Phía sau trang sách

Winner of International Booker 2020: “The Discomfort of Evening” – Tiếng nói thô ráp của những nghi ngại

Published

on

Discomfort is good. In discomfort we are real.

Ted Hodgkinson, chủ tịch ban giám khảo Giải thưởng International Booker 2020, trong đêm trao giải đã hùng hồn nói: “Chúng tôi đặt cho mình nhiệm vụ to lớn, là việc chọn ra người chiến thắng từ một danh sách rút gọn xuất sắc, một tác phẩm chứa sự hư cấu đủ táo bạo để xây dựng một nền móng huyễn hoặc và phá vỡ mọi giới hạn của tiểu thuyết thông thường. Từ trường hợp đặc biệt và trong bối cảnh cũng đặc biệt không kém, chúng tôi đang tìm kiếm một cuốn sách vượt xa sự lặp lại hiện tại lạc hậu và sở hữu giá trị vượt thời gian.”

Bám sát sườn với lời tuyên bố này, The Discomfort of Evening đã nhận được vinh dự cao nhất từ hội đồng International Booker trước sự hài lòng của đông đảo độc giả cùng ít nhiều bất ngờ, đặc biệt khi tác phẩm có lối viết thể nghiệm, ngang tàn và bất cần này vượt qua đề cử có phần truyền thống và tiền lệ hơn (The Memory Police của nữ nhà văn Nhật Bản Yoko Ogawa). Bỏ qua những yếu tố ảnh hưởng bên lề theo dòng chính sự, ta nhìn vào nội tại trần trụi của tác phẩm. “Kết hợp giữa khả năng cảm thụ mới mẻ và bản dịch nhạy cảm kỳ lạ, The Discomfort of Evening là sự gợi lại nội tại nhẹ nhàng về thời thơ ấu bị kẹt giữa sự xấu hổ và cứu rỗi, đồng thời là cuốn sách vô cùng xứng đáng giành được Giải thưởng năm nay.”

Có gì đằng sau cuốn tiểu thuyết vừa được trao giải Booker Quốc tế? Những uẩn khúc nào trong câu chuyện bán tự thuật của nhà văn – nhà thơ Marieke Lucas Rijneveld, một non-binary với cá tính rất khó trộn lẫn của xứ Hà Lan? Có hay không cuối cùng Booker đã tổng hòa được tính văn chương, hay The Discomfort of Evening chỉ là bản hòa ca của những trào lưu thực tế – của dystopia, của LGBTQ+, của nghệ thuật và phong cách ổn?

*

The Discomfort of Evening là cuốn tiểu thuyết mang đến nhiều nghi ngại. Dẫu biết bất công khi nhận xét một cuốn sách bằng tính từ như thế, nhưng rõ ràng với tiểu thuyết đầu tay này, Marieke Lucas Rijneveld không làm gì hơn ngoài gieo rắc tình thế khó chịu trong suốt chiều dài câu chuyện. Bằng giọng văn lạnh tanh, sắc bén như lưỡi dao mổ, Marieke gây mê người đọc khiến họ rơi vào tình trạng bải hoải, đồng thời thách thức những cách tiếp cận văn chương thường thấy, nơi cái duy mỹ, đẹp đẽ vẫn thường trồi lên; để đến với những ung mủ thô ráp nhưng thực của tình trạng yếm thế, của bản chất vô cùng nguyên thủy nơi dòng giống người.

Tiểu thuyết mở đầu bằng bữa tối hai ngày trước Giáng sinh của một gia đình nông dân kính Chúa, nơi ngôi kể chính – Jas – cô bé 10 tuổi, chứng kiến những u ám nối tiếp lẫn nhau. Phát súng đầu tiên là cái chết của Matthies khi cậu bé lọt vào hố băng khi đương trượt tuyết khiến mọi thứ trải ra phẳng lặng. Ám ảnh sâu sắc vì cái chết của đứa con trai, người mẹ bỏ ăn còn người cha cố chống chịu từng ngày trong khi những đứa trẻ còn lại thoi thóp trong sự áp đặt. Nhưng chiếc vòng kiềm tỏa không dừng ở đó, nó ngày càng thít chặt hơn khi đàn bò lâu đời của gia đình họ dần dần mất đi bởi dịch bệnh. Chỉ đến khi đó, họ – cha mẹ của ba đứa trẻ – mới sụp đổ hoàn toàn. Họ nhợt nhạt, buồn thương và vô định trước những ý nghĩ cuộc sống. Cũng từ trong đó, bản chất yếm thế của họ dần dần hiện ra, và sự tự khám phá của những đứa trẻ cũng dần bộc lộ. Với một kịch bản buồn thương nối tiếp buồn thương, Marieke, một cách khó chịu, dẫn dắt người đọc đến bi kịch từ từ, để rồi bất chợt nhận ra, sau bi kịch này là bi kịch khác, nối tiếp – không ngừng.

Tình trạng yếm thế

Marieke rào mở tiểu thuyết bằng kiểu kịch bản đoản hậu đậm chất sân khấu, nơi bi kịch lấy đi nước mắt, còn sự đồng cảm giữ chân người xem. Dường như sau hai cơn bão đánh úp vào gia đình ấy, mỗi một người họ lại héo mòn dần. Người mẹ sau cái chết của Matthies trở thành cái xác không hồn. Bà ở đó, nhưng lại không ở đó. Bỏ ăn, đãng trí và làm những việc không đâu – những hành xử khó hiểu làm nên con người sau tận thế. Người cha cũng không gì hơn, một người kính Chúa, người cha mẫu mực; cuối cùng rồi thì sau khi đàn bò mất đi, ông chỉ ngồi lặng im đó, hút thuốc như đang trôi tuột vào trong hư không.

Marieke xây dựng nhân vật thuộc hai giới vô cùng điển hình: một người mặc trôi, một người cố gượng; một người bỏ xuống, một người đặt lên. Người mẹ hiện ra trước mắt người đọc như loài mực ống với bộ não người máy bơi trong đại dương vô phương bất định – nơi bản thân trong suốt phản chiếu sự đời từ tận bên trong nhưng hành xử được lập trình sẵn mà lại không biết sẽ đi về đâu. Người cha thì hoàn toàn ngược lại. Thân thể vốn luôn sẵn sàng như một người máy chỉ chờ đoạn code, còn tâm trí hoàn toàn là người chìm trong màu xám của nỗi buồn thương.

Nhưng điểm đặc biệt của cuốn sách này không nằm ở đó, mà là ở Jas – một phiên bản khác của chính Marieke. Cũng như tựa đề vận vào cuốn sách, sự khó chịu có ở khắp mọi nơi, từ trong không gian cho đến quần áo, từ trong lời nói đến cả hành động. Jas trong tiếng Hà Lan nghĩa là áo khoác, và cũng như thế, cô bé luôn quấn quanh mình chiếc áo khoá kín với cái khóa kéo ngậm chặt trong miệng. Nơi hai túi áo là hằng hà sa số những thứ linh tinh, những thứ cô giữ cho bản thân mình những mảnh ký ức: chú cóc, râu thỏ, mảnh heo đất vỡ… Jas lý luận rằng: Có hai loại người: giữ lại hoặc cho đi. Tôi thuộc loại thứ hai. Người ta có thể giữ lại một người hoặc một kỉ niệm với những thứ mà họ đã nhặt nhạnh được. Vì thế tôi ném chúng vào túi áo.

Khuôn mặt từ lâu vốn luôn nhợt nhạt cùng với căn bệnh táo bón lâu ngày không khỏi, Jas đứng đó như góc nhìn của Marieke quan sát tất cả. Từ sự dữ dội thèm muốn cái chết của Obbe cho đến vẻ ngây thơ của Hana, từ việc nhận thấy cái chết dần mòn của gia đình mình cho đến ước rời bỏ đi một nơi khác; Jas ẩn chứa trong mình cái yếu đuối của riêng con người, về giống cái, vẻ nhợt nhạt, về căn bệnh, vẻ nhạy cảm… Thông qua lăng kính dường như đại diện cho tất cả ấy, những thứ lờ mờ chỉ càng hiện thêm ngày một rõ hơn đằng sau tiêu cự. Họ là loài người dần dần tan vỡ, trở nên nhạy cảm với những bi thương, ngã quỵ trước nguy kịch. Họ vùng vẫy – như Obbe – nhưng đó cũng là cú vùng vẫy sau chót, vùng vẫy ngay cả khi họ đang bước chân vào vùng cát lún.

Marieke xây dựng một thế chông chênh, nơi mà ông bố và Obbe là hai trụ cột mạnh mẽ. Họ ở đó, chứng tỏ bản thân họ không ngã quỵ, mà còn hơn thế nữa, họ chứng tỏ khả năng làm chủ tình hình của bản thân mình – như Obbe và niềm ham thích ban đi cái chết. Nhưng không, đó chỉ là sự vùng vẫy một cách vụng về, càng làm rõ hơn một vẻ yếm thế vô cùng cố hữu. Vẫy vùng thoát ra, nhưng không gì khác ngoài càng lún sâu.

Bản chất nguyên thủy

Ở một mặt nào đó, The Discomfort of Evening gợi nhắc nhiều tới Flowers in the Attic của V.C. Andrews khi cùng đó là sự bỏ rơi, là sự bỏ mặc tự tìm bản thân. Cốt truyện cả hai cũng khá giống nhau. Cả hai gia đình đều được dựng trên nền móng của sự hoàn hảo: một cha, một mẹ, hai trai, hai gái. Nhưng khi bi kịch đột ngột ập xuống, hy sinh đầu tiên ở cả hai truyện đều là người con trai, và tiếp sau đó là người con gái. Nếu Flowers in the Attic cố định bốn đứa trẻ bởi một không gian vật lý – căn áp mái – nơi họ bị giới hạn bởi sự di chuyển; thì trong The Discomfort of Evening, không gian ấy là không khí ngột ngạt nơi gia đình họ, sau cái chết của Matthies và đàn bò.

Với The Discomfort of Evening, từ tình trạng yếm thế của con người được bộc lộ rõ sau ánh sáng bi kịch. Ngay sau lớp da trong suốt ấy, bản chất nguyên thủy của con người ta như dần hiện ra – mà cụ thể và tỏ tường nhất – chính qua là những đứa trẻ. Dễ thấy từ đầu đến suốt tiểu thuyết, nếu trong Jas là sự băn khoăn tự hỏi đi tìm bản thân, trong Hana là sự ngây thơ vô cùng chiếm hữu, thì trong Obbe là cái khao khát thể hiện bản thân, là sự ê chề bộc phát hành động. Việc giết chết Tiesy – chú chuột hamster, con thỏ cái hay chú vẹt không hẳn bộc lộ điều gì xấu xa; mà chỉ từ trong đó cái thô ráp, xù xì, cái tạm bợ của thuở ấu thời như dần nở rộ. Obbe ham thích bạo lực như kiểu mọi đứa trẻ sẽ dần trải qua, từ từ nỗi ham thích ấy truyền dần sang Jas và không thể chối từ đó là một phần của bản thân ta. Một sự bạo lực mới chớm vô phương kiểm soát.

Với Flowers in the Attic ở thời điểm nó ra đời, người đọc dường như bị sốc vì tính táo bạo, khi những anh chị em cùng chung huyết thống tìm kiếm dục tính thông qua nhau, nơi không gian cố hữu họ bị giam cầm. Lần này với The Discomfort of Evening, Marieke lại một lần nữa lặp lại những bi kịch ấy. Là khi Obbe cho Hana và Jas thấy thứ dựng đứng giữa hai chân mình, khi Jas cảm nhận đầu lưỡi Hana quấn lấy lưỡi mình, khi những đụng chạm vô cùng cá nhân giữa Obbe và Jas hơi hậu môn mắc kẹt hay trò chơi đậm chất dục tính trên con bò gỗ với Belles – cô bé hàng xóm hay Hana – với lon Coca. Nhưng những điều ấy có thật đáng trách? Nhìn sâu vào đó ta hiểu Marieke không cố khơi ra một vụ lùm xùm – dẫu chăng nó đúng là một hiện tượng từ khi ra mắt ở ngay Hà Lan – nhưng đây dường như là điều dễ hiểu, là điều hẳn nhiên rồi sẽ xảy ra. Đứa trẻ – con người, thiện lương – khai phá… Cuối cùng rồi thì đó là bản chất, rồi đến một ngày sẽ vỡ tung ra.

Một điểm khác khiến The Dicomfort of Evening trở nên toàn diện hơn và thực tế hơn so với Flowers in the Attic là bởi nó không quá chú trọng vào tính văn học, chúng được tự do phát triển và đi theo logic bản năng. Flowers in the Attic dĩ nhiên là được tính toán để rồi phát triển theo chuỗi một chronicle đậm chất văn chương dễ gây tranh cãi của chất huê tình, như những Lolita hay Chuyện nàng O đã từng. Còn với The Discomfort of Evening, vốn bản thân là cuốn bán tự thuật – hơn một nửa là những gì đã xảy ra thực với Marieke như sự mất đi người em trai hay bối cảnh nông trại; khiến nó thực tế hơn bao giờ hết. Có khó chịu đấy, có lạ lùng đấy, có thô ráp đấy; nhưng chúng thực tế một cách không ngờ.

Những hình tượng chính

Những hình tượng đặc biệt của The Discomfort of Evening dường như luôn gắn liền với Jas – từ chiếc áo khoác, hai chú cóc cho đến căn bệnh táo bón hay chiếc tủ đông ở phía sau cùng. Jas và chiếc áo khoác như gần dính lìa, cô không rời khỏi dẫu cho sức nóng đến vào mùa hè. Và nơi túi áo luôn luôn chứa đựng những thứ đặc biệt. Jas là áo khoác và là một người. Và cũng là khi người cha quyết định giật chiếc áo khoác ra khỏi tay cô hay khi người mẹ dọa chết sẽ nhảy xuống thang nếu cô không tự cởi chiếc áo ra; chỉ đến khi đó câu chuyện mới dần hạ màn, đi đến một bi kịch mở không ai đoán biết nơi tầng hầm tối mà cô luôn nghĩ là nơi mẹ mình ẩn chứa những người Do Thái trốn khỏi Hitler vào một buổi chiều cũng rất khó chịu một cách như thế.

Áo khoác như một đại diện cho thứ ngột ngạt nơi con người Jas. Sợ hãi, bóng tối, run rẩy – những thứ thường trực ghé ngang qua cô. Căn bệnh táo bón dường như chứa đựng nơi ruột những sự bất định, những biến chần chừ. Một cách thô ráp bằng hình tượng vô cùng khó chịu, Marieke dệt nên một chiếc nồi hơi đang sôi sùng sục chỉ chờ bùng phát. Bao quanh thân cô là chiếc áo màu, chứa trong bụng cô là loài sâu đói; cả hai gậm nhấm từ từ ở cả hai phía, nhưng đều là những di tích cho một cơ thể lớn lên từng ngày, trước khi sẽ bị san phẳng dưới lớp bánh xe của những bi kịch như loài cóc nhái, như loài nhím gai.

*

Marieke Lucas Rijneveld
Ảnh: The Times

Bằng những thô ráp thách thức một cách lạ lùng lối tiếp cận văn chương thường thấy, Marieke thông qua đặc trưng rất Hà Lan đã viết nên The Discomfort of Evening như một nồi hơi sôi sùng sục – nơi con người ta bị thách thức, nơi họ e sợ phát hiện bản thân vốn đã từ lâu chôn giấu những bi kịch khác. Cây bút sinh năm 1991 và cuốn tiểu thuyết bán tự thuật đầu tay này góp mặt vào danh sách rút gọn Giải International Booker 2020 như tiếng nói lạ cho một giọng văn vô cùng cá tính, rất khó hòa trộn và nổi bật lên. Dũng cảm, thẳng thắn và vô cùng bộc trực, The Discomfort of Evening thật sự là tiếng nói mới, một cuốn sách lạ, đánh thức nơi những người đọc một niềm nghi ngại.

Hết.

minh.

Ảnh đầu bài: ig@silkreads

*

The International Booker Prize 2020



Đọc tất cả bài viết của minh.


Phía sau trang sách

Lịch sử ra đời Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records) ít người biết

Published

on

By

Nguồn gốc của cuốn sách Kỷ lục thế giới Guinness (Guinness Word Records) được lấy cảm hứng từ ông Hugh Beaver trong một cuộc đi săn ở County Wexford, Ireland năm 1951.

Vào thời điểm ấy, ông Hugh Beaver đang là giám đốc Nhà máy bia Guinness. Sau khi bắn hụt một con chim choi choi vàng (Pluvialis squatarola), Beaver và các thành viên trong nhóm săn của mình đã tranh luận liệu sinh vật này có phải là loài chim nhanh nhất Châu Âu hay không. Thậm chí, họ đã tra cứu rất nhiều loại Bách khoa toàn thư nhưng họ chẳng thể tìm ra một cuốn sách có chứa câu trả lời.

Sau cuộc tranh luận, Hugh Beaver Nghĩ nhận ra những khách quen của các quán rượu tại Anh sẽ cần một phương án để giải quyết kiểu bất đồng này. Nếu có thể xuất bản một cuốn sách phân định được những cuộc tranh luận như thế thì nhất định cuốn sách sẽ được chào đón.

Chân dung ông Hugh Beaver, cha đẻ của cuốn Sách kỷ lục Guinness (Guinness Word Records)

Qua sự giới thiệu của vận động viên từng lập kỷ lục thế giới Chris Chataway người đang làm việc ở Nhà máy bia Park Royal tại London (thuộc Công ty Guinness), ông Hugo Beaver đã mời hai anh em Ross và Norris McWhirter cộng tác để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Họ bắt tay vào biên tập một cuốn gồm 198 trang và đặt tên là The Guinness book of records.

Hai anh em Ross và Norris McWhirter

Vào ngày 27/8/1955 ấn bản đầu tiên của sách Kỷ lục Guinness đã được xuất bản tại Vương quốc Anh. Họ dự định tặng miễn phí cuốn sách tại các quán rượu nhằm quảng bá thương hiệu cho Guinness. Đúng như suy nghĩ của Hugh Beaver, cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên đã lọt vào danh sách ấn phẩm bán chạy nhất nước Anh lúc đó, bán được bán được 50.000 bản trong 3 tháng đầu tiên.

Vào giữa những năm 1970 bắt đầu có một phong trào danh tiếng như “Làm thế nào để được ghi danh vào Sách kỷ lục Guinness”. Nắm bắt trào lưu đó, năm 1975, Norrison Macverter đã đưa thêm chương “Những kỷ lục của con người”. Chính vì thế mà từ đó đến nay có nhiều người không những mong muốn mình không chỉ là độc giả, mà còn khao khát được là nhân vật của cuốn sách best seller này.

Đến nay, Sách Kỷ Lục Guinness đã có mặt ở 100 quốc gia trên thế giới và được dịch sang 23 ngôn ngữ, trở thành một trong những loạt sách có bản quyền bán chạy nhất thế giới. Trong nhiều năm, cuốn sách đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người, khiến người đọc không ít lần ngạc nhiên, thích thú với kiến thức rộng lớn về thế giới xung quanh.

Mặc dù đã lâu trong các quán rượu nước Anh, những cuộc thi tài trên Sách kỷ lục Guinness cũng không còn là mốt nữa, nhưng cuốn sách cho đến bây giờ vẫn là một trong số những loại sách tra cứu được phổ biến nhất trên khắp thế giới. 

Guinness World Records 2023 được Nhà Sách Phương Nam làm đại diện ở Việt Nam phát hành cùng lúc với thế giới vào ngày 15.9.2022. 

Nhân dịp mới phát hành, Nhà Sách Phương Nam đang có ưu đãi đặc biệt cho những bạn đọc đầu tiên:

Sách hiện đang có mặt trên website: www.nhasachphuongnam.com và hệ thống nhà sách Phương Nam toàn quốc.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Thánh đường của những lầm lỗi

Published

on

By

“Một lỗi lầm nếu như được lặp đi lặp lại nhiều lần, đó không phải là lỗi lầm nữa. Đó là sự lựa chọn.”
(Relationship Rules)

Từ lúc vô tình đọc được câu nói này trên Facebook của trang Relationship Rules, thỉnh thoảng tôi lại nghe chính tiếng nói của mình lặp lại những từ ngữ đó trong đầu. Có lẽ vì tôi thường gặp phải những vấn đề về cái gọi là sự lựa chọn, lỗi lầm và thói quen. Dù như thế, tôi vẫn không lường trước được, hay không tin mình đang ở trong những nỗi buồn do thói quen tạo ra. Cho đến khi tôi đọc Thánh đường của Raymond Carver vào năm vừa rồi, tôi mới chợt nhận ra thói quen có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến những tổn thương tâm lí mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu trong cuộc sống hằng ngày.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ Raymond Carver nhất khi đọc Thánh đường nằm ở việc ông không tập trung vào hành động tức thời của nhân vật trước những sự cố để thúc đẩy tiến trình câu chuyện, thứ ông tập trung là hành vi của họ-những hành vi bắt nguồn từ việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó và hành động đó trở thành thói quen. Để một câu chuyện hài hòa, hấp dẫn, thông thường hành động và hành vi phải xen kẽ nhau đều đặn. Hành động là thứ thúc đẩy câu chuyện; trong khi đó, hành vi là thứ tạo nên nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Trước đây, tôi cứ nghĩ hành vi chỉ có một vai trò là khắc họa chân dung nhân vật qua những thói quen: điển hình là trong truyện của Murakami Haruki, ông xây dựng cho nhận vật nhiều hành vi đặc trưng như thích nghe nhạc jazz, thích nấu ăn, thích mì spaghetti… Có thể thấy, trong tác phẩm của Haruki, những hành vi ấy không hề là thứ thúc đẩy câu chuyện. Tôi đã khó mà tưởng tượng hành vi có thể làm một nhiệm vụ nào đó khác ngoài việc khắc họa nhân vật. Và Raymond Carver đã khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ vì đa phần những truyện trong Thánh đường đều được xây dựng bởi hành vi của nhân vật hơn là hành động.

Trong Thánh đường, đa phần những truyện của Carver được mở đầu rất đơn giản, ông đi trực tiếp vào cảnh sinh hoạt thường ngày hay một vấn đề khó khăn chính mà nhân vật đang phải đối đầu. Ông ít khi nào viết những đoạn mở đầu mang tính chất dẫn nhập từ từ để người đọc có thời gian đi vào thế giới của nhân vật. Ngay khi đọc những dòng đầu tiên một truyện ngắn của ông, lát cắt về mảnh đời nào đó của nhân vật ngay lập tức đập vào người đọc. Ta không kịp có thời gian để chuẩn bị, ta chỉ có thể tiếp tục đọc để dần dần hiểu ra những vấn đề mà nhân vật đang đối đầu; điều này cũng giống như việc không phải lúc nào chúng ta cũng có thể phòng bị được trước những bất ngờ trong cuộc sống.

Sau màn dạo đầu trực tiếp, đột ngột ấy, chúng ta dần nhận ra những nhân vật của Carver đều đang sống trong những chiếc lồng của các hành vi lặp đi lặp lại. Ban đầu, tất cả dường như chỉ là một hành động bình thường như việc chồng của Sandy từ sau khi mất việc luôn ngồi trước ghế sofa xem tivi (Bảo quản), việc Carlyle bất đồng với ý kiến của vợ qua điện thoại (Cơn sốt), việc Lloyd nằm nghiêng một bên khi ngủ (Cẩn thận)… Carver không thay đổi những hành vi đó của nhân vật trong suốt câu chuyện. Nhưng ông thay đổi tình huống diễn ra hành vi, ông tạo ra các xung đột khiến người ta nghĩ nhân vật phải thay đổi hành vi. Tuy nhiên, cuối cùng các nhân vật của ông thường chỉ thay đổi suy nghĩ về hành vi của mình mà vẫn chưa thay đổi được chính bản thân hành vi ấy. Điều đó khiến cho các nhân vật xa rời nhau, khiến cho thế giới của họ vỡ vụn và khiến cho chính chúng ta đau lòng bởi một khi lỗi lầm đã thành thói quen, mấy ai có thể thay đổi được thói quen của mình? Và phải chăng, chính những lỗi lầm ấy cũng là sự lựa chọn của chúng ta?

Kodaki

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi việc đọc gần với ái ân

Published

on

By

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tự nhận mình là người mê say văn chương của Italo Calvino (nhà văn Ý, 1923-1985). Ông có thể dành hàng giờ để chia sẻ cảm nhận qua việc đọc từng tác phẩm của nhà văn này. Dưới đây là những nhận định của ông về tiểu thuyết Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học).

Salman Rushdie nói về Italo Calvino: “Nếu như tôi cần một tác giả bên cạnh mình khi mà Ý nổ tung, Anh bốc cháy và thế giới này đã tận thì không tác giả nào tuyệt hơn Italo Calvino.” Có thể nói rằng tôi gần như đồng ý với ông. Vì Italo Calvino đem lại cho tôi biết bao niềm vui từ Nếu một đêm đông có người lữ khách, Palomar, Nam tước trên cây đến Những thành phố vô hình, Tiếu ngạo càn khôn… Cái đáng nói ở Italo Calvino là ông luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm cách viết. Mỗi tác phẩm của ông có thể nói là một khám phá. Từ tân hiện thực, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện kì ảo, truyện viễn tưởng khoa học, truyện viết theo cỗ bài Tarot, siêu tiểu thuyết…

Đặc biệt ở Nếu một đêm đông có người lữ khách, ta có thể thấy rõ sự đa dạng đó. Những chương có tiêu đề trong tiểu thuyết này được xem như là 10 tiểu thuyết dang dở dang hay 10 chương mở đầu của 10 cuốn tiểu thuyết khác nhau mà mỗi tiểu thuyết xảy ra ở những thời điểm, không gian khác nhau. Từ truyện trinh thám kiểu phương Tây mang màu sắc gián điệp, đến chuyện tình erotic kiểu Nhật… Thể loại nào ông cũng viết ra được cái chất của nó. Ông làm ta nhớ đến Picasso trong hội họa. Ông là người khổng lồ của văn học thế kỉ XX.

Tôi thích tác phẩm này ở mặt cấu trúc. Trước tiên, nó là một siêu tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết có khuynh hướng hậu hiện đại, là tiểu thuyết viết về tiểu thuyết. Có nghĩa là, tiểu thuyết về việc đọc và viết tiểu thuyết. Đọc và viết ở đây trở thành chủ đề. Cho nên, ta không đọc một tiểu thuyết bình thường có cấu trúc theo kiểu mở đầu, phát triển, đỉnh điểm, tháo gỡ và kết thúc. Do đó, câu chuyện dường như giẫm chân tại chỗ. Tác giả đưa người đọc trở thành nhân vật trung tâm và có thể nói người viết cũng trở thành nhân vật trung tâm với tên họ thật: Italo Calvino. Nhưng “khái niệm trung tâm” ở đây cũng chẳng phải là trung tâm, mà nó gần như là giải trung tâm.

Như vậy, văn chương ở đây là một cái gì đó tự qui chiếu. Cho nên, cũng có thể gọi tác phẩm này là tiểu thuyết tự qui chiếu. Tức là văn chương tự hướng về chính nó, tiểu thuyết thay vì hướng ra ngoài lại quay vào trong, như một vòng tròn trong lễ hội nguyên thủy.

Cái mà tôi tâm đắc ở Italo Calvino cũng như ở triết gia tân thực dụng Richard Rorty đó là ngôn ngữ tiểu thuyết như những hiện hữu sống động nhất. Do đó, nó là một tiếng nói không hề thứ yếu bên cạnh triết học. Thậm chí, dường như tiểu thuyết có nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn, bao dung hơn cũng giống như “vầng trăng truyện” trong Haroun và Biển truyện của Salman Rushdie thì truyện – nó không đưa ra một chân lí tối hậu nào, nó mãi mãi là dang dở, là câu hỏi và nó dạy cho chúng ta biết hỏi, biết rằng không có gì bất biến.

Chỉ có tiểu thuyết mới gợi cho ta sống với niềm vui, một niềm hoan lạc tràn trề và việc đọc gần với ái ân hơn cả.

Theo một cuộc trò chuyện với nhà văn Nhật Chiêu
Kodaki ghi

Đọc bài viết

Cafe sáng