Phía sau trang sách

Cô gái dưới tầng hầm: Khi khuôn mặt ra khỏi vành mũ

Published

on

Southern trees bear strange fruit
Blood on the leaves and blood at the root
Black bodies swinging in the southern breeze
Strange fruit hanging from the popular trees

Dạo này cây miền Nam nảy sinh loài quả lạ
Máu vương trên lá. Máu trào về cội
Hình hài da đen đong đưa theo ngọn gió

Đây loài quả lạ trĩu cành cây dương

Nước Mỹ những ngày vừa qua đã trải qua cơn bạo loạn lớn nhất trong lịch sử về vấn đề sắc tộc. Trước đó những vụ xả súng vào người da màu hay quyền bình đẳng bị xem nhẹ trong giai tầng xã hội hiện đại dường như đã trở thành bản lề cho cách vận hành lâu đời của xã hội tưởng dân chủ nhưng không hề dân chủ này. Nếu những năm 40 của thế kỷ trước, huyền thoại nhạc jazz Billie Holiday từng ghi âm Strange Fruit – bài hát dựa trên sự thật về những người da màu bị quy kết không qua xử án bị treo cổ trên những cành cây xứ Indiana như loài quả lạ; thì Stacey Lee bằng cách tìm về lịch sử, đã xây dựng nên xã hội nước Mỹ những năm 1890 thời Hậu tái thiết đầy biến động và gian truân không chỉ với người da màu, mà còn với tổ tiên cô – những người Trung Hoa. Cô gái dưới tầng hầm là cuốn sách dễ đọc, dễ cảm; nhưng cũng đồng thời trong đó, lịch sử cả một thời kỳ vẫn đang diễn ra với những dòng chảy sắc tộc âm ỉ sục sôi.

*

Đặt cuốn sách trong bối cảnh những luồng mâu thuẫn đan chặt lẫn nhau, Stacey Lee khai phá những bất công vẫn còn tồn tại thông qua nhân vật Jo – cô gái có lý lịch phức tạp nhưng đầy đặc biệt. Nước Mỹ những năm 1890 đầy biến động khi miền Bắc mới vừa bãi bỏ thành công chế độ nô lệ trong khi miền Nam đầy truyền thống và đối nghịch vẫn trong trạng thái nửa nắm nửa buông. Ở đó, thay vì những nô lệ da đen như trước kia, nay người Trung Quốc được thuê vì những phẩm chất được cho là hơn hẳn. Nhưng dẫu cho họ là người Trung Quốc hay châu lục cách đó cả Đại Tây Dương, họ vẫn là con người, khát khao tự do, cuộc sống đầm ấm. Từ đó họ trốn chạy, dẫn đến đạo luật Xua đuổi người Trung Quốc năm 1882 và trạng thái mắc kẹt.

Những người Trung Quốc đã một lần tin và đầy hy vọng về cuộc sống ấm êm nay không thể dẫn thêm gia đình vì thứ Đạo luật vô nghĩa lý, sống co cụm thành những nhóm nhỏ, dựa vào nhau mà sống và bị coi khinh không khác gì người da đen những năm về trước và cả bây giờ. Già Gin, Jo và những người chú gốc Hoa phải sống nhờ dưới tầng hầm của xưởng in nhà Bell, vì không ai cho họ một mái nhà để thuê (chẳng hạn một người da trắng đóng sập cửa lại và nói: “Cô là loại dễ loanh quanh ở những chỗ không ra gì; vả lại, tôi cá là cô hút thuốc phiện đen”). Cho dù họ có bao dung cho thuê đi nữa, Jo và mọi người cũng không đủ tiền khi họ sống với số tiền công được trả vô cùng bèo bọt, chỉ 50 xu mỗi giờ và còn bị đuổi việc không vì một lý do cụ thể nào, dù cho cô làm tốt và nhanh gấp đôi những người da trắng khác.

*

Với Cô gái dưới tầng hầm, Stacey Lee đã chọn một nhánh nhỏ của lịch sử không phải ai cũng biết nhưng rõ ràng vô cùng quan trọng nếu xét về căn cước của bản thân cô, một tác gia gốc Hoa đi ngược về lịch sử. Trong cuốn sách này, ta bắt gặp những bất công, phân biệt đối xử tương tự những cuốn tiểu thuyết khác viết về chế độ nô lệ cách đó hai hay ba mươi năm; cùng những quy ước khi vượt mặt người da trắng là một hành vi phạm pháp sẽ bị trừng phạt mà, mức độ quan trọng tùy thuộc vào ai là người bị lừa và bị lừa đến đâu hay luật ngầm ở miền Nam quy định cách giao tiếp giữa người da đen và da trắng, trong đó người da đen không được nhìn vào mắt người da trắng. Nếu phá luật, sẽ phải chịu hậu quả, đôi khi là hậu quả khôn lường.

Stacey Lee khôn ngoan khi xây dựng được đồng minh ở cuốn sách này: giữa một dòng giống đã không kiên trì mệt mỏi đấu tranh cho quyền lợi của mình – những người da đen như Robby hay Noemi; với một sắc vàng chỉ vừa chân ướt chân ráo đến Atlanta – tiểu bang miền Nam đầy những định kiến và nghi kị. Sự thân thiết và gắn bó giữa Jo và những con người chất phác da ngăm ấy như tượng trưng cho sức mạnh của thế yếu được nhân lên gấp bội, trở thành ánh sáng chói lòa chắn trước những định kiến hữu cựu vẫn còn tồn tại. Từ chính cách đối xử đã ăn sâu vào từng nếp gấp não bộ hay trong mỗi phần tử không khí, những người da trắng không theo kịp thời đại ấy tự cho mình trên hết, nhưng có lẽ họ quên mất một điều rằng khi đặt mình lên trên người khác, họ đã từ bỏ tâm tính của mình.

*

Luật lệ đối xử trên xe điện, luật bất thành văn khi người gốc Á hay da màu phải đi cửa sau, hôn nhân liên chủng tộc được coi là điều không thể… Tất cả hiện diện trong cuốn sách này như phông nền cho cách xã hội vận hành. Một điểm khác Stacey Lee đã làm rất tốt và tạo được khác biệt cho tác phẩm của mình đó là cô đã đi sâu khai phá những mặt sâu sắc và trực diện hơn, không chỉ những tảng băng nổi người ta vẫn thường hay thấy. Cách những người da trắng giàu sang coi khinh những chủng tộc khác đã quá thường tình, ở đây Stacey còn khai thác thẳm sâu hơn thế, trong chính nội tại của mối quan hệ này.

Ở đó, những người giúp việc, nấu bếp, cắt tỉa… bị chủ da trắng bóc lột công sức tưởng như là người cùng khổ với Jo hay Già Gin; nhưng không, họ cũng dữ tợn và căm ghét những chủng tộc khác như chủ của họ. Cùng xếp tận cùng dưới đáy giai cấp trong xã hội ấy, nhưng giữa họ với nhau không có một sự đồng cảm. Hình ảnh người cắt tỉa vườn ngăn không cho bà cụ vắt sữa bò sưởi ấm trên xe điện khi trời quá rét hay lão gác xe nhìn thẳng Già Gin rồi phán rằng – ông không đen cũng không trắng; tất cả tạo nên không khí xã hội ngột ngạt khi nhân quyền bị chà đạp và con người không thấu hiểu nhau, đồng cảm cùng nhau. Một xã hội vô tri không chỉ xuất hiện ở những dòng giống cúi đầu nhìn vào smartphone trong những ngày này, mà qua cánh cửa thời gian, nó cũng ở đó đã từ rất lâu những năm 1890.

Tầng lớp dưới cùng cư xử như thế là điều dễ hiểu, nhưng những tri thức, phụ nữ tiến bộ hành động ra sao? Họ vì cái cớ là những người đòi bình quyền, đòi được phiếu bầu về trong tay mình để cũng công bằng như với đàn ông; thế nhưng, để đòi được những quyền uy đấy, bắt buộc những người tham gia không phải da màu. Jo, Noemi tham gia góp sức vào trong phong trào đòi bình quyền bằng chính sự ngây ngô về ảo tưởng vô cùng đẹp đẽ, thế nhưng đáp lại những điều ấy chỉ là ánh mắt ngờ vực và cho ra rìa của những phụ nữ tự nhận tân tiến. Như câu mà Noemi một lần thốt ra: “Chúng ta cùng chung vai trò hoạt động như những phụ nữ khác, nhưng nỗi căm ghét của họ còn quan trọng hơn cả việc giành được quyền bầu cử”.

Phụ nữ da màu, phụ nữ Á Đông đã quá khổ sở vì những áp lực đè nén lên mình, khi đó vừa là vấn nạn phân biệt chủng tộc, vừa là phân biệt giới tính; họ đi tìm tiếng nói nơi những người đồng cam cộng khổ cùng trải qua ách áp bức, nhưng dội ngược vào họ chỉ là cái dửng dưng của những con người quan tâm đến bản thân nhiều hơn nhân quyền, dân quyền thuần túy. Stacey Lee vô cùng khéo léo khi dập nổi được những đối ngẫu này, mâu thuẫn lồng trong mâu thuẫn để rồi từ đó cả một xã hội nhiễu nhương hiện ra và cái nhỏ nhen, tị hiềm vẫn luôn ngự trị.

*

Nhưng vẫn còn đó là những tia sáng phía cuối đường hầm. Gia đình nhà Bell là những con người ủng hộ hết mình những người có tài nhưng bị phán xét. Việc Stacey khắc họa nhân vật Jo với tính cách và hoạt động của một nhà báo, một người nằm vùng, một Quý Cô Ngọt Ngào không hẳn chỉ là trùng hợp – mà thay vào đó ẩn đằng sâu từng dòng phản hồi, từng dòng mực in cũng như căn hầm tối tăm nơi cô thường trú; phụ nữ da trắng cuối cùng rồi thì cũng bị khuấy theo những dòng tư vấn của một cô nàng Trung Quốc mà nếu ai đó phát hiện ra được, cô sẽ vĩnh viễn phải ngồi trong khám. Cô tự do, phóng khoáng và hơn ai hết hiểu mình cần gì. Nếu những người da trắng phải thông qua cô để biết phụ nữ có thể tự mời những chàng trai đến trận đua ngựa, họ cũng có thể tùy ý hủy bỏ hôn ước vì một cuộc sống tươi đẹp còn ở phía trước hay chiếc xe đạp tự do có ý nghĩ thế nào với những cô nàng thức thời… thì Jo hay Quý Cô Ngọt Ngào đã tự nhận ra rất lâu về trước, bằng chính cảm quan và những ngẫm nghĩ cho số phận mình. Họ có bộ óc, có tư duy và hơn hết có hai bàn tay lao động; họ không ăn bám như loài côn trùng sâu bọ rệp rít phá hoại mùa màng. Nhớ kỹ điều đó và nếu không nhớ, chính họ sẽ nhắc cho người da trắng phải nhớ.

Hình ảnh cuối cùng khi Jo cưỡi con Khoai Lang chiến thắng cuộc đua như khúc khải hoàn cho những đấu tranh. Chiếc mũ trao cho cô vẻ ngoài để được lộ diện. Quý Cô Ngọt Ngào trao cho cô tiếng nói để được lắng nghe. Nhưng có lẽ, điều cần nhất trong tất cả là tự do được bước ra khỏi cái bóng che khuất của vành mũ. Jo – một cô gái Trung Quốc không danh không phận, Khoai Lang – một cô ngựa non đầy khiếm khuyết phía trên đấu trường của những ngựa đực với dòng giống tuyển; thế nhưng, cả hai người họ đã đều mạnh mẽ vươn lên và giành chiến thắng mặc cho khiếm khuyết, mặc cho gốc gác. Vì sao Jo đã luôn không thắng trước người kỵ sĩ mà lại đồng hạng ở cùng một giải? Dễ thấy Stacey Lee ngầm ngụ ý rằng, người da trắng sẽ không bao giờ chịu thua và không bao giờ thừa nhận chính những khiếm khuyết của mình. Nó hằn sâu trong ADN họ, khi đúng thời cơ, chúng sẽ phát tán. Và vụ George Floyd là một ví dụ vô cùng điển hình.

Cô gái dưới tầng hầm là cuốn sách chứa nhiều bão giông, của thời đại, của đấu tranh, của con người. Bằng lối kể chuyện vô cùng mộc mạc, Stacey Lee một cách từ từ dẫn dụ người đọc vào cuốn tiểu thuyết nhịp nhàng nhưng ẩn đằng sau là những ngầm ý cho người đọc tự mình rút ra ý nghĩa chính. Vẫn như thường lệ, cuốn tiểu thuyết này vẫn không thoát khỏi những dài dòng của chuyện tình cảm, của những trường đoạn về mối quan hệ cố tạo kịch tích; nhưng đến cuối cùng khi khép lại cuốn sách, những gì lịch sử vẫn luôn hằng giữ là điều tốt đẹp và thành công nhất mà Stacey Lee đã mang đến được.

Hết.

minh.


Bài viết có liên quan


Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng