Sáng tác

Truyện ngắn: Con khỉ Shinagawa (Murakami Haruki)

Dạo gần đây cô gặp chút khó khăn với việc nhớ tên mình. Chuyện này thường xảy ra nhất mỗi khi có người bất thần hỏi tên cô.

Published

on

Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này được đặc biệt dành tặng Kodaki Adi.

1

Dạo gần đây cô gặp chút khó khăn với việc nhớ tên mình. Chuyện này thường xảy ra nhất mỗi khi có người bất thần hỏi tên cô. Như việc vào trong một cửa hiệu, nhờ người ta chỉnh giúp ống tay áo của bộ váy, và khi nhân viên hỏi cô “Xin chị vui lòng cho cửa hàng chúng em biết tên ạ, thưa chị?” Hay là lúc ở sở làm, trên điện thoại có người muốn biết tên của cô là gì, và cô bắt đầu trở nên hoàn toàn trống rỗng. Cách duy nhất giúp cô nhớ lại được là lôi bằng lái của mình ra nhìn, kiểu phụ thuộc này khiến cho những người đang nói chuyện với cô cũng cảm thấy có điểm kỳ quặc. Nếu tình cờ lúc đó là khi đang nói chuyện điện thoại, những khoảnh khắc im bặt đầy lúng túng cô lục lọi túi xách hẳn cũng khiến đối phương ở đầu dây bên kia tự hỏi chuyện quái gì đang xảy ra.

Nếu cô là người chủ động giới thiệu tên mình, cô sẽ không bao giờ khổ sở trong việc ghi nhớ cả. Miễn là biết rõ những gì sắp diễn ra, cô thường không gặp rắc rối gì với bộ nhớ của mình. Nhưng nếu là lúc đang vội quắn lên, hoặc đột nhiên có người hỏi tên cô, y như là đã có đứa phá hoại nào đó ra tay sập nguồn khiến tâm trí cô hoàn toàn trở nên rỗng tuếch ấy. Càng cố nhớ lại bao nhiêu, sự trống rỗng lại càng bao phủ lấy bấy nhiêu và cô hầu như quên luôn cả đời này mình đã được gọi là gì.

Cô vẫn có thể nhớ mọi thứ khác. Không bao giờ cô quên tên của những người xung quanh mình. Rồi địa chỉ, số điện thoại, ngày sinh, số hộ chiếu của cô cũng không gặp chút rắc rối nào. Cô có thể đọc làu làu thuộc lòng số điện thoại bạn bè mình, cả số điện thoại của khách hàng quan trọng nữa. Cô vẫn luôn có một trí nhớ tốt – chỉ là cái tên của của cô đã trốn thoát khỏi cô. Vấn đề này khởi nguồn khoảng một năm trước, khi lần đầu tiên những chuyện như vầy bắt đầu xảy đến với cô.

Tên sau khi cưới của cô là Mizuki Ando, còn tên thời con gái là Ozawa. Cả hai cũng chả phải là những cái tên độc đáo hay kịch tính gì, nhưng điều này cũng không đồng nghĩa với việc có thể giải thích vì sao trong lịch trình làm việc đầy bận rộn của mình, tên cô có thể bốc hơi khỏi bộ nhớ.

Cô đã trở thành bà Mizuki Ando vào mùa xuân ba năm trước, khi cô kết hôn với một người đàn ông tên là Takashi Ando. Lúc đầu, cô không quen với cái tên mới. Cách viết và nghe nó có vẻ chả ăn rơ gì với cô sất. Nhưng sau khi đọc đi đọc lại cái tên mới của mình, và thử ký nó vài lần, cô dần dần nghĩ rằng điều này cũng không tệ đến thế. So với các khả năng khác – Mizuki Mizuki hoặc Mizuki Miki hay một cái-gì-đó (thực tế thì có thời cô cũng từng cặp kè với một anh chàng tên là Miki thật) – thì Mizuki Ando cũng chả phải là tệ lắm. Phải mất một quãng lâu, nhưng rồi dần dần cô cũng bắt đầu cảm thấy thoải mái với tên theo họ chồng của mình.

Tuy nhiên, một năm trước, cái tên đó bắt đầu chạy trốn khỏi cô. Ban đầu, điều này xảy ra chỉ một tháng một lần, nhưng theo thời gian nó đã trở nên thường xuyên hơn. Bây giờ chuyện này phải xảy ra ít nhất mỗi tuần một lần. Một khi “Mizuki Ando” trốn thoát, cô như bị bỏ lại một mình trên thế gian này, không còn là ai cả, một người phụ nữ vô danh. Miễn là cô còn mang theo ví bên mình, thì cô vẫn còn ổn – có thể mang bằng lái ra và nhớ lại mình là ai. Còn nếu cô bị mất ví, thì mọi đầu mối sẽ bị mất sạch. Dĩ nhiên cô sẽ không biến ngay thành một con mẹ bất toàn – vì việc cô có bị lạc mất tên mình trong một lúc cũng đâu thể phủ nhận một thực tế rằng cô vẫn còn tồn tại, và cô vẫn nhớ địa chỉ và số điện thoại của mình đấy thôi. Đây nào phải mấy trường hợp bị mất trí nhớ kiểu phường xi-nê. Thế nhưng, kỳ thực mà nói, chuyện quên mất tên mình của cô vẫn vô cùng khó chịu. Một cuộc sống mà không có tên tuổi gì, cô cảm thấy cũng giống như cứ chiêm bao mãi mà chả chịu thức dậy.

Mizuki đi đến một cửa tiệm kim hoàn, mua một chiếc vòng tay mỏng đơn giản, có khắc tên trên đó: Mizuki (Ozawa) Ando. Không phải địa chỉ hay số điện thoại, chỉ vỏn vẹn tên của cô. Vầy làm cho mình cảm thấy bản thân y như một con mèo hay con cún gì ấy, cô thở dài. Cô chắc chắn mình sẽ đeo vòng tay mỗi khi rời khỏi nhà, thành thử nếu cô quên tên mình thì tất cả những gì phải làm chỉ là nhìn vào cái vòng thôi. Không còn phải lôi bằng lái của mình ra nữa, cũng chẳng phải hứng chịu những cái nhìn kỳ cục từ phía người khác.

Cô cũng không kể cho chồng biết về chuyện này. Cô biết kiểu gì anh ta cũng sẽ bảo rằng nó chứng tỏ cô không hài lòng về cuộc sống giữa hai người họ với nhau. Anh ta quá logic với tất cả mọi thứ. Dù anh không có ý làm hại gì cả; Chỉ là anh ta luôn luôn lý thuyết hoá mọi thứ một cách quá rạch ròi trắng đen. Tuy nhiên, cách anh ta nhìn thế giới thế nào cũng chả phải quyền của cô. Chồng cô cũng là một lão lắm lời, và sẽ không dễ dàng rút lui quan điểm một khi đã bắt đầu chủ đề. Vậy nên cô quyết định giữ im lặng về toàn bộ mọi chuyện.

Ấy nhưng mà, cô đã nghĩ, những gì chồng cô nói – hoặc có thể nói nếu anh ta biết thật – đều sẽ lạc đề hết. Cô chẳng có lo lắng hay bất mãn gì với cuộc hôn nhân của họ. Ngoài sự hợp lý đôi khi quá mức của anh, cô cũng không có phàn nàn gì về chồng mình cả, và cũng chẳng có những sự ác cảm nào về bố mẹ chồng mình nốt. Cha chồng của cô là bác sĩ điều hành một phòng khám nhỏ ở thành phố Sakata, nơi quận phía Bắc xa Yamagata. Bố mẹ chồng của cô chắc chắn là những người bảo thủ, nhưng chồng cô là con trai thứ nên họ cũng không quản đến cuộc sống của Mizuki và chồng. Mizuki đến từ Nagoya, và thế nên lúc đầu cô đã bị áp đảo bởi những mùa đông lạnh giá ở Sakata, nhưng trong một, hai chuyến thăm hàng năm, cô bắt đầu cảm thấy thích nơi này. Hai năm sau khi cô và chồng kết hôn, họ đã lấy một khoản thế chấp và mua một căn hộ trong tòa nhà mới ở Shinagawa. Chồng cô, bây giờ bước qua hàng ngũ tuổi băm, đang làm việc trong phòng thí nghiệm của một công ty dược phẩm. Mizuki hai mươi sáu và đi làm tại một đại lý của Honda. Cô trả lời điện thoại, mời khách hàng vào phòng khách, mang cà-phê, phô-tô-cóp-pi khi cần, quản lý mọi hồ sơ và cập nhật danh sách khách hàng trên máy vi tính.

Ông cậu của Mizuki, một giám đốc điều hành của hãng Honda, đã tìm việc làm cho cô sau khi cô tốt nghiệp từ trường cao đẳng nữ sinh ở Tokyo. Đó không phải công việc hấp dẫn nhất có thể tưởng tượng ra, nhưng họ đã trao cho cô một số trách nhiệm và tổng thể cũng không tệ lắm. Nhiệm vụ của cô không bao gồm cả việc bán xe hơi, nhưng bất cứ khi nào nhân viên bán hàng đi ra ngoài thì cô sẽ tiếp quản nó, luôn luôn làm tốt việc trả lời các câu hỏi của khách hàng. Cô đã học được bằng cách theo dõi các nhân viên bán hàng, và nhanh chóng nắm bắt được những thông tin kỹ thuật cần thiết cùng sở thích bán xe ô tô. Cô ghi nhớ kỹ xếp hạng tổng cước hành trình của tất cả các mô hình ô tô trong phòng trưng bày, và có thể thuyết phục bất cứ ai, ví dụ, cách một chiếc Odyssey xử lý ít giống xe minivan nhất và giống xe sedan thông thường nhất ở chỗ nào. Mizuki là một người nói chuyện có duyên, với nụ cười cuốn hút của mình cô đã mang lại cho khách hàng sự thoải mái. Cô cũng biết làm thế nào để biến hóa bản thân tinh tế dựa trên việc đọc vị tính cách của mỗi khách hàng. Tuy nhiên, không may là, cô không có thẩm quyền để giảm giá, thương lượng giá thương mại, hoặc khuyến mãi các tùy chọn miễn phí, thế nên ngay cả khi cô đã có khách hàng sẵn sàng để ký tên vào ô chấm hợp đồng, thì cuối cùng cô vẫn phải quay lại thỏa thuận với nhân viên bán hàng. Cô có thể làm được hầu hết mọi công việc, nhưng rồi một trong những nhân viên bán hàng sẽ tiếp nhận nó và ăn hoa hồng. Phần thưởng duy nhất cô có thể mong đợi là bữa tối tự chọn không thường xuyên từ một trong những người bán hàng muốn chia sẻ sự may mắn của anh ấy.

Thỉnh thoảng lại có ý nghĩ vụt qua đầu cô rằng, nếu họ để cho cô bán hàng thì họ sẽ bán được nhiều xe hơn và doanh thu chung của đại lý sẽ được cải thiện. Nếu có những nhân viên bán hàng trẻ, vừa mới bước ra từ cổng trường đại học, chỉ cần đặt tâm trí của họ vào nó, họ có thể bán được nhiều xe hơn vào mỗi hai lần. Tuy nhiên, đã chẳng có ai nói với cô rằng ô kìa chị bán xe giỏi quá, thôi chị đừng lãng phí đời mình vào công việc bàn giấy chi cho cực, hay chị chuyển quách sang làm công việc bán hàng luôn đi. Đó là cách mà một công ty vận hành. Bộ phận bán hàng là một chuyện, nhân viên văn thư là chuyện khác, và ngoại trừ trong những trường hợp rất hiếm hoi, đó là ranh giới không thể tiếp cận được. Bên cạnh đó, cô không đủ tham vọng để cố gắng thúc đẩy sự nghiệp của mình theo cách ấy. Cô thích cách cô đặt mình vào tám giờ đồng hồ, từ 9 giờ đến 5 giờ, nhận tất cả khoảng thời gian nghỉ phép mình có, và tận hưởng những ngày xuống ca.

Ở nơi làm việc Mizuki tiếp tục sử dụng tên thời con gái của mình. Nếu cô chính thức đổi tên, thì tất cả những dữ liệu liên quan đến cô trong hệ thống máy tính của họ sẽ phải thay đổi hết, mà đó lại còn là công việc cô phải làm. Đã có quá nhiều rắc rối và cô vẫn kiên trì, cuối cùng cô đành quyết định lấy luôn tên thời con gái. Đối với chuyện đóng thuế, cô được liệt vào hàng đã lập gia đình, nhưng tên của cô không thay đổi. Cô biết là không đúng lắm khi làm điều đó, nhưng không ai ở sở làm nói gì cả (họ bận quắn cả đít để đi lo lắng đến từng chi tiết), vì vậy cô vẫn giữ cái tên Mizuki Ozawa. Đó vẫn là cái tên trong danh thiếp, thẻ tên, sổ chấm công của cô. Mọi người thường gọi cô là Ozawa-san, Ozawa-kun, Mizukisan, hoặc thậm chí là Mizuki-chan đầy thân mật. Không phải cô cố gắng để tránh sử dụng tên kết hôn của mình. Chỉ là tốn quá nhiều giấy tờ để thay đổi nó, vì vậy cô cứ phóng theo lao mà không có bất cứ sự thay đổi nào. Nếu có ai đó có thể nhập tất cả những thay đổi cho cô, cô nghĩ, cô sẽ rất vui khi được là Mizuki Ando.

Chồng cô cũng biết cô đang dùng tên thời con gái ở nơi làm việc (đôi khi anh ta cũng có gọi đến sở làm cho cô), nhưng không có vấn đề gì với chuyện đó. Dường như anh ta cảm thấy rằng bất cứ cái gì cô dùng trong công việc chỉ là vấn đề tiện lợi. Chừng nào anh ta còn bị thuyết phục về logic, chừng đó anh ta cũng sẽ không phàn nàn gì. Theo lý ấy thì anh khá dễ chịu.

2

Mizuki bắt đầu lo sợ rằng việc quên của cô hoàn toàn có thể là triệu chứng của một căn bệnh khủng khiếp nào đó, có lẽ là một dấu hiệu sớm của bệnh Alzheimer. Thế giới đầy những loại bệnh tật bất ngờ, gây chết người như chơi. Cô cũng chưa bao giờ biết tới, cho đến gần đây, đã có những căn bệnh như chứng suy cơ và bệnh Huntington. Phải có hằng hà sa số ti tỉ ti tỉ thứ bệnh khác nữa mà cô chưa bao giờ nghe đến. Và với hầu hết các chứng bệnh này thì các triệu chứng ban đầu đều khá nhẹ. Những triệu chứng ấy vốn không bình thường, nhưng nhẹ như kiểu quên-tên-của-mình á? Một khi cô đã bắt đầu suy nghĩ theo lối này, cô thực sự lo lắng rằng một căn bệnh lạ đã lan truyền khắp cơ thể cô.

Mizuki bèn đến một bệnh viện lớn và giải trình về các triệu chứng. Tuy nhiên, tay bác sỹ trẻ – một gã xanh rớt và đầy mệt mỏi, nom còn giống bệnh nhân hơn là bác sĩ – đã không coi trọng những lời cô nói. “Cô còn quên cái gì khác ngoài tên mình không?” Anh ta hỏi. Không, cô đáp. Giờ thì chỉ có tên tôi thôi. ” Hừm. Điều này nghe như một dạng tâm thần ấy, ” anh ta nói, giọng nói của anh ta không có bất kỳ sự quan tâm hoặc thông cảm nào. “Nếu cô bắt đầu quên những thứ khác ngoài tên của của cô thì hãy đến chỗ chúng tôi kiểm tra lại. Rồi sau đó chúng tôi có thể làm một số bài kiểm tra cho cô” Ở chỗ chúng tôi còn đầy người có triệu chứng nặng hơn cả cô ấy chứ, anh ta ngụ ý. Quên tên riêng của mình trong thoáng chốc cũng không phải việc to tát gì.

Một ngày nọ, giữa mục thông báo của tổ dân phố nhét vào hộp thư, cô bắt gặp một mẩu tin thông báo rằng văn phòng phường sẽ mở một trung tâm tư vấn. Đó chỉ là mẩu tin nhỏ, loại tin cô vẫn thường lướt qua. Trung tâm sẽ mở cửa hai lần một tháng và có một chuyên gia tư vấn, với mức phí giảm đáng kể, sẽ tư vấn cho mọi người một đối một. Bất kỳ cư dân nào của phường Shinagawa từ mười tám tuổi đều được tự do sử dụng các dịch vụ này, mẩu tin cho biết, và được tổ chức với sự kín đáo chặt chẽ đáng tin cậy nhất. Mizuki thấy hồ nghi về việc một trung tâm tư vấn được phường tài trợ liệu có thể làm gì cho ra tấm ra món hay không, nhưng cô cũng quyết định thử. Cũng chả mất gì, cô kết luận. Đại lý chỗ cô làm thường lu xu bu vào những ngày cuối tuần, nhưng nghỉ một ngày trong tuần không phải là việc quá khó khăn gì và cô có thể điều chỉnh thời gian biểu của mình để phù hợp với lịch trình của trung tâm tư vấn, điều này vốn không thực tế đối với những người làm việc bình thường. Trung tâm đề nghị một cuộc hẹn, vì vậy cô gọi điện thoại trước. Một buổi tư vấn ba mươi phút tốn hai ngàn yên, cũng không phải là một khoản tiền quá đắt phải trả. Cô đã hẹn trước một giờ chiều. Vào thứ Tư tuần sau.

Lúc cô đến trung tâm tư vấn ở tầng ba của văn phòng phường, Mizuki nhận ra cô là khách hàng duy nhất. “Người ta bắt đầu chương trình này khá đột ngột”, chị tiếp tân giải thích, “và hầu hết mọi người vẫn chưa hay biết gì về nó. Một khi mọi người biết đến, tôi chắc rằng sẽ có thêm nhiều người tìm đến đây. Nhưng bây giờ chúng tôi đang rất rộng chỗ, chị may mắn lắm đấy.”

Người tư vấn, tên là Tetsuko Sakaki, là một người đàn bà vui vẻ, thân hình thấp đậm, tuổi ngoại tứ tuần. Mái tóc ngắn của chị nhuộm màu nâu nhạt, khuôn mặt tròn trịa nở một nụ cười đáng mến. Chị mặc trên mình một bộ đồ mát mùa hè màu sáng, áo lụa bóng loáng, đeo chiếc vòng cổ ngọc trai nhân tạo, và đi giày gót thấp. Nom chị còn giống một bà nội trợ thân thiện, hay đỡ đần người khác ở nhà bên hơn là một tư vấn viên.

“Chồng tôi làm việc ở văn phòng phường trong này luôn, cô em biết đó. Ông ấy là trưởng bộ phận của Công trình Công cộng “, chị nói với lối giới thiệu thân thiện. “Đó là cách chúng tôi có thể nhận được hỗ trợ từ phường và mở trung tâm tư vấn này. Thực tế mà nói, cô em là khách hàng đầu tiên của chúng tôi luôn và chúng tôi rất vui khi được gặp cô em. Hôm nay tôi không có cuộc hẹn nào khác cả, vì vậy hãy dành thời gian cho chúng tôi và nói chuyện thẳng thắn với nhau nhé. ” Người đàn bà nói từ tốn, mọi thứ xung quanh chị đều có vẻ chậm rãi và thận trọng.

Rất vui được gặp chị, Mizuki nói. Mặc dù trong lòng cô đang tự hỏi liệu kiểu người như vậy có giúp được gì cho mình không.

“Cô em có thể yên tâm rằng tôi có bằng tư vấn và khá nhiều kinh nghiệm. Vì vậy hãy cứ kể hết mọi chuyện cho tôi nhé, “người đàn bà nói thêm, nghe có vẻ như chị đã đọc được tâm tư của Mizuki.

Chị Sakaki ngồi sau chiếc bàn làm việc phẳng lì làm từ kim loại. Còn Mizuki ngồi trên một chiếc ghế sofa nhỏ, cũ kỹ trông như thể mới được người ta kéo từ trong kho ra. Các khung lò xo rệu rã, và mùi ẩm mốc khiến mũi cô giật giật.

“Tôi đã thậm mong chờ sẽ nhận được một trong những chiếc ghế dài thoải mái, để nó ra dáng một văn phòng tư vấn hơn, nhưng này là tất cả những gì chúng tôi có thể nhận vào lúc này. Chúng tôi đang thỏa thuận với một tòa thị chính ở đây, thế nên mình cứ phải vật vã từng ngày với cái thói làm ăn quan liêu kiểu đó. Một nơi gớm ói. Tôi hứa lần sau chúng ta sẽ có một thứ gì đó tốt hơn để cô em có thể ngồi lên, nhưng mà tôi cũng hy vọng hôm nay cô em sẽ không quá bận tâm. “

Mizuki quay lại chìm mình vào chiếc sofa cũ mỏng dính và bắt đầu giải thích về chuyện cô thường quên tên mình nhiều như thế nào. Trong lúc đó chị Sakaki chỉ gật gật đầu. Chị không yêu cầu bất cứ câu hỏi nào, cũng không hiển lộ chút gì ngạc nhiên. Hầu như chị không thể hiện bất cứ âm thanh nào chứng tỏ là mình đang dõi theo Mizuki. Chị chỉ lắng nghe câu chuyện của Mizuki một cách nghiêm cẩn, và trừ những cái cau mày thi thoảng như thể chị đang cân nhắc điều gì đó, thì khuôn mặt của chị vẫn không hề biến đổi. Nụ cười nửa miệng của chị, cũng giống như một mảnh trăng xuân vào lúc xế tà, chẳng có chút gì dao động.

“Đúng là một ý tưởng tuyệt hay khi khắc tên em lên chiếc vòng tay”, chị nhận xét sau khi Mizuki kết thúc. ” Tôi thích cách em giải quyết nó. Điều đầu tiên là đưa ra một giải pháp thiết thực, để giảm thiểu bất cứ sự bất tiện nào. Tốt nhất là đối phó với vấn đề một cách thực tế còn hơn là bị tra tấn bởi cảm giác tội lỗi, ôm rơm nặng bụng mà, rồi cứ phải bồn chồn không yên. Tôi thấy được cô em khá thông minh. Và đấy cũng là một chiếc vòng tay rất đẹp. Nhìn nó vừa xinh khi đeo lên tay em. “

“Chị có nghĩ rằng việc quên mất tên mình có thể liên quan đến một căn bệnh nghiêm trọng hơn không ạ? Đã có ca nào giống như thế này chưa?” Mizuki hỏi.

Chị Sakaki nói, “Tôi không tin là có bất cứ căn bệnh nào lại có triệu chứng biểu hiện sớm như vậy. Tôi thấy khá lo, mặc dù các triệu chứng đã trở nên tệ hơn trong năm qua. Tôi đồ rằng cái này có thể dẫn đến các triệu chứng khác, hoặc chứng mất trí nhớ của cô em có thể lây lan sang các khu vực khác. Vì vậy hãy cùng chia sẻ từng bước từng bước một và xác định điểm bắt đầu. Tôi có thể tưởng tượng được từ khi em làm việc bên ngoài nhà, chứng quên tên của cô em hẳn phải lôi theo cả tá vấn đề khác. “

Chị Sakaki bắt đầu bằng cách hỏi một vài câu cơ bản về cuộc sống hiện tại của Mizuki. Em kết hôn bao lâu rồi? Em đang làm công việc gì? Sức khoẻ của em như thế nào? Chị đặt câu hỏi về thời thơ ấu của cô, về gia đình, việc học hành của cô. Những điều cô thích, cả những thứ cô không ưa. Sở trường, sở đoản. Mizuki cố gắng trả lời mỗi câu hỏi một cách trung thực, nhanh chóng và chính xác nhất có thể.

Mizuki lớn lên trong một gia đình khá bình thường, cùng cha mẹ và chị gái. Cha cô làm việc cho một công ty bảo hiểm lớn, và mặc dù theo nghĩa nào đó họ không giàu có gì, thì cô cũng không nhớ rằng họ đã làm tổn thương cô vì vấn đề tiền bạc bao giờ. Cha cô là một người nghiêm túc, trong khi mẹ cô vừa có chút kỹ tính và hay càm ràm. Chị gái cô thường đứng đầu lớp học, mặc dù theo Mizuki chị ấy là một cô nàng hời hợt và thích giấu diếm. Tuy vậy Mizuki chẳng có bất cứ vấn đề gì với gia đình mình và vẫn sống chung bình thường với họ. Cả nhà hầu như chưa hề tranh cãi to tiếng bao giờ. Bản thân Mizuki đã từng là một đứa con nít chẳng có gì nổi bật. Cô luôn khỏe mạnh, chả mấy khi ốm, nhưng điều đó cũng không nói lên rằng cô là một đứa bé chơi cừ thể thao – làm gì có. Cô cũng không mấy ủ dột về vẻ ngoài của mình, dù chưa có bất cứ ai khen cô thật là xinh hay từa tựa thế. Mizuki thấy mình khá thông minh, nhưng không nổi trội trong bất cứ lãnh vực nào. Thứ hạng của cô ổn – nếu đang tìm kiếm tên cô trong danh sách lớp, sẽ nhanh hơn nếu đếm từ đầu danh sách xếp hạng từ dưới lên. Cô cũng từng có một vài bạn tốt ở trường, nhưng tất cả họ đã chuyển đến những nơi khác sau khi kết hôn và bây giờ ít giữ liên lạc với nhau.

Cô không có bất kỳ phàn nàn đặc biệt nào về cuộc sống hôn nhân. Lúc đầu, cô và chồng cũng mắc phải những lỗi lầm thường có, có thể đoán trước được của những người trẻ mới cưới, nhưng theo thời gian họ cùng tự điều chỉnh với nhau để có được một cuộc sống tươm tất hơn. Chồng cô chẳng hoàn hảo ở bất kỳ phương diện nào (trừ tính thích tranh luận của anh ta, chứ gu thời trang của lão dường như không hề tồn tại), nhưng anh cũng có nhiều điểm tốt – anh tử tế, có trách nhiệm, sạch sẽ, không kén ăn và chẳng càm ràm. Anh hầu như hòa đồng với mọi người trong công việc, cả đồng nghiệp và ông chủ của mình. Tất nhiên đã có những lúc phát sinh khó chịu trong công việc, một kết quả không thể tránh được của chuyện hợp tác gần gũi với nhiều người mỗi ngày, nhưng anh vẫn không có vẻ quá căng thẳng vì nó.

Khi trả lời hết những câu hỏi này, Mizuki bị đánh thức bởi một cuộc sống thiếu hứng thú mà cô đã lèo lái. Chẳng có chút kịch tính nào sờ nổi vào cô. Nếu cuộc đời của cô là một bộ phim, ấy hẳn sẽ là một trong những bộ phim tài liệu về môi trường có ngân sách thấp đảm bảo ru khán giả ngủ lăn quay cu đơ ráo trọi. Cảnh quan trắng sáng kéo dài đến vô tận. Không có chuyển cảnh, không có cận cảnh, không có gì thú vị, chỉ là một kinh nghiệm bằng phẳng không hơn để thu hút người khác. Chẳng có gì đáng ngại, chẳng có gì được gợi lên. Thỉnh thoảng góc quay của máy sẽ biến chuyển từng chút một như thể lướt ra khỏi sự an phận của nó. Mizuki biết rằng công việc của một tư vấn viên là phải lắng nghe khách hàng của mình, nhưng cô bắt đầu cảm thấy tiếc cho người đàn bà đang phải nghe những câu chuyện về cuộc sống tẻ nhạt như vậy. Chắc chắn chị ta không thể ngăn nổi một cái ngáp dài vô tận. Nếu đó mà là mình và mình cứ phải nghe những câu chuyện dài lê thê về cuộc sống mòn như thế, Mizuki tự nghĩ, đến một lúc nào đó chắc mình sẽ ngã gục vì buồn chán mất.

Thế mà, Tetsuko Sakaki lại lắng nghe Mizuki một cách chăm chú, còn viết một vài ghi chép ngắn gọn nữa. Thỉnh thoảng chị hỏi một câu hỏi nhanh, nhưng phần lớn là chị im lặng, như thể tập trung hoàn toàn vào quá trình lắng nghe câu chuyện của Mizuki. Vài lần chị cất giọng nói, trong giọng của chị không hề gợi lên nỗi chán nản, thay vào đó là một sự ấm áp thể hiện mối quan tâm thực sự của chị. Lắng nghe giọng nói đặc biệt của Tetsuko, Mizuki thấy mình bình tĩnh hơn. Chưa bao giờ có ai chịu kiên nhẫn lắng nghe với mình trước đó cả, cô nhận ra. Khi cuộc nói chuyện của họ kết thúc hơn một tiếng sau, Mizuki cảm giác như trút được cả gánh nặng ra khỏi lồng ngực.

“Cô Ando, ​​cô có thể đến đây vào giờ này thứ Tư tuần tới không? ” Chị Sakaki hỏi, với nụ cười tươi.

“Dạ, được chứ chị” Mizuki đáp. “Chị không thấy phiền nếu em đến chứ ạ?”

“Dĩ nhiên là không rồi. Miễn là cô em cảm thấy ổn với nó. Tư vấn mất rất nhiều đợt trước khi em có thể nhìn ra bất kỳ sự tiến bộ nào. Đây không giống như một chương trình gọi điện thoại vô tuyến mà em có thể dễ dàng kết nối mọi thứ, và chỉ cần thông báo cho người gọi đến “Cứ ở yên đó nhé!” Có thể mất thời gian, nhưng chúng mình cũng giống hội chị em bạn dì hàng xóm thôi mà, cả hai lại đều ở Shinagawa, vậy thì hãy dùng thời gian của mình để cùng làm nên chuyện nào.”

3

“Tôi tự thắc mắc là, liệu có bất kỳ sự kiện nào có thể gợi nhớ lại có liên quan đến tên của em không?” Chị Sakaki hỏi trong buổi tư vấn thứ hai. “Tên em này, tên của ai đó, tên đám thú cưng, hay tên của một địa danh em đã ghé thăm, hoặc không thì cũng là nick name? Bất cứ điều gì làm được với một cái tên. Nếu em có bất cứ ký ức nào liên quan đến một cái tên, tôi muốn em kể cho tôi nghe về nó. “

“Những thứ đã làm với cái tên ấy ạ?”

“Tên này, cách đặt tên, chữ ký, tên điểm danh… Nó có thể là một thứ rất bình thường, miễn là nó có liên quan đến cái tên. Ráng nhớ thử xem. “

Mizuki nghĩ về chuyện đó trong một lúc lâu.

“Em không nghĩ là mình có bất cứ ký ức đặc biệt nào về một cái tên,” cô nói. “Ít nhất là không có cái gì đang gợi lên trong em ngay bây giờ. A… Nhưng em có mang máng nhớ về một cái thẻ tên.”

“Một cái thẻ tên. Hay lắm.”

“Nhưng đó không phải là thẻ tên của em,” Mizuki nói. “Của ai đó khác cơ chị ạ.”

“Không thành vấn đề. Cứ nói cho tôi biết về nó, ” chị Sakaki nói.

“Như em đã đề cập hồi tuần trước, em từng đi học ở trường nữ sinh tư nhân cho cả cấp hai và cấp ba”, Mizuki bắt đầu. “Em đến từ Nagoya còn trường học ở tít tận Yokohama nên em sống trong ký túc xá trường và về nhà vào mỗi cuối tuần. Em thường đi tàu hỏa Shinkansen về nhà vào mỗi tối thứ Sáu rồi trở lại vào đêm Chủ Nhật. Chỉ hai giờ đồng hồ là đến Nagoya, thành thử em cũng không cảm thấy cô đơn lắm. “

Chị Sakaki gật đầu. “Nhưng Nagoya không có nhiều trường nữ sinh tư nhân à? Sao em phải ra khỏi nhà và đi đến tận Yokohama? “

“Mẹ em tốt nghiệp ở trường đó và muốn một trong hai đứa con gái cũng vậy. Với lại em nghĩ sẽ tốt hơn nếu không sống cạnh bố mẹ mình. Trường ấy là một trường truyền giáo nhưng lại khá tự do. Em đã có những đứa bạn rất tốt ở đó. Bọn nó đều giống như em, đến từ những nơi khác nhau, với những bà mẹ đã tốt nghiệp từ trường này luôn. Em ở đó được sáu năm và cũng thích nó lắm. Có điều thức ăn lại dở ẹc. “

Chị Sakaki mỉm cười. “Em nói em có một chị gái nhỉ?”

“Vâng. Chị ấy lớn hơn em hai tuổi. “

“Thế sao cô ấy không đến trường đó học?”

“Chị ấy là một cô nàng thích ru rú ở nhà chính hiệu. Mà từ bé chị ấy cũng hay đau ốm vặt liên miên nữa. Vậy nên chị ấy đi học ở một trường làng và sống ở nhà luôn. Thành ra mẹ em muốn em vào trường ấy. Em luôn khỏe mạnh và độc lập hơn chị mình. Hồi em mới tốt nghiệp tiểu học xong, họ hỏi em có muốn đi học ở Yokohama không, em nói “Chơi luôn”. Ý tưởng leo lên tàu Shinkansen về nhà vào mỗi cuối tuần cũng là một điều thú vị. “

“Xin lỗi vì đã làm gián đoạn,” Chị Sakaki nói, mỉm cười. “Em nói tiếp đi.”

“Hầu hết mọi người đều có một đứa bạn cùng phòng trong ký túc xá, nhưng khi chị trở thành đàn chị, chị sẽ được cấp cho một phòng riêng. Em đã sống trong một trong những phòng riêng đó cho đến khi mọi chuyện xảy ra. Từ khi em còn là học sinh năm cuối, mọi người đã bầu cho em trở thành đại diện ký túc xá. Có một cái bảng ở lối vào ký túc với những thẻ tên treo trên đó cho mỗi đứa học sinh. Mặt trước thẻ tên ghi tên chị là màu đen, mặt sau là màu đỏ. Bất cứ khi nào chị đi ra ngoài, chị phải lật thẻ tên, và quay ngược lại khi đã về. Nghĩa là, tên ai có màu đen thì đứa đó còn đang ở trong ký túc xá; Còn nếu nó đỏ thì nghĩa là bạn đó đã ra ngoài. Nếu chị qua đêm ở đâu đó hoặc xin nghỉ phép một thời gian, thẻ tên của chị sẽ được tháo khỏi bảng. Học sinh thay phiên trực tại bàn làm việc và khi chị nhận được điện thoại từ một trong những học sinh, chị có thể dễ dàng thông báo tình hình của họ chỉ qua một cái liếc nhìn. Đó là một hệ thống rất tiện lợi. “

Chị Sakaki lại đưa ra lời khuyến khích để cô tiếp tục.

“Thế nhưng, chuyện xảy ra vào tháng Mười. Lúc đó là trước giờ ăn tối và em đang ngồi trong phòng mình để làm bài tập về nhà, khi ấy có một bạn học tên là Yuko Matsunaka đến gặp em. Bạn ấy là cô nàng xinh đẹp nhất trong cả ký túc xá này – làn da mướt rượt, mái tóc suôn dài, đẹp toàn diện, giống như búp bê ấy. Bố mẹ bạn ấy chèo chống một quán trọ kiểu Nhật nổi tiếng ở Kanazawa và khá vất vả. Vì bạn ấy không học cùng lớp em nên em cũng không chắc lắm, nhưng em nghe nói điểm của bạn ấy rất cao. Nói cách khác là, bạn ấy nổi bật theo nhiều phương diện. Thực tế có rất nhiều đàn em lớp dưới xin trồng cây si bạn ấy. Nhưng Yuko rất dễ gần và chẳng hề vênh váo tí nào. Bạn ấy là một cô gái an tĩnh, không phô bày nhiều cảm xúc của mình. Một cô gái rất đáng yêu, nhưng đôi khi em không thể hiểu được bạn ấy nghĩ gì. Các bạn gái khác có thể rất ngưỡng mộ bạn ấy nhưng em đồ rằng bạn ấy chỉ có vài người bạn thân mà thôi.”

4

Mizuki đang ngồi bên bàn học, nghe đài radio trong phòng mình khi nghe thấy tiếng gõ cửa khe khẽ. Cô mở cửa ra, và nhìn thấy Yuko Matsunaka đứng đó, mặc một chiếc áo len ôm sát cao cổ với quần bò. Mình muốn nói chuyện với cậu, Yuko nói, nếu như cậu có thời gian. “Được mà,” Mizuki nói, thẳng thắn đến mức làm người ta phải ngạc nhiên. Mizuki chưa bao giờ trò chuyện riêng chỉ hai người với Yuko, và cô cũng không bao giờ tưởng tượng được Yuko sẽ đến phòng cô để hỏi ý kiến của cô về bất cứ điều gì về cá nhân. Mizuki ra hiệu cho cô ngồi xuống, và pha một ít trà với nước sôi trong ấm giữ nhiệt của mình.

“Mizuki này, cậu có bao giờ cảm thấy ghen không?” Yuko bất ngờ lên tiếng.

Mizuki bị ngạc nhiên với câu hỏi đột ngột này, nhưng cô cũng nghiêm túc suy nghĩ.

“Không, mình nghĩ là mình chưa bao giờ ghen cả” cô trả lời.

“Chưa một lần nào luôn?”

Mizuki lắc đầu. “Ít nhất là khi cậu hỏi mình một cách đường đột như thế, nhưng mà mình không nhớ đã có lần bất kỳ nào. Ghen ấy hử… Nhưng mà ý cậu là gì? “

“Giống như khi cậu yêu ai đó nhưng người ấy lại yêu người khác. Giống như có thứ gì cậu thèm muốn lắm lắm nhưng lại có người có được nó. Hoặc có điều gì đó cậu muốn làm được, và ai đó khác có thể làm nó mà không cần nỗ lực chút gì… Kiểu kiểu vậy”.

“Mình không nhớ là mình đã từng cảm thấy như thế”, Mizuki nói. “Cậu thì sao?”

“Nhiều lắm.”

Mizuki không biết phải nói gì. Một cô gái như thế này còn mong muốn gì hơn trong cuộc sống? Cô xinh đẹp, con nhà giàu, học thì giỏi và nổi tiếng ở trường. Bố mẹ lại thương yêu cưng chiều cô như trứng mỏng. Mizuki có nghe loáng thoáng rằng hồi cuối tuần cô ấy đã đi chơi với một sinh viên đại học bảnh trai. Vậy cô ta còn muốn cái giống gì trên quả đất này nữa chứ?

“Giống như cái gì, cậu ví dụ thử xem?” Mizuki hỏi.

“Mình không muốn nói,” Yuko nói, lựa lời cẩn thận. “Với lại, có liệt kê hết từng chi tiết ra đây cũng vô ích thôi. Mình muốn hỏi cậu lâu lắm rồi – đã bao giờ cậu thấy ghen tị chưa. “

“Thật hử?”

“Ừm.”

Mizuki không biết đó là chuyện gì, nhưng quyết tâm trả lời một cách trung thực nhất có thể. “Mình không nghĩ rằng mình đã từng có những trải nghiệm như thế”, cô bắt đầu. “Mình không biết tại sao, và có vẻ hơi lạ nếu cậu bận tâm về nó. Ý mình là, nó không giống như việc có cả tấn tự tin, hoặc có được mọi thứ mình muốn. Trên thực tế có rất nhiều thứ làm mình nên cảm thấy thất vọng, nhưng vì bất cứ lý do nào, nó cũng không khiến mình phải đi ghen tỵ với ai cả. Mình cũng tự thắc mắc vì sao. “

Yuko Matsunaka mỉm cười dịu dàng. “Mình thì không nghĩ rằng ghen có nhiều liên quan đến điều kiện khách quan hay thực tế. Giống như là nếu cậu may mắn thì cậu sẽ không ghen tị, nhưng nếu cuộc sống đã không ban phước cho cậu, thì cậu sẽ ghen tị thôi. Ghen tị không vận hành theo cách đó. Nó giống như một khối u đang bí mật phát triển bên trong chúng ta và ngày càng lớn hơn, vượt quá mọi lý do. Ngay cả khi cậu đã phát hiện ra nó ở đó, cậu vẫn không thể làm gì để ngăn chặn nó. Giống như bảo rằng những người may mắn thì không bị mọc khối u, trong khi những người bất hạnh lại dễ mắc chúng hơn – không đúng, phải không? Đại khái là vậy.”

Mizuki lắng nghe mà không nói gì. Yuko cũng hầu như không có gì để nói cùng lúc.

“Thật khó để giải thích sự ghen tị với ai đó chưa từng cảm nhận nó. Có duy nhất một điều mình biết rõ là rất khó sống với nó. Nó giống như việc phải đeo theo một phiên bản ác quỷ thu nhỏ của mình, ngày này qua ngày khác. Cậu nên biết ơn vì cậu đã không bao giờ cảm thấy thế. “

Yuko ngừng nói và nhìn thẳng vào Mizuki với một nụ cười chớp nhoáng lướt qua trên mặt. Bạn ấy thực sự rất dễ thương, Mizuki nghĩ lần nữa. Quần áo hợp mốt, điện nước đầy đủ. Mình sẽ cảm thấy thế nào nếu trở thành một người giống như bạn ấy – với một vẻ đẹp tuyệt vời khiến người khác phải dừng chân dù ở bất cứ đâu? Mình có thể tự hào về nó? Hay nó chính là gánh nặng?

Mặc dù nghĩ những điều này, nhưng Mizuki vẫn không bao giờ cảm thấy ghen tị với Yuko.

“Mình phải về nhà ngay bây giờ,” Yuko nói, nhìn chằm chằm vào bàn tay đang đặt trước bụng. “Một trong những người thân của mình vừa qua đời và mình phải đi dự tang lễ. Quản lý ký túc xá đã cho phép rồi. Mình sẽ trở lại vào sáng thứ Hai, nhưng trong lúc mình đi, mình đã tự hỏi liệu cậu có thể giữ giùm mình thẻ tên được không?”

Cô lấy thẻ tên của mình cất trong túi và đưa nó cho Mizuki. Mizuki không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

“Mình không phiền gì cả nếu mình giữ nó cho cậu,” Mizuki nói. “Nhưng tại sao cậu lại nhờ mình? Sao cậu không cất nó vào ngăn kéo bàn học? “

Yuko nhìn sâu hơn vào mắt Mizuki, khiến cô không thoải mái.

“Mình chỉ muốn cậu giữ nó cho mình lần này thôi,” Yuko nói. “Có vài thứ làm phiền mình, và mình không muốn giữ nó trong phòng mình.”

“Mình không bận tâm đâu,” Mizuki nói.

“Mình chỉ không muốn có con khỉ nào trốn đi với cái thẻ tên trong lúc mình vắng mặt thôi,” Yuko bảo.

“Mình ngờ rằng có mấy con khỉ nào đó ở đây đấy,” Mizuki láu lỉnh. Câu này không phải để chọc cười như Yuko. Rồi Yuko rời khỏi phòng, để lại đằng sau là chiếc thẻ tên với tách trà chưa chạm đến, và một chỗ trống nơi cô mới vừa ngồi.

5

“Đến thứ Hai, Yuko vẫn chưa về ký túc xá,” Mizuki kể với người tư vấn, chị Sakaki. “Giáo viên chủ nhiệm lớp bạn ấy rất lo lắng, nên thầy đã gọi điện cho bố mẹ bạn. Bạn ấy không hề về nhà. Không có ai trong gia đình bạn ấy qua đời, và chẳng có tang lễ nào cho bạn ấy đến dự. Bạn ấy đã nói dối về mọi chuyện và rồi biến mất. Người ta tìm thấy thi thể bạn ấy ngay tuần sau đó, vào lúc cuối tuần. Em nghe nói về chuyện đó khi em từ nhà lên sau kỳ nghỉ cuối tuần ở Nagoya. Bạn ấy đã tự sát nơi đâu đó trong rừng, cắt cổ tay. Khi người ta tìm thấy thì bạn ấy đã chết, toàn thân đẫm máu. Không ai biết tại sao bạn ấy lại làm vậy. Bạn ấy không hề để lại một di ngôn nào, và cũng không có động cơ gì rõ ràng cả. Bạn cùng phòng của bạn ấy nói trông bạn ấy vẫn giống như mọi khi. Không hề có vẻ bị khó chịu bởi chuyện gì. Yuko đã tự sát mà không nói một lời với bất cứ ai “

“Nhưng không phải cô bạn Matsunaka này đang cố nói gì với em ư?” Chị Sakaki hỏi. “Nên là cô ấy đã đến phòng của em, để lại thẻ tên của cô ấy cho em. Và còn nói về sự ghen tị của cô ấy. “

“Đúng là bạn ấy có nói về sự ghen tị với em. Em đã không làm được gì nhiều vào lúc đó, mặc dù sau đó em mới nhận ra bạn ấy đã muốn nói với ai đó về điều đó trước khi bạn qua đời. “

“Em có nói với ai rằng cô bé ấy đã đến phòng em trước khi tự sát chưa?”

“Không, em chưa bao giờ làm thế.”

“Tại sao không?”

Mizuki nghiêng đầu và đưa ra vài suy nghĩ. “Nếu em kể với mọi người về chuyện đó, chỉ tổ gây ra thêm nhầm lẫn thôi. Không ai hiểu được cả, và nó cũng chẳng tạo ra chuyện tốt đẹp gì. “

“Ý em là ghen tị có thể là lý do cho việc tự tử của cô ấy?”

“Vâng. Nếu em nói với mọi người, họ có thể bắt đầu nghĩ điều gì đó sai về em. Ai trên cõi đời này có thể khiến một cô gái như Yuko ghen tị cơ chứ? Sau đó mọi người sẽ bị rối tung lên, và cực kỳ khó chịu, vì vậy em quyết định tốt nhất là giữ im lặng. Chị có thể tưởng tượng bầu không khí trong ký túc xá toàn là bánh bèo rồi đấy – nếu em tiết lộ bất cứ điều gì, thì cũng giống như đi châm một que diêm trong căn phòng toàn khí gas.”

“Chuyện gì đã xảy ra với cái thẻ tên?”

“Em vẫn giữ nó. Nó nằm trong một cái hộp nhét sau tủ quần áo của em. Cùng với thẻ tên của em luôn”

“Sao em vẫn giữ nó bên mình?”

“Mọi thứ đã trở nên om sòm ở trường và em mất luôn cơ hội để trả nó. Em càng chờ đợi lâu hơn thì lại càng trở nên khó khăn hơn để trả lại. Nhưng em cũng không thể tự mình vứt nó đi được. Với lại, em bắt đầu nghĩ rằng có lẽ Yuko muốn em giữ cái thẻ tên đó. Thế nên bạn ấy đã đến phòng em ngay trước khi bạn ấy mất và để nó lại với em. Tại sao bạn ấy lại chọn em, em cũng không biết nữa. “

“Kỳ lạ nhỉ. Em và Yuko vốn cũng không thân thiết gì, nhưng cô bé ấy lại chọn em. “

“Sống trong một ký túc xá nhỏ, tự nhiên bọn em sẽ biết mặt nhau thôi,” Mizuki nói. “Mỗi lần như thế bọn em chỉ trao đổi một vài từ. Nhưng bọn em học ở hai khối khác nhau, và cả hai chưa bao giờ nói về bất cứ chuyện gì riêng tư cả. Có khi bạn ấy đến gặp em vì em là đại diện học sinh trong ký túc xá. Chứ em cũng không thể nghĩ ra lý do nào khác. “

“Có lẽ Yuko quan tâm đến em vì vài lý do khác. Có thể cô ấy bị em thu hút. Mà cũng có thể cô ấy đã nhìn thấy một điều gì đó trong em nên cô ấy bị cuốn về phía em. “

“Em không biết về điều đó,” Mizuki nói.

Chị Sakaki im lặng, nhìn chằm chằm một lúc lâu vào Mizuki như thể cố gắng chắc chắn về điều gì đó.

“Bỏ hết những chuyện đó sang một bên, cô em thực sự đã bao giờ cảm thấy ghen tị chưa? Chưa một lần trong đời em?”

Mizuki không vội đáp lại ngay. “Em không thấy thế. Thậm chí chưa một lần nào. “

“Có nghĩa là em không hiểu được ghen tị là gì?”

“Nhìn chung ,em nghĩ rằng em có thể hiểu – ít nhất là căn nguyên có thể gây ra nó. Nhưng em không biết ghen tị thực sự sẽ cảm thấy thế nào. Làm thế nào áp đảo được nó, khi nào nó trôi qua, mình phải dằn vặt vì nó bao lâu. “

“Em nói đúng,” chị Sakaki nói. “Sự ghen tị đi qua nhiều giai đoạn. Tất cả cảm xúc của con người đều là thế. Khi nó không nghiêm trọng, mọi người gọi nó là sự giày vò hay cơn tị nạnh. Có sự khác biệt trong cường độ, nhưng hầu hết mọi người cảm thấy những cảm xúc ít căng thẳng hơn như là một vấn đề đương nhiên phải thế. Giống như việc một trong những đồng nghiệp của em được thăng tiến trước em, hoặc một học trò trong lớp em trở thành cục cưng của cô giáo. Hay là một lão hàng xóm trúng Vietlott chẳng hạn. Đó chỉ là sự ghen tị. Dường như không công bằng, và em ba máu sáu cơn lên. Một phản ứng hoàn toàn tự nhiên. Em có chắc là em chưa bao giờ cảm thấy điều đó chứ? Em thậm chí không bao giờ ghen tị với người khác? “

Mizuki đưa ra vài suy nghĩ. “Em không nghĩ là em có. Tất nhiên có rất nhiều người may mắn hơn em. Nhưng điều đó không đồng nghĩa là em phải đi ghen tị với họ. Em hình dung cuộc sống của mọi người đều khác nhau. “

“Vì mọi người khác nhau thì thật khó để so sánh họ với nhau?”

“Em cho là vậy.”

“Một quan điểm rất thú vị …”, chị Sakaki nói, hai tay đan vào nhau đặt lên bàn làm việc, giọng nói thoải mái của chị lộ rõ niềm vui thích. “Dù sao, đó chỉ là những trường hợp nhẹ, ghen tị như chúng ta đã nói. Trong trường hợp cơn ghen dữ dội, mọi thứ không đơn giản như vậy đâu. Với ghen tị như một loại ký sinh trùng có gốc rễ trong tim em, và như cô bạn của em đã nói, nó sẽ trở nên giống một căn bệnh ung thư đục khoét tâm hồn em. Trong một vài trường hợp thậm chí có thể dẫn người ta đến đường chết. Họ không kiểm soát nổi nó, và cuộc sống của người đó thật sự trở thành một địa ngục sống. “

Sau khi Mizuki trở về nhà, cô lấy ra một chiếc hộp bìa cứng cũ được bọc trong băng dính từ sau tủ quần áo của cô. Cô đã đặt chiếc thẻ tên của Yuko vào đó cùng với thẻ của mình bên trong một cái phong bì, vì vậy chúng vẫn còn ở đó. Tất cả các sự kiện trong cuộc đời của Mizuki đều được nhồi vào trong những bức thư cũ của trường, nhật ký, album ảnh, sổ liên lạc. Cô từng có ý định vứt chúng đi, nhưng lại luôn bận tối mặt, vì vậy cô vẫn kéo chúng theo mỗi khi chuyển nhà. Nhưng không có chiếc phong bì nào cả. Cô bèn vứt bớt đồ trong hộp đi và xếp lại kỹ càng, nhưng vẫn không tìm thấy. Cô đâm bối rối quá. Khi cô dọn đến căn hộ này, cô đã kiểm tra nhanh qua các món đồ trong hộp và nhớ rõ ràng là mình có thấy chiếc phong bì. Thế là mình vẫn có, cô nghĩ tiếp, ấn tượng với nó chứ. Cô đã đóng dấu tên vào trong chiếc phong bì và không hề mở hộp ra một lần nào kể từ ngày đó. Vì vậy, phong bì phải ở đây chứ. Nó có thể biến đi đằng quái nào được?

6

Kể từ lúc cô đến phòng tư vấn của phường mỗi tuần một lần, và trò chuyện với chị Sakaki, Mizuki không còn lo nghĩ nhiều về việc quên tên mình nữa. Cô vẫn quên nhiều như trước, nhưng các triệu chứng dường như đã ổn định, và không có gì khác bốc hơi khỏi bộ nhớ của cô. Nhờ chiếc vòng đeo tay, cô cũng tránh được sự bối rối. Thi thoảng cô thậm chí còn bắt đầu cảm thấy việc quên tên mình chỉ là một phần của cuộc sống.

Mizuki giữ bí mật về các buổi tư vấn với chồng mình. Cô không có ý định giấu diếm với anh ta, nhưng giải thích hết mọi chuyện có khi còn lôi thôi hơn là đáng để kể. Cô hiểu tính chồng mình, chồng cô sẽ yêu cầu cô giải thích mọi chi tiết. Và ngoài ra, việc tự dưng quên mất tên mình rồi còn đi gặp tư vấn tâm lý mỗi tuần một lần thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến anh ta cả. Mà lệ phí lại còn thấp ở mức tối thiểu nữa chứ.

Hai tháng trôi qua. Mỗi thứ Tư hàng tuần Mizuki đều đến văn phòng trên tầng ba của văn phòng phường để được tư vấn. Số lượng khách giờ đã tăng lên một chút, vì vậy người ta phải giảm thời lượng một tiếng xuống còn 30 phút. Tuy nhiên, thời gian giảm bớt cũng không quan trọng gì, vì họ đã có cùng tần số và tận dụng tốt thời gian của mình với nhau. Đôi khi Mizuki muốn cả hai có thể nói chuyện lâu hơn, nhưng với mức phí thấp đến vô lý ấy, cô còn thể phàn nàn gì được.

“Đây là buổi tư vấn thứ chín của chúng ta với nhau,” chị Sakaki nói, năm phút trước khi kết thúc buổi trò chuyện. “Em không đỡ quên tên của em, nhưng nó cũng không trở nên tệ hơn, phải không?”

“Không ạ, không có,” Mizuki nói. “Các triệu chứng khá ổn định.”

“Tuyệt lắm” chị Sakaki nói. Chị đút lại cây bút bi đen vào túi và đặt hai nắm tay lên bàn. Chị thoáng ngưng lại một chốc. “Có lẽ-có lẽ thôi nhé-khi em đến đây vào tuần tới, chúng mình có thể đạt được những bước tiến lớn hơn về vấn đề mình đang thảo luận.”

“Ý chị là việc em quên tên mình?”

“Chính xác. Nếu mọi thứ trở nên tốt hơn, chúng ta sẽ có thể xác định được nguyên nhân chủ yếu và thậm chí em có thể nhìn nhận nó. “

“Về lý do sao em quên tên mình ấy ạ?”

“Phải.”

Mizuki không thể nắm bắt được những gì cô đang nghe. “Khi chị nói là một nguyên nhân rõ ràng… Ý chị là nó có thể nhìn thấy được?”

“Dĩ nhiên là nó có thể nhìn thấy rồi,” chị Sakaki nói, xoa xoa hai tay vào nhau với sự hài lòng. “Một thứ gì đó chúng ta có thể đặt lên đĩa và nói, “Của cưng đây”! Tôi không thể đi sâu vào chi tiết cho đến tuần tới. Ở thời điểm này, tôi vẫn không chắc chắn liệu nó có thể lộ ra hay không. Tôi chỉ hy vọng là có. Và nếu có thật thì cũng đừng lo lắng; Tôi sẽ giải thích toàn bộ chuyện này cho cô em. “

Mizuki gật đầu.

“Dù sao đi nữa, những gì tôi đang cố nói là chúng mình đã lên bờ xuống ruộng với ca này nhưng rốt cuộc mọi thứ cũng đang hướng về một lời giải đáp. Em nghe các cụ nói chưa – “Lùi một bước tiến ba bước”? Thế nên đừng có lo gì cả. Chỉ cần tin vào chị đại thành tinh Sasaki này thôi. Tôi sẽ gặp em vào tuần tới nhé. Và đừng có quên lên lịch hẹn trên đường về. “

Chị Sasaki kết chuyện bằng một cái nháy mắt.

7

Một giờ chiều tuần kế tiếp khi Mizuki bước vào phòng tư vấn, chị Sakaki đã ngồi sẵn sau bàn làm việc của mình với nụ cười rạng rỡ nhất Mizuki từng thấy.

“Tôi đã khám phá ra lý do tại sao em lại quên tên mình,” chị tự hào tuyên bố. “Và chúng tôi đã tìm ra lời giải.”

“Vậy là em sẽ không quên tên mình nữa ạ?” Mizuki hỏi.

“Chính xác. Em sẽ không còn quên tên của em nữa. Chúng tôi đã giải quyết được vấn đề và “săn sóc” nó. “

“Vậy cái khỉ gì trên đời này là nguyên do dẫn đến chuyện ấy cơ?” Mizuki hỏi một cách đầy nghi ngờ.

Chị Sasaki lấy ra một thứ gì đó từ chiếc túi xách tráng men đen để bên cạnh và đặt vật đó lên bàn.

“Tôi tin rằng cái này là của em.”

Mizuki nhổm dậy từ ghế sofa và đi đến chỗ bàn làm việc. Trên bàn là hai chiếc thẻ tên. “Mizuki Ozawa” được viết trên một mặt, và “Yuko Matsunaka” ở mặt còn lại. Mặt Mizuki tái mét. Cô quay lại ghế sofa và ngồi thụp xuống, không nói nổi nên lời suốt một lúc lâu. Cô bịt chặt tay lên miệng mình như cố cản mọi lời nói muốn thoát ra.

“Không ngạc nhiên khi thấy em kinh ngạc,” chị Sakaki nói. “Nhưng em đừng lo, tôi sẽ giải thích hết mọi thứ. Thả lỏng đi nào. Không có gì phải sợ hãi cả. “

“Nhưng làm sao mà… ?” Mizuki ấp úng.

“Làm sao mà tôi lại có được thẻ tên ở trường trung học của em phải không?”

“Vâng. Em chỉ không … “

“Không hiểu là ra mô tê gì?”

Mizuki gật gật đầu.

“Tôi đã phục hồi chúng cho em,” chị Sakaki nói. “Những thẻ tên đó đã bị đánh cắp từ chỗ em và đó là lý do khiến em gặp khó khăn khi nhớ tên em. Vậy nên chúng tôi đã lấy lại thẻ tên để em nhớ lại được tên của mình.”

“Nhưng kẻ nào đã… ?”

“Kẻ nào đã đột nhập vào nhà của em và ăn cắp hai thẻ tên này chứ gì? Và với mục đích gì phải không? ” Chị Sakaki nói. “Thay vì để tôi trả lời, tôi nghĩ rằng tốt nhất là em nên yêu cầu đương sự trực tiếp chịu trách nhiệm”.

“Người làm ra những chuyện này đang ở đây ư?” Mizuki hỏi với vẻ ngạc nhiên.

“Tất nhiên rồi. Chúng tôi đã bắt được “nó” và lấy lại các thẻ tên. Tôi không có tự mình bắt “nó” đâu, em đừng có tưởng tượng lung tung nữa. Ông xã tôi và một trong những đàn em của ông ấy mới làm chuyện đó. Có nhớ là tôi có nói với em rằng ông xã tôi là trưởng phòng của Vụ Công trình Shinagawa không? “

Mizuki gật đầu không suy nghĩ.

“Nên em sẽ nói gì khi chúng ta đi gặp thủ phạm? Sau đó hãy trình bày suy nghĩ của mình với nó khi cả hai đối diện nhau.”

Mizuki đi theo chị Sakaki ra khỏi văn phòng tư vấn, xuống hành lang, và vào thang máy. Họ đến một tầng hầm, lại đi xuống một hành lang dài vắng vẻ, lộ ra một cánh cửa nơi cuối đường. Chị Sakaki gõ cửa, một giọng đàn ông lên tiếng mời họ vào, và chị mở cửa.

Trong phòng là một người đàn ông cao dong dỏng, khá gầy, tuổi trạc ngũ tuần, và một cậu thanh niên khác đô con hơn cỡ chừng đầu hai đít chơi vơi, cả hai đều mặc đồng phục chất vải kaki phản quang. Người đàn ông lớn tuổi đeo một thẻ tên trên ngực có dòng chữ “Sakaki,” còn cậu chàng nhỏ tuổi hơn thì đeo dòng chữ “Sakurada “. Trong tay Sakurada cầm một cây dùi cui đen xì dùng để tuần đêm.

“Tôi đoán cô là cô Mizuki Ando phải chứ?” Anh Sakaki hỏi. “Tôi tên là Yoshio Sasaki, chồng của Tetsuko. Tôi là trưởng phòng Cục Công trình công cộng ở đây. Còn đây là chú Sakurada, đồng nghiệp của tôi.”

“Rất vui được gặp anh,” Mizuki nói.

“Nó có gây rắc rối gì cho các anh không?” Chị Sakaki hỏi chồng.

“Không, anh nghĩ là nó khá biết thân biết phận đấy,” anh Sakaki nói. “Chú Sakurada này đã để mắt tới nó suốt cả ngày, và có vẻ nó rất biết điều.”

“Nó câm như hến ấy”, Sakurada nói, nghe giọng ỉu xìu. “Nếu nó dám càn rỡ thì em đã tẩn cho nó một bài học nhớ đời, nhưng không có chuyện gì kiểu kiểu vậy xảy ra.”

“Sakurada là đội trưởng của đội karate ở Đại học Meiji, và là một trong những chàng trai trẻ triển vọng của bọn anh”, anh Sakaki nói.

“Thế thì… Đây là kẻ đã đột nhập vào nhà em và chôm chỉa mất mấy cái thẻ tên ư?” Mizuki băn khoăn.

“Đúng vậy cô em ạ. Sao chúng ta không giới thiệu cô em với nó nhỉ?” Chị Sakaki nói.

Có một cánh cửa ở phía sau căn phòng. Anh Sakurada mở cửa, bật đèn. Anh quét mắt nhanh khắp lượt cả căn phòng rồi quay sang bảo những người khác. “Có vẻ OK đấy. Đi vào trong thôi.”

Anh Sakaki đi vào đầu tiên, tiếp theo là vợ anh, cùng Mizuki bước theo phía sau.

Phòng này giống như một dạng nhà kho. Không có đồ đạc gì, chỉ có một cái ghế và một con khỉ đang ngồi lên. Nom nó lớn hơn khỉ thường nhưng lại khá thấp bé so với con người trưởng thanh, chỉ lớn hơn học sinh tiểu học một tí thôi. Lông nó dài hơn mức bình thường so với một con khỉ và rải màu muối tiêu. Thật khó để đoán tuổi của nó, nhưng chắc chắn nó không còn nhỏ nữa. Tay và chân của con khỉ bị buộc chặt bằng một sợi dây mỏng vào chiếc ghế gỗ, cái đuôi dài của nó buông thõng xuống sàn nhà. Khi Mizuki bước vào, con khỉ ném một ánh mắt rất nhanh về phía cô, sau đó nó nhìn chằm chằm xuống dưới mặt đất.

“Một con khỉ?” Mizuki kinh ngạc hỏi.

“Đúng thế cô em ạ” chị Sakaki trả lời. “Một con khỉ đánh cắp mấy cái thẻ tên trong căn hộ em ở.”

Mình không muốn có con khỉ nào tẩu thoát cùng với thẻ tên của mình đâu, Yuko đã nói như thế. Hóa ra nó không phải là một câu đùa, giờ Mizuki mới vỡ lẽ. Yuko đã biết tất cả về điều này. Một cơn ớn lạnh trào lên cột sống của Mizuki.

“Nhưng làm sao chị có thể?…”

“Làm sao tôi có thể biết về điều này chứ gì?” Chị Sakaki nói. “Như tôi đã nói với em khi chúng ta gặp nhau lần đầu, tôi là một chuyên gia. Một người hành nghề được cấp phép, với nhiều năm kinh nghiệm. Đừng trông mặt mà bắt hình dong chứ. Em đừng cho rằng một con mụ cung cấp dịch vụ tư vấn rẻ tiền ở văn phòng phường thì sẽ có kỹ năng hạn hẹp hơn mấy ông bà ngồi trong các tòa nhà xa xỉ bật điều hòa phà phà cả ngày. “

“Tất nhiên là không rồi. Chỉ là em rất rất ngạc nhiên, và em… “

“Đừng quắn quéo lên thế. Tôi chỉ đùa thôi! “Chị Sakaki cười. “Nói thật, tôi biết mình là một người cổ quái. Thành thử tôi không làm việc lâu được ở những tổ chức và các viện nghiên cứu. Tôi thích làm theo cách riêng của mình ở một nơi như thế này. Vì như em đã quan sát được đấy, cách làm việc của tôi hơi bị độc. “

“Nhưng rất hiệu quả”, ông chồng chị bổ sung.

“Vậy là con khỉ đã đánh cắp cái thẻ tên ạ?” Mizuki hỏi.

“Phải, nó đã lẻn vào căn hộ em ở và xu mấy cái thẻ tên từ tủ quần áo của em. Ngay khoảng thời gian em bắt đầu quên tên mình, khoảng một năm trước, tin được không? “

“Vâng, chính là khoảng thời gian đó.”

“Nhà cháu rất xin lỗi,” con khỉ cất giọng nói, đây là lần đầu tiên nó lên tiếng, giọng của khỉ thấp nhưng rất sinh động, gần với nhạc tính cao.

“Nó có thể nói được này!” Mizuki kêu lên, mặt đần thối ra.

“Vâng, nhà cháu nói được ạ,” con khỉ trả lời, vẻ mặt của nó không biến hóa gì. “Có một điều khác nhà cháu phải xin lỗi cô. Khi nhà cháu đột nhập vào chỗ của cô để lấy cắp thẻ tên, nhà cháu đã tự tiện vặt lấy mấy quả chuối. Nhà cháu đã không có ý định lấy bất cứ thứ gì ngoài thẻ tên, nhưng nhà cháu đói sôi lên và mặc dù biết là không nên, rốt cuộc nhà cháu vẫn ăn mất hai quả chuối để trên bàn. Bọn chuối nom ngon đến không thể hoãn cái sự sung sướng lại ạ, khẹc khẹc!”

“Con khỉ hâm dở này,” Cậu Sakurada nói, đập đập cái dùi cui trong tay. “Ai biết được mày còn muốn cái gì nữa chứ? Mày có thích tao nướng mày lên để khảo không hả? “

“Nhẹ nhàng thôi nào,” anh Sakaki nói với cậu ta. “Nó đã thú nhận về cả chuyện mấy quả chuối, mà bên cạnh đó, nó cũng có chống trả tôi như loại trẻ trâu trẻ khỉ gì đâu. Ta không nên làm điều gì dữ dằn quá cho đến khi nghe được thêm nhiều chuyện. Nếu người ta phát hiện ra chúng ta ngược đãi một con vật trong văn phòng phường, chúng ta có thể gặp rắc rối to đấy. “

“Sao khỉ lại lấy cắp thẻ tên của tôi?” Mizuki hỏi con khỉ.

“Nhà cháu phải làm thế. Nhà cháu là một con khỉ phải lấy tên người khác, “con khỉ trả lời. “Đó là loại bệnh mà nhà cháu phải chịu đựng. Một khi nhà cháu nhìn thấy một cái tên nào thì nhà cháu không thể ngăn lại bản thân mình. Không phải bất cứ cái tên nào nhà cháu cũng lấy đâu ạ. Nhà cháu sẽ đi tìm một cái tên thu hút cháu nhất, một cái tên thực đặc biệt, nhà cháu phải có được nó. Nhà cháu lẻn vào nhà người ta và ăn trộm những cái tên đó. Nhà cháu biết thế là sai, nhưng nhà cháu không kiểm soát bản thân được. “

“Có phải khỉ là kẻ đã cố đột nhập vào ký túc xá của bọn tôi và ăn trộm thẻ tên của Yuko không?”

“Vâng ạ. Nhà cháu trót yêu nàng Matsunaka điên lên được. Nhà cháu chưa bao giờ bị ai đó thu hút trong cuộc đời khỉ này. Nhưng nhà cháu làm sao biến nàng ấy thành của mình được. Nhà cháu thấy nó quá nhiều vấn đề phải xử lý, với tư cách một con khỉ, vì vậy nhà cháu quyết định rằng dân chơi không sợ mưa rơi, ít nhất nhà cháu phải có được tên nàng cho riêng mình. Nếu nhà cháu có thể sở hữu tên của nàng thì sẽ mãn nguyện lắm. Là một con khỉ mình có thể đòi hỏi gì thêm nữa? Nhưng trước khi nhà cháu có thể thực hiện kế hoạch của mình, thì nàng đã mất rồi. “

“Khỉ có liên quan gì đến việc tự tử của bạn ấy không?”

“Không, không hề,” con khỉ nói, lắc đầu một cách dứt khoát. “Nhà cháu không làm gì dính đến chuyện đó. Nàng bị choáng ngợp bởi bóng tối bên trong nội tại, và không ai có thể cứu rỗi nàng.”

“Nhưng sau bao nhiêu năm khỉ lại biết rằng thẻ tên của Yuko đang ở chỗ tôi?”

“Phải mất một thời gian dài để theo dõi nó. Chẳng bao lâu sau khi nàng Matsunaka qua đời, nhà cháu đã cố gắng lấy được thẻ tên của nàng, nhưng nó đã biến mất tăm trước khi nhà cháu lấy được. Không ai biết nó ở đâu. Nhà cháu đã cố gắng lục lọi đến từng xó xỉnh một để tìm ra nó, nhưng cho dù có làm gì, nhà cháu cũng không thể định vị được nó. Nhà cháu không nghĩ ra lúc ấy nàng Matsunaka đã để lại thẻ cho cô giữ, vì cô không đặc biệt gần gũi với nàng ấy. “

“Đúng,” Mizuki nói.

“Nhưng một ngày nọ nhà cháu đã có chút linh tính, có lẽ – có lẽ thôi – nàng ấy đã để lại thẻ tên của mình cho cô. Ấy là vào mùa xuân năm ngoái. Phải mất một thời gian dài để theo dõi cô – để tìm ra là cô đã kết hôn, tên của cô bây giờ là Mizuki Ando, ​​rằng cô đang sống trong một căn hộ ở Shinagawa. Là một con khỉ thì điều tra chậm như thế nào, cô có thể tưởng tượng được đấy. Dù sao đi nữa, đó cũng là cách nhà cháu lẻn vào căn hộ của cô để trộm lấy nó. “

“Nhưng tại sao khỉ lại ăn cắp thẻ tên của tôi? Sao không phải chỉ Yuko thôi? Tôi đã phải chịu đựng rất nhiều vì những gì khỉ đã làm. Tôi không thể nhớ nổi cả tên của mình!”

“Nhà cháu thực rất, rất xin lỗi,” con khỉ nói, ngúc ngắc đầu trong nỗi xấu hổ. “Khi nhà cháu nhìn thấy một cái tên nhà cháu thích, nhà cháu sẽ lấy nó. Điều này thật đáng hổ thẹn, nhưng tên của cô thật sự làm cho trái tim cháu có chút rung cảm. Như nhà cháu đã nói, đó là một loại bệnh tật. Nhà cháu đã quá phận vì không thể kiểm soát nổi mình. Nhà cháu biết thế là sai, nhưng vẫn cứ làm. Nhà cháu thật tình xin lỗi sâu sắc về tất cả những vấn đề nhà cháu gây ra cho cô. “

“Con khỉ này trốn trong hầm cống ở Shinagawa,” chị Sakaki nói, “thế nên tôi đã yêu cầu chồng tôi và mấy cậu đệ tử đi vây bắt nó. Thành công tốt đẹp hết sức, vì anh ấy là trưởng bộ phận Công trình Công cộng và họ phụ trách hệ thống cống rãnh. “

Anh Sakaki nói thêm: “Chú em Sakurada đây đã làm hầu hết mọi việc đấy chứ.”

“Đội Công trình công cộng phải nhổm dậy để ý khi thấy một nhân vật đáng ngờ như thế này đang trốn trong cống của chúng ta.”, Sakurada nói giọng đầy tự hào. “Dường như con khỉ này đã có một nơi ẩn náu bên dưới Takanawa – nơi nó sử dụng như một trụ sở cho các hoạt động tìm kiếm trên khắp Tokyo.”

“Không có chỗ cho chúng cháu sống trong thành phố,” con khỉ nói. “Không còn nhiều cây xanh, ít nơi râm mát vào ban ngày. Nếu chúng cháu đi trên mặt đất, mọi người sẽ vây chúng cháu lại và cố bắt lấy bọn cháu. Bọn con nít ném đồ đạc vào người bọn cháu hoặc bắn bọn cháu bằng những cây súng bắn bi. Những con chó to rộ lên xông vào cắn xé bọn cháu. Nếu bọn cháu nghỉ mệt trên cây, các nhân viên ở đài truyền hình sẽ lại ùa đến và chiếu đèn vào bọn cháu. Bọn cháu không bao giờ được nghỉ ngơi dù chỉ giây lát, vì vậy bọn cháu phải ẩn nấp dưới lòng đất. Xin hãy tha thứ cho chúng cháu. “

“Nhưng làm thế nào mà chị biết con khỉ này đã trốn trong ống cống?” Mizuki hỏi chị Sakaki.

“Như chúng mình đã trò chuyện trong vòng hai tháng qua, nhiều điều dần trở nên sáng tỏ với tôi, giống như gạt bỏ được lớp sương mù,” chị Sakaki nói. “Tôi nhận ra hẳn phải có kẻ nào đã trộm mất tên em, và đã có thứ gì đó được cất giấu dưới lòng đất ở quanh đây. Nếu như em đã hỏi về lòng ngầm dưới thành phố này,thì trong giới hạn các khả năng – nơi nó có thể ẩn nấp một là bến tàu điện ngầm, hai là hệ thống ống cống.Vậy nên tôi đã kể với ông xã rằng tôi nghĩ là có một số loài sinh vật nào đó không phải là con người, đang sống trong các ống cống và nhờ ông ấy để mắt đến. Thế cũng vừa hay, họ tìm ra được luôn con khỉ này.”

Mizuki cạn lời trong một lúc lâu. “Nhưng mà… Làm sao để chị nghĩ thế khi chỉ nghe lời kể của em?”

“Có lẽ tôi không nên nói những điều này với tư cách là chồng bà ấy”, anh Sakaki nói với một vẻ mặt nghiêm túc, “nhưng vợ tôi là một người đặc biệt, có năng lực dị thường. Trong suốt hai mươi hai năm chung sống cùng bà ấy, tôi đã chứng kiện nhiều sự kiện lạ xảy ra. Thế nên tôi đã cày cật lực để phụ bà ấy mở trung tâm tư vấn này trong văn phòng phường. Tôi thừa hiểu miễn là bà ấy có được một nơi để vận dụng tốt sức mạnh của mình, thì các cư dân của Shinagawa sẽ được hưởng phúc lợi nhiều nhất. Nhưng mà tôi rất mừng vì chúng ta đã bóc được màn bí mật. Phải thừa nhận là tôi đã thở phào nhẹ nhõm đấy. “

“Các anh tính làm gì với con khỉ?” Mizuki hỏi.

“Không thể để cho nó sống,” Sakurada bất chợt phát biểu. “Cho dù nó có bẻm mép viện ra đủ thứ lý do lý trấu gì với cô, một khi nó đã làm được mấy trò con bò này một lần thì vẫn có thể sẽ giở trò thêm nhiều lần nữa, cô không đếm xuể đâu. Cho nó thăng thiên luôn. Thế là ngon nhất. Rồi phơ cho nó một quả chất khử trùng là gọn gàng như lên sàn.”

“Gượm đã, bây giờ,” anh Sakaki nói. “Cho dù chúng ta có bất cứ lý lẽ gì, nhưng nếu có những nhóm hội bảo vệ động vật phát hiện ra chúng ta đã sát sinh một con khỉ, người ta sẽ làm ầm ĩ to chuyện lên và rồi chú có cày hộc cơm ra cũng không đủ mà đền đâu. Chú có nhớ khi ta khử bớt lũ quạ, mùi hôi thối bốc lên không ai chịu nổi không? Tôi muốn tránh lặp lại chuyện đó. “

“Nhà cháu cầu xin mọi người, xin đừng giết nhà cháu,” con khỉ bị trói gô nài nỉ, cúi đầu càng sâu hơn. “Những gì nhà cháu đã làm là sai. Nhà cháu hiểu được điều đó chứ. Nhà cháu đã gây ra cho con người rất nhiều rắc rối. Nhà cháu không cố gắng để tranh cãi với mọi người, nhưng cũng có những ưu điểm xuất phát từ hành động của nhà cháu mà. “

“Điều gì có thể là ưu điểm trong chuyện đi chôm chỉa tên người khác chứ? Giải thích coi”, anh Sakaki nói gay gắt.

“Nhà cháu đã đi trộm tên của người khác, không nghi ngờ gì về điều đó nữa. Tuy nhiên khi làm chuyện đó, nhà cháu cũng có thể xóa bỏ được vài yếu tố tiêu cực với cái tên ấy. Nhà cháu không có ý khoe khoang, nhưng nếu quay lại lúc ấy mà có thể trộm được tên của Yuko Matsunaka, thì nàng có lẽ đã không tự tước đi mạng sống của chính mình rồi.”

“Tại sao khỉ lại nói thế?” Mizuki hỏi.

“Nếu nhà cháu thành công trong việc trộm mất tên nàng, thì nhà cháu có thể lấy đi được những mảng hắc ám bị ẩn giấu bên trong nàng,” con khỉ nói. “Mang bóng tối của nàng đi xa, cùng với cái tên đẹp đẽ của nàng trở lại thế giới ẩn sâu dưới lòng đất ấy.”

“Nghe tiện nhỉ. Tao không tin đâu” Sakurada nói. “Mạng sống con khỉ này đang ngàn cân treo sợi tóc, nên đương nhiên nó sẽ dùng bất cứ mánh khóe nào để bào chữa cho hành động của nó thôi.”

“Hình như không phải thế đâu” chị Sakaki nói, khoanh tay lại, sau khi đã suy nghĩ về những lời khỉ nói. “Sau rốt nó vẫn có thể có ưu điểm mà.” Chị quay sang con khỉ. “Khi chú mày ăn trộm tên người ta thì chú mày phải lấy đi cả cái tốt lẫn cái xấu phải không?”

“Vâng, đúng vậy,” con khỉ nói. “Nhà cháu không có sự lựa chọn. Nếu trong họ tồn tại những điều xấu ác, thì nhà khỉ cũng phải chấp nhận nó thôi. Nhà khỉ bao trọn gói mọi khởi thủy của cái tên mà. Nhà cháu xin mọi người – đừng giết nhà cháu, nhà cháu là một con khỉ với thứ thói hư tật xấu, nhà cháu biết thế, nhưng nhà cháu vẫn có thể giúp đỡ có ích cho mọi người mà.”

“Ừm, vậy những điều tiêu cực gì đã bị đưa vào tên tôi?” Mizuki hỏi con khỉ.

“Nhà cháu không muốn nói trước mặt cô,” con khỉ nói.

“Xin khỉ hãy cho tôi biết đi” Mizuki khẳng định. “Nếu khỉ nói cho tôi biết, tôi sẽ tha thứ cho khỉ. Và tôi cũng sẽ xin những người có mặt ở đây tha cho khỉ hết.”

“Ý cô là thế nào ạ?”

“Nếu con khỉ này kể cho tôi biết sự thật, anh sẽ tha cho nó chứ?” Mizuki hỏi anh Sakaki. “Bản chất của nó không xấu. Nó đã phải chịu đựng rất nhiều rồi, nên mình hãy nghe nó giải thích rồi có thể đem nó lên núi Takao hay chỗ nào đó thả về cũng được. Nếu anh làm thế, tôi nghĩ là nó sẽ không làm phiền ai nữa đâu. Anh nghĩ sao?”

Anh Sakaki nói: “Tôi không phản đối miễn là cô thấy được”. Anh quay sang hỏi con khỉ. “Sao nào? Chú mày có thề nếu chúng tao thả chú mày ở vùng núi, thì mày sẽ không trở lại Tokyo nữa không? “

“Vâng thưa ngài. Nhà cháu thề nhà cháu sẽ không dám quay trở lại,” con khỉ hứa, với một cái nhìn hiền lành trên khuôn mặt mình. “Nhà cháu sẽ không bao giờ làm phiền mọi người nữa. Không bao giờ lại đi lang thang quanh cống. Nhà cháu không còn nhỏ nữa, vì vậy đây sẽ là cơ hội tốt cho một khởi đầu mới trong cuộc đời.”

“Để bảo đảm, sao ta không ịn dấu lên đít nó để có thể nhận ra nó lần nữa,” Sakurada nói. “Em nhớ chúng ta có một cái que hàn ở đây, có khắc biểu tượng trong con dấu chính thức của phường Shinagawa mà nhỉ.”

“Làm ơn đi mà, anh giai ơi, đừng làm thế!” Con khỉ nài nỉ, mắt ngước lên. “Nếu anh đánh dấu một biểu tượng kỳ lạ trên mông của nhà cháu thì những con khỉ khác sẽ không bao giờ để nhà cháu nhập đàn cùng họ. Nhà cháu sẽ cho mọi người biết tất cả mọi thứ mọi người muốn biết, nhưng xin đừng làm đau nhà cháu! “

“À, chúng ta hãy quên cái que hàn ịn tên ấy đi,” anh Sakaki nói, cố gắng xoa dịu mọi thứ. “Nếu chúng ta sử dụng con dấu chính thức của Shinagawa, chúng ta phải chịu trách nhiệm về nó sau này đấy.”

“Em e rằng bác nói đúng,” Sakurada nói, tràn ngập thất vọng.

“Được rồi, tại sao khỉ không muốn nói cho tôi biết những điều tà ác đã dính vào tên của tôi?” Mizuki nói, nhìn chăm chú vào đôi mắt đỏ nhỏ của con khỉ.

“Nếu nhà cháu nói với cô điều đó, nó có thể làm tổn thương cô.”

“Tôi không quan tâm đâu. Khỉ cứ nói đi. “

Trong một lúc lâu, con khỉ vẫn nghĩ ngợi về điều này, những nếp nhăn hằn sâu lên trán. “Nhà cháu vẫn nghĩ tốt hơn là cô không nghe thấy chuyện này.”

“Tôi đã nói với khỉ rồi. Tôi thực sự muốn biết.”

“Thôi được,” con khỉ nói. “Vậy nhà cháu sẽ kể cho cô nghe. Mẹ của cô không yêu thương gì cô cả. Bà ấy không bao giờ thương cô, thậm chỉ dù chỉ một lần, từ khi cô còn bé. Nhà cháu cũng không biết tại sao, nhưng đó là sự thật. Chị gái của cô cũng vậy. Cô ấy không thích cô. Mẹ cô đã đưa cô đi học ở Yokohama bởi vì bà ấy muốn thoát khỏi cô mà thôi. Mẹ và chị cô muốn đuổi mặt cô đi càng xa càng tốt. Cha của cô không phải là người xấu, nhưng ông ấy nhu nhược, và ông không thể bênh vực gì cho cô cả. Vì những lý do này, kể từ khi cô còn bé, cô chưa bao giờ nhận được đủ đầy tình yêu thương. Nhà cháu cho rằng cô thừa biết vụ này, nhưng cô đã cố tình mắt lấp tai ngơ với nó, chôn thứ thực tế đau đớn ấy ở một nơi tối tăm nhỏ bé sâu tận trong trái tim cô và đóng nắp lại, rồi cố gắng không nghĩ về nó nữa. Cố gắng để đè nén bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào. Tư tưởng phòng thủ ấy đã trở thành một phần của bản thân cô. Bởi vì tất cả những điều này, cô không bao giờ có thể yêu thương một ai sâu sắc và vô điều kiện hết.”

Mizuki im lặng.

“Cuộc sống hôn nhân của cô có vẻ rất êm ấm và không có vấn đề gì. Dường như là thế. Nhưng cô không thực sự yêu chồng mình. Nhà cháu nói có phải không? Ngay cả khi cô đã có con, nếu mọi thứ không thay đổi, thì nó vẫn sẽ chỉ giống thế thôi. “

Mizuki không nói gì. Cô ngồi bệt xuống sàn nhà và nhắm mắt lại. Toàn bộ cơ thể cô cảm giác như mọi chuyện đã sáng tỏ. Da cô, nội tại cô, từng đốt xương một đều cảm giác như từng mảnh sắp rơi xuống. Tất cả những gì cô nghe thấy đều chỉ là tiếng hít thở của chính cô.

“Cũng khá khen thay trò khoa môi múa mép của mày,” Sakurada nói, lắc đầu. “Đội trưởng, em không thể chịu được nữa. Mình tẩm quất nó luôn đi!”

“Thôi đừng,” Mizuki nói. “Những lời chú khỉ này nói đều đúng cả. Tôi đã biết điều đó trong một thời gian dài, nhưng tôi vẫn luôn cố tránh né. Vẫn cứ luôn tai ngơ mắt lấp, vờ như không biết. Chú khỉ này đã nói thật, vậy xin mọi người hãy tha thứ cho nó. Chỉ cần đưa nó lên núi và thả nó đi thôi. “

Chị Sakaki nhẹ nhàng đặt một tay lên vai Mizuki. “Cô em có chắc là em ổn với điều đó chứ?”

“Em không quan tâm nữa, miễn là em có lại được tên của mình. Kể từ bây giờ em sẽ sống với những gì diễn ra xung quanh nó. Đó là tên của em, và đó cũng là cuộc sống của em. “

Chị Sakaki quay sang chồng. “Mình ơi, cuối tuần sau sao hai vợ chồng mình không lái xe đến núi Takao và thả chú em lông lá này đi. Ý mình thế nào?”

“Anh không có vấn đề gì với chuyện ấy cả” anh Sakaki nói. “Chúng mình vừa mua một con xe ô tô mới và nó sẽ tạo thành một cuộc thử nghiệm nhỏ thú vị đây.”

“Nhà cháu biết ơn lắm. Nhà cháu không biết phải làm thế nào để cảm ơn cô, “con khỉ xúc động.

“Chú mày không bị xỉn xe ô tô, phỏng khỉ?” Chị Sakaki hỏi con khỉ.

“Không ạ, nhà cháu sẽ ô kê thôi,” con khỉ đáp. “Nhà cháu hứa là sẽ tuyệt đối không ói ọe hay tè dầm lên ghế của con xe mới nhà hai bác đâu ạ. Nhà cháu sẽ tự điều chỉnh mình. Không thành cục nợ phiền hà gì cho hai bác đâu. “

8

Khi Mizuki nói lời tạm biệt với con khỉ, cô đưa cho nó thẻ tên của Yuko Matsunaka.

“Khỉ nên có nó, chứ không phải tôi,” cô nói. “Khỉ thích Yuko mà, phải không?”

“Vâng, nhiều lắm thưa cô. Nhà cháu thực sự yêu mến nàng. “

“Nhớ giữ gìn cái tên của bạn ấy cẩn thận nhé. Và đừng đi chôm chỉa tên người nào nữa. “

“Nhà cháu sẽ chăm nó thật kỹ. Nhà cháu cũng sẽ không bao giờ ăn trộm tên nữa, nhà cháu xin hứa đấy, “con khỉ nói, với một cái nhìn nghiêm túc trên mặt.

“Nhưng tại sao Yuko lại đưa cái thẻ này cho tôi ngay trước khi bạn ấy qua đời? Tại sao bạn ấy lại chọn tôi? “

“Nhà cháu cũng không biết câu trả lời,” con khỉ nói. “Nhưng nhờ nàng ấy làm như thế, mà ít nhất cô và nhà cháu đã có thể gặp gặp và trải lòng với nhau. Cháu đồ rằng đó là một cơ duyên run rủi.”

“Khỉ nói đúng đấy,” Mizuki nói.

“Những gì nhà cháu nói có làm cô đau lòng không ạ?”

“Có,” Mizuki nói. “Đau rất nhiều.”

“Nhà cháu rất xin lỗi. Nhà cháu thật sự không muốn nói với cô. “

“Không sao đâu. Tận sâu thẳm trong lòng, tôi nghĩ tôi đã biết tất cả những chuyện này rồi. Đó là điều tôi phải đối mặt – vào một ngày nào đó. “

“Nhà cháu cảm thấy nhẹ nhõm khi nghe thấy điều đó,” con khỉ nói.

“Tạm biệt,” Mizuki nói. “Tôi không tưởng tượng được rằng chúng mình sẽ lại gặp nhau nữa đâu.”

“Cô hãy bảo trọng nhé,” con khỉ nói. “Và tạ ơn cô vì đã cứu mạng của những đứa khỉ như nhà cháu.”

“Tốt hơn hết là mày đừng có chường mặt ra quanh cái khu Shinagawa này nữa,” Sakurada cảnh báo, đập đập chiếc dùi cui vào lòng bàn tay. “Lần này tao còn tha cho mày vì đội trưởng đã đứng ra nói như vậy, nhưng mà nếu phải tay tao còn bắt được mày lần nữa, thì mày sẽ không sống sót thoát khỏi nơi này đâu nhé con.”

Con khỉ biết đây không phải là lời đe dọa suông.

“À, vậy chúng ta nên làm gì trong tuần tới?” Chị Sakaki hỏi sau khi họ trở lại trung tâm tư vấn. “Cô em có còn điều gì muốn trao đổi với tôi chứ?”

Mizuki lắc đầu. “Không ạ. Cảm ơn chị, em nghĩ vấn đề của em đã được giải quyết. Em thực rất biết ơn tất cả mọi thứ chị đã làm cho em. “

“Em không muốn bàn về những điều mà con khỉ nói với em ư?”

“Không ạ, tự em có thể tự giải quyết. Đó là chuyện em phải suy nghĩ một mình trong một thời gian. “

Chị Sakaki gật đầu. “Em có thể xử lý được chuyện đó. Nếu em đã để tâm đến nó, tôi biết em có thể trưởng thành mạnh mẽ hơn. “

“Nhưng nếu em không làm được, liệu em có thể đến gặp chị không?” Mizuki hỏi.

“Dĩ nhiên rồi!” Chị Sakaki nói. Khuôn mặt đôn hậu của chị nở một nụ cười rạng rỡ. “Chúng ta có thể bắt được một cái gì khác với nhau.”

Họ bắt tay nhau và nói lời tạm biệt.

Sau khi trở về nhà, Mizuki lấy chiếc thẻ tên “Mizuki Ozawa” và vòng tay có khắc chữ Mizuki (Ando) Ozawa, khẽ cho chúng vào một bao thư doanh nghiệp màu nâu giản dị, rồi đặt nó vào trong hộp bìa cứng đựng trong tủ quần áo của cô. Cuối cùng, cô cũng đã có lại được tên mình, và có thể quay về với cuộc sống bình thường. Mọi chuyện sau này có thể xảy ra thêm lần nữa. Và cũng thể không. Nhưng ít ra cô cũng đã có được tên riêng của mình, một cái tên thuộc về cô, và chỉ riêng mình cô thôi.

Hết.

Truyện ngắn Con khỉ Shinagawa (Shinagawa saru) được in trong tuyển tập truyện ngắn Hợp tuyển bí ẩn Tokyo (Tokyo Kitanshu) phát hành năm 2005.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 8: Chương 6

Published

on

Người phụ nữ bước vào phòng tắm và khép cửa lại đằng sau cô. Tiếng vòi sen theo ngay sau đó.

Chuột cố gắng kiềm chế cảm xúc của mình. Hắn rướn người khỏi mớ chăn ga, vồ lấy một điếu thuốc đặt lên môi. Nhưng bật lửa của hắn không có trên bàn hay trong túi quần. Thậm chí hắn cũng chẳng có một que diêm nào. Hắn mò mẫm trong túi xách của người phụ nữ, nhưng cũng chẳng gặp may ở đó. Bỏ cuộc, hắn bật đèn và lục tìm hết các ngăn kéo bàn làm việc cho đến khi lật thấy một hộp diêm cũ có tên của nhà hàng nào đó trên bao bì. Hắn châm thuốc.

Vớ và đồ lót của cô ấy được gấp cẩn thận và xếp trên một chiếc ghế mây của hắn, chiếc đầm màu mù tạt vàng may đo trải lên lưng ghế. Trên bàn đầu giường là chiếc đồng hồ tí xíu và chiếc túi xách hiệu La Bagagerie, không mới nữa nhưng vẫn còn tốt.

Chuột chìm người xuống chiếc ghế đối diện và nhìn chăm ra cửa sổ.

Từ chỗ tọa cao trên dốc núi kia, Chuột có thể thấy các dấu hiệu của hoạt động con người rải rác ở sườn đồi bên dưới. Đôi lúc hắn đứng đó suốt nhiều giờ, hai tay chống hông, tập trung vào quang cảnh bên dưới hệt như một gôn thủ đứng ở đỉnh của một sân gôn nghiêng xuống. Con dốc xuôi nhẹ một góc thoai thoải, tụ lại với những ánh đèn rải rác từ những ngôi nhà. Có những lùm cây sẫm tối, những đồi nhỏ, và, đây đó, những hồ bơi tư nhân lấp lóa trắng dưới các ngọn đèn thủy ngân. Chỗ con dốc bắt đầu bằng phẳng, đường cao tốc bò ngoằn ngoèo qua khung cảnh hệt như một chiếc thắt lưng được chiếu sáng; từ chân núi tới bờ biển chừng nửa dặm xa, thị trấn trải ra phẳng lì và đơn điệu. Đại dương ngoài kia tan hòa vào bầu không thẳm tối, trong khi ánh màu cam từ ngọn đèn hiệu nhỏ kia chớp sáng, biến mất, rồi lại chớp sáng. Và cắt xuyên mọi lớp địa hình, phân chúng gọn gàng làm hai, tuôn dài một luồng nước đen sẫm.

Dòng sông.

Ω

Lần đầu tiên Chuột gặp người phụ nữ ấy là vào đầu tháng Chín, khi bầu trời vẫn còn giữ được chút dấu vết rạng rỡ của mùa hè.

Hắn tìm thấy một máy đánh chữ điện được liệt kê trong mục Hàng hóa đã sử dụng của tờ báo địa phương giữa đống quảng cáo xe cũi đẩy em bé, dụng cụ học ngôn ngữ Linguaphone, xe đạp ba bánh, và đồ tạp dụng linh tinh. Người phụ nữ trẻ trả lời điện thoại nghe có vẻ rất thẳng thắn rành rọt: chiếc máy đánh chữ đã dùng được một năm và còn một năm trong hạn bảo hành; trả hết bằng tiền mặt trước (không trả góp hàng tháng); hắn phải tự mình đến nhận hàng. Họ chốt thỏa thuận, và hắn lái xe đến căn hộ của cô, trả tiền, rồi nhận chiếc máy đánh chữ. Nó đáng giá gần như tương đương với số tiền hắn kiếm được từ công việc bán thời gian vào mùa hè.

Cô nhỏ nhắn mảnh khảnh và mặc một chiếc đầm không tay đầy thu hút. Những cây cỏ xum xuê lá đủ hình dạng và màu sắc trồng trong những chiếc chậu nằm xếp hàng ở lối vào căn hộ. Cô có nét mặt dịu dàng, và tóc được buộc gọn về phía sau. Chuột không thể xác định tuổi cô. Hắn đã nghĩ rằng có thể đâu đó giữa hai mươi hai và hai mươi tám.

Ba ngày sau, cô gọi hắn bảo rằng cô có một nửa tá dải băng máy đánh chữ mà cô vui lòng tặng miễn phí cho hắn. Khi Chuột đến nhận chúng, hắn mời cô đến quán J’s để đãi cocktail thay lời cảm ơn. Dù vậy, họ không tâm đầu ý hiệp ngay từ đầu.

Lần thứ ba họ gặp gỡ là bốn ngày sau đó, ở hồ bơi trong nhà. Hắn lái xe đưa cô về căn hộ và làm tình. Tại sao lại thành ra như thế? Chuột chịu không biết nổi. Hắn đã khơi chuyện đầu tiên hay cô? Họ đã chỉ thuận theo dòng chảy.

Một vài hôm sau, Chuột có thể cảm thấy cái thực tại hữu hình trong mối quan hệ của họ đang trương nở bên trong hắn, như thể một cái nêm mềm đang lấn vào trong đời sống thường nhật của mình. Từng chút một, có điều gì đó đang truyền thông. Phần ngọt ngào, lịch thiệp hắn đã quên lâu dường như đã trải rộng ra mỗi lần hắn nghĩ đến đôi vòng tay mảnh mai gói quanh cơ thể mình kia. 

Chuột có thể thấy rằng cô đang gắng thiết lập một kiểu toàn hảo trong thế giới nhỏ của cô. Hắn cũng nhận thức rõ rằng điều đó yêu cầu một mức độ quyết tâm phi thường. Cô chỉ mặc những chiếc đầm trang nhã song thùy mị nhất bên trên những đồ lót sạch, mới, xức nước hoa loãng nhẹ có mùi hương của ruộng nho ban sớm lên cơ thể, hết mực cẩn thận lựa lời, không đời nào hỏi những câu thiếu trọng tâm, và chừng như còn đã thực hành việc mỉm cười trước gương. Song những điều đó chỉ khiến Chuột thêm buồn. Sau một số lần gặp gỡ hắn đã đoán tuổi cô là hai mươi bảy. Điều đó hóa ra lại là điểm đen.

Đôi bầu ngực cô nhỏ nhắn, và dù cơ thể thon gọn của cô rám nắng tuyệt đẹp, nó miễn cưỡng hơn là kiêu hãnh, như thể nó đã được thế mà không có sự đồng thuận của cô. Xương gò má góc cạnh và đôi môi mỏng của cô đã nói lên sự giáo dục tốt và tâm cốt cương quyết của cô, nhưng chẳng hề có chút gì ngây thơ và dễ tổn thương bên dưới bề mặt đó, thứ được phô diễn với những biến báo tinh vi trong biểu hiện.

Cô đã học ngành kiến trúc ở một trường đại học nghệ thuật và hiện làm việc trong một văn phòng kiến trúc. Nơi sinh của cô ư? Chẳng phải nơi nào gần đây, cô trả lời. Tôi đến vùng này sau khi tốt nghiệp. Cô đến hồ bơi tuần một lần và bắt tàu đến lớp học viola mỗi tối Chủ nhật.

Cả hai bọn họ hội nhau tuần một lần vào đêm Thứ Bảy. Rồi Chuột nhả khói thuốc mơ màng cả ngày Chủ nhật trong khi cô tập chơi Mozart.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 7: Chương 5

Published

on

Khi tôi còn học đại học, chẳng ai trong khu căn hộ của tôi có điện thoại. Khỉ thật, tôi ngờ là không có bất kì ai trong chúng tôi có một cục tẩy. Dù, có một cái điện thoại trả tiền màu hồng, nằm ngoài văn phòng bảo vệ trên chiếc bàn thấp đã bị quẳng đi từ trường tiểu học địa phương. Đấy là chiếc điện thoại duy nhất trong toàn bộ chốn ấy. Các bảng mạch điện thoại là thứ cuối cùng trong tâm trí chúng tôi. Những tâm trí đó là một thế giới bình yên trong một thời đoạn bình yên.

Từ khi người bảo vệ không bao giờ ở văn phòng ấy nữa, một người trong chúng tôi phải trả lời điện thoại khi nó đổ chuông và chạy ào đi thông báo cho người nhận cuộc gọi ấy. Dĩ nhiên có những lần (như là một cuộc gọi đến lúc 2 giờ sáng) thì chẳng ai nhấc máy. Hệt như một con voi nhận thức cái chết gần kề của mình, chiếc điện thoại đã đổ chuông như điên (số lần đổ chuông nhiều nhất tôi đếm được là 32) rồi chết. Tôi dùng từ chết theo nghĩa đen hẳn hoi. Thời khắc cuộc gọi cuối cùng lượn xuống hành lang dài và biến mất vào đêm đen, một sự im lặng ngự trên cả tòa nhà. Đó là một sự tịch mịch kì quái. Chúng tôi nằm đó trong giường ngủ của mình, nín thở, khi chúng tôi nghe ngóng cuộc gọi chết tươi kia.  

Những cuộc gọi vào đêm muộn luôn luôn đáng ngã lòng. Ai đó sẽ nhấc ống nghe lên và bắt đầu thấp giọng trò chuyện:

“Thôi đi… Không, anh nhầm rồi… Chuyện gì xong thì đã xong, đúng không?... Thực đấy. Sao tôi phải nói dối chứ?... Không, tôi chỉ mệt thôi… Dĩ nhiên nó làm phiền tôi… Nhưng anh thấy đó… Ừ, tôi nhận được tấm hình rồi. Nhưng tôi cần thời gian, hiểu chứ?... Tôi không thể giải thích qua điện thoại đâu…”

Mỗi chúng ta có đủ thứ rắc rối khả dĩ phải đeo mang. Chúng từ trên trời rơi xuống và ta điên cuồng chạy quanh tìm nhặt lên, cho vào túi mình. Tại sao ta lại làm thế đã bắt bí tôi, cho đến giờ. Có lẽ chúng ta đã nghĩ chúng là thứ gì đó khác.

Có cả những bức điện tín nữa. Một chiếc mô-tô sẽ gầm rú ngoài cửa trước tầm bốn giờ sáng, theo sau là tiếng những bước chân sầm sập gần tiền sảnh. Rồi một nắm đấm sẽ nện lên cửa nhà ai đó. Tiếng động kia luôn luôn nhắc tôi về Tử Thần. Bum, bum. Chúng ta đã ngả quá nhiều về phía các tai ương –những cuộc đời mất đi vì tự sát, những tâm trí đổ nát, những trái tim bị bỏ rơi trong những vũng tù của thời gian, những cơ thể bỏng cháy với các ám ảnh rời rã–và chúng ta trao cho nhau một đống rắc rối đọa đày. Một ngàn chín trăm bảy mươi là năm đại loại như thế. Song nếu cứ bám lấy niềm tin rằng thân xác con người được tạo ra để cải thiện chính nó thông qua kiểu tiến trình biện chứng nào đó, một năm khủng khiếp như năm 1970 có thể dạy ta điều gì đó.

  Ω

Phòng tôi nằm ở tầng một cạnh văn phòng bảo vệ, trong khi cô gái có mái tóc dài kia sống ở tầng hai, kế cầu thang. Bởi cô rõ ràng là người thắng khi có các cuộc gọi đến, nên tôi bị kẹt vào việc lon ton lên xuống mười lăm bậc cầu thang kia hàng ngàn lần để gọi cô nghe điện thoại. Người gọi cho cô có đủ dạng. Giọng của họ có thể lịch thiệp hay bất nhã, buồn bã hoặc trịch thượng. Lúc nào họ cũng hỏi bằng tên cô. Song tôi đã quên bẵng cái tên đó là gì. Hồi ức duy nhất của tôi là tên cô thông thường đến não lòng.

Giọng cô trên điện thoại thì thào mệt lử, gần như không nghe thấy nổi. Diện mạo cô thu hút vừa đủ, nhưng có phần nào sầu u. Mặc dù chúng tôi thi thoảng ngang qua nhau trên phố, tôi chưa bao giờ mở lời với cô. Vẻ mặt của cô khi tiến bước hệt như ai đó đang cưỡi một con voi trắng trên một lối mòn hẹp chốn rừng sâu.

Ω

Cô sống ở khu căn hộ của chúng tôi được sáu tháng. Từ lúc bắt đầu mùa thu đến hết mùa đông.

Tôi sẽ trả lời điện thoại, leo cầu thang, gõ cửa nhà cô, bảo, “Cô có điện thoại,” và một chốc sau cô sẽ nói, “Cảm ơn.” “Cảm ơn” là từ duy nhất cô từng nói với tôi. Đổi lại, “Cô có điện thoại,” là hết thảy lời tôi từng nói với cô.

Đó cũng là một mùa cô độc với tôi. Khi quay về căn hộ của mình và trút bỏ quần áo vào cuối ngày, xương cốt tôi hăm he nổ bung ra ngoài da thịt và văng bay tứ tán. Như thể một lực lượng nội tại huyền bí nào đó đang dồn thúc tôi vào sai hướng, dẫn tôi đến một thế giới khác.

Những cuộc điện thoại khiến tôi suy nghĩ. Ai đó đang cố truyền thông với một ai khác. Song hầu như chẳng có ai từng gọi cho tôi. Tuyệt không một người cố với đến tôi, và ngay cả nếu họ đã làm vậy, ắt họ đã chẳng nói điều tôi muốn nghe.

Mỗi chúng ta, với mức độ cao thấp khác nhau, đều nhất quyết sống theo đúng hệ thống của chính mình. Nếu cách suy nghĩ của người khác quá khác biệt với tôi, nó khiến tôi phát điên; quá bức bí, và tôi đâm buồn. Đấy, chỉ thế thôi.

    Ω

Khi mùa đông kết thúc chính là lúc tôi đã nhận chuyển cuộc điện thoại cuối cùng của cô. Một sáng thứ Bảy trong trẻo đầu tháng Ba. Đại để giữa buổi sáng, mười giờ, nắng mùa đông tươi sáng đang dọi khắp ngóc ngách trong căn phòng nhỏ của tôi. Lúc nhận thức được tiếng chuông, tôi đang ngồi trên giường nhìn qua cửa sổ vào vườn bắp cải cạnh cửa chính. Những mảng tuyết lóng lánh rải rác trên đất đen hệt như những vũng nước – thảy đều là di tích của trận tuyết cuối vào đợt rét đột ngột sau cùng trong năm.

Điện thoại đổ mười lần mà chẳng ai nhấc máy. Rồi năm phút sau lại bắt đầu. Tiếng chuông rầy rà nên tôi đành tròng chiếc áo len đan lên bộ đồ ngủ rồi đi bắt máy.

“Có cô… đó không?” một người đàn ông hỏi. Giọng anh ta phẳng lì, không biểu cảm. Lẩm bẩm gì đó bất đắc dĩ, tôi lê bước lên cầu thang và gõ cửa nhà cô.

“Cô có điện thoại.”

“Cảm ơn.”

Tôi về lại phòng mình, nằm xuống giường, và quan sát trần nhà. Tôi có thể nghe tiếng bước chân cô đang đi xuống, rồi tiếng thì thào đó. Một cuộc thoại ngắn bất thường đối với cô. Có lẽ chỉ mười lăm giây. Tôi nghe cô cúp máy và rồi có một sự tĩnh lặng kéo dài, không tiếng bước chân, không gì cả. Một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân chầm chậm đến gần cửa nhà tôi, kèm theo hai tiếng gõ. Có một khoảng ngừng chừng một hơi thở sâu, rồi lại thêm hai tiếng khác.

Khi tôi mở cửa cô đang đứng đó trong bộ áo phông thùng thình và quần jean. Tôi thoáng nghĩ mình đã nhầm lẫn, rằng cuộc gọi kia được nhằm vào ai khác, nhưng cô đã chẳng nói gì cả, chỉ đứng đó run run với hai tay ôm nhau trước ngực và mắt dán vào tôi. Trông cô hệt như ai đấy trong chiếc xuồng cứu sinh đang nhìn con tàu chìm dần. Hoặc có lẽ là tình huống ngược lại cũng nên.    

“Tôi vào được không? Ngoài này rét quá.”

Tôi bị bất ngờ, nhưng vẫn để cô vào và khép cửa. Cô ngồi xuống trước lò sưởi bằng gas để hơ ấm đôi tay và nhìn quanh.

“Phòng này trống trơ kinh dị, nhỉ?”

Tôi gật. Thực sự chẳng có gì. Chỉ một chiếc giường cạnh cửa sổ, và thế thôi. Một chiếc giường quá lớn cho một người, và quá bé cho hai. Tôi cũng chẳng mua nó. Đúng hơn là, một người quen đã cho tôi. Tại sao anh ấy tặng nó cho một kẻ rõ là xa lạ thì tôi chịu. Chúng tôi hiếm khi nói chuyện. Là một chàng trai nhà giàu đến từ vùng xa xăm nào đó, anh đã bỏ trường sau khi bị các thành viên trong một nhóm chính trị đối lập đánh hội đồng, họ đá vào đầu anh khi đang mang ủng công trường, trận đánh này đã gây tác hại cho thị lực của anh. Chuyện đó diễn ra ở sân trường, và anh thổn thức suốt đường từ đó đến bệnh xá của trường, trước sự ghê tởm bàng hoàng của tôi. Một vài ngày sau anh bảo tôi rằng anh rời trường. Và tặng tôi chiếc giường.

“Có thứ gì đó âm ấm để uống không?” cô nói. Không, tôi đáp, lắc đầu. Không cà phê, không trà, thậm chí ấm đun nước cũng không. Chỉ có một cái chảo để nấu nước nóng khi tôi cạo râu vào buổi sáng. Chờ đây nhé, cô nói với một tiếng thở dài. Cô đứng lên và rời phòng, quay lại sau năm phút với một hộp giấy cứng trong tay. Bên trong là thực phẩm dự trữ đủ cho sáu tháng gồm trà túi lọc và trà xanh, hai gói bánh quy, đường cát, một bộ ấm đĩa cơ bản, cùng hai chiếc cốc có hình cún Snoopy. Đặt chiếc hộp xuống giường, cô lấy chiếc ấm ra và bắt đầu đun nước.

“Làm sao anh xoay xở được thế? Anh sống hệt như Robinson trên đảo hoang ấy!”  

“Đúng là không vui thú gì mấy.”

“Tôi cũng đoán thế.”

Chúng tôi uống trà túi lọc trong im lặng.

“Anh có thể nhận hết mấy thứ này,” cô nói.

Tôi suýt sặc trà. “Sao cô lại làm thế?”

“Cách tôi nói lời cảm ơn thôi. Cho tất cả những lần anh đã trả lời hộ điện thoại.”

“Nhưng cô không cần dùng nữa à?”

Cô lắc đầu. “Mai tôi chuyển đi rồi. Chẳng còn ích gì với tôi nữa.”

Hẳn phải có thứ gì đó giải thích được chuỗi sự kiện mới này, nhưng tôi chẳng thể hình dung được là gì.

“Đã có chuyện gì tốt đẹp sao? Hay chuyện gì đấy tệ hả?”

“Không tốt lắm, tôi cho là vậy. Ý tôi là tôi đang bỏ học và về quê.”

Ánh nắng mùa đông tràn ngập căn phòng mờ đi một thoáng, rồi hửng sáng lên lại.

“Nhưng anh chẳng muốn nghe chuyện ấy đâu, phải không? Phải tôi thì chắc sẽ không. Ai đời lại muốn dùng những chiếc đĩa mà người khác đã bỏ đi chứ!”

Sáng hôm sau, một cơn mưa lạnh lẽo bắt đầu rơi. Một cơn mưa phùn đã len lỏi rỉ qua áo mưa của tôi và ngấm vào áo phông thể thao bên dưới. Mọi thứ – chiếc rương lớn tôi đang ì ạch kéo và chiếc va-li cùng túi cô đeo vai – đều thẫm đen vì hơi ẩm. Người tài xế ta-xi chộp lấy chúng tôi chẳng cho để bất cứ món nào lên ghế ngồi. Trong xe nóng và ngột ngạt với mùi thuốc lá lưu cữu, và một bản ballad truyền thống đang rền rĩ từ đài phát thanh của xe, một giai điệu kiểu cũ như một cánh tay chỉ hướng rẽ ở các ô tô đời xưa. Những cành cây trụi lá nhiễu giọt đóng thành băng nhũ xếp hàng dọc hai bên đường trông hệt như rặng san hô dưới nước.

“Tôi chả thích Tokyo ngay lần đầu để mắt đến,” cô nói, “và đến giờ vẫn thế.”

“Thật ư?”

“Ừ. Đất thì quá đen, sông thì bẩn tởm, lại chẳng có ngọn núi nào… Anh thì sao?”

“Tôi đã chả bao giờ nghĩ về phong cảnh cả.” 

Cô thở dài. “Đấy là lí do anh sống sót được ở chốn này,” cô nói cùng một nụ cười mỉm.

Chúng tôi đến sân ga và buông đống túi xách xuống.

“Cảm ơn vì tất cả,” cô nói. “Tới đây tôi có thể tự mang được rồi.”

“Quê cô ở đâu?”

“Ngược lên phía bắc.”

“Tôi cược là lạnh lắm.”

“Cũng ổn cả. Tôi quen rồi.”

Khi đoàn tàu chuyển bánh cô vẫy chào tôi từ cửa sổ. Tôi giơ tay ngang tầm tai, nhưng khi đoàn tàu ra khỏi tầm mắt, bất thình lình tôi bỗng thấy ngượng ngập và đút tay mình vào trong túi áo mưa.

Trời mưa suốt ngày hôm đó và dai dẳng đến tận đêm. Tôi mua hai chai bia ở cửa hàng thức uống địa phương và uống cạn hết bằng một chiếc cốc cô đã cho tôi. Tôi đang lạnh cóng. Chiếc cốc in hình cún Snoopy và chim thư kí Woodstock đang chơi đùa trên mái nhà của Snoopy với một quả bong bóng có ghi, “Hạnh phúc là một người bạn ấm áp.”  

Ω

Cặp sinh đôi đã thiếp ngủ khi tôi mở mắt. Ba giờ sáng. Ánh trăng mùa thu bên ngoài cửa sổ phòng tắm sáng gượng gạo. Tôi ngồi trên rìa quầy bếp cạnh chậu rửa, uống hai cốc nước, và châm thuốc bằng bếp ga. Lớp lớp tiếng của hàng ngàn hàng vạn côn trùng trỗi lên từ sân gôn sáng trăng.

Tôi nhấc cái bảng mạch lên dựa vào quầy bếp và kiểm tra nó cẩn thận, xoay nó đủ mọi góc. Chỉ là một tấm bảng vô nghĩa, đầy bụi bặm và cũ kĩ, bất kể nhìn ngắm nó thế nào đi nữa. Từ bỏ, tôi đặt nó trở lại chỗ cũ, lau bụi bẩn trên tay, và rít một hơi thuốc khác. Mọi thứ có vẻ nhợt nhạt dưới ánh trăng. Trống rỗng cả về giá trị, nghĩa lí, hay phương hướng. Thậm chí những cái bóng cũng mờ ảo. Tôi dụi điếu thuốc vào bồn rửa và châm điếu khác.

Liệu có bao giờ tôi tìm được một chốn đích thực là của riêng tôi? Đấy có thể là đâu? Tôi cứ nghĩ mãi, song chỉ có hình ảnh buồng lái của một chiếc máy bay ném ngư lôi hai chỗ ngồi hiện ra trong tâm trí. Nhưng đó là một ý nghĩ ngu ngốc tuyệt đối. Ý tôi là, những thứ đó đã quá đát từ ba mươi năm trước rồi, phải không?

Tôi quay lại giường và len vào giữa cặp sinh đôi. Họ đang nằm cuộn mình với đầu lệch về phía hai mép giường, thở đều bình an. Tôi kéo chăn lên tận cằm và quan sát trần nhà.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 6: Chương 4

Published

on

Ngọn đèn hiệu không người trơ vơ cuối bến tàu dài ngoằn ngoèo. Ngọn đèn không đặc biệt lớn, chỉ thấp hơn ba mét rưỡi một chút. Những con tàu cá đã dựa vào ánh sáng của nó thời trước khi sự ô nhiễm dồn lũ cá xa bờ. Chẳng có gì giống với một bến cảng ở khu vực này. Thay vào đó, ngư dân đã trang bị một bộ tời bằng gỗ với ống cuộn và dây thừng để kéo tàu của họ từ bãi biển. Ba căn lều của họ đã được dựng gần đấy; vào buổi sáng sẽ thấy những khay gỗ đựng cá nhỏ đang phơi khô trên mặt đê chắn sóng. Tuy nhiên, ở một thời điểm nào đó, ngư dân đã rời bỏ, bị xua đi bởi sự kết hợp của ba yếu tố: sự biến mất của đàn cá, sự ác cảm vô lí của những kẻ đi vé tháng vì có một làng cá gần thị trấn của mình, và lời tuyên bố của quận rằng những căn lều dọc bãi biển kia là bất hợp pháp. Đấy là năm 1962. Chẳng ai đoán nổi những ngư dân kia đã biến về đâu. Đại khái ba căn nhà kia đã hoang tàn, trong khi những con thuyền mục nát, chẳng có chức năng gì cũng chẳng có chỗ nào để vứt bỏ, bị bỏ lại chỏng chơ giữa đám cây cối dọc bờ biển, nơi chúng phục vụ như một sân chơi cho đám trẻ con.

Một khi những tàu cá đã biến mất, những con thuyền nhẹ tư nhân lang thang dọc bãi biển cùng những tàu hàng bỏ neo ngoài bến cảng tìm nơi trú bão và sương mù dày đặc là những phương tiện hàng hải duy nhất có thể thấy rằng ngọn đèn hiệu kia giúp ích nhiều. Nhưng chắc hẳn nó đã không còn phục vụ một mục đích nào nữa.

Ngọn đèn hiệu là một thứ thù lù đen sì có hình như một cái chuông úp hoặc một người gò lưng trong suy tưởng nhìn từ phía lưng. Khi mặt trời bắt đầu lặn và ráng chiều bắt đầu nhuộm màu xanh thẫm, ánh sáng màu cam rực sáng trên đỉnh ngọn đèn – cái núm chuông – và nó bắt đầu xoay chầm chậm. Vào khoảnh khắc đó, khi ngày chuyển đêm, ngọn đèn hiệu đến với đời sống: dù buổi tối có mang một hoàng hôn tuyệt đẹp hay một lốt áo choàng mù sương, chùm sáng ấy bắt đầu quay ngay chính thời khắc mà sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối chuyển giao, và bóng đêm tối thượng ngự lên.

Thời thơ bé, Chuột thường xuống bãi biển vào buổi tối chỉ để chứng kiến khoảnh khắc chớp nhoáng đó trong bóng tối. Nếu những con sóng không quá cao hắn sẽ dạo bộ tới tận đầu kia của bến tàu uốn lượn, đếm số phiến đá lát đường mà hắn đã đi qua. Lúc chớm sụp tối hắn có thể thấy hàng đàn cá nhỏ xíu kinh ngạc lao về phía vùng nước sáng. Chúng sẽ bơi vòng dọc mạn bến tàu, như thể đang tìm kiếm gì đó, trước khi hướng ra khơi.  

Khi cuối cùng cũng đến chỗ ngọn đèn hiệu, Chuột ngồi xuống nơi đầu mút của bến tàu ấy và nghiên cứu bầu trời. Trời mang màu xanh đen đến ngút mắt, với những vỉa mây trông như được vẽ lên dưới nét cọ của một họa sĩ. Màu xanh thẫm kia chừng như không đáy; vực thẳm của nó khiến chân Chuột run lên kinh sợ. Mọi thứ quá sinh động, mùi đại dương, màu ngọn gió.

Nán lại mãi, Chuột uống cạn khung cảnh trải ra trước mắt mình, rồi quay lại. Giờ thì hắn đang chiêm ngắm thế giới của chính mình, quá đỗi tách biệt với biển khơi. Bãi biển và đê chắn sóng trắng bàng bạc, hàng thông xanh yên ả, và, đằng sau chúng, nhô in trên nền trời, đường viền sắc nhọn của những ngọn núi đen thẫm xanh.

Xa bên mạn trái của hắn là khu cảng lớn, với những cần trục, vũng tàu đậu dập dềnh, những nhà kho như hình hộp, những chiếc tàu hàng, và các tòa nhà cao. Bên phải hắn, đối mặt đại dương và trải dài theo đường bờ biển cong cong, là khu dân cư im lìm, bãi đậu thuyền nhẹ, một số kho rượu cũ kĩ, và, một khoảng vừa phải phía xa kia, hàng dãy những bể chứa hình cầu cùng các ống khói nhà máy chọc trời của khu công nghiệp, đã che phủ bầu trời trong làn khói trắng mù mịt. Những thứ đó đánh dấu sự cáo chung của thế giới thời niên thiếu mà Chuột đã biết.

Suốt thuở ấu thời, từ xuân đến chớm thu, Chuột dành cho những chuyến thăm ngọn đèn hiệu. Khi sóng lớn, bụi nước bắn vào chân hắn, gió gào, và hắn thi thoảng trượt ngã trên những phiến đá lát trơn rêu. Song con đường đến ngọn đèn hiệu đã thân thiết với hắn hơn bất cứ gì khác. Hắn sẽ ngồi ở chốn tận cùng của bến tàu ấy lắng nghe sóng vỗ, ngắm những đám mây, bầu trời, và hàng đàn cá nhỏ, và ném những viên cuội mình mang theo trong túi vào làn nước.

Lúc trời sẫm tối hắn sẽ lại bước trên cùng con đường ấy để quay về thế giới của chính mình. Dù cho, sự quay lại này đã luôn luôn đồng hành với một nỗi buồn không sao tả nổi. Cái thế giới đang chờ đợi hắn ngoài kia đúng là quá lớn lao, quá mạnh bạo; chốn đó chừng như chẳng hề có chỗ nào hắn khả dĩ đào sâu vào được.

Căn hộ của người phụ nữ không xa bến tàu. Kí ức mơ hồ về thời thơ ấu của hắn và dư hương của những buổi tối kia trở lại với Chuột mỗi lần hắn đến thăm cô. Hắn sẽ đỗ xe trên con đường dọc bờ biển và đi băng qua những cây thông đứng rải rác được trồng để ngăn cát thổi vào từ bãi biển. Cát phát ra âm thanh khô khốc dưới chân hắn.

Khu căn hộ nằm đúng nơi những căn lều của các ngư dân đã từng dựng lên. Nếu đào xuống một vài mét, nước biển màu nâu đỏ sẽ phun trào bọt. Những cây chuối hoa Nam Mĩ ủ rũ trong vườn trước, như thể ai đó đã giẫm đạp chúng. Người phụ nữ sống ở tầng hai – khi gió thổi nó sẽ quét qua cửa sổ của cô những luồng cát mịn. Căn hộ nhỏ nhắn gọn gàng của cô xoay mặt hướng nam, nhưng nó ảm đạm lạ lùng. Chính đại dương đấy, cô nói. Chính vì gần đến chết tiệt – mùi thủy triều, gió, tiếng sóng, mùi hôi của cá… hết thảy.   

“Em chẳng thể ngửi thấy mùi cá ở đây đâu,” Chuột bảo.

Chắc chắn em có thể, cô nói. Cô kéo sợi dây cuộn và bức mành mành khép rụp. Anh sẽ có thể nếu anh sống nơi này.

Cát quất vào cửa sổ.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Cafe sáng