Phía sau trang sách

International Booker 2020: Những dự đoán trước thềm trao giải

Published

on

Giải Booker Quốc tế từ lâu đã mang đến nhiều cảm xúc bởi sự đa văn hóa, đa ngôn ngữ và những phông nền bối cảnh đậm màu khác nhau, khác xa giải Booker chính thống là sàn diễn ngự trị từ lâu của những cái tên quen thuộc từ Khối Thịnh vượng chung. Nếu năm ngoái chứng kiến sự quay trở lại ngoạn mục (mà không khó đoán) của Margaret Atwood cho phần 2 của Chuyện người tùy nữ – đồng trao cho Bernardine Evaristo với cuốn tiểu thuyết đầy nữ quyền của cô; thì ở hạng mục Booker Quốc tế là sự góp mặt của Tàn Tuyết – ứng cử viên được nhà cái đặt cược ngang bằng Murakami cho giải Nobel 2019 – với cuốn Chuyện tình thế kỷ mới. Năm nay do ảnh hưởng của Đại dịch Covid-19, buổi công bố kết quả đã phải hoãn từ 19.05 đến hôm nay 26.08, để xác định chủ nhân của giải thưởng trị giá 50.000 euro.

Danh sách đề cử rút gọn của giải thưởng năm nay gồm cả những cái tên quen thuộc lẫn lần đầu xuất hiện trên văn đàn thế giới. Quen thuộc có thể kể đến nữ tác gia Nhật Bản Yoko Ogawa với cuốn The Memory Police (tạm dịch Cảnh sát ký ức), nhà văn người Đức Daniel Kehlmann với Tyll. Những cái tên mới xuất hiện với tuổi đời rất trẻ như Marieke Lucas Rijneveld với cuốn tiểu thuyết đầu tay The Discomfort of Evening (tạm dịch Cái bứt rứt trong buổi tối trời) hay nhà văn Úc tị nạn gốc Iran Shokoofeh Azar với cuốn tiểu thuyết đậm nét hơn những cuốn sách trẻ em trước đây của mình, The Enlightenment of The Greengage Tree  (tạm dịch Ánh sáng phía trên cây mận). Ngoài ra còn có nhà văn người Argentina Gabriela Cabezón Cámara với The Adventures of China Iron (tạm dịch Những chuyến du hành của China Iron) và Hurricane Season (tạm dịch Mùa cuồng nộ) của Fernanda Melchor người Mexico.

Nhìn chung giải Booker Quốc tế năm nay là sự đối đầu chủ yếu của những phông nền văn hóa. Văn chương vị nghệ thuật có lẽ yếu thế ở lần trao giải năm nay (một thực tế đã xảy ra rất lâu). Hai đối thủ đặc biệt nhất, Yoko Ogawa và Marieke Lucas Rijneveld đối đầu bằng hai phong cách riêng biệt, nhưng khách quan mà nói, giải thưởng năm nay dường như khó đoán và những bất ngờ vẫn còn ẩn chứa phía trước.

Nhóm 1: Yoko Ogawa và Marieke Lucas Rijneveld

Yoko Ogawa có lẽ là cái tên không mấy xa lạ với độc giả Việt Nam thông qua những Quán trọ hoa diên vỹ, Nhật ký mang thai hay Giáo sư và công thức toán. Một điểm rất dễ nhận thấy ở Yoko Ogawa là sự lạnh lùng trong phong cách viết. Nếu Quán trọ hoa diên vỹ, Revenge – 11 Dark Stories và tuyển tập Nhật ký mang thai chứa trong mình cái đè nén của tâm tính con người khi được giải thoát thông qua dục tính, trả thù, tra tấn, đe dọa; thì Giáo sư và công thức toán lại là một mặt phản chiếu khác, khi hiện thân của tâm tính trở lại, nơi giá trị nhân văn được đề cao. Và, một cách rõ ràng, The Memory Police là tổng hòa của hai cá tính này trong văn chương Yoko Ogawa.

The Memory Police (tạm dịch Cảnh sát ký ức)
Ảnh: Books & Bao

The Memory Police là câu chuyện của nữ tiểu thuyết gia sống trên hòn đảo không tên, nơi ký ức được xem như một mối hiểm nguy. Cứ cách một khoảng thời gian, một thứ gì đó sẽ lại biến mất và rơi vào quên lãng. Từ đây, cảnh sát ký ức nghiên cứu và phát triển khả năng nhận biết những ai kháng lại sự tan biến bằng cách phân tích chuỗi gene, và đây là lúc những người bình thường phải chạy trốn sự truy bắt. Cô nhận che giấu R – biên tập viên, người hiệu chỉnh tiểu thuyết của mình, vì anh là một con người “hoàn toàn” – nghĩa rằng vô cảm trước mọi sự biến mất. Cũng trong lúc đó, thế giới ngoài kia mọi sự dần đổi thay. Từ loài chim biến mất, cho đến hoa hồng, trái cây, tấm ảnh, lịch bàn, tiểu thuyết, chân trái, tay phải,… và cuối cùng là tất cả.

Tuy được viết từ năm 1994, trải qua gần hai thập kỉ biến động nhưng rõ ràng The Memory Police vẫn thức thời, luôn động cựa và là tiếng vọng lớn vào thế giới chúng ta đang sống. Nó đứng đó như cách nhìn sâu vào thế giới tương lai mà hình dáng ngôn từ là phản chiếu của những gì hiện tại. Dù nhìn cuốn sách này dưới góc độ nào – một thể utopia hy vọng hay dystopia uất nghẹn, ít ra The Memory Police đã cho ta thấy một điều gì đó quan trọng hơn, về vai trò của ký ức, về thế giới quan cá nhân, về mối quan hệ con người, về hy vọng và hằng hà sa số những điều khác.

Trong khi đó với Marieke Lucas Rijneveld, The Discomfort of Evening là khúc phim tái hiện khung cảnh trang trại nơi gia đình họ – một kiểu bán tự thuật với phần lớn dữ kiện thật sự diễn ra, ghi dấu bước đầu tiên dấn thân từ địa hạt thơ ca để đến với tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết này như đúng tên gọi của nó, gây ra không ít sự khó chịu cho người đọc bởi mức độ phá hủy, ngang tàn, bất cần và hoang dại của tuổi mới lớn, của bản thân tác giả, của nhận thức non trẻ và của Hà Lan lạnh cóng muôn niên.

The Discomfort of Evening  (tạm dịch Cái bứt rứt trong buổi tối trời)
Ảnh: Medium

Tiểu thuyết mở đầu bằng bữa tối hai ngày trước Giáng sinh của một gia đình nông dân kính Chúa, nơi ngôi kể chính – Jas – cô bé 10 tuổi, chứng kiến sự u ám nối tiếp lẫn nhau. Phát súng đầu tiên là cái chết của Matthies khi cậu bé lọt vào hố băng khi đương trượt tuyết. Ám ảnh sâu sắc vì cái chết của đứa con trai, người mẹ bỏ ăn còn người cha cố chống chịu từng ngày, trong khi những đứa trẻ còn lại thoi thóp trong sự áp đặt. Nhưng vòng kiềm tỏa không dừng ở đó, nó thít chặt hơn khi đàn bò lâu đời dần dần mất đi bởi dịch bệnh. Chỉ đến khi ấy, tất cả mới sụp đổ hoàn toàn. Họ nhợt nhạt, buồn thương và vô định trước những ý nghĩ cuộc sống. Cũng từ trong đó, bản chất yếm thế dần dần hiện ra, sự tự khám phá của những đứa trẻ dần bộc lộ.

Với một kịch bản buồn thương nối tiếp buồn thương, Marieke dẫn dắt người đọc đến bi kịch một cách từ từ, để rồi bất chợt nhận ra, sau bi kịch này là bi kịch khác, nối tiếp – không ngừng. Bằng những thô ráp thách thức lạ lùng với lối tiếp cận văn chương thường thấy, Marieke – thông qua đặc trưng rất Hà Lan – đã viết nên The Discomfort of Evening như một nồi hơi sôi sùng sục – nơi con người ta bị thách thức, nơi họ e sợ phát hiện bản thân vốn đã từ lâu chôn giấu những bi kịch khác. Cây bút sinh năm 91 và cuốn tiểu thuyết bán tự thuật đầu tay như tiếng nói lạ cho một cá tính rất khó hòa trộn và nổi bật lên. Dũng cảm, thẳng thắn và vô cùng bộc trực, đánh thức nơi người đọc một niềm nghi ngại.

Bookish dự đoán: Booker vốn từ trước nay khá ngại lối viết thể nghiệm, Marieke mang đến cảm giác ngang tàn kiểu rock-chic ít được lòng giới chuyên gia, mặc cho câu chuyện vô cùng thú vị. Cộng với kết quả trao giải cho Margaret Atwood năm 2019, Yoko Ogawa dường như là cái tên ổn định và dễ đoán hơn, mặc cho sự độc đáo vượt trội chưa ngang bằng The Discomfort of Evening.

Nhóm 2: Daniel Kehlmann và Gabriela Cabezón Cámara

Tương tự Yoko Ogawa, Daniel Kehlmann đến với độc giả việt Nam từ rất sớm thông qua Đo thế giới. Với Tyll, ông đã khắc họa một thế giới cổ tích pha lẫn hiện thực, nơi bối cảnh trung cổ của phù thủy, bùa ngãi, thần chú, gánh xiếc… thay phiên nhau phác họa nên nhân vật chính vô cùng điển hình kết hợp với cuộc chiến giành lãnh thổ của lục địa già thế kỷ XVII với nhiều biến động xoay quanh tranh giành quyền lực, bệnh dịch hạch, tẩy chay dị giáo…

Tyll
Ảnh: Wilko Steffens

Tiểu thuyết là câu chuyện về Tyll – kẻ lang thang, người trình diễn xiếc dây, sinh ra khi cha anh – một người thợ xay, một nhà ảo thuật sớm có những xung đột với nhà thờ bởi làn sóng tẩy chay dị giáo. Tyll chạy trốn cùng con gái người thợ làm bánh qua đất nước bị tàn phá bởi Chiến tranh Ba mươi năm. Từ đây, họ gặp gỡ nhiều người và gắn kết cùng nhau: học giả – nhà văn trẻ Martin von Wolkenstein, tên đao phủ thần sầu Tilman, Pirmin – kẻ tung hứng, con lừa biết nói Origines, cặp vợ chồng hoàng gia vụng về gây nên chiến tranh Elizabeth và Friedrich von Böhmen lưu vong, bác sĩ Paul Fleming viết thơ bằng tiếng Đức, tu sĩ Dòng Tên cuồng tín Tesimond và Athanasius thông thái. Số phận của họ kết hợp cùng nhau để tạo thành bản hùng ca của Chiến tranh Ba mươi năm và những giễu nhại chính trị trong suốt thời đoạn này.

Tuy thế với Tyll, dường như hai phần của tiểu thuyết không hề cân xứng. Nếu nửa đầu là câu chuyện ấu thời nơi làng quê cùng bối cảnh thần thoại, phù thủy, pháp thuật vô cùng cuốn hút; thì nửa sau khi qua cuộc chiến Ba mươi năm, sức hút của tiểu thuyết giảm dần, đến một mức độ khá nhàm chán và thể trạng hành xác. Vốn dĩ thời đoạn thế kỷ XVII của lịch sử châu Âu không quá cuốn hút người đọc (mà Lâu đài sói là một điển hình ở Việt Nam cho tình trạng phủ bụi), nên sức cuốn hút của Tyll giảm dần. Nhưng nghịch lý ở chỗ, ở phương Tây, đây dường như là một bom tấn khi phát hành tương tự ba phần của Hilary Mantel, và biết đâu, rất có thể nó sẽ trở thành một phiên bản Lâu đài sói thứ hai của Đức?

Còn với The Adventures of China Iron, đây là hành trình lý thú của cuộc chiến giành lại lãnh thổ từ địa chủ da trắng, là bức chân dung khắc họa tộc người da đỏ; ẩn sâu bằng những tình cảm thầm kín giữa hai người đàn bà, của phong trào nữ quyền trong cách viết hóm hỉnh mà đầy tinh tế của Gabriela Cabezón Cámara.

The Adventures of China Iron (tạm dịch Những chuyến du hành của China Iron)
Ảnh: Laura Jones

Được cách tân từ bài thơ Martín Fierro của nhà thơ người Argentina José Hernández, cuốn tiểu thuyết đặt trong bối cảnh thuộc địa, khi dân Anglo từ lục địa già di dân sang Argen tìm mảnh đất phát triển mới. Từ đó đàn áp dân địa phương, bắt các gaucho (tương tự cao bồi ở Mỹ) vào quân đội Anh, gây ra nhiều bi kịch. Tiểu thuyết gồm ba phần chính. Phần 1 là chuyến du hành của Liz tìm chồng bị bắt, của Iron chạy trốn người chồng vũ phu và Rosario bỏ nhà đi vì cha thứ hắt hủi, cạnh bên chú chó nhỏ trong những chuyến xe bò. Phần 2 khi ở điền trang của Hernández (tên nhà thơ), Liz và China lên kế hoạch giải cứu các gaucho bị bắt. Phần 3 là khi bốn người họ gặp thổ dân da đỏ địa phương trên sa mạc. Họ gặp lại Fierro và Oscar – hai người chồng. Cũng ở đây Fierro gặp biến cố và yêu một gaucho khác đã cứu lấy mình. Liz, China, Fierro và Oscar ở lại chung sống với bộ lạc, giúp họ chạy trốn vào rừng khi quân Anh với vũ khí đầy đủ đang lăm lăm xâm chiếm để tập trung lối sống với con nước, một kiểu sống mới dựa vào thiên nhiên. Liz bị buộc phải che giấu tình cảm với China; China trong mối quan hệ với một nữ chiến binh khác và sống hòa hợp với bộ tộc.

Cũng tương tự Tyll, The Adventures of China Iron có kết cấu và bối cảnh khá cuốn hút, thế nhưng ở phần 3, khi cuộc chiến chống người da trắng xâm lấn, Gabriela lại đi quá nhanh và nông, không nhận thấy đủ sức nặng của thời đoạn này. Một điều đáng tiếc cho hành trình khởi đầu vô cùng lý thú, với những phân tích tâm lý, tình cảm, nội tâm vô cùng chi ly và tinh tế.

Bookish dự đoán: Hilary Mantel không chỉ một lần được trao tặng Booker danh giá, và dễ đoán với một lịch sử châu Âu huy hoàng thì Tyll có khả năng bao nhiêu so với một China Iron nhỏ bé phản ảnh thời đoạn đáng quên khi người da trắng phô trương vũ trang. Tyll có một điểm cộng không thể phủ nhận.

Nhóm 3: Shokoofeh Azar Fernanda Melchor

Tương tự nhóm 1 khi sự tương phản thể hiện ở cách viết của hai tác gia, thì nhóm 3 lại là sự tương đồng khi khai thác những đặc trưng vô cùng riêng biệt nơi quốc gia họ. Nếu Shokoofeh Azar viết về những năm Cách mạng Hồi giáo, giữa những xâm nhập, bạo loạn mới – cũ đảo chiều luân phiên; thì Fernanda Melchor viết về một Mexico đầy biến động mà ta quen thấy trong 2666 hay Đêm Chile của Roberto Bolano với tệ nạn, ma túy trá hình diễn ra luân phiên. Có thể nói, ngoài khả năng kiểm soát cốt truyện, phong cách viết đạt đến bậc thầy một cách nhuần nhuyễn, bối cảnh lịch sử cũng là phần chính yếu góp nên điểm đặc biệt của hai tác phẩm này. Cuối cùng thì vị nghệ thuật và vị nhân sinh đã tìm thấy nhau, đến được với nhau.

Hurricane Season (tạm dịch Mùa cuồng nộ)
Ảnh: Southern Review of Books

Về nội dung, Hurricane Season là tập hợp những câu chuyện tội ác được lồng ghép vào nhau xung quanh cái chết của nhân vật “Witch” – một phù thủy không danh tính, tên tuổi, không một manh mối truy dẫn sâu xa; chỉ biết vào một ngày cô ở đó và thừa hưởng danh tiếng từ người mẹ cũng là phù thủy của mình. Với lối sống khép kín và những đồn đại về gia sản, cô từ lâu trở thành mục tiêu cho những kẻ tham lam hướng tới, từ bọn cảnh sát biến chất đến lũ ma cô gần mình, từ người bình thường nhất đến kẻ dị biệt nhất… Tất cả bọn họ như loài cú săn chực chờ cạnh bên để mở cánh cửa khóa kín vào trong ngôi nhà, nơi ẩn đằng sau tấm mạng che kín và bộ đồ đen thường trực là ánh sáng nhấp nháy của sàn disco, của ma túy, của khói thuốc, của những đam mê xác thịt từ trong bữa tiệc trác tán. Từ trung tâm là nhân vật “witch”, Fernanda Melchor tỏa ra những hướng khác nhau là câu chuyện của những nhân vật có liên quan đến vụ án mạng, để rồi từ đó tầng tầng lớp lớp tội ác xếp chồng lên nhau, dần dần đưa ra phía trước ánh sáng.

Trong khi đó, The Enlightment of the Greengage Tree lại khắc họa một thời đoạn vô cùng đảo điên của Cách mạng Hồi Giáo, khi những tiên tiến phương Tây của Pahlavi trở nên yếu thế trước sự độc tài thần quyền của Khomeini. Đi theo nhân vật chính là cô con gái đã chết do bị thiêu rụi trong một cuộc nổi dậy, tiểu thuyết phân theo những ngã số phận của gia đình ấy: của cậu con trai bị bắt vì gia thế có học, của cô con gái đi theo tiếng gọi tình yêu, của người mẹ mất hồn leo ngọn cây mận nhìn về phía xa, của người cha lẳng lặng nhìn vào từng đứa con rời xa mình. Lồng lộng như những mạch ngầm vận động dưới hình hài của cuộc chiến vô nghĩa, The Enlightment of the Greengage Tree như sự chuyển dời từ Ấn Độ của Cân bằng mong manh sang Iran đầy biến động.

The Enlightenment of The Greengage Tree  (tạm dịch Ánh sáng phía trên cây mận)
Ảnh: Kayhan Life

Về mặt nghệ thuật, cả Shokoofeh Azar và Fernanda Melchor đều để lại những dấu ấn khó xóa nhòa của mình. Nếu Fernanda Melchor xây dựng một mê cung tiểu thuyết trên nền trinh thám – tâm lý, một kiểu nhiều cửa như 2666 hay Từ điển Khazar để độc giả có thể đọc bất cứ phần nào họ thích mà vẫn logic; thì Shokoofeh Azar mang lại ấn tượng của phong cách hiện thực kỳ ảo, kết hợp tâm linh dị giáo địa phương. Những chi tiết như khi Khomeini bị những bóng ma hành quyết lạc lối trong lâu đài gương do chính mình cho xây hay khi Beeta biến thành người cá, đến sống trong chiếc hồ do người cha xây, lớn lên từng ngày đến khi trở về biển cả và bị giết bởi những tò mò của dòng giống người. Những chi tiết kỳ ảo nên thơ mà ám ảnh của Azar như những dấu mốc rất khó phai nhòa.

Bookish dự đoán: Nhìn chung khả năng thắng giải và sự xứng đáng của cả hai đều ngang bằng nhau. Nhưng Booker vẫn luôn khó đoán. Shokoofeh có sức sáng tạo lấp lánh tuổi trẻ, trong khi Fernanda Melchor lại suy tính kỹ càng đường đi nước bước. John Banville từng thắng Booker với cuốn Biển trước khi chuyển sang series trinh thám dài kì, biết đâu Fernanda Melchor lại người tiếp nối?

*

Nhìn chung, danh sách rút ngắn giải Booker năm nay đạt được tính đa dạng. Nói về truyền thống trao giải những năm gần đây, Yoko Ogawa là sự an toàn và có khả năng cao. Để cạnh tranh với Nobel về sự dị thường, The Discomfort of the Evening là sự nhúng chàm vô cùng sáng suốt. Nhưng ở trạng thái an toàn, Shokoofeh Azar hay Fernanda Melchor ít nhiều cũng khó phản bác khi lựa chọn được đưa ra. Năm nay thật sự khó khăn bởi những yếu tố phái sinh bên ngoài, và lựa chọn người thắng giải, cũng khó khăn không kém.

Hết.

minh.

Cập nhật sáng ngày 27.08.2020:

Không nằm ngoài mong đợi, The Discomfort of Evening, tác giả Marieke Lucas Rijneveld và dịch giả Michele Hutchison đã trở thành chủ nhân mới nhất cho giải Booker Quốc tế năm nay. Thông qua sự trao giải lần này, hội đồng giám khảo đã cho thấy một bước đi mới, dám thách thức và phá bỏ mọi giới hạn để đến với ý nghĩa của văn chương thuần túy không câu nệ. Không e dè như trường hợp Margaret Atwood năm 2019 và cũng tỉnh táo hơn trường hợp Tàn Tuyết bị loại khỏi danh sách rút gọn, kết quả trao cho cuốn sách này rõ ràng nhận được rất nhiều sự đồng tình của người theo dõi.

Từ bài phát biểu của đêm trao giải hôm qua (26.08), Chủ tịch hội đồng giám khảo Ted Hodgkinson đã nhận định như sau: “Đây là cuốn sách bạn không thể bỏ qua. Bạn nhập vào nó, và ở trong nó. Sự chuyển ngữ tuyệt vời của Michele Hutchison là một phần quan trọng để hòa nó vào độc giả tiếng Anh”. Còn Jeet Thayil, một trong các giám khảo cho rằng: “Mọi thứ, từng khoảnh khắc, từng miêu tả… Đây đều là những thứ mới mẻ mà chưa một ai trên thế giới từng làm”.

Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra ngay thời điểm này, liệu chiến thắng của The Discomfort of Evening xuất phát từ nội tại âm ỉ ngầm của cuốn sách, hay từ tình hình ngoại tại quá ư phức tạp? Ted Hodgkinson cũng chia sẻ rằng, ông và các giám khảo tìm kiếm một cuốn sách phản ánh đúng thể dystopia mà chúng ta đang gặp phải – cảnh huống Covid-19, và chính sự ngăn cách ba tháng trì hoãn giải thưởng, ngay bản thân cuốn sách cũng không phải lựa chọn ngay lần đầu đọc. Ngoài tính thời sự sát sao về sự đen tối, Booker cũng mở ra một câu hỏi rất khó trả lời, liệu đây là một nhận thức mới văn chương, hay chỉ đơn thuần là cơ may của thời điểm này?

*

Winner of International Booker 2020
The Discomfort of Evening – Tiếng nói thô ráp của những nghi ngại

Phía sau trang sách

Dư Hoa: “Ở tuổi 21, tôi bị cuốn hút bởi Kawabata”

Published

on

By

Là một trong những nhà văn thuộc thế hệ tiên phong của văn học Trung Quốc sau thời mở cửa, Dư Hoa là tên tuổi lớn luôn được chờ đón mỗi khi có tác phẩm mới ra mắt. Văn nghiệp của ông tương đối đa dạng với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, từ hiện thực, châm biếm cho đến huyền ảo… Những năm gần đây cùng với Tàn Tuyết, ông được nhắm đến cho vị trí mới nhất của giải Nobel Văn Chương sau đúng một “giáp” mà Mạc Ngôn đã giành được vào năm 2012.

Bài phỏng vấn sau đây được đăng tải trên The Paris Review số mùa đông 2023.

Quay về giai đoạn đầu đời, ông đã đọc gì khi còn trẻ?

Ngoài tuyển tập của Mao Trạch Đông, thì tất cả những gì mà chúng tôi có là sách y học, sách cấp 1, cấp 2 và toàn là Lỗ Tấn. Cũng vì thế nên hồi đó tôi không thích ông ấy chút nào, mặc dù sau này tôi lại thấy thích. Vào những ngày sau Cách mạng Văn hóa, khi thư viện trong thị trấn mở cửa trở lại, thì có khoảng 30 hay 40 cuốn mà họ gọi là văn học cách mạng. Loại này được phép và tôi đã đọc tất cả. Nhưng có một số ít tiểu thuyết được truyền khắp trường một cách bí mật, để khi đến tay của tôi thì nó đã mất bìa trước hoặc là bìa sau, thiếu 10 trang đầu hay 10 trang cuối, do đó mà tôi thậm chí còn không biết nó có tựa là gì hay ai viết ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể sống mà không biết câu chuyện bắt đầu thế nào, nhưng không chịu được khi không biết rõ cái kết. Nó như là cực hình vậy. Vì vậy tôi đã tự mình bịa ra cái kết, và các bạn cùng lớp thường tụ tập xung quanh để nghe những ý tưởng này. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng đó có thể là nơi sự nghiệp viết văn của mình bắt đầu.

Các tác phẩm đã chuyển ngữ của Dư Hoa

Ông có bị ảnh hưởng bởi thế hệ tác giả Trung Quốc đi trước không?

Khi tôi bắt đầu viết văn, văn học lúc ấy chủ yếu là văn học vết thương. Chúng bày tỏ sự phẫn nộ đối với Cách mạng Văn hóa. Tôi quan tâm đến Vương Tăng Kỳ vì ông ấy xử lí nỗi đau tinh thần theo cách vô cùng độc đáo. Tôi đã đọc truyện của ông ấy vào năm 1980 và thấy rằng chúng rất hay. Những người giỏi nhất trong thế hệ đó có một điểm chung là họ rất khuyến khích các nhà văn trẻ; trong khi những người hạng 2, hạng 3 thì đối xử tệ với thế hệ tôi, như thể chúng tôi đang đe dọa chiếm lấy vị trí của họ vậy.

Tuy nhiên nhà văn tôi say mê nhất vẫn là Kawabata. Tôi đã đọc Vũ nữ Izu và tôi say mê ông ấy trong vòng 4 năm. Tôi đọc mọi thứ mà mình có được, từ Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết, mà tôi vẫn nghĩ là hay nhất...  Kawabata đã dạy tôi rằng chính chi tiết, chứ không phải cốt truyện, mới tạo nên thứ gì đó đáng đọc, rằng những tác phẩm vĩ đại không phải là chuỗi sự kiện mà là tập hợp chi tiết khó quên. Đó là điều mà độc giả cảm động, cốt truyện chỉ đơn thuần là thú vị thôi. Ở tuổi 21, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi một trong những câu chuyện của ông. Đó là về một người phụ nữ có chồng sắp cưới đang tham chiến, và lo lắng rằng anh sẽ chết trận. Khi ấy cô đã đến thăm một ngôi nhà đang xây dựng dở ở khu vực lân cận, và suy đoán xem ai sẽ sống ở đó khi nó hoàn thành. Nó khá cổ điển và đã trở thành lý tưởng của tôi, về một câu chuyện không có nhân vật chính, chỉ có các nhân vật phụ mà thôi. Ông ấy đã cho tôi thấy không cần phải viết theo tiến trình tường thuật chặt chẽ, mà cũng có thể đảo ngược lại nó.

Với ông thì viết tiểu thuyết có khác biệt nhiều so với khi viết truyện ngắn không?

Tôi luôn cảm thấy viết truyện ngắn giống như là làm một công việc có hạn định vậy. Tôi có thể thực hiện chúng theo lịch trình, và chắc chắn sẽ hoàn thành được trong 1 hoặc là vài ngày. Tiểu thuyết thì không thể làm theo cách đó. Qua nhiều năm làm việc, ý thức của anh thay đổi cuốn sách. Anh hiểu sâu hơn về các nhân vật, anh và họ như sống cùng nhau. Khi tôi viết được nửa chừng cuốn sách, họ bắt đầu nói những điều theo ý mình. Đôi khi tôi nghĩ những điều ấy thậm chí còn tốt hơn khi tự mình tưởng tượng.

Cảnh trong phim Phải sống (1994) của Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tiểu thuyết Sống của Dư Hoa. Ảnh MUBI

Ông đã nói việc viết lách chia đôi cuộc đời?

Vâng, anh sống một cuộc đời tưởng tượng và một cuộc đời khác trong thực tế. Khi cuộc sống đầu tiên phát triển, cuộc sống thứ hai co lại, không cách nào khác cả. Anh càng viết nhiều, thế giới tưởng tượng này càng giãn ra. Và cuộc sống còn lại là ngồi trên ghế, hoàn toàn im lặng, nơi cơ thể anh vẫn còn ở đó. Hoặc có thể chân của anh nhịp lên nhịp xuống, Mạc Ngôn chính là kiểu ấy, khi ông chìm đắm vào việc viết [1].

Ông viết có dễ dàng không, có nhiều bản nháp không?

Nhìn chung, mất đâu đó khoảng một năm để hoàn thành cuốn sách. Tôi thường viết tay, sau đó tôi sẽ xem xét bản nháp trong 1 hoặc là 2 tháng để chỉnh sửa, rồi lại đặt nó ở một chỗ khác, rồi 1 hoặc 2 tháng tiếp theo sẽ chỉnh sửa tiếp. Vào thời điểm bản thảo thứ hai được tinh chỉnh, tôi gần như đã hình dung được nó sẽ diễn ra thế nào. Nhưng trong khi tôi đang chỉnh sửa, tôi thường rơi nước mắt... Chỉ khi đọc hết qua một lần đọc, anh mới hiểu được sức mạnh của nó. Hồi đó chúng tôi không có khăn giấy, và cuối cùng điều tôi phải làm là quấn chiếc khăn quanh tay, dùng nó lau mặt và viết bằng tay còn lại.

Ông có thường khóc khi viết không?

Tôi nghĩ nếu một nhà văn thậm chí không thể tự xúc động với những gì mình viết thì có lẽ họ cũng sẽ không lay động được độc giả của mình. Tôi nhớ khi tôi viết Huynh đệ tôi đã khóc rất nhiều, có cả nước mũi những thứ khác, đến nỗi vợ tôi sẽ bước vào và nhìn thấy một núi khăn giấy đã qua sử dụng ở bên cạnh mình. Lúc này chúng tôi đã có khăn giấy.

Nhưng những cuốn sách đó cũng khá buồn cười.

Sống cần một chút hài hước vì nếu không thì tôi sẽ không thể tiếp tục được. Tôi nghe nói rằng nó rất khó đọc. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn bộ phim chuyển thể, đã nói với tôi rằng người xem sẽ khó cảm nhận được nó, nhưng tôi cũng cảm thấy thế!

Ông nghĩ gì về cái kết hạnh phúc hơn của bộ phim?

Tôi yêu bộ phim. Chỉ có kẻ ngốc mới trung thành với nguyên tác, bởi họ là kẻ không có ý tưởng riêng, tất cả những gì họ có thể làm là lùng sục tài liệu và tái hiện nó. Nhân tiện, tôi chưa bao giờ xem bộ phim truyền hình dài tập này. Phim quá dài, mà nếu TV cứ bật mãi thì tôi không chịu nổi.

Kawabata là một trong những nguồn cảm hứng của Dư Hoa

Ông có tưởng tượng cuốn sách sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển không?

Với tựa đề Sống, cuốn sách không hề có ý định chết đi! Nhưng mong muốn lớn nhất của tôi là tạp chí nào đó đăng nó nhiều kì và đặt nó lên đầu mục lục, điều mà cuối cùng tôi cũng làm được. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được nó sẽ bán chạy. Tôi nghe nói nó đã bán được tới 20 triệu bản ở Trung Quốc, không bao gồm sách nói, sách điện tử hoặc các bản lậu. Nhà xuất bản của tôi nói rằng tôi phải bán được ít nhất 50 triệu bản lậu đấy.

Phiên bản tiếng Anh của Sống cũng khá tốt. Bây giờ anh nhận được tiền bản quyền 2 năm 1 lần phải không [2].

Không. Đến giờ họ vẫn chưa cho tôi một xu nào cả.

Không thể nào thế!

Tôi sẽ hỏi han về vấn đề này. Nhưng ông có thấy phiền khi sách của mình bị sao chép lậu không?

Tôi không phản đối. Tất cả những bộ phim tôi xem đều là phim lậu, và với tất cả các nhà làm phim ngoài kia, tôi xin lỗi, nhưng những thể loại tôi thích không chiếu ở rạp, vì vậy đó là cách duy nhất tôi có thể xem chúng! Nhân tiện, thật đáng kinh ngạc khi Liên hoan phim Cannes kết thúc vào tháng 5 và đến tháng 8 hoặc tháng 9, thì chúng ta có thể xem phim với phụ đề được dịch.

Ông có thường xuyên gặp khó khăn hoặc bỏ dở công việc không?

Nhà văn Dư Hoa. Ảnh The Paris Review

Hiện tại, tôi có 3 cuốn sách vẫn đang dang dở, tôi cứ tự nhủ mình không được làm gì khác ngoài việc cố gắng hồi sinh hết cả 3 cuốn. Nhưng thời gian để làm việc đó ngày càng ít đi, và cũng thật khó để anh có thể hồi tưởng bản thân thật sự ở đó như khi mới bắt đầu viết. Tôi đã mất tận 21 năm để hoàn thành Thành phố bị mất.

Ông đã duy trì lại mạch cảm xúc đó bằng cách nào?

Những ghi chú của tôi cực kì quan trọng. Trong tất cả những cuốn sách của tôi, nó là cuốn nhắc đến lịch sử sâu sắc nhất, vì vậy tôi cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lịch sử và văn chương. Chỉ riêng điều đó thôi đã mất của tôi gần 2 năm. Tôi đã thu thập được nhiều chi tiết tuyệt vời và nó truyền cảm hứng cho tôi.Dịch từ bài phỏng vấn củaMichael Berry.

Chú thích:

[1] Mạc Ngôn và Dư Hoa từng ở chung phòng trong kí túc xá của trường đại học.

[2] Người thực hiện cuộc phỏng vấn là dịch giả tiếng Anh của tiểu thuyết Sống.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Một Holocaust khác lạ của Georges Perec

Published

on

By

Là một trong những thành viên của nhóm văn chương tiên phong OuLiPo với những sáng tạo về mặt hình thức, cùng Italo Calvino và Raymond Queneau, Georges Perec là một tác giả có sự đổi mới về nghệ thuật viết. Trong đó W, hay Ký ức tuổi thơ ra mắt vào năm 1975 được coi là một trong những tác phẩm vô cùng đỉnh cao.

Những thử nghiệm văn chương

Xưởng Văn Chương Tiềm Tàng hay OuLiPo là nhóm nhà văn và nhà toán học chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật. Có thể kể đến Italo Calvino với Lâu đài của những số phận giao thoa, khi kết hợp giữa văn chương và bài tarot hay Perec với cuốn tiểu thuyết Đồ vật từng giành giải Renaudot, khi nội dung cuốn sách chỉ được tạo thành từ việc liệt kê đồ vật thường ngày. Ông cũng có một tác phẩm hơi hướng trinh thám mà toàn văn bản không có chữ “e”. W, hay ký ức tuổi thơ cũng nằm trong xu hướng này.

Cuốn sách gồm 2 mạch truyện, một là tự truyện của chính tác giả về cuộc đời mình trước, trong và sau Thế chiến thứ II. Mạch truyện còn lại là sản phẩm thiên về tưởng tượng, khi Perec tạo ra hòn đảo tên là W, nơi cư dân trên đảo sống như một làng thể thao của thế vận hội Olympic. Có thể nhận thấy những nét chấm phá về xu hướng phản địa đàng (dystopia) ở nơi chốn này. Cả 2 câu chuyện được đặt xen kẽ và phản ánh nhau bằng những khoảng trống đã được xây dựng một cách khéo léo.


Về mặt từ ngữ, W không phải là một cái tên đến thật ngẫu nhiên. Cũng như cấu tạo, nó được tạo thành từ 2 chữ V đính kết vào nhau, và 2 chữ V lại được tạo thành từ một chữ X được cắt ngang ra, mà trong tiếng Pháp nó cũng có nghĩa là giá cưa gỗ. Nếu ta thêm thắt một vài chi tiết ở chữ X này, nó sẽ biến thành biểu tượng chữ vạn (卐), và rồi phân rã thành một ngôi sao đính kết trên chính ve áo của người Do Thái (✡). Như vậy về mặt cấu tạo, vùng đất mà Perec đã tưởng tượng ra chính là dấu chỉ cho những gì ông đã trải qua, những gì ông không còn nhớ và cả những gì giờ được vay mượn.

Như ở đầu sách trong những văn bản có tính tự truyện ông đã viết rằng: “Tôi không có ký ức tuổi thơ. Cho đến năm tôi gần mười hai tuổi, tiểu sử của tôi chỉ có vài dòng: tôi mất cha năm bốn tuổi, mất mẹ năm sáu tuổi; tôi sống qua thời chiến tranh trong các khu nội trú khác nhau ở Villard-de-Lans. Năm 1945, vợ chồng chị ruột của cha tôi đã nhận nuôi tôi”. Việc không có mối nối nào đối với ký ức rồi sẽ biến thành một sự đứt gãy, và rồi những gì mà nhà văn làm đó là lấp vào khoảng trống rất nhiều trải nghiệm mình đã chứng kiến, lấy nó từ nơi người khác, và rồi biến nó thành ra của mình hoặc làm một việc hoàn toàn mới mẻ đó là sáng tác.


Trong những đoạn văn mang tính tự truyện được viết ngập ngừng và đầy khoảng trống, nhịp độ của riêng Perec cũng cho ta thấy được sự hoài nghi của bản thân ông. Cũng như W.G.Sebald quẩn quanh bên một nhà ga mà không thể nhớ cái tên Austerlitz tưởng rất quen thuộc là từ đâu ra, Perec cũng thế. Ông viết ký ức lớn nhất mà mình có được là vào năm 1942, ở nhà ga Lyon, khi mẹ mua cho ông một cuốn truyện tranh và rồi thấy bà vẫy chiếc mùi soa màu trắng ở nơi sân ga lúc tàu khởi hành. Cả 2 nhà văn đều được gửi đi trên những toa tàu dành cho trẻ con, để tránh diễn biến phức tạp có thể xảy ra, từ đó nhà ga như chốn lưu lạc của những linh hồn, để họ mãi tìm và rồi tuyệt vọng.

Ở những đoạn khác, Perec cũng đã cài cắm cho ta thấy được vì sao ông lại mang theo ý tưởng tạo ra vùng đất hư cấu của bản thân mình. Trong khi sự khuyết thiếu trong tiểu sử khiến ông an lòng một thời gian dài, thì khi càng lớn, sự khô khan khách quan và hiển lộ trong suốt ngày càng làm ông khó mà chịu nổi. Từ đó ông bắt đầu quan sát. Ông nhớ một cách rõ ràng mình đến với Chúa tận tụy ra sao, ông biết mình đã nhận vơ “di sản” một vụ tai nạn từ người anh họ khiến cho cánh tay bị gập ra sau đặc biệt thế nào… Ông cũng chỉnh sửa những dòng tự truyện mà mình đã biết cách đó vài năm, dù những chú thích cũng không được chắc là hoàn toàn đúng. Chính trong sự quanh quẩn đó, hình ảnh những con người đặc biệt bắt đầu hiện ra, đưa ông vào chốn W tương đối đặc biệt.

Ký ức là hòn đảo tâm trí

W theo đó là một hòn đảo mà tại nơi đây thể thao là quan trọng nhất. Trong khi những người già, phụ nữ, trẻ em bị co cụm trong một khu riêng, thì phần lớn đảo được dành cho những thanh niên đang tuổi trưởng thành. Ở đó gồm có nhiều làng, mỗi làng sẽ cử ra những thành viên riêng lẻ để thi đấu đối kháng với nhau, có khi ở quy mô nội bộ, có khi là 2 làng liên kế, và cũng có khi là những hội lễ như Olympic nơi mà tất cả đều đấu với nhau. Ở đó có các môn như chạy đua nước rút, vượt chướng ngại vật, phóng lao, ném lao cũng như nhiều môn tổng hợp…

Theo Perec viết, “không xã hội loài người nào có thể cạnh tranh được với W”, bởi việc sáng tạo nên nó như được hình thành từ những chủng tộc người Aryan thượng đẳng mà Hitler đã từng một lần ôm mộng bá chủ. Struggle for life là luật ở đây, nơi chỉ chiến thắng và những thành tích mới là quan trọng, còn việc thua cuộc sẽ đưa người ta đi vào cái chết. Khán giả có thể ca ngợi những người chiến thắng, nhưng sẽ không tha cho kẻ bại trận. Chỉ một tiếng kêu đòi hỏi hành hình, điều đó cũng có nghĩa là cái chết đến từ Trung Cổ đang chờ đợi họ.

Nhưng cũng nực cười như một xã hội không có công bằng, trong thứ thiết chế tưởng được kết cấu với các lề luật được quy định trước, thì sự bất công mới luôn là thứ được giới chóp bu ham thích ban phát. Những người thắng cuộc sẽ được ban phát những món ăn ngon và thức rượu quý mà họ không có, để rồi nếu không sáng suốt, họ sẽ thất bại vào ngày hôm sau và rồi bị tước tất cả danh dự. Ở xứ W không có tuyệt đối, chỉ có tương đối. Một người có thể có hết tất cả vào ngày hôm nay, nhưng rồi hôm sau sẽ lại mất cả.

Mua Sách - W hay là ký ức tuổi thơ - Nhã Nam Official tại FishingBook | Tiki

Phụ nữ ở đây chiếm một số lượng vô cùng ít ỏi. Khi sinh nở, chỉ một bé gái là được giữ lại trên 5 bé trai. Vào các ngày lễ chiến thắng, họ bị thả ra như những “thỏ sắt” trong trận đua chó mà phía sau là những vận động viên sẽ cưỡng hiếp họ. Cũng như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, giới nữ ở nơi chốn này chỉ được sinh ra dùng cho sinh sản. Những người đàn ông vì những tham vọng cũng như giải phóng cơn khát dục tình, sẽ làm hại nhau bằng đủ mọi cách, từ liên minh, gian lận cho đến giết người, mà dĩ nhiên thế mạnh luôn luôn thuộc về những người mạnh nhất.

Không thể không thấy hòn đảo W chính là mô hình thu nhỏ của trại diệt chủng mà mẹ Perec đã từng bước vào rồi nằm mãi lại. W hay là chữ X được tái định hình trở thành bàn xẻ sinh mạng con người. Việc bỏ tên riêng ở xứ W và được thay bằng một hệ thống các quy tắc phức tạp chẳng phải là việc xóa bỏ danh tính của người Do Thái, xăm lên tay họ những dãy số dài rồi nó sẽ trở thành dấu chỉ của họ đó sao. Và cũng chẳng phải việc đánh dấu những chữ W lên lưng áo khoác của những người trưởng thành cũng tương tự với ngôi sao sáng chói mà những người Do Thái sẽ phải đeo trên ngực mình? Những người phụ nữ bị lạm dụng, những người đàn ông phải luôn chiến đấu giành giật sự sống… để đến cuối cùng họ bị giáng cấp, và chỉ là một trò chơi của giới chóp bu nắm giữ quyền lực.

Như vậy hòn đảo W chính là nỗ lực mà Perec cố gắng thấu hiểu về cuộc đời của mẹ mình, kể từ thời điểm chiếc khăn mùi xoa được vẫy giữa nơi nhà ga Lyon là ấn tượng cuối cùng mà ông sở hữu. Ở đó “những vận động viên ném tạ mà những quả tạ của họ là những cục sắt cùm chân, những vận động viên nhảy cao với cổ chân đeo xích, những vận động viên nhảy xa ngã huych xuống chiếc hố chứa đầy nước phân bón”. Tất cả vô nghĩa, tất cả cuồng loạn và chỉ hướng về một xã hội tàn nhẫn, bạo lực và cũng là nơi cả nhân loại này không còn là người.

Bằng tài năng sáng tạo và những cách tân trong nghệ thuật viết, Georges Perec đã viết nên một cuốn sách thuộc dòng Holocaust khác lạ và ấn tượng. Chính việc tưởng tượng ra vùng đất W hoàn toàn hư cấu, mang chất phản địa đàng đã tạo nên nét đặc biệt cho tác phẩm này, thêm phần đả kích cũng như châm biếm sự mất nhân chính, tạo nên tiếng nói vô cùng mạnh mẽ.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đế chế ký hiệu: Có một nước Nhật rất riêng của Roland Barthes

Published

on

Đế chế ký hiệu là tập tiểu luận không thể bỏ lỡ đối với những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về văn hóa nước Nhật – chính xác hơn – là một nước Nhật từ góc nhìn độc đáo của nhà ký hiệu học Roland Barthes.

Tác phẩm Đế chế ký hiệu tập hợp 26 bài viết có tính chất phân mảnh của Roland Barthes về nước Nhật với nhiều bài ngẫu nhiên, xoay quanh các chủ điểm như: Ngôn ngữ lạ, Nước và mẩu vụn, Đũa, Pachinko, Nhà ga, Gói, Ba lối viết, Món ăn giải trung tâm, Tri giác/Vô tri giác, Trong/Ngoài, Cúi chào, Bẻ khóa nghĩa, Miễn nghĩa, Phụ tiết, Hiệu văn phòng phẩm, Lối viết bằng bạo lực, Buồng ký hiệu… Những từ khóa chính được đề cập trong sách có thể kể đến là: bộ mã, rỗng và đầy, đi và viết.

Roland Barthes – tác giả của Đế chế ký hiệu – là nhà ký hiệu học, nhà hậu cấu trúc luận, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Đế chế ký hiệu được Roland Barthes sáng tác sau chuyến đi Nhật dài ngày theo lời mời của nhà văn Maurice Pinguet – lúc bấy giờ đang giữ chức vụ là giám đốc Viện Pháp-Nhật ở Tokyo.

Đế chế ký hiệu không chỉ là một bức tranh độc đáo về xã hội Nhật Bản mà còn là áng văn xuôi mang vẻ đẹp của văn chương đích thực, giúp độc giả có thể tận hưởng được niềm hân hoan khi chìm đắm trong những dòng suy tư sâu sắc của Roland Barthes. Hãy thử đọc cách ông miêu tả về món tempura, ta sẽ cảm nhận rõ sự hài hòa mĩ mãn khi trí tuệ và cảm xúc song hành với nhau trong một lối văn điêu luyện:

“Món tempura thoát khỏi ý nghĩa mà chúng ta thường gán cho món chiên, tức là sự nặng nề. Bột tìm lại ở đó bản chất của nó là thứ hoa đã được phân tán, hòa loãng, nhẹ nhõm đến mức thành sữa, chứ không còn là chất sệt; gặp dầu, thứ sữa vàng óng ánh ấy mỏng manh đến mức bao lấy mảnh thức ăn một cách không hoàn hảo, để lộ ra màu hồng của tôm, màu xanh của ớt, màu nâu của cà tím, qua đó tước đi của đồ chiên cái tạo nên món tẩm bột rán kiểu Tây, tức là vỏ, là bọc, là đặc.” (Khe)

Khi thưởng thức Đế chế ký hiệu, độc giả không cần phải đọc theo trình tự tuyến tính mà có thể linh hoạt chọn đọc bất kì phần nào trong sách; bởi lẽ, từng bài viết trong cuốn sách là một lát cắt đơn lẻ, vừa độc lập với cái chung và đồng thời vẫn thuộc về cái chung là đề tài văn hóa Nhật Bản. Tùy theo nền tảng tri thức của từng người, việc đón nhận những văn bản trong sách có thể nằm ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì thế, để hiểu sâu hơn về tác phẩm này, trước khi lật những trang đầu tiên của sách, người đọc nên tìm hiểu một chút về cuộc đời Roland Barthes và những nét đặc trưng của văn hóa nước Nhật. Từ đó, độc giả sẽ có thể thưởng thức sách trong tinh thần phản biện, soi chiếu những luận điểm của tác giả dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Một trong những điểm độc đáo nhất của Đế chế ký hiệu có lẽ là việc nước Nhật được miêu tả trong sách không hoàn toàn là nước Nhật dựa trên thực tế; chính xác hơn, đó là nước Nhật trong trí tưởng tượng của Barthes. Điều này mở ra một không gian riêng để ông có thể tự do tái diễn giải lại nước Nhật theo góc nhìn cá nhân với những quan sát mới lạ, độc đáo, đúng như lời nhận xét của nhà văn Maurice Pinguet:

“Nước Nhật, nước Nhật ấy, nước Nhật của anh ấy – đối với Roland Barthes – là điều không tưởng của cái thèm muốn.”

Chính vì vậy, Đế chế ký hiệu có thể khiến người đọc cảm thấy những gì mình từng hiểu biết về nước Nhật hoàn toàn bị đảo ngược vì nước Nhật mà tác giả trình hiện trong sách hoàn toàn khác với nước Nhật trong những tác phẩm văn học, điện ảnh do chính người Nhật sáng tạo. Tinh thần lạ hóa này có thể truyền nhiều cảm hứng cho các độc giả đang muốn viết văn, hoặc sáng tạo nghệ thuật nói chung.

Thông qua tác phẩm Đế chế ký hiệu, Roland Barthes cho người đọc thấy một tấm gương rất đẹp về người lữ khách khi đặt chân đến đất nước xa lạ đã cố gắng quan sát mọi thứ một cách tinh tường bằng việc tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là tinh thần ta cần phải học hỏi trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng