FICTION

Truyện ngắn: Thư viện Babel (Jorge Luis Borges)

Published

on

Bằng nghệ thuật này, bạn có thể chiêm ngưỡng sự biến hoá của hai mươi ba mẫu tự…
Giải phẫu U sầu, phần 2, đoạn II, hồi IV

Vũ trụ (mà người khác gọi là Thư viện) bao gồm một lượng không xác định và có lẽ là vô hạn các phòng trưng bày hình lục giác, với những tháp thông khí đồ sộ xen giữa, bao quanh bởi hàng lan can thấp tè. Từ bất kỳ lục giác nào người ta cũng đều thấy được vô hạn những tầng phía trên và dưới. Các phòng trưng bày được bố cục không đổi. Hai mươi kệ, dài năm kệ mỗi mặt, phủ tất cả các mặt ngoại trừ hai mặt; chiều cao của chúng, là khoảng cách từ sàn đến trần, hiếm khi vượt quá chiều cao của một tủ sách thông thường. Một trong hai mặt tự do dẫn tới một hành lang hẹp mở ra một phòng trưng bày khác, giống hệt phòng đầu tiên và tất cả phần còn lại. Bên trái và phải của hành lang có hai căn buồng rất nhỏ. Buồng thứ nhất là nơi ai đó có thể ngủ đứng bên trong; buồng kia giúp thoả mãn nhu cầu đại tiện của ai khác. Cũng thông qua hành lang băng tới một cầu thang xoắn, sâu xuống vô cùng và vút lên cao vời nhằm tách biệt các khoảng không. Trong hành lang có một tấm gương nhân bản trung thực mọi diện mạo. Con người thường suy ra từ tấm gương này rằng Thư viện chẳng phải vô hạn (nếu nó thực sự (vô hạn) như thế, tại sao lại có sự nhân bản viển vông này?); tôi những muốn tin rằng bề ngoài bóng bẩy của nó đặc trưng và hứa hẹn sự vô hạn… Ánh sáng được cấp bởi một số trái hình cầu mang tên là đèn. Có hai cái, đặt đối nhau, trong mỗi hình lục giác. Chúng toả ra ánh sáng mờ mờ không dứt.

Giống như tất cả con người trong Thư viện, tôi từng du ngoạn thời trẻ tuổi; tôi lang thang kiếm tìm một cuốn sách, có lẽ là cuốn danh mục của các danh mục; giờ đây mắt tôi khó có thể giải mã những gì mình viết, tôi chuẩn bị chết đi chỉ cách vài lý từ phòng lục giác mà tôi ra đời. Một khi tôi chết, sẽ không thiếu những bàn tay ngoan đạo ném tôi qua lan can; mộ phần tôi là không khí vô lượng; cơ thể tôi chìm vào bất tận và phân hủy và tan biến trong cơn gió sinh ra từ cú rơi vô hạn. Tôi nói rằng Thư viện trường tồn. Nhà duy tâm cho hay những căn phòng lục giác là một dạng cần thiết của không gian tuyệt đối hoặc ít nhất, của trực giác chúng ta về không gian. Họ lý luận một căn phòng tam giác hay ngũ giác là không tưởng. (Những người thần bí tuyên bố trạng thái xuất thần nhập định hé lộ cho họ một khoảng hình tròn chứa một cuốn sách vĩ đại hình tròn, có gáy sách liên tục và men theo bức tường trọn vẹn thành hình tròn; nhưng lời chứng của họ đáng ngờ còn từ ngữ thì tối nghĩa. Quyển sách tuần hoàn đó là Chúa.) Giờ đây đã đến lúc tôi lặp lại châm ngôn kinh điển: Thư viện là một hình cầu có tâm chính xác là bất kỳ lục giác nào của nó và có chu vi vô hạn.

Mỗi bức tường lục giác có năm kệ; mỗi kệ chứa ba mươi lăm cuốn sách khổ đồng nhất; mỗi cuốn bốn trăm mười trang; mỗi trang bốn mươi dòng; mỗi dòng tám mươi mẫu tự màu đen. Ngoài ra còn có các mẫu tự trên gáy sách; những mẫu tự này không chỉ ra hay định hình trước những gì các trang sẽ nói. Tôi biết sự ngắc ngứ đó đã có lúc dường như bí hiểm. Trước khi tóm lược lời giải (mà khám phá của nó, mặc cho phô ra những bi kịch, có lẽ là sự thật chính yếu trong lịch sử) tôi muốn gợi lại vài tiên đề.

Thứ nhất: Thư viện tồn tại ab aeterno. Sự thật này, hệ quả trước mắt là tương lai vĩnh hằng của thế giới, không thể bị nghi ngờ bởi bất kỳ đầu óc bình thường nào. Con người, người thủ thư bất toàn, có thể là sản phẩm đầy ác ý hay tình cờ của tạo hoá; vũ trụ, với những kệ sách thanh nhã, những tập sách bí ẩn, những bậc thang vô tận cho khách lãng du và những nhà xí cho thủ thư an toạ, chỉ có thể là tạo vật của thần. Để hiểu được khoảng cách giữa thần thánh và người phàm, đủ để đối sánh những biểu tượng thô thiển chập chờn mà đôi bàn tay run rẩy này của tôi nguệch ngoạc trên bìa một cuốn sách, với những mẫu tự hữu cơ bên trong chúng: ngăn nắp, tinh tế, màu đen tuyệt hảo, cân đối không thể bắt chước được.

Thứ hai: Các ký hiệu chính thống có số lượng là hai mươi lăm.¹ Ba trăm năm trước, phát hiện này giúp hình thành nên một lý thuyết chung khả dĩ về Thư viện và giải quyết thoả đáng vấn đề mà không một phỏng đoán nào giải mã được: bản chất bất định và hỗn độn của hầu hết các cuốn sách. Cha tôi đã thấy một quyển trong một lục giác tại chu trình một năm chín tư được tạo thành từ các chữ cái M C V, ương ngạnh lặp đi lặp lại từ dòng đầu tiên tới dòng cuối cùng. Một quyển khác (được tham khảo rất nhiều trong vùng này), đơn thuần là mê cung các ký tự, song trang áp chót nói Ôi thời kim tự tháp của ngươi. Điều này nhiều người đã biết: với mỗi dòng trình bày đơn giản dễ hiểu, sẽ kèm một lô những lộn xộn vô nghĩa, từ ngữ lung tung và rời rạc. (Tôi biết một miền hoang vu nơi các thủ thư khước từ tục lệ rỗng tuếch và mê tín trong việc kiếm tìm ý nghĩa những cuốn sách và đánh đồng nó với việc tìm kiếm ý nghĩa những giấc mơ hay nơi đường chỉ tay hỗn loạn của ai đó… Họ thừa nhận rằng những nhà phát minh ra chữ viết đã bắt chước hai mươi lăm biểu tượng tự nhiên, song vẫn khẳng định rằng sự ứng dụng đó chỉ là ngẫu nhiên và rằng những cuốn sách chẳng báo hiệu bất cứ điều gì về chính bản thân họ. Tuyên bố này, chúng ta sẽ thấy, không hoàn toàn sai.)

Trong một thời gian dài người ta tin những cuốn sách không thể lĩnh hội này tương ứng với những ngôn ngữ xa xăm hay quá vãng. Quả đúng là những người cổ xưa nhất, những thủ thư đầu tiên, sử dụng thứ ngôn ngữ khác biệt khá nhiều so với thứ chúng ta nói hiện nay; quả đúng là đi vài dặm sang bên phải tiếng nói đã mang nét phương ngữ và rằng chín mươi tầng xa phía trên, là không thể hiểu được. Tất cả chuyện này, tôi nhắc lại, là đúng, nhưng bốn trăm mười trang M C V bất biến không thể tương ứng với bất kỳ ngôn ngữ nào, bất kể là phương ngữ hay ngôn ngữ đơn sơ đến thế nào chăng nữa. Vài người bóng gió rằng mỗi ký tự có thể ảnh hưởng đến ký tự đứng sau và giá trị của M C V ở dòng thứ ba trang bảy mốt không phải là giá trị của cùng chuỗi đó ở một vị trí khác trên một trang khác, nhưng luận điểm mập mờ này không chiếm ưu thế. Những người khác liên tưởng đến mật mã; nói chung, phỏng đoán này được chấp nhận, mặc dù không phải theo nghĩa mà những người khởi xướng nó đưa ra.

Năm trăm năm trước, chủ quản một phòng lục giác tít trên cao² bắt gặp một cuốn sách khó hiểu như những cuốn khác, song có gần hai trang chứa những dòng thuần nhất. Anh ta đưa phát hiện của mình cho một người giải mã lang bạt, người ấy nói với anh những dòng đó viết bằng tiếng Bồ Đào Nha; những người khác cho rằng chúng là tiếng Yiddish. Ngôn ngữ đó đã được xác minh trong vòng một thế kỷ: một phương ngữ của sắc dân Samoyed Lithuania xứ Guarani, biến tấu thêm với tiếng A Rập cổ. Nội dung cũng được giải mã: một số khái niệm phân tích tổ hợp, minh họa bằng các ví dụ biến thiên vô hạn tuần hoàn. Những ví dụ đó có thể đã giúp một thủ thư thiên tài khám phá ra quy luật cơ bản của Thư viện. Nhà tư tưởng ấy nhận xét rằng tất cả các cuốn sách, bất kể chúng có đa dạng đến đâu, đều được tạo thành từ các yếu tố giống nhau: dấu cách, dấu chấm, dấu phẩy, hai mươi hai ký tự trong bảng chữ cái. Ông cũng dẫn ra một sự thật được các nhà du hành xác nhận: Trong Thư viện vô biên không có hai cuốn sách giống hệt nhau. Từ hai tiền đề không thể chối cãi này, ông suy ra rằng Thư viện là tuyệt đối và các kệ của nó ghi lại tất cả các tổ hợp khả dĩ của hai mươi có lẻ mẫu tự chính thống (một con số, mặc dù vô cùng lớn, nhưng không vô hạn): nói cách khác, là tất cả những gì có thể biểu đạt được, trong mọi ngôn ngữ. Mọi thứ: lịch sử tương lai chi li cặn kẽ, tự truyện của tổng lãnh thiên thần, danh mục chân thực của Thư viện, hàng ngàn và hàng ngàn danh mục giả, văn bản chứng minh tính ngụy tạo của những danh mục (giả) đó, văn bản chứng minh tính ngụy tạo của những danh mục thật, phúc âm phái Ngộ đạo theo Basilides, diễn giải phúc âm đó, diễn giải về diễn giải phúc âm đó, câu chuyện chuẩn xác về cái chết của anh, bản dịch mọi cuốn sách trong tất cả các ngôn ngữ, kết luận nội suy mọi cuốn sách từ tất cả các cuốn sách, luận thuyết Bede đáng lẽ viết được (nhưng không viết) về thần thoại của người Saxon, những cuốn sách thất truyền của Tacitus.

Khi người ta tuyên bố Thư viện chứa tất cả mọi cuốn sách, cảm tưởng đầu tiên là niềm hạnh phúc tột độ. Người ta cảm thấy mình là chủ nhân của một kho tàng tinh nguyên và bí mật. Chẳng có vấn đề cá nhân hay thế giới nào mà không tồn tại giải pháp thuyết phục trong những phòng lục giác nào đó. Vũ trụ được minh định, vũ trụ đột nhiên soán ngôi vô hạn chiều kích của hy vọng. Lúc đó nhiều người xôn xao về bộ Biện minh: những cuốn sách biện hộ và tiên tri mà biện minh cho mọi hành vi ở mọi thời điểm của mọi người trong vũ trụ và giữ lại những mật ngữ phi thường cho tương lai anh ta. Hàng ngàn kẻ tham lam đã từ bỏ phòng lục giác ngọt vị quê hương rồi lao lên cầu thang, bị thôi thúc bởi ý định sáo rỗng là tìm kiếm bộ Biện minh cho riêng mình. Những kẻ hành hương này ẩu đả trong hành lang hẹp, lập ra những lời nguyền tối tăm, bóp cổ nhau trên cầu thang thánh, liệng những cuốn sách dối trá vào tháp thông khí, bắt gặp cái chết theo cách tương tự của chính mình gây ra bởi những cư dân miền xa lạ. Những người khác phát điên lên… Bộ Biện minh có tồn tại (tôi bắt gặp hai cuốn nói về những con người tương lai, những người có lẽ không chỉ là tưởng tượng) nhưng những kẻ truy tìm quên mất rằng khả năng một người tìm thấy Biện minh của anh ta, hay vài biến thể sai lạc của nó, gần như bằng không.

Thời điểm đó, người ta cũng hy vọng những bí ẩn cơ bản của nhân loại – nguồn gốc Thư viện và thời gian – có thể được khám phá tường tận. Có vẻ thật sự những bí ẩn quan yếu này có thể được giải thích bằng lời: nếu ngôn ngữ của các triết gia không đủ, thì Thư viện đa tầng sẽ tạo ra thứ ngôn ngữ cần thiết mà chưa ai biết đến, cùng với từ vựng và ngữ pháp của nó. Trong bốn thế kỷ tới nay con người đã dốc cạn các lục giác… Có những viên chức chuyên tìm kiếm, những thanh tra. Tôi từng thấy họ thi hành công vụ: họ luôn mỏi mệt quá độ sau chuyến công tác; họ nói một cầu thang bị hỏng gần như giết chết mình; họ chuyện trò với thủ thư ở các phòng trưng bày và cầu thang; đôi khi họ nhặt quyển gần nhất và lướt qua nó, tìm kiếm những từ nổi tiếng. Rõ ràng là chẳng ai hoài mong khám phá ra bất cứ điều gì.

Lẽ tự nhiên, hy vọng mong manh này kéo theo sự chán nản quá mức. Chắc chắn rằng một số kệ nào đó trong lục giác nào đó chứa những tàng thư và những tàng thư này chẳng thể với tới được, chuyện đó dường như không thể chấp nhận nổi. Một giáo phái báng bổ đề xuất nên dừng các cuộc tìm kiếm lại rồi mọi người nên ghép các chữ cái và biểu tượng cho đến khi hoàn thành chúng, những cuốn sách quy chuẩn ấy, bằng sự may rủi viển vông nào đó. Nhà chức trách buộc phải ban hành các mệnh lệnh hà khắc. Giáo phái giải tán, nhưng thời thơ ấu, tôi đã thấy mấy ông già, những người một thời gian dài trốn trong nhà xí với mấy cái đĩa kim loại cùng mấy cái ly xí ngầu bị cấm và yếu ớt bắt chước sự hỗn loạn thần thánh.

Ngược lại, những người khác lại quan niệm loại bỏ những công chuyện vô ích là điều bức thiết. Họ thâm nhập vào mấy lục giác, đưa ra các tài liệu không phải khi nào cũng sai lạc, không hài lòng lướt qua một quyển và kết án toàn bộ mọi kệ sách: sự cuồng nhiệt đầy khổ hạnh và dọn dẹp sạch sẽ của họ đã làm diệt vong hàng triệu cuốn sách trong vô nghĩa. Họ bị chửi rủa thậm tệ, nhưng những ai tiếc nuối “kho tàng” bị sự cuồng điên kia hủy hoại đã bỏ qua hai sự thật đáng chú ý. Điều thứ nhất: Thư viện khổng lồ tới mức bất kể sự suy giảm nguồn gốc con người nào đều là vô cùng nhỏ. Điều còn lại: mỗi bản là duy nhất, không thể thay thế, song (vì Thư viện là tuyệt đối) luôn có vài trăm nghìn bản sao lục không hoàn hảo: các tác phẩm chỉ khác nhau ở một chữ cái hoặc một dấu phẩy. Ngược lại với ý kiến chung, tôi mạo muội tin rằng chuyện hạ bệ những Kẻ thanh trừng bị cường điệu lên quá mức hệ trọng bởi nỗi kinh hoàng mà bọn cuồng tín đó gây ra. Họ bị niềm đam mê cố gắng tiếp cận những cuốn sách trong Lục giác Đỏ thôi thúc: những cuốn sách khổ nhỏ hơn bình thường, toàn năng, được minh họa và có sức lôi cuốn.

Thời đó chúng ta còn biết tới một sự mê tín khác: là Người Sách. Trên kệ sách bất kỳ trong lục giác bất kỳ (người ta lý luận) phải tồn tại một cuốn sách làm cách thức và là bản khái lược hoàn hảo của tất cả mọi cuốn còn lại: một thủ thư nào đó đã đọc qua nó và anh ta trông như một vị chúa. Trong ngôn ngữ xứ này, dấu tích của tệ sùng bái viên chức lánh đời ấy vẫn còn dai dẳng. Nhiều người lang thang tìm kiếm Ngài. Trong một thế kỷ, họ hoài công dốc cạn những khu vực đa dạng nhất. Làm thế nào người ta có thể xác định được phòng lục giác thiêng liêng và kín đáo nào là nhà của Ngài? Ai đó đề xuất một phương pháp hồi quy: Để biết vị trí sách A, trước hết tra cứu sách B chỉ dấu vị trí của A; để biết vị trí sách B, trước hết tra cứu sách C, và cứ như vậy đến vô cùng… Tôi đã tiêu hoang và uổng phí những năm tháng đời mình trong những chuyến phiêu lưu như thế. Đối với tôi dường như chẳng có một cuốn sách tuyệt đối nào trên bất cứ kệ sách nào trong toàn cõi vũ trụ;³ tôi nguyện cầu với các vị thần vô danh rằng một người – chỉ cần một thôi, mặc cho tồn tại từ hàng ngàn năm trước! – có thể kinh qua và đọc được nó. Nếu danh dự và trí tuệ và hạnh phúc không dành cho tôi, hãy để chúng dành cho kẻ khác. Hãy để thiên đường tồn tại, dù tôi ngụ chốn địa ngục. Hãy để tôi bị xúc phạm và thủ tiêu, nhưng ngay tắp lự, ngay tức khắc, hãy để Thư viện khổng lồ của Anh được minh định. Những kẻ phản tín duy trì quan niệm rằng vô nghĩa là chuyện thường trong Thư viện và rằng sự hợp lý (mặc cho khiêm nhường và thuần túy mạch lạc) là một ngoại lệ gần như huyền diệu. Chúng nói (tôi biết) về “Thư viện sôi sục, nơi những quyển sách ngẫu nhiên liên tục có nguy cơ biến đổi thành những quyển khác và khẳng định, phủ định rồi nhầm lẫn mọi thứ như một vị thánh mê sảng.” Những từ này, không chỉ vạch mặt sự bệnh hoạn mà còn là ví dụ tuyệt vời, minh chứng thuyết phục cho khẩu vị ghê tởm và đầu óc ngu dốt tuyệt vọng của người nói. Trên thực tế, Thư viện bao gồm tất cả các cấu trúc bằng lời, tất cả các biến thể khả dĩ của hai mươi lăm biểu tượng chính thống, nhưng không phải là ví dụ đơn độc về sự vô nghĩa tuyệt đối. Thật vô nghĩa khi nhận xét rằng quyển hay nhất trong mấy phòng lục giác mà tôi quản lý có tiêu đề Thung lũng Sấm, một quyển khác là Chuột rút Vữa, quyển khác nữa là Axaxaxasmlö. Những cụm từ này, thoạt nhìn không mạch lạc, lại chắc chắn có thể được biện giải theo lối mật ngữ hay ngụ ngôn; sự biện minh như vậy phải bằng lời nói và, ex hypothesi như giả thiết, đã nằm sẵn trong Thư viện. Tôi không thể tổ hợp các mẫu tự nào

dhcmrlchtdj

mà Thư viện thần thánh lại không lường trước được, mà trong những tiếng bí mật của nó không chứa đựng một ý nghĩa ghê gớm nào. Không ai có thể thốt ra một âm tiết mà không đong đầy dịu dàng và kính sợ, mà không phải là cái tên hùng mạnh của một vị thần trong ngôn ngữ nào đó. Lời vừa mới nói đã rơi vào trùng lặp. Mớ truyền thư dài dòng và vô ích này nằm ở một trong ba mươi lăm quyển của một trong năm kệ của một trong hằng hà sa số các phòng lục giác – và phản đề của nó cũng vậy. (Một tập n hữu hạn các ngôn ngữ sử dụng chung vốn từ; một số trong chúng, cho rằng biểu tượng thư viện thừa nhận định nghĩa chuẩn xác là một hệ thống phòng trưng bày hình lục giác bất biến và trường tồn, nhưng một thư viện hình bánh  hay kim tự tháp hay bất cứ hình thù nào khác thì bảy* từ đó sẽ chuẩn xác theo những biến thể khác. Anh, người đọc tôi, Anh có chắc rằng mình hiểu được ngôn ngữ của tôi?)

Viết lách có phương pháp khiến tôi xao nhãng khỏi tình hình nhân loại hiện tại. Ắt hẳn rằng mọi thứ được viết ra đều phủ nhận ta hoặc cố biến ta thành bóng ma. Tôi có biết vài quận mà ở đó những người trẻ phủ phục trước sách rồi hôn mấy trang sách theo lối hoang dại, song họ chẳng hề biết giải mã một chữ nào. Dịch bệnh, xung đột tà phái, các cuộc hành hương mà rồi sẽ biến chất thành cướp cạn, đã làm dân số suy sụt. Tôi tin mình đã nói đến những vụ tự tử, ngày càng thường xuyên hơn trong những năm qua. Có lẽ tuổi già và nỗi sợ đã đánh lừa tôi, nhưng tôi ngờ rằng loài người – giống loài độc nhất – sắp sửa bị diệt vong, còn Thư viện sẽ mãi trường tồn: được chiếu sáng, đơn độc, vô tận, bất động tuyệt đối, được trang bị những tập sách quý giá, vô dụng, bất hoại, bí mật.

Tôi vừa viết từ “vô hạn”. Tôi không bỏ tính từ đó ra đây như một thói quen tu từ; tôi muốn nói rằng chẳng hề phi lô-gích khi nói thế giới vô hạn. Những người phán nó hữu hạn mặc định rằng ở những nơi xa mãi hành lang và cầu thang và phòng lục giác có thể mở ra viễn cảnh kết thúc – điều này thật vô lý. Những ai tưởng tượng nó vô hạn quên mất rằng lượng sách khả dĩ như vậy là hữu hạn. Tôi mạo muội đề xuất giải pháp cho vấn đề cổ xưa này: Thư viện là vô hạn tuần hoàn. Nếu một nhà du hành vĩnh viễn băng qua thư viện theo bất kỳ hướng nào, sau nhiều thế kỷ, anh ta sẽ thấy rằng các tập truyện giống nhau được lặp lại theo cùng một cách thức hỗn loạn (do đó sự lặp lại sẽ trở thành trật tự: Trật Tự). Nỗi cô độc của tôi được hoan hỉ nhờ niềm hy vọng cao nhã này.⁴

Hết.

Mar del Plata, 1941

Chú thích:

  1. Bản thảo gốc không có chữ số hoặc chữ viết hoa. Dấu câu giới hạn ở dấu phẩy và dấu chấm. Hai dấu câu, khoảng trắng và hai mươi hai chữ cái trong bảng chữ cái là hai mươi lăm ký hiệu được tác giả vô danh này coi như đủ. (Chú thích của biên tập viên.)
  2. Trước đây, cứ ba phòng lục giác thì có một người. Tự tử và các bệnh phổi đã phá nát tỷ lệ đó. Một kỷ niệm u sầu khôn tả: đôi khi tôi bơ vơ nhiều đêm qua các hành lang và dọc theo những cầu thang bóng bẩy mà không tìm thấy thủ thư nào.
  3. Tôi nhắc lại: chỉ cần sách tồn tại là đủ. Chỉ loại trừ những điều bất khả thi. Ví dụ: không có cuốn sách nào có thể là một cái thang, mặc dù chắc chắn có những cuốn sách thảo luận và phủ định và chứng minh khả năng này cùng những khả năng khác có cấu trúc tương ứng với cấu trúc của một cái thang.
  4. Letizia Álvarez de Toledo nhận thấy rằng Thư viện vô biên này là vô dụng: nghiêm túc mà nói, chỉ một quyển là đủ, một quyển khổ thông thường, in cỡ chữ chín hoặc mười, chứa vô số lá mỏng đến vô hạn. (Vào đầu thế kỷ XVII, Cavalieri nói rằng tất cả các vật thể rắn đều là sự chất chồng vô số mặt phẳng.) Việc xử lý những vade mecum óng ánh này không được thuận tiện: mỗi trang ta nhìn thấy sẽ mở ra thành các trang tương tự khác; trang chính giữa – không thể tưởng tượng ra được – sẽ không có trang nghịch đảo.

* Bản gốc tiếng Tây Ban Nha ubicuo y perdurable sistema de galerías hexagonales gồm 7 từ. (Chú thích của người dịch.)

3V

Dịch từ The Library of Babel của Jorge Luis Borges, bản dịch của James E. Irby năm 1962, có tham khảo bản dịch của Andrew Hurley.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Cua (Murakami Haruki)

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. “Hừm… Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì… “

Published

on

Special thanks to bé Ryou Hiroshi vì đã góp phần hoàn thiện bản dịch này.
Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này được đặc biệt dành tặng Hải Âu.

Họ tình cờ chạy ngang qua một nhà hàng nhỏ. Ấy là buổi tối đầu tiên của hai người ở Singapore và lúc đó cả hai đang thả bộ gần bờ biển, đột nhiên cái ý nghĩ ấy chợt nảy ra trong đầu , họ bèn rẽ vào bên hông đường rồi vô tình lướt ngang qua chốn đó. Nhà hàng ấy là một căn nhà một tầng được bao quanh bởi một bức tường gạch cao, với khu vườn trồng toàn cây cọ thấp và chỉ kê vỏn vẹn năm chiếc bàn gỗ. Mặt tiền chính như vừa được trát vữa xong, phủ lên mình một lớp sơn hồng chói lọi. Phía dưới mỗi bàn đều có một cây dù lớn bạc phếch bay màu theo thời gian đã bung sẵn ra. Trời vẫn còn sớm, nhưng nơi này nom như thể đã bị bỏ hoang từ lâu. Chỉ có hai người đàn ông lớn tuổi với mái tóc ngắn, đặc sệt chất Trung Hoa, ngồi đối diện nhau, uống bia và im lặng nhắm với những món ăn nhẹ. Họ không nói với nhau câu nào. Ở dưới đất, ngay cạnh chân họ, là một chú chó mực rất to đang nằm im lìm đầy mệt mỏi, mắt lim dim khép hờ. Một luồng hơi nước rực rỡ tuôn ra từ cửa sổ nhà bếp, cùng thứ mùi hấp dẫn của món gì đó đang được xào nấu. Những tiếng nói cười thích chí của đám đầu bếp rộ lên, lộ rõ hẳn giữa những âm thanh lách cách của niêu chảo xoong nồi chạm vào nhau. Những mầm cọ nhú trên thân cây, run rẩy trong gió nhẹ, nổi bật giữa ánh mặt trời đang dần lặn xuống.

Người phụ nữ tạm ngừng bước chân, hòa vào khung cảnh này:

“Ăn tối ở đây thì thế nào?” Nàng hỏi.

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. "Hừm... Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì... "

"Nhưng mà em có giác quan thứ sáu về mấy chuyện nhà hàng ăn uống này nọ đấy. Em lúc nào cũng có thể đánh hơi được mấy chốn ngon lành trăm phần trăm. Và tiệm ăn này chắc chắn là tuyệt cú mèo. Em dám đảm bảo điều đó luôn. Tại sao mình không vào ăn thử nhỉ?"

Người đàn ông nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. Anh không biết họ nấu nướng những món gì ở đây, nhưng anh phải thừa nhận rằng nó có hương vị thực rất hấp dẫn. Nội bản thân nhà hàng này cũng có một sự quyến rũ nhất định tự lan tỏa rồi. "Nhưng em có nghĩ là nó sạch sẽ không?"

Nàng kéo lấy tay anh. "Anh nhạy cảm quá đấy, ông tướng ạ. Đừng lo lắng gì cả. Chúng mình đã tự lạc trôi đến đây, thế nên cũng phải mạo hiểm một tí chứ. Em chả muốn nhai cơm trệu trạo trong nhà ăn khách sạn ngày này sang ngày khác đâu. Nhàm chán bỏ xừ đi được ấy. Nào, chúng ta hãy vào thử xem."

Khi đã vào trong rồi, họ mới nhận ra rằng cửa tiệm này chuyên về các món cua. Thực đơn được viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Hoa. Hầu hết khách hàng đều là người địa phương, và giá cả khá hợp lý. Theo thực đơn thì Singapore tự hào có hàng chục loại cua, với hơn cả trăm kiểu cách nấu món cua. Người trai trẻ và người phụ nữ đã gọi bia Singapore, và sau khi xem hết những món sẵn có, họ chọn vài món cua rồi chia đôi ra. Phần nào phần nấy đều hào phóng, nguyên liệu thì tươi rói và nêm nếm gia vị vừa miệng.

"Ngon tuyệt cú mèo," người trai trẻ thốt lên, đầy ấn tượng.

"Thấy chưa? Em đã nói với anh những gì nào? Em nói với anh rằng em có năng khiếu đánh hơi được những thứ đỉnh của đỉnh. Bây giờ anh đã tin em chưa?"

"Dĩ nhiên rồi. Phải nói rằng anh nên tin em mới đúng", người trai trẻ thừa nhận.

"Loại năng lực này thực sự có ích đấy," người phụ nữ nói. "Anh biết đấy, chuyện ăn uống quan trọng hơn hầu hết mọi người nghĩ. Có một khoảng thời gian sẽ xảy ra trong cuộc sống của anh trong lúc anh chỉ cần có một cái gì đó siêu ngon. Và khi anh đang đứng ở ngã tư đường đó, cả cuộc đời anh liền có thể thay đổi, tùy thuộc vào nơi anh bước chân vào - một quán ăn tuyệt vời hay một nhà hàng dở ói. Nó cũng giống như là – anh ngã vào phía bên này của hàng rào, hay là phía bên kia. "

"Nghe thú vị đấy," anh nói. "Cuộc sống có thể rất đáng sợ, phải không?"

"Chuẩn," Nàng đáp lời, và bật ra một ngón tay nghịch ngợm. "Cuộc sống là một điều đáng sợ. Hơn tất cả những gì anh có thể tưởng tượng ra nhiều. "

Người trai trẻ gật đầu. "Và chúng mình đã rơi trúng vào phía bên trong hàng rào, nhỉ".

"Chính xác."

"Tốt rồi," người trai trẻ thản nhiên nói. "Em có thích cua không?"

“Ưmmm, lúc nào mà em chả mê nó. Còn anh thì sao?"

"Anh cũng thích. Nhưng anh không nghĩ mình sẽ ăn cua mỗi ngày đâu. "

"Một điểm chung mới giữa hai ta," nàng cười rạng rỡ.

Người trai trẻ mỉm cười, và hai người nâng ly thêm một lần nữa.

"Chúng mình phải trở lại đây vào ngày mai," Nàng nói. "Chẳng thể có nhiều nơi như thế này trên thế giới đâu. Ý em là, nó đã rất ngon thì chớ - và nhìn vào bảng giá của nó mà xem."

Trong ba ngày kế tiếp, họ thường đến ăn ở nhà hàng nhỏ. Vào mỗi buổi sáng, cả hai sẽ xuống bãi biển để bơi, rồi tắm nắng, sau đó đi dạo quanh thị trấn và chọn quà lưu niệm tại các cửa hàng thủ công địa phương. Vào khoảng thời gian tương tự vào mỗi buổi tối, họ lại đi đến nhà hàng nhỏ ấy, thử các món cua khác nhau, sau đó quay trở lại phòng khách sạn thong thả làm tình, rồi chìm vào giấc ngủ sâu không mộng mị. Mỗi ngày trôi qua đều như đang ở trên thiên đường. Người phụ nữ tròn hai mươi sáu tuổi, nàng dạy tiếng Anh ở một trường trung học cơ sở. Còn người đàn ông vừa bước qua tuổi hăm tám, anh làm nghề kiểm toán viên tại một ngân hàng lớn. Gần như là một phép lạ khi họ có thể cùng nhau đi nghỉ mát cùng một thời điểm, và cả hai muốn tìm đến một nơi mà không ai có thể quấy rầy họ, nơi họ chỉ đơn giản được tận hưởng bản thân nhau. Hai người đã cố gắng hết sức để né bất cứ chủ đề nào có thể làm hỏng tâm trạng và thời gian chung đôi quý báu của mình.

Vào ngày thứ tư - ngày cuối cùng trong kỳ nghỉ của họ - cả hai lại ăn cua như thường lệ vào buổi tối. Khi hai người đang bóc thịt từ càng cua bằng một chiếc kìm bằng kim loại, cả hai bàn luận về việc ở đây sẽ như thế nào, về chuyện bơi lội mỗi ngày bên bờ biển, về chuyện ăn cua vào ban đêm, khiến cho cuộc sống khi trở về Tokyo bắt đầu trở nên vô thực và xa xôi quá đỗi. Hầu hết cả hai người đều tâm tình về hiện tại. Sự im lặng bao phủ lên bữa ăn của họ tùy theo từng thời điểm, ấy là khi mỗi người trong số họ lại trở nên chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình. Nhưng đó không phải là một sự im lặng khó chịu. Bia lạnh và cua nóng đã lấp đầy những khoảng trống ấy một cách êm đềm.

Họ rời khỏi nhà hàng và quay lại khách sạn cả hai thuê trọ, và cũng như mọi khi, họ kết thúc một ngày của hai người bằng cách làm tình. Yên tĩnh, nhưng tràn đầy viên mãn. Cả hai đều đi tắm và sớm ngủ thiếp đi.

Nhưng chỉ một lúc mau sau người trai trẻ đã vội bật dậy, anh cảm thấy rất khủng khiếp. Anh có cảm giác như thể mình đã nuốt phải một đám mây cứng ngắc. Anh ta vội vã đi vào phòng tắm, vịn tay lên bồn vệ sinh rồi nôn hết mọi thứ trong bụng ra. Dạ dày của anh đã nhồi đầy thịt cua trắng. Anh không có thời gian để bật đèn lên, nhưng dưới ánh trăng mờ tỏ lập lờ trôi trên biển, anh đã có thể nhận ra chuyện gì đang xảy ra trong nhà vệ sinh. Anh hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại, và để thời gian trôi qua. Đầu óc anh trống rỗng, và anh không thể thành hình nổi một suy nghĩ nào trọn vẹn. Tất cả những gì anh có thể làm là chờ đợi. Một cơn sóng buồn nôn khác đã ào đến, đánh lật anh và một lần nữa khiến anh tống hết mọi thứ còn sót lại ra khỏi dạ dày.

Khi anh mở mắt ra, đập vào mắt anh là một cục to trắng phớ anh vừa nôn đang trôi nổi trong bồn nước nhà vệ sinh. Một số lượng khủng khiếp. Mình đã ngốn cái quái quỷ gì thế này! Anh ta nghĩ, dẫu cũng khá ấn tượng. Chén đẫy quá nhiều cua từ ngày này qua ngày khác - chả có khỉ gì lạ khi mình trở nên phát ốm. Cho dù có cố giảm bớt ra sao, thì cũng là quá nhiều cua rồi. Phải đến cỡ lượng cua có thể ăn trong hai, ba năm chỉ trong vòng có bốn ngày.

Đến lúc nhìn chằm chằm vào, anh mới chợt nhận thấy cục trắng trắng đang nổi trong bồn vệ sinh đó dường như đang chuyển động thoáng qua. Lúc đầu anh nghĩ có lẽ anh đã tưởng tượng ra mấy thứ đó. Ánh trăng mờ ảo hẳn đã tạo ra ảo giác. Một đám mây thi thoảng trôi qua sẽ che phủ mất mặt trăng, làm cho mọi thứ, trong một khoảnh khắc chợt trở nên mù mịt hơn trước. Người trai trẻ nhắm mắt, hít một hơi sâu và mở mắt ra. Đó không phải chỉ là ảo giác. Miếng thịt cua chắc chắn là đang di chuyển. Giống như những nếp nhăn xoắn quanh, bề mặt của thịt đang lắc lư. Người trai trẻ liền đứng dậy và bật đèn phòng tắm. Anh ta cúi xuống gần cục thịt và nhận ra những gì đang không ngừng lúc nhúc trên mặt đất là vô số con bọ. Loại bọ nhỏ tí hon có màu sắc giống y như màu thịt cua, hàng triệu con đang bám trên bề mặt của miếng thịt.

Anh lại cố ói ra hết mọi thứ trong dạ dày mình ra lần nữa. Nhưng không còn gì sót lại, và dạ dày của anh siết chặt lại thành một nắm đấm. Mật xanh mật vàng dội lên, vọt ra khỏi thành ruột anh. Không chấp nhận nổi điều này, anh liền nuốt luôn nước súc miệng và cố nhổ nó ra lần nữa . Anh giật mạnh công tắc xả nước bồn cầu, giật đi giật lại để chắc chắn rằng tất cả đã bị cuốn trôi sạch sẽ. Rồi anh ngâm mặt mình vào bồn rửa, dùng khăn tắm sạch để lau miệng, và đánh răng thật kỹ. Anh đặt tay lên bồn rửa và nhìn chằm chằm vào hình bóng phản chiếu của mình trong gương. Khuôn mặt anh đã trở nên đau khổ, nhăn nhúm rúm ró lại, làn da chuyển màu xám ngoét. Anh không thể tin được đây thực sự là khuôn mặt của anh. Trông như thể là một lão già nào đó.

Anh rời khỏi phòng tắm, tựa lưng vào cửa và nhìn quanh phòng ngủ. Bạn gái của anh vẫn đang nằm trên giường, say ngủ. Mặt chôn sâu vào gối, nàng còn đang ngáy ngủ một cách thanh thản, không biết điều gì đã xảy ra. Giống như một kẻ ái mộ đầy tinh tế, mái tóc dài của nàng che phủ đôi bờ má, chảy tràn lên vai. Ngay dưới đôi vai ấy có hai nốt ruồi nhỏ, xếp hàng như một cặp song sinh. Trên lưng nàng còn lộ rõ những vết dây áo tắm. Ánh sáng từ mặt trăng trắng muốt lặng lẽ lọt qua những tấm rèm, hòa cùng âm thanh đơn điệu của những con sóng vỗ bờ. Cạnh bên giường, những con số màu lục của chiếc đồng hồ báo thức vẫn đang phát sáng. Không có gì thay đổi. Trừ lúc này, những con cua vẫn còn bên trong cơ thể nàng - như tối hôm đó họ đã cùng chia sẻ một món ăn. Chỉ có nàng là đã không nhận thức được điều đó.

Người trai trẻ ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh cửa sổ, nhắm mắt lại, hít thở, từ từ và đều đặn. Hít thở không khí trong lành vào phổi, thở ra, hít vào. Anh cố gắng hít thở không khí thật nhiều hết mức có thể vào cơ thể mình. Anh muốn tất cả các lỗ chân lông trong cơ thể anh nở rộng. Tựa như một chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ nằm trong một căn phòng trống rỗng, trái tim anh đập mạnh từng tiếng, cứng và khô khốc.

Nhìn người bạn gái đang ngủ của mình, anh đã hình dung vô số con bọ nhỏ lúc nhúc trong dạ dày của nàng. Liệu anh có nên đánh thức nàng dậy và nói với nàng về điều đó? Rồi họ có thể làm gì hơn? Anh không dám chắc mình phải làm gì, anh suy nghĩ một lúc, và quyết định ngăn nó lại. Nó sẽ không tạo ra được chuyện gì hay hớm cả. Nàng đã không nhận thấy được bất cứ điều gì. Và đó mới là vấn đề chính.

Thế giới bỗng trở nên hỗn loạn chưa từng có. Anh có thể nghe thấy những tiếng cót két qua quỹ đạo mới này. Có một cái gì đó đã xảy ra, anh nghĩ, và thế giới đã thay đổi. Tất cả mọi thứ đã thoát ra khỏi trật tự, và sẽ không bao giờ trở lại như thuở ban đầu đã từng. Mọi thứ đã thay đổi, và tất cả những gì có thể làm là tiếp tục theo hướng mới này. Ngày mai mình sẽ trở lại Tokyo, anh nghĩ. Trở lại với cuộc sống mà mình đã để lại nơi đó. Ngoài mặt tuy không có gì thay đổi, nhưng mình không nghĩ rằng mình có thể sẽ hòa hợp được với nàng một lần nữa. Mình sẽ không bao giờ cảm nhận lại được cái cách mình đã cảm nhận về nàng cho đến ngày hôm qua, người trai trẻ biết. Nhưng đó không phải là tất cả. Mình không tin là mình có khả năng hợp nhất với chính mình thêm lần nào nữa. Giống như thể chúng mình đã rơi ra khỏi bên ngoài dãy hàng rào cao vút. Hoàn toàn không có một tiếng động. Và nàng thậm chí còn chẳng nhận ra.

Người trai trẻ cứ ngồi trên ghế mây cho đến khi bình minh, lặng lẽ hít thở. Thỉnh thoảng lại có một cơn gió mạnh vút qua vào ban đêm, với những giọt mưa đập vào cửa sổ như một kiểu trừng phạt. Những đám mây mù rồi sẽ lại trôi qua và mặt trăng dần ló dạng. Cứ lặp đi lặp lại như thế. Nhưng người phụ nữ không bao giờ tỉnh dậy. Hoặc thậm chí trở người trên giường cũng không. Vai nàng có lắc lư đôi ba lần, nhưng chỉ có thế. Hơn bất cứ điều gì trên đời, anh muốn ngủ, ngủ thật ngon và thức dậy để thấy rằng mọi chuyện đã được giải quyết cả rồi, rằng mọi thứ đều giống như nó đã từng, vẫn hoạt động trôi chảy như mọi khi. Người trai trẻ không muốn gì hơn là chìm vào giấc ngủ sâu. Nhưng cho dù anh có cố gắng vươn tay đến thế nào, giấc ngủ vẫn nằm ngoài tầm với.

Người trai trẻ nhớ lại đêm đầu tiên, khi họ đi ngang qua nhà hàng nhỏ bên đường. Hai người đàn ông Trung Hoa lặng lẽ dùng đồ ăn của họ, con chó mực mắt nhắm lại, nằm dưới chân hai ông, chiếc ô lớn bạc màu nơi bàn ăn. Nàng đã kéo tay anh ra sao. Mọi chuyện dường như xảy ra đã cách đây nhiều năm. Nhưng chỉ mới ba ngày thôi. Chỉ ba ngày đó thôi, xuyên qua một thứ sức mạnh kỳ quái nào đó, mà anh đã biến thành một trong những người đàn ông xấu xí, già cỗi mất rồi. Tất cả diễn ra ở một thành phố biển yên tĩnh, xinh đẹp của Singapore.

Anh đưa hai tay ra trước mặt mình và nhìn chúng chăm chú. Anh nhìn vào đôi bàn tay, sau đó là lòng bàn tay. Không gì có thể che giấu được sự thật là tay anh đang run lên, dẫu là không đáng kể.

"Ưmmm, em lúc nào cũng yêu món cua cả," anh có thể nghe thấy tiếng nàng nói. "Còn anh thì sao?"

Anh không biết, anh nghĩ.

Trái tim anh cảm thấy bị che khuất bởi một thứ gì đó vô hình, bao quanh bởi một điều huyền bí thẳm sâu và mềm mại. Anh đã không còn sở hữu những manh mối mờ nhạt nơi phía trước của cuộc đời mình, và những điều có thể chờ đợi anh ở đó nữa. Nhưng cuối cùng cũng đã đến lúc chân trời phía Đông bắt đầu rạng lên, anh chợt nảy ra một suy nghĩ đột ngột: Có một điều mình dám chắc, anh nghĩ. Bất kể là dù mình có đi đến đâu, mình cũng sẽ không bao giờ ăn cua nữa.

Hết.

Truyện ngắn Cua (Kani) được in lần đầu tiên trong tuyển tập truyện ngắn Stories #50 xuất bản năm 1984. Bản tiếng Anh do Philip Gabriel chuyển ngữ.

Lời người dịch:

Kỳ thực mà nói, đây không phải lần đầu tiên tôi tiếp cận tác phẩm này, nhưng lại chính là lần đầu tiên đọc nó. Truyện ngắn “Cua” đã từng được đề cập trong tác phẩm “Sân bóng chày” trong tập truyện ngắn “Người Ti-vi” do bác Phạm Vũ Thịnh dịch, tôi đã được đọc sáu năm trước khi còn là một đứa học sinh cấp 3. “Sân bóng chày” là một truyện ngắn không nổi trội mấy so với mặt bằng chung các truyện của Murakami, nhưng trong đó có một đoạn hội thoại của hai người đàn ông, một người làm nghề xuất bản đã kể về truyện ngắn “Cua” này thông qua một cuộc thi viết truyện ngắn do tạp chí/nhà xuất bản của ông ta tổ chức. Tôi cứ nhớ nhớ quên quên, thế nào mà suýt bỏ qua một truyện siêu ngắn nhưng đặc sắc như vậy.

Đầu tiên tôi định dịch chỉ để tặng một người bạn thân nhằm vui đùa là chính thôi. Nhưng dịch xong rồi mới tâm đắc rút ra một chân lý: Phàm truyện ngắn nào của Murakami mà tựa đề dính đến tên con vật, là truyện ngắn đó... dịch rất mệt! Thế thôi. Mời mọi người thưởng thức.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Thiếu nhi đánh cờ tướng (Kỳ Y)

Published

on

By

Tại đại hội cờ tướng tiểu học cấp thành phố năm đó, quận Phú Nhuận cử ba em học sinh tiểu học đạt giải cấp quận đi thi đấu. Tôi và hai người khác trường – chúng tôi hẳn vẫn còn hỷ mũi chưa sạch nhưng đã vác một trọng trách to lớn. Tôi là đứa trẻ nhất, lớp hai, còn lại là một anh lớp bốn và một anh lớp năm. Phú Nhuận chưa bao giờ được giải nào cả, cái trường của tôi cũng chưa, và rất nhiều thứ chưa, chưa, chưa chỉ càng khiến tôi muốn mình là người đầu tiên phải chiến thắng. Đầu tiên, phải, đó cũng là năm đầu tiên tôi biết chơi cờ rồi đi thi đấu. Với sức chiến ngoan cường nén trong một đứa nhỏ thó, tôi đã có mặt ở đây sau hai vòng đấu trường và đấu quận khắc nghiệt. 

Sau trận đầu tiên thắng “xiềng” (theo lối nói từ ba tôi), huấn luyện viên quận gọi chúng tôi ra. Tôi, như một thằng láu cá háo thắng, xâu kẻ thù thành một xiên, bắt đầu vẫy vẫy cái xiên ấy rồi khoe tới tấp dẫu cái xiên mới chỉ tòng teng một chiến lợi phẩm. Ôi tôi tưởng như mình vô địch đến nơi! Dù nhà thi đấu trần cao như nhà hát và hoàn toàn khiến những đứa nhỏ chúng tôi vốn nhỏ lại càng teo nhỏ hơn vì kinh hãi, nhưng tôi, dường như lại bình tĩnh hơn cả. Khi thấy biên bản ghi điểm, ông huấn luyện viên khá hài lòng. Ông ta bắt đầu nhắc lại rằng ráng sức thắng những ván đầu, việc này rất quan trọng vì chúng tôi thi theo hệ số cộng dồn nên nếu thua thì xem như thua về đường dài. Còn nếu không thắng được thì hãy cố thủ hòa, vớt vát và có thể lội nước rút ở những ván sau. Nhưng thắng vẫn hơn, chỉ có thắng mới vui hết công suất được. 

Ba tôi cũng có mặt tại đó, nhìn ông hớn hở tôi biết ông rất mong thấy tôi được giải. Tôi nhớ đây là quãng thời gian hiếm hoi tôi xem ông như một người bạn, ông không còn là ông Nghị mà tôi vẫn khiếp sợ (Nghị: Ngờ-i-nghi-nặng-nghị – một loạt tổ hợp những thứ dữ dội, vừa có nghi lại vừa có ngờ, vừa có nặng lại vừa có nghiêm). Hai hôm thi vòng trường và vòng quận tôi đều được ông chở ăn phở. Thi giải thành phố khó hơn và kéo dài gần cả tuần nhưng ông vẫn đảm bảo cả tuần tôi được ăn những gì mình thích, thậm chí gà rán và pizza cỡ nhỏ. Ông hay xoa đầu tôi, ông bảo nếu tôi không được giải thì cho tôi cọ xát để biết mình chơi tốt chơi dở thế nào. Tôi biết ông nói vậy cho tôi đỡ áp lực thôi chứ sâu trong tôi không muốn phụ lòng ông. Tôi chỉ chực chờ, phải, tôi như một cục đá lửa chuẩn bị nẹt cháy tụi nó, hình ảnh ấy cứ ở trong đầu tôi, dù tôi hoàn toàn biết những đứa quận 1, quận 5 rất cao cường. Nói chung hai quận này toàn con cái nhà giàu nứt vách và đều cắp cặp đi học lớp ban đêm như luyện gà đội tuyển tụi Trung Quốc. Tức không phải hạng dễ xử. Tôi đã hỏi các anh lớp bốn lớp năm từng thi đấu xem tên này tên kia hay đánh thế gì để chuẩn bị trước. Còn ba bảo tôi bình tĩnh, hãy cố biến những thế cờ lạ thành thế cờ quen thuộc. 

Ván thứ hai sáng ngày hôm sau tôi thủ hòa với một tên quận 1. Tên ấy lớp bốn. Tôi bắt đầu biết khiêm tốn hơn vì tôi suýt thua đậm. Cho dù tôi đã biết tên đó đi Phản Công Mã nhưng tôi không bật lại được, tên này đánh quá dữ dằn và trây đến tận cờ tàn – thứ chẳng hề quen thuộc với tôi. Thằng khốn đó còn chơi trò tâm lý, giữa ván lúc tôi suy nghĩ lâu nó gọi cho ba nó (thứ công tử bột thích khoe điện thoại) bảo ba chở nó về, nó sắp thắng rồi. Tôi không lấy làm nao núng, dù tay tôi hơi run và yếu đi, mỗi hơi thở của tôi trở nên dồn dập hơn. Tôi có nghĩ mình sắp gục vì căng thẳng, và rồi đi đại một nước, một nước quan trọng. 

Hầu như những lựa chọn trọng đại trong cờ lẫn trong đời (thứ mô phỏng cờ) tôi đều chọn đại như vậy, như thể sau những hồi căng thẳng đến chết đi được, thì tôi sẵn sàng chết cho thật chóng vánh. 

May sao hòa trận. Được nửa điểm. Tôi giảm đi sự hớn hở với ba mình. Lúc ăn trưa ông có vẻ không an tâm tôi cho lắm, ông bảo tôi lấy biên bản ra và diễn lại trận đấu. Như giải trí thôi. Nhưng ba phân tích khá kỹ khiến tôi hơi căng thẳng, rằng tôi lại bỏ sót loạt nước yếu của đối thủ, rằng tôi đã không chớpthời cơ, rằng tôi điều quân lòng vòng và để nó quật cho hòa. Tôi gật gù và cố dung nạp những lời ba tôi căn dặn. Đầu óc tôi trên mây và đánh giá chúng cao quá chăng? Hóa ra chúng không ghê như tôi tưởng, vần vũ cho cùng cũng chỉ là khoa trương, cây nhà lá vườn vẫn ổn hơn cao lương mỹ vị. Tôi lấy tự tin trở lại cho ván đấu chiều. 

Tôi đợi đối thủ đến và nhâm nhi chai nước lạnh ba tôi mua cho. Thằng này đến trễ, dân cờ quận 5, nó định chơi trò tâm lý như thằng quận 1 thật sao? Đầu óc tôi bay lòng vòng trên những giàn đèn rồi chớp lóe thay cho chúng. Tôi vốn biết mấy trò tâm lý. Như nhiều thằng khi đương đánh lại bỏ đi sang bàn khác, ngắm nghía rồi toát ra vẻ mặt kiêu kỳ. Một vài đứa khác có trò vào nhà vệ sinh đi tiểu – thì hẳn chúng chẳng nhờ ai mách nước đâu, nhưng có khi lại cầu cứu ông thần vệ binh ông thần vệ sinh nào trong đấy. Toàn thứ ra vẻ, toàn thứ hèn nhát. Tôi sốt ruột chờ tên ấy, trọng tài bấm đồng hồ giúp tôi trừ giờ thằng đó. Tôi bắt đầu háo hức, tôi có thể được miễn đấu và thắng một điểm không tốn sức. Tôi bắt đầu mơ mộng. Bỗng nhiên những dòng sung sướng cuộn trong tôi như phước báu kiếp trước lũ lượt ùa về. Tôi cầu tên đó ngủ quên. Tôi cầu tên đó bị mất giấy thi đấu. Tôi cầu tên đó bị kẹt xe tắc đường; nếu không tắc thì tôi cầu cho tên đó ngồi trên bàn cầu, bị thần vệ sinh trừng phạt và ban cho cơn tiêu chảy. Tôi thật ác độc, nhưng tôi cũng thật chính đáng. 

Nhưng rồi rột rẹt, tạch, tạch, tạch. Tên đó đến, ký giấy và chúng tôi lao vào trận đấu nghẹt thở. Đồng hồ cứ thế luân phiên ăn bớt thời gian mỗi người. Hóa ra mơ mộng chỉ khiến cho con người ta kiểu nào cũng phải xấu hổ. Tôi đã phí phạm thời gian nghĩ chuyện không đâu. Mọi thứ vốn dĩ nằm ngoài dự đoán của ta đấy thôi. Tôi có chút thất vọng, và rồi từ hùng hồn tôi chuyển sang khuynh hướng có chút sợ hãi rằng mình đã suy nghĩ xấu cho đối thủ và sẽ gặp quả báo. Tôi đi trước, đã chĩa họng Pháo nhòm xa vào mặt Tướng đối thủ, tên đó vừa vào đã đá hai Mã vào trung tâm, Sĩ gác Tượng nâng phòng thủ chắc chắn. Những quân cờ lạnh lùng, chốc chốc lại chém giết, hất nhau nhảy ra bàn cờ cho đại cục. Bình Phong Mã, thế cờ lừng danh mà tôi vốn biết và yêu thích chơi cho bên Hậu, giờ tôi phải đấu với kẻ dùng chính thế trận yêu thích của mình. Nhưng vui thay, cây nhà lá vườn vẫn hơn cao lương mỹ vị, tên này không biết đánh và để mất một con Xe “yếu nhớt”. Tôi muốn bật cười ha ha như mấy bộ phim hoạt hình nhố nhăng tôi vẫn hay xem. Trời, thật chứ? Con Xe, một trong những con đắt giá nhất bàn cờ, tận 10 điểm. Không thể tin được, tuyển thủ quận 5 đây sao? Người Việt đánh cờ vẫn hơn người Hoa! – tôi nhớ có ai nói vậy.

Tôi cầm chắc phần thắng. Tôi đi chầm chậm lại chờ cho nó hết giờ. Tôi chỉ có thể thắng. Tôi dâng con Xe “ngon nghẻ” của mình lên (tôi thích cách nói này từ ba tôi lắm), bỏ lại hàng rào phòng thủ, như một cầu thủ đang muốn tạo đột phá. Tên đó hình như điềm tĩnh trở lại… nó dốc hết lực đánh tôi, bên cánh phải, chỉ để lại một con Mã ở quê nhà. Tôi bắt đầu căng thẳng. Mọi việc hóa ra không trơn láng, nó chỉ trơn láng khi ta chỉ cứ một mạch mà đi, đằng này, tôi lại bắt đầu do dự. Tôi sợ bị đột kích. Tôi không thể thua nhảm nhí được. Tôi hít sâu, rồi hơi thở tôi đẩy mạnh như một cái pô xe phân khối lớn. Tôi chần chừ phần thắng, vì tôi muốn mình không được thua trước. Tôi bốc con Xe lùi lại.

“Ê! Kỳ vậy! Trọng tài!”

Nó làm ngắt mạch suy nghĩ của tôi và làm tôi chuẩn bị phải suy nghĩ lại từ đầu. Vì lý do gì đó. Không sao. Tới lượt nó đi. Tôi có thêm thời gian ký sinh từ thời gian của nó.

“Sao em?”

Ông ta bước lại, dáng vẻ hơi nhọc vì cái bụng mỡ. Ông là trọng tài duy nhất của dãy bàn chúng tôi, tôi thiển nghĩ, hẳn ông cực lắm vì ông cứ đi qua đi lại hoài. Rồi tôi thấy cái bụng nhòng nhòng trồi đập vào lớp áo thun, cái bụng y như một tù nhân đòi được thoát khỏi cái nhà tù bằng vải.

“Bạn này bốc con Mã nhưng lại đi con khác.”

“Là sao? Em, em bốc cờ thì phải đi chứ.”

“Con… con đâu có bốc con Mã đâu! Bạn nói gì kỳ vậy?”

“Có bốc đàng hoàng, con thấy rõ ràng luôn chú!”

“Không! Làm gì có!”

“À, em có nói sửa cờ không?”

“Bạn không hề nói sửa cờ. Cách bạn bốc cờ không phải là sửa cờ cho ngay lại chú, mà bốc xong bạn rụt tay lại hối hận. Rồi bạn bốc con khác!” 

Nó diễn lại nước vừa rồi cùng tư thế ngồi của tôi. Tôi căng mắt và không thể tin được, vì đúng là tôi đã vô thức chạm trúng tay con Mã.

“Vậy... là con có đụng, cho con xin lỗi.”

Sau lời nói run rẩy của tôi, ông ta gật gù, biên độ của ông theo biên độ đập tay lên bàn của nó, khi nó đang giải thích kỹ hơn một lần nữa. Nhưng rồi vì sự hiền hậu ở những người có chiếc bụng ông địa toát lên, ông ta dịu dàng trấn an:

“Thôi thôi, bình tĩnh. Lần này chú nhắc, lần sau là không nhắc lại.”

“Dạ... con nhớ rồi!”

“Đụng quân là phải đi. Luật là luật! Nhớ đó. Hai đứa đánh tiếp đi. Tới giờ của em đúng không, rồi.”

Kịt, ông ta ấn đồng hồ.

“Dạ…” 

Tôi lí nhí, rồi thất thần quay đầu trở lại bàn cờ. Ông ta bước rảo qua bàn bên, một luồng khí luồn dọc sống lưng tôi. Tôi bị làm sao không thể tỏ. Tôi đã cẩn trọng đến mức như thể chủ quan. Tôi rơi vào điểm mù của cẩn trọng. Tôi tìm cách thoát ra, nhưng không thể. Tại sao có nhiều nước để đi thế này và nước nào cũng rất triển vọng lẫn rủi ro? Tôi muốn đi đại, nhưng không được, vì tôi không thể thua. Tôi thấy nghẹt thở quá. Hẳn người lớn hay gọi đây là áp lực, vì nó căng phồng khắp tôi, biến tôi thành trái bong bóng chực chờ nổ tung.

Tên đó bốc con Pháo đâm xuống đáy bên phía tôi, dọa chiếu bí bằng đòn Pháo Trùng. Tôi há hốc mắt mình ra vì kinh ngạc, tên đó đã lấy lại phong độ trở lại. Không sao, tôi chỉ cần một nước xuất Tướng là xong. Nhưng từ từ, tôi có thể thắng ngay bây giờ không? Tôi hẳn phải có nước nào đó chiếu liên tù tì. Tôi phải dứt điểm sớm, như ba tôi nói, tôi không thể chần chừ.

Không, cho dù đã hơn thế trận thì tôi vẫn không thể nào chủ quan. Tôi không thể để nỗi sợ thua ám muội mình. Tôi chỉ sợ chiến thắng vụt mất. Giờ tôi mà bốc con cờ khác là thua ngay. Tôi không được bốc con cờ khác. Chỉ cần chạm con Tướng thôi, là tất cả chiêu trò dụ dỗ được tháo gỡ.

“Sửa cờ.”

Tôi hô lên, giữ bình tĩnh, chỉnh các quân cờ ngay ngắn lại trước khi thực hiện nước quan trọng. Luật là chỉ cần hô lên và dùng tay dịch sửa cờ thôi, tôi không bị tính lỗi là bốc quân mà không chịu đi. Nó nhăn mặt nhìn tôi, ra vẻ bất ý. Rồi tôi đưa sự tập trung của mình trở lại trận địa. Nhưng tôi không thể sơ sót, tôi xem kỹ lại vị trí các quân cờ một lần nữa. Những tia sét xẹt trong đầu tôi, vì khi căng thẳng chơi cờ, não con người ta phát sáng cực độ, và tôi đây đang nhìn vào khoảng vô định cùng những mộng tưởng và sát chiêu. Tôi căng thẳng quá, tôi không thể chịu được!

“Trọng tài ơi!”

“Sao, có gì nữa!”

“Bạn này mới bốc con Tượng rồi không chịu đi!”

“Sao sao, đâu.”

“Bạn bốc cờ rồi không đi.”

“Nữa hả? Em lại vậy nữa. Chú đã dặn em rồi!”

“Đã vậy con đâm con Pháo xuống chiếu bí bạn, bạn không chịu, đòi đi lại.”

“Em này, chú đã nhắc em rồi! Bốc cờ là phải đi!”

“Em…? Em… không, em không có bốc mà!” 

“Đây chú, bạn này bốc con Tượng, nãy bạn đụng tay vậy nè, chính tay bạn đụng luôn. Bạn đụng rồi rụt tay lại, bạn không hề nói sửa cờ! Rồi con mới đâm con Pháo xuống đây, chiếu bí hết cờ!”

“Em à, em có đụng không?”

“Em không đụng… em không đụng thật mà!”

“Trời, nó nói xạo! Nó đụng rõ ràng!”

Vài người lớn hiếu kỳ bước lại chỗ bàn tôi, tôi và thằng đối thủ đang làm ầm nhà thi đấu lên. Chúng tôi cãi cọ. Một số người phụ dời bàn những đứa khác ra xa, tránh để bị phân tâm. Bọn chúng nhìn tôi – nhìn tôi, chứ không phải thằng đối thủ tôi – như thể tôi là một kẻ đểu cáng lừa lọc. Tôi đang cố sức minh oan cho mình, nhưng tôi không thể nhớ được.

“Ba?”

Ba tôi đứng ở ngoài, ông thấy bàn tôi nhiều người lớn xôm tụ lại như kiến bu dĩa đường. Khi tôi vừa thấy ba, ba bật cười. Lòng tôi cấn lên đau nhói, hẳn ông đang nghĩ rằng tôi đánh hay đến mức hút cả người lớn lại xem, rằng ván cờ của thằng con mình có khi được lên báo, dẫu nó có thua hay thắng cũng không sao cả. Nhưng rồi, thấy có gì đó không ổn, rằng tôi lại không đánh cờ mà lại nói chuyện với trọng tài, ba bước lại. 

“Có chuyện gì vậy anh?”

Ông trọng tài bước lại ba tôi rồi quơ tay giải thích. Ba tôi khựng lại như để trút hết mọi ảo tưởng, ông điềm đạm bước lại gần bàn cờ. Và rồi ông cũng đứng sau tôi. Ông trọng tài lặp lại vấn đề. Chốc chốc ông ta lại chỉ vào bàn cờ, ba tôi bắt đầu dõi theo với ánh mắt sắc cạnh. Đến lượt bọn chúng, bọn con nít tuyển thủ nhìn ba tôi. Ba tôi không bận tâm, rồi bình tĩnh chỉ “là tới đây nó bốc con Tượng à?” Rồi, như tôi dự đoán, ba tôi không tin, ông nhìn tôi, dáng vẻ như một con hổ hừm hừm. Ông hỏi tôi.

“Con, có đụng không con?”

“Con… con không…”

“Nó đụng anh ạ.”

“Từ từ! Con tui không có đụng cờ. Nó nói không đụng là không đụng. Ông có bằng chứng gì không? Có camera không? Ai làm chứng?”

“Có mấy đứa bàn cạnh làm chứng. Anh bình tĩnh, để hỏi thử một đứa xem là biết liền.”

“Tụi nó lo đánh nhau, hơi đâu mà để ý bàn khác. Nhảm nhí!”

“Anh bình tĩnh! Em này nãy đã bắt lỗi con anh một lần, tôi đã dặn kỹ cả hai, rất kỹ. Không lý gì em kia lại bắt lỗi con anh nữa nếu con anh không sai.”

“Anh nói không không như vậy chẳng ích gì! Camera, có camera không?”

Ông trọng tài lắc đầu rồi giơ cánh tay quảng đại của nhạc trưởng. Ông cố giải thích mọi chuyện với chất giọng âm ấm: nhà thi đấu có camera, dù rất mờ, nhưng nếu muốn ông có thể liên hệ với bảo vệ bật cho chúng tôi cùng xem.

Rồi chuyện đi xa hơn. Chẳng cần đợi lâu, bảo vệ cũng nghiêm nghị bước vào cuộc. Họ mang máy tính xách tay đến và trích xuất camera. Chuyện hệ trọng rồi. Quả là camera mờ thật, chỗ chúng tôi hơi khuất tầm camera, đó là chưa kể các quân cờ khá nhỏ. Tôi, ngồi xếp hai tay che bàn cờ, bị khuất khá nhiều – chuyện cũng tương tự với tên đối thủ của tôi. Mười lăm phút trôi qua, bảo vệ tua hết chỗ nọ, cũng không thấy được ván cờ như thế nào. Ai nấy sốt ruột. Ba tôi lắc đầu, và tôi biết ông đang tìm cách để tôi đi lại nước cờ, hoặc tệ lắm là đấu lại ván mới. Nhưng rồi trọng tài gạt bỏ hết tất cả: 

“Quan trọng là có tôi ở đây giám sát. Tôi biết em nào nói dối hay không. Tôi là trọng tài cờ tướng hai mươi năm rồi, nhiều trường hợp các em đụng cờ không chịu đi, tôi cũng phải xử thua. Con nít mà anh. Mà không phải hơ đâu một cái các em bị lỗi mà tôi xử, trước đó tôi phải dặn dò các em rất kỹ. Giờ anh nghĩ xem, đấu lại, có phải không thỏa đáng không?”

“Thế nào mới thỏa đáng? Rõ là con tui sắp thắng! Nó không thể bốc cờ ngớ ngẩn như vậy được! Còn thằng này nó thua đến nơi rồi, nó mới chơi thủ đoạn. Anh nhìn thế cờ này đi, anh tin ai?”

“Nhưng đứa này thắng trước, anh nhìn đi.”

“Trời, vui thật ha.”

Ba tôi cười chua chát. Tên đối thủ lên tiếng:

“Nhưng rõ ràng là bạn này đụng cờ! Nếu không đụng cờ, sao bạn lại run như vậy chứ!”

“Mình không đụng… vì đụng con đó chả khác nào thua cờ... Mình đã nói sửa cờ rồi mà.”

“Kỳ, con nói lại lần cuối cho ba xem. Con có đụng hay không?”

Ông chủ giải thưởng bước đến. Đầu óc tôi rối bừng, và giờ vẻ như tôi không thể nhớ là tôi có đụng hay không.

“Anh à… bớt nóng, ở đây có nhiều em đang thi đấu. Trọng tài đã nói như vậy rồi, có gì không ổn mình nói nhỏ nhẹ với nhau. Mình cư xử có văn hóa chút ạ.”

“Thôi… mấy người ăn chia với nhau, quận 5 lúc nào chả được ưu ái,” ba tôi bật cười mỉa mai. 

“Anh nói như vậy mà nghe được à? Đây là luật.”

Hai dòng nước mắt của tôi thi nhau chảy. Tôi không nói được lời nào vì cổ họng tôi bận co giật thút thít. Thằng quận 5 được nước gác tay lên xoang má, rồi ra vẻ không muốn nhìn thấy cảnh tượng nhảm nhí này. Hắn ra vẻ như người lớn. 

“Tóm lại, con anh nó chạm vào quân cờ mà không chịu đi. Nãy giờ hơn một tiếng đồng hồ đôi co, tui đã nhắc nó kỹ rồi mà nó vẫn phạm, thì tui xử thua chứ sao! Giờ anh có ý kiến hay phân bua gì không?”

“Con... không… đụng mà…” 

“Trời, thằng này nó đụng đàng hoàng!”

“Không…” 

Tôi như thằng nói dối. Tôi cảm tưởng mình càng nói thì càng sai, nên đành nín lặng.

“Tôi quyết định xử thua.” 

Ba tôi quát lớn lên với toàn thể hội đồng: 

“ANH IM ĐI!” 

Vừa ngay khi tiếng la của ba vang vọng khắp trần nhà làm rung những chòm đèn, tất cả mọi người ngoái đầu nhìn. Có những tiếng xì xầm rộ lên kèm những gương mặt đắc thắng ở bàn bên, có lẽ bọn chúng vui vì có thêm chuyện để nói. Bảo vệ chuẩn bị sấn bước đến can thiệp. 

Mọi người xem ba như trò cười. Còn tôi thì lại khóc. Ngày một lớn hơn. 

Ba tôi dứt lời rồi nghiến chặt răng bước ra sảnh. Tôi có thể đoán thế, dù tôi không thể và cũng không dám nhìn ai, tôi xấu hổ khi mình lớn xác mà lại còn khóc nhè. Tôi không xấu hổ ba mình. Tôi chỉ xấu hổ vì tôi đã đưa ba vào tình cảnh này. Bù lu bù loa, tôi chỉ một mạch bước đi, màn sương phủ lấy tôi, tôi như kẻ mù bởi chính nước mắt mình. Tôi lẽo đeo núp sau ba tôi rồi cũng tới bãi xe. Khi ngồi ôm ba sau xe, tôi dịu lại. Ba chở tôi ra công viên Hoàng Văn Thụ rồi hai cha con chúng tôi ăn kem xe bán hàng rong. Ba tôi không nói gì một lúc. 

“Con có đụng con Tượng không…?” 

Rồi sự thật, một sự thật phũ phàng từ sâu thẳm cơn quên hiện lên.

“Dạ… có…” 

Ông im lặng. 

Tôi cúi gầm mặt, rồi chẳng khóc được nữa.

Buổi chiều nắng vàng rực đến mức không thể cắt nổi nghĩa. Tôi chính thức thua cuộc khi trông thấy mái đầu ba mình óng ánh bạc nắng.

Tôi từ bỏ thi đấu cờ tướng vĩnh viễn, chỉ xem nó như trò giải trí cho đến tận sau này. Dù ba muốn tôi thi đấu tiếp, nhưng rồi tôi không thể nào vượt qua được sức nặng của những lựa chọn.  

Kỳ Y

Đọc bài viết

FICTION

Thơ: Thế giới của chúng ta (Hải Âu)

Những nỗi buồn tan vào mây / Buổi chiều lộng lẫy / Tiếng thở dài luồn qua kẽ tay / Rơi vào thinh lặng

Published

on

Cho chúng ta.

Những nỗi buồn tan vào mây
Buổi chiều lộng lẫy
Tiếng thở dài luồn qua kẽ tay
Rơi vào thinh lặng

Em ngủ dậy chưa?
Căn phòng này trống vắng
Chỉ có ta và chiếc bóng
Của chính ta

Hoàng hôn đã tắt
Thành phố sao xa lạ
Những mảng tường trắng xóa
Như bức vẽ không màu

Em đang ở đâu?
Ngay đây hay ngoài tầm với
Muốn nghe em cười nói
Những chuyện ngày xưa

Tôi đi tìm em
Mò mẫm trong cơn mưa
Mỏi mòn trong ánh nắng
Em ngủ dậy chưa?

Cô bé của tôi
Cô bé trong tấm gương này
Cô bé trong bức ảnh này
Em đang ở đâu?

Em lạc trong tôi
Ta tan chảy trong nhau
Cả niềm vui lẫn nỗi đau
Người muôn bộ mặt

Của em và tôi
Của anh ta cô ta nữa
Chúng ta đang ở đâu?
Ở đâu?

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng