biết rằng để lại Facebook sẽ không thể nào tập trung làm việc được vì còn phải mất thời gian đấu tranh với sự tự ti trỗi dậy bên trong. Tôi sẽ lại deactive thêm một thời gian dài nữa. Hi vọng lần tới, khi reactive Facebook, lúc đó, tôi đã hoàn thành được kha khá sản phẩm. Tôi không muốn đây lại là một dự định dở dang. Trời ơi, tôi muốn làm nhạc.

Một lần nữa, cảm ơn đoàn làm phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Cảm ơn vì đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều. Với tôi, việc biết đàn guitar đệm hát trong năm nay thật sự là một món quà quý giá, một sự cứu rỗi.

Ngoài ra, việc tôi có thể tiếp tục đàn, sắp tới là làm beat và thu âm những bài sáng tác ngày xưa, là một phần rất lớn nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình, vô vị lợi của T. và K. Cảm ơn hai bạn rất nhiều. Tôi không biết phải viết gì để diễn tả sự biết ơn trong lòng mình. Mọi lời hoa mĩ đều là thừa thãi và đều không đủ. Tôi nghĩ việc đáp trả thiết thực nhất mà tôi có thể làm là cố gắng viết nhạc tốt hơn để không uổng công hai bạn đã dành thời gian dạy nhạc cho tôi. Cảm ơn rất nhiều, thật lòng cảm ơn…

Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những người bạn, những anh chị em, đồng nghiệp… đã dành cho tôi nhiều sự chân thành, tử tế trong năm qua và những năm trước đây.

Cảm ơn vì tất cả.

Kodaki   

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Destruction Babies – Sự đơn sắc của gam màu hủy hoại

Họ – những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc.

Published

on

By

Destruction Babies (có nơi dịch tiêu đề tiếng Anh của phim là Distraction Babies, ở bài viết này, tôi sử dụng tiêu đề Destruction Babies) là một trong số ít phim những năm gần đây khiến tôi rất băn khoăn về nội dung dù rằng tình tiết phim không khó hiểu, không có những yếu tố thường dễ đánh đố người xem như: thời gian đa tuyến, gián điệp, điều tra, giấc mơ trong giấc mơ, những sự kiện phi tuyến tính… Không, Destruction Babies không có những yếu tố ấy. Ngược lại, phim dễ hiểu một cách đáng ngờ. Câu chuyện của phim đơn giản đến mức có thể sẽ khiến bạn phải ngẩn ngơ tự hỏi “chỉ có thế thôi ư” sau khi phim kết phúc.

Toàn bộ phim có thể dễ dàng tóm gọn như sau: một thanh niên manh động thích lấy chuyện bạo lực làm trò vui. Chỉ đơn giản như thế. Tôi nghĩ rằng phim sẽ lí giải vì sao Ashihara Taira – cậu thanh niên mới mười tám tuổi ấy lại thích đánh nhau như vậy. Tôi thậm chí còn tưởng tượng một cốt truyện kiểu như Chí Phèo của Nam Cao lúc chỉ mới thoạt xem qua trailer. Nhưng Destruction Babies không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng như Taira không hề có bất cứ khoảnh khắc nào hành động khác đi ngoài sự phá hủy, ở anh không hề có chút dịu dàng hay yêu thương. Chuyện đánh người vô cớ của Taira khiến tôi nhớ đến tiêu đề một bộ phim có sự tham gia của James Dean: Rebel Without a Cause. Tôi không còn nhớ nội dung của Rebel Without a Cause nhưng quả thực, hành động của Taira đúng là nổi loạn vô cớ. Điều ấy khiến tôi tự hỏi đạo diễn Mariko Tetsuya làm phim này với mục đích gì? Vì không trả lời được câu hỏi ấy, tôi cảm thấy mình không thể hòa hợp với Destruction Babies. Hay nói cách khác, tôi cảm thấy mình không thể thích nó. Dù vậy, tôi vẫn muốn viết vài dòng về phim để lưu lại những suy nghĩ của mình trong lúc này.

Destruction Babies có khá nhiều cảnh long take và những cảnh long take này thường nằm ở vị trí quan trọng trong câu chuyện. Tuy vậy, những cảnh long take trong phim không phải thuộc dạng có chuyển động máy phức tạp khiến khán giả dễ trầm trồ về kĩ thuật của người quay. Phần lớn các cảnh long take của Destruction Babies đều giữ máy ở một góc cố định hoặc chỉ di chuyển khung hình đôi chút: những cảnh Taira đánh người thường được quay theo kiểu này. Tôi nhận thấy việc giữ long take thay vì cắt ghép liên tục trong cảnh chiến đấu đã tạo ra không khí phảng phất cảm giác tài liệu, nó cho phép người xem quan sát những khoảnh khắc yếu ớt của nhân vật trong nhịp điệu thong thả, nó không tách rời chủ thể với bối cảnh xung quanh là những căn nhà, những người đi đường nán lại nhìn – điều này lại càng khiến ta cảm thấy những cuộc đánh nhau của Taira là vô nghĩa như bất kì cuộc đánh nhau nào ta đã có dịp chứng kiến trên đường phố. Vì thế, các cảnh đánh nhau trong phim không mang màu sắc thường thấy như những cảnh tương tự trong phim hành động.

Tôi không rõ kịch bản Destruction Babies tuân theo kiểu cấu trúc nào. Chắc chắn, phim không theo cấu trúc ba hồi, lại càng không thể là cấu trúc hai hồi. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi tạm xếp phim vào cấu trúc một hồi (có thể phim thuộc dạng cấu trúc nào đó đã được phân loại nhưng tôi không biết) với kiểu câu chuyện về sự suy thoái (thuật ngữ là fall down hoặc descending story – nếu tôi nhớ không nhầm). Tuy nhiên, kiểu câu chuyện suy thoái theo truyền thống thường sẽ cho nhân vật ở một điểm xuất phát tốt đẹp và càng đi đến kết thúc, nhân vật càng tồi tệ hơn; tương tự, kiểu câu chuyện về sự vươn lên (rise up hoặc ascending story) sẽ vận hành theo hướng ngược lại. Thế nhưng, trong Destruction Babies, ngay từ khởi điểm, Taira đã luôn là một người thích đánh đấm, Yuya đã luôn là một người thích trêu đùa kẻ khác, Nana thì lại luôn ăn cắp vặt... Họ - những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc. Vì vậy, xét Destruction Babies vào kiểu câu chuyện suy thoái sẽ có phần đúng và sẽ có phần sai: đúng ở chiều vận động theo hướng đi xuống của nhân vật, sai ở sắc thái đối nghịch lẽ ra phải có của một câu chuyện suy thoái thì trong Destruction Babies lạichỉ có sự đơn sắc của gam màu hủy hoại. Sự đơn sắc vốn là điều các nhà kể chuyện thường tránh nhưng ở Destruction Babies dường như đây lại là thứ đạo diễn Mariko Tetsuya cố tình tạo ra. Với Destruction Babies, quá khứ và tương lai của nhân vật đã bị loại bỏ, trở thành thứ không quan trọng, chỉ có hiện tại mục rữa là điều duy nhất hiện diện.

Một trong những cảnh tôi thích nhất phim chỉ đơn giản là cảnh long take góc toàn từ trên cao cho thấy hình ảnh chiếc xe chạy qua một khúc cua trong đêm tối. Khi ấy, nhạc nền lại là bản nhạc đã được sử dụng trong cảnh toàn long take đầu phim giới thiệu quang cảnh ban ngày của thành phố cảng nơi Taira sinh sống. Khúc nhạc có tiết tấu hỗn loạn ấy được sử dụng cho điểm bắt đầu của cả hai cuộc hành trình: một khởi sự vào ban ngày, một khởi sự vào đêm tối, dường như đang có ý thực hiện phép so sánh thông qua điểm chung giữa góc máy và âm nhạc. Tuy nhiên, cảnh trong đêm tối lại gợi cảm giác buồn bã nhiều hơn. Không hiểu sao nó khiến tôi nghĩ đến On the road dù rằng tôi cũng chẳng còn nhớ nội dung cụ thể của quyển sách ấy. Có lẽ là tinh thần tuổi trẻ cứ miệt mài lao đi trong đêm tối, ngỡ rằng có thể đến bất cứ nơi đâu cho đến khi dừng chân lại mới phát hiện mình vẫn đang ở một điểm chẳng khác biệt mấy so với điểm khởi đầu. Cũng giống như ánh sáng phát ra từ chiếc xe khi mờ khi tỏ qua những hàng cây, cho đến một góc khuất nào đó, luồng sáng của nó hoàn toàn tắt ngúm trong tầm mắt người quan sát.

Tôi rất thích diễn xuất của Yagira Yuya trong phim này. Tôi có thể thấy được sự điên dại trong ánh mắt, nụ cười của anh. Vai diễn của Suda Masaki trong Destruction Babies không có nhiều điểm khác biệt so với vai diễn của cậu trong Drowning Love (cùng sản xuất năm 2016); vì vậy, tôi không đặc biệt ấn tượng lắm với cậu trong phim này. Komatsu Nana vẫn hoàn thành tốt vai diễn của em. Destruction Babies khiến tôi nhớ đến một phim ngắn em từng tham gia: There Is No Tomorrow (2016). There Is No Tomorrow cũng nói về sự nổi loạn. Trong phim ấy, Julien Levy định nghĩa sự nổi loạn là “mong muốn có được thứ gì đó lớn lao hơn sự tồn tại” (This insurrection is about expecting more from existence). Tôi tự hỏi, những bạn trẻ trong Destruction Babies liệu có mong muốn điều gì đó tương tự như thế không. 

Điểm đánh giá: 5/10
Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng