Sáng tác

Truyện ngắn: Cua (Murakami Haruki)

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. “Hừm… Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì… “

Published

on

Special thanks to bé Ryou Hiroshi vì đã góp phần hoàn thiện bản dịch này.
Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này được đặc biệt dành tặng Hải Âu.

Họ tình cờ chạy ngang qua một nhà hàng nhỏ. Ấy là buổi tối đầu tiên của hai người ở Singapore và lúc đó cả hai đang thả bộ gần bờ biển, đột nhiên cái ý nghĩ ấy chợt nảy ra trong đầu , họ bèn rẽ vào bên hông đường rồi vô tình lướt ngang qua chốn đó. Nhà hàng ấy là một căn nhà một tầng được bao quanh bởi một bức tường gạch cao, với khu vườn trồng toàn cây cọ thấp và chỉ kê vỏn vẹn năm chiếc bàn gỗ. Mặt tiền chính như vừa được trát vữa xong, phủ lên mình một lớp sơn hồng chói lọi. Phía dưới mỗi bàn đều có một cây dù lớn bạc phếch bay màu theo thời gian đã bung sẵn ra. Trời vẫn còn sớm, nhưng nơi này nom như thể đã bị bỏ hoang từ lâu. Chỉ có hai người đàn ông lớn tuổi với mái tóc ngắn, đặc sệt chất Trung Hoa, ngồi đối diện nhau, uống bia và im lặng nhắm với những món ăn nhẹ. Họ không nói với nhau câu nào. Ở dưới đất, ngay cạnh chân họ, là một chú chó mực rất to đang nằm im lìm đầy mệt mỏi, mắt lim dim khép hờ. Một luồng hơi nước rực rỡ tuôn ra từ cửa sổ nhà bếp, cùng thứ mùi hấp dẫn của món gì đó đang được xào nấu. Những tiếng nói cười thích chí của đám đầu bếp rộ lên, lộ rõ hẳn giữa những âm thanh lách cách của niêu chảo xoong nồi chạm vào nhau. Những mầm cọ nhú trên thân cây, run rẩy trong gió nhẹ, nổi bật giữa ánh mặt trời đang dần lặn xuống.

Người phụ nữ tạm ngừng bước chân, hòa vào khung cảnh này:

“Ăn tối ở đây thì thế nào?” Nàng hỏi.

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. “Hừm… Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì… “

“Nhưng mà em có giác quan thứ sáu về mấy chuyện nhà hàng ăn uống này nọ đấy. Em lúc nào cũng có thể đánh hơi được mấy chốn ngon lành trăm phần trăm. Và tiệm ăn này chắc chắn là tuyệt cú mèo. Em dám đảm bảo điều đó luôn. Tại sao mình không vào ăn thử nhỉ?”

Người đàn ông nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. Anh không biết họ nấu nướng những món gì ở đây, nhưng anh phải thừa nhận rằng nó có hương vị thực rất hấp dẫn. Nội bản thân nhà hàng này cũng có một sự quyến rũ nhất định tự lan tỏa rồi. “Nhưng em có nghĩ là nó sạch sẽ không?”

Nàng kéo lấy tay anh. “Anh nhạy cảm quá đấy, ông tướng ạ. Đừng lo lắng gì cả. Chúng mình đã tự lạc trôi đến đây, thế nên cũng phải mạo hiểm một tí chứ. Em chả muốn nhai cơm trệu trạo trong nhà ăn khách sạn ngày này sang ngày khác đâu. Nhàm chán bỏ xừ đi được ấy. Nào, chúng ta hãy vào thử xem.”

Khi đã vào trong rồi, họ mới nhận ra rằng cửa tiệm này chuyên về các món cua. Thực đơn được viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Hoa. Hầu hết khách hàng đều là người địa phương, và giá cả khá hợp lý. Theo thực đơn thì Singapore tự hào có hàng chục loại cua, với hơn cả trăm kiểu cách nấu món cua. Người trai trẻ và người phụ nữ đã gọi bia Singapore, và sau khi xem hết những món sẵn có, họ chọn vài món cua rồi chia đôi ra. Phần nào phần nấy đều hào phóng, nguyên liệu thì tươi rói và nêm nếm gia vị vừa miệng.

“Ngon tuyệt cú mèo,” người trai trẻ thốt lên, đầy ấn tượng.

“Thấy chưa? Em đã nói với anh những gì nào? Em nói với anh rằng em có năng khiếu đánh hơi được những thứ đỉnh của đỉnh. Bây giờ anh đã tin em chưa?”

“Dĩ nhiên rồi. Phải nói rằng anh nên tin em mới đúng”, người trai trẻ thừa nhận.

“Loại năng lực này thực sự có ích đấy,” người phụ nữ nói. “Anh biết đấy, chuyện ăn uống quan trọng hơn hầu hết mọi người nghĩ. Có một khoảng thời gian sẽ xảy ra trong cuộc sống của anh trong lúc anh chỉ cần có một cái gì đó siêu ngon. Và khi anh đang đứng ở ngã tư đường đó, cả cuộc đời anh liền có thể thay đổi, tùy thuộc vào nơi anh bước chân vào – một quán ăn tuyệt vời hay một nhà hàng dở ói. Nó cũng giống như là – anh ngã vào phía bên này của hàng rào, hay là phía bên kia. “

“Nghe thú vị đấy,” anh nói. “Cuộc sống có thể rất đáng sợ, phải không?”

“Chuẩn,” Nàng đáp lời, và bật ra một ngón tay nghịch ngợm. “Cuộc sống là một điều đáng sợ. Hơn tất cả những gì anh có thể tưởng tượng ra nhiều. “

Người trai trẻ gật đầu. “Và chúng mình đã rơi trúng vào phía bên trong hàng rào, nhỉ”.

“Chính xác.”

“Tốt rồi,” người trai trẻ thản nhiên nói. “Em có thích cua không?”

“Ưmmm, lúc nào mà em chả mê nó. Còn anh thì sao?”

“Anh cũng thích. Nhưng anh không nghĩ mình sẽ ăn cua mỗi ngày đâu. “

“Một điểm chung mới giữa hai ta,” nàng cười rạng rỡ.

Người trai trẻ mỉm cười, và hai người nâng ly thêm một lần nữa.

“Chúng mình phải trở lại đây vào ngày mai,” Nàng nói. “Chẳng thể có nhiều nơi như thế này trên thế giới đâu. Ý em là, nó đã rất ngon thì chớ – và nhìn vào bảng giá của nó mà xem.”

Trong ba ngày kế tiếp, họ thường đến ăn ở nhà hàng nhỏ. Vào mỗi buổi sáng, cả hai sẽ xuống bãi biển để bơi, rồi tắm nắng, sau đó đi dạo quanh thị trấn và chọn quà lưu niệm tại các cửa hàng thủ công địa phương. Vào khoảng thời gian tương tự vào mỗi buổi tối, họ lại đi đến nhà hàng nhỏ ấy, thử các món cua khác nhau, sau đó quay trở lại phòng khách sạn thong thả làm tình, rồi chìm vào giấc ngủ sâu không mộng mị. Mỗi ngày trôi qua đều như đang ở trên thiên đường. Người phụ nữ tròn hai mươi sáu tuổi, nàng dạy tiếng Anh ở một trường trung học cơ sở. Còn người đàn ông vừa bước qua tuổi hăm tám, anh làm nghề kiểm toán viên tại một ngân hàng lớn. Gần như là một phép lạ khi họ có thể cùng nhau đi nghỉ mát cùng một thời điểm, và cả hai muốn tìm đến một nơi mà không ai có thể quấy rầy họ, nơi họ chỉ đơn giản được tận hưởng bản thân nhau. Hai người đã cố gắng hết sức để né bất cứ chủ đề nào có thể làm hỏng tâm trạng và thời gian chung đôi quý báu của mình.

Vào ngày thứ tư – ngày cuối cùng trong kỳ nghỉ của họ – cả hai lại ăn cua như thường lệ vào buổi tối. Khi hai người đang bóc thịt từ càng cua bằng một chiếc kìm bằng kim loại, cả hai bàn luận về việc ở đây sẽ như thế nào, về chuyện bơi lội mỗi ngày bên bờ biển, về chuyện ăn cua vào ban đêm, khiến cho cuộc sống khi trở về Tokyo bắt đầu trở nên vô thực và xa xôi quá đỗi. Hầu hết cả hai người đều tâm tình về hiện tại. Sự im lặng bao phủ lên bữa ăn của họ tùy theo từng thời điểm, ấy là khi mỗi người trong số họ lại trở nên chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình. Nhưng đó không phải là một sự im lặng khó chịu. Bia lạnh và cua nóng đã lấp đầy những khoảng trống ấy một cách êm đềm.

Họ rời khỏi nhà hàng và quay lại khách sạn cả hai thuê trọ, và cũng như mọi khi, họ kết thúc một ngày của hai người bằng cách làm tình. Yên tĩnh, nhưng tràn đầy viên mãn. Cả hai đều đi tắm và sớm ngủ thiếp đi.

Nhưng chỉ một lúc mau sau người trai trẻ đã vội bật dậy, anh cảm thấy rất khủng khiếp. Anh có cảm giác như thể mình đã nuốt phải một đám mây cứng ngắc. Anh ta vội vã đi vào phòng tắm, vịn tay lên bồn vệ sinh rồi nôn hết mọi thứ trong bụng ra. Dạ dày của anh đã nhồi đầy thịt cua trắng. Anh không có thời gian để bật đèn lên, nhưng dưới ánh trăng mờ tỏ lập lờ trôi trên biển, anh đã có thể nhận ra chuyện gì đang xảy ra trong nhà vệ sinh. Anh hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại, và để thời gian trôi qua. Đầu óc anh trống rỗng, và anh không thể thành hình nổi một suy nghĩ nào trọn vẹn. Tất cả những gì anh có thể làm là chờ đợi. Một cơn sóng buồn nôn khác đã ào đến, đánh lật anh và một lần nữa khiến anh tống hết mọi thứ còn sót lại ra khỏi dạ dày.

Khi anh mở mắt ra, đập vào mắt anh là một cục to trắng phớ anh vừa nôn đang trôi nổi trong bồn nước nhà vệ sinh. Một số lượng khủng khiếp. Mình đã ngốn cái quái quỷ gì thế này! Anh ta nghĩ, dẫu cũng khá ấn tượng. Chén đẫy quá nhiều cua từ ngày này qua ngày khác – chả có khỉ gì lạ khi mình trở nên phát ốm. Cho dù có cố giảm bớt ra sao, thì cũng là quá nhiều cua rồi. Phải đến cỡ lượng cua có thể ăn trong hai, ba năm chỉ trong vòng có bốn ngày.

Đến lúc nhìn chằm chằm vào, anh mới chợt nhận thấy cục trắng trắng đang nổi trong bồn vệ sinh đó dường như đang chuyển động thoáng qua. Lúc đầu anh nghĩ có lẽ anh đã tưởng tượng ra mấy thứ đó. Ánh trăng mờ ảo hẳn đã tạo ra ảo giác. Một đám mây thi thoảng trôi qua sẽ che phủ mất mặt trăng, làm cho mọi thứ, trong một khoảnh khắc chợt trở nên mù mịt hơn trước. Người trai trẻ nhắm mắt, hít một hơi sâu và mở mắt ra. Đó không phải chỉ là ảo giác. Miếng thịt cua chắc chắn là đang di chuyển. Giống như những nếp nhăn xoắn quanh, bề mặt của thịt đang lắc lư. Người trai trẻ liền đứng dậy và bật đèn phòng tắm. Anh ta cúi xuống gần cục thịt và nhận ra những gì đang không ngừng lúc nhúc trên mặt đất là vô số con bọ. Loại bọ nhỏ tí hon có màu sắc giống y như màu thịt cua, hàng triệu con đang bám trên bề mặt của miếng thịt.

Anh lại cố ói ra hết mọi thứ trong dạ dày mình ra lần nữa. Nhưng không còn gì sót lại, và dạ dày của anh siết chặt lại thành một nắm đấm. Mật xanh mật vàng dội lên, vọt ra khỏi thành ruột anh. Không chấp nhận nổi điều này, anh liền nuốt luôn nước súc miệng và cố nhổ nó ra lần nữa . Anh giật mạnh công tắc xả nước bồn cầu, giật đi giật lại để chắc chắn rằng tất cả đã bị cuốn trôi sạch sẽ. Rồi anh ngâm mặt mình vào bồn rửa, dùng khăn tắm sạch để lau miệng, và đánh răng thật kỹ. Anh đặt tay lên bồn rửa và nhìn chằm chằm vào hình bóng phản chiếu của mình trong gương. Khuôn mặt anh đã trở nên đau khổ, nhăn nhúm rúm ró lại, làn da chuyển màu xám ngoét. Anh không thể tin được đây thực sự là khuôn mặt của anh. Trông như thể là một lão già nào đó.

Anh rời khỏi phòng tắm, tựa lưng vào cửa và nhìn quanh phòng ngủ. Bạn gái của anh vẫn đang nằm trên giường, say ngủ. Mặt chôn sâu vào gối, nàng còn đang ngáy ngủ một cách thanh thản, không biết điều gì đã xảy ra. Giống như một kẻ ái mộ đầy tinh tế, mái tóc dài của nàng che phủ đôi bờ má, chảy tràn lên vai. Ngay dưới đôi vai ấy có hai nốt ruồi nhỏ, xếp hàng như một cặp song sinh. Trên lưng nàng còn lộ rõ những vết dây áo tắm. Ánh sáng từ mặt trăng trắng muốt lặng lẽ lọt qua những tấm rèm, hòa cùng âm thanh đơn điệu của những con sóng vỗ bờ. Cạnh bên giường, những con số màu lục của chiếc đồng hồ báo thức vẫn đang phát sáng. Không có gì thay đổi. Trừ lúc này, những con cua vẫn còn bên trong cơ thể nàng – như tối hôm đó họ đã cùng chia sẻ một món ăn. Chỉ có nàng là đã không nhận thức được điều đó.

Người trai trẻ ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh cửa sổ, nhắm mắt lại, hít thở, từ từ và đều đặn. Hít thở không khí trong lành vào phổi, thở ra, hít vào. Anh cố gắng hít thở không khí thật nhiều hết mức có thể vào cơ thể mình. Anh muốn tất cả các lỗ chân lông trong cơ thể anh nở rộng. Tựa như một chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ nằm trong một căn phòng trống rỗng, trái tim anh đập mạnh từng tiếng, cứng và khô khốc.

Nhìn người bạn gái đang ngủ của mình, anh đã hình dung vô số con bọ nhỏ lúc nhúc trong dạ dày của nàng. Liệu anh có nên đánh thức nàng dậy và nói với nàng về điều đó? Rồi họ có thể làm gì hơn? Anh không dám chắc mình phải làm gì, anh suy nghĩ một lúc, và quyết định ngăn nó lại. Nó sẽ không tạo ra được chuyện gì hay hớm cả. Nàng đã không nhận thấy được bất cứ điều gì. Và đó mới là vấn đề chính.

Thế giới bỗng trở nên hỗn loạn chưa từng có. Anh có thể nghe thấy những tiếng cót két qua quỹ đạo mới này. Có một cái gì đó đã xảy ra, anh nghĩ, và thế giới đã thay đổi. Tất cả mọi thứ đã thoát ra khỏi trật tự, và sẽ không bao giờ trở lại như thuở ban đầu đã từng. Mọi thứ đã thay đổi, và tất cả những gì có thể làm là tiếp tục theo hướng mới này. Ngày mai mình sẽ trở lại Tokyo, anh nghĩ. Trở lại với cuộc sống mà mình đã để lại nơi đó. Ngoài mặt tuy không có gì thay đổi, nhưng mình không nghĩ rằng mình có thể sẽ hòa hợp được với nàng một lần nữa. Mình sẽ không bao giờ cảm nhận lại được cái cách mình đã cảm nhận về nàng cho đến ngày hôm qua, người trai trẻ biết. Nhưng đó không phải là tất cả. Mình không tin là mình có khả năng hợp nhất với chính mình thêm lần nào nữa. Giống như thể chúng mình đã rơi ra khỏi bên ngoài dãy hàng rào cao vút. Hoàn toàn không có một tiếng động. Và nàng thậm chí còn chẳng nhận ra.

Người trai trẻ cứ ngồi trên ghế mây cho đến khi bình minh, lặng lẽ hít thở. Thỉnh thoảng lại có một cơn gió mạnh vút qua vào ban đêm, với những giọt mưa đập vào cửa sổ như một kiểu trừng phạt. Những đám mây mù rồi sẽ lại trôi qua và mặt trăng dần ló dạng. Cứ lặp đi lặp lại như thế. Nhưng người phụ nữ không bao giờ tỉnh dậy. Hoặc thậm chí trở người trên giường cũng không. Vai nàng có lắc lư đôi ba lần, nhưng chỉ có thế. Hơn bất cứ điều gì trên đời, anh muốn ngủ, ngủ thật ngon và thức dậy để thấy rằng mọi chuyện đã được giải quyết cả rồi, rằng mọi thứ đều giống như nó đã từng, vẫn hoạt động trôi chảy như mọi khi. Người trai trẻ không muốn gì hơn là chìm vào giấc ngủ sâu. Nhưng cho dù anh có cố gắng vươn tay đến thế nào, giấc ngủ vẫn nằm ngoài tầm với.

Người trai trẻ nhớ lại đêm đầu tiên, khi họ đi ngang qua nhà hàng nhỏ bên đường. Hai người đàn ông Trung Hoa lặng lẽ dùng đồ ăn của họ, con chó mực mắt nhắm lại, nằm dưới chân hai ông, chiếc ô lớn bạc màu nơi bàn ăn. Nàng đã kéo tay anh ra sao. Mọi chuyện dường như xảy ra đã cách đây nhiều năm. Nhưng chỉ mới ba ngày thôi. Chỉ ba ngày đó thôi, xuyên qua một thứ sức mạnh kỳ quái nào đó, mà anh đã biến thành một trong những người đàn ông xấu xí, già cỗi mất rồi. Tất cả diễn ra ở một thành phố biển yên tĩnh, xinh đẹp của Singapore.

Anh đưa hai tay ra trước mặt mình và nhìn chúng chăm chú. Anh nhìn vào đôi bàn tay, sau đó là lòng bàn tay. Không gì có thể che giấu được sự thật là tay anh đang run lên, dẫu là không đáng kể.

“Ưmmm, em lúc nào cũng yêu món cua cả,” anh có thể nghe thấy tiếng nàng nói. “Còn anh thì sao?”

Anh không biết, anh nghĩ.

Trái tim anh cảm thấy bị che khuất bởi một thứ gì đó vô hình, bao quanh bởi một điều huyền bí thẳm sâu và mềm mại. Anh đã không còn sở hữu những manh mối mờ nhạt nơi phía trước của cuộc đời mình, và những điều có thể chờ đợi anh ở đó nữa. Nhưng cuối cùng cũng đã đến lúc chân trời phía Đông bắt đầu rạng lên, anh chợt nảy ra một suy nghĩ đột ngột: Có một điều mình dám chắc, anh nghĩ. Bất kể là dù mình có đi đến đâu, mình cũng sẽ không bao giờ ăn cua nữa.

Hết.

Truyện ngắn Cua (Kani) được in lần đầu tiên trong tuyển tập truyện ngắn Stories #50 xuất bản năm 1984. Bản tiếng Anh do Philip Gabriel chuyển ngữ.

Lời người dịch:

Kỳ thực mà nói, đây không phải lần đầu tiên tôi tiếp cận tác phẩm này, nhưng lại chính là lần đầu tiên đọc nó. Truyện ngắn “Cua” đã từng được đề cập trong tác phẩm “Sân bóng chày” trong tập truyện ngắn “Người Ti-vi” do bác Phạm Vũ Thịnh dịch, tôi đã được đọc sáu năm trước khi còn là một đứa học sinh cấp 3. “Sân bóng chày” là một truyện ngắn không nổi trội mấy so với mặt bằng chung các truyện của Murakami, nhưng trong đó có một đoạn hội thoại của hai người đàn ông, một người làm nghề xuất bản đã kể về truyện ngắn “Cua” này thông qua một cuộc thi viết truyện ngắn do tạp chí/nhà xuất bản của ông ta tổ chức. Tôi cứ nhớ nhớ quên quên, thế nào mà suýt bỏ qua một truyện siêu ngắn nhưng đặc sắc như vậy.

Đầu tiên tôi định dịch chỉ để tặng một người bạn thân nhằm vui đùa là chính thôi. Nhưng dịch xong rồi mới tâm đắc rút ra một chân lý: Phàm truyện ngắn nào của Murakami mà tựa đề dính đến tên con vật, là truyện ngắn đó… dịch rất mệt! Thế thôi. Mời mọi người thưởng thức.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 8: Chương 6

Published

on

Người phụ nữ bước vào phòng tắm và khép cửa lại đằng sau cô. Tiếng vòi sen theo ngay sau đó.

Chuột cố gắng kiềm chế cảm xúc của mình. Hắn rướn người khỏi mớ chăn ga, vồ lấy một điếu thuốc đặt lên môi. Nhưng bật lửa của hắn không có trên bàn hay trong túi quần. Thậm chí hắn cũng chẳng có một que diêm nào. Hắn mò mẫm trong túi xách của người phụ nữ, nhưng cũng chẳng gặp may ở đó. Bỏ cuộc, hắn bật đèn và lục tìm hết các ngăn kéo bàn làm việc cho đến khi lật thấy một hộp diêm cũ có tên của nhà hàng nào đó trên bao bì. Hắn châm thuốc.

Vớ và đồ lót của cô ấy được gấp cẩn thận và xếp trên một chiếc ghế mây của hắn, chiếc đầm màu mù tạt vàng may đo trải lên lưng ghế. Trên bàn đầu giường là chiếc đồng hồ tí xíu và chiếc túi xách hiệu La Bagagerie, không mới nữa nhưng vẫn còn tốt.

Chuột chìm người xuống chiếc ghế đối diện và nhìn chăm ra cửa sổ.

Từ chỗ tọa cao trên dốc núi kia, Chuột có thể thấy các dấu hiệu của hoạt động con người rải rác ở sườn đồi bên dưới. Đôi lúc hắn đứng đó suốt nhiều giờ, hai tay chống hông, tập trung vào quang cảnh bên dưới hệt như một gôn thủ đứng ở đỉnh của một sân gôn nghiêng xuống. Con dốc xuôi nhẹ một góc thoai thoải, tụ lại với những ánh đèn rải rác từ những ngôi nhà. Có những lùm cây sẫm tối, những đồi nhỏ, và, đây đó, những hồ bơi tư nhân lấp lóa trắng dưới các ngọn đèn thủy ngân. Chỗ con dốc bắt đầu bằng phẳng, đường cao tốc bò ngoằn ngoèo qua khung cảnh hệt như một chiếc thắt lưng được chiếu sáng; từ chân núi tới bờ biển chừng nửa dặm xa, thị trấn trải ra phẳng lì và đơn điệu. Đại dương ngoài kia tan hòa vào bầu không thẳm tối, trong khi ánh màu cam từ ngọn đèn hiệu nhỏ kia chớp sáng, biến mất, rồi lại chớp sáng. Và cắt xuyên mọi lớp địa hình, phân chúng gọn gàng làm hai, tuôn dài một luồng nước đen sẫm.

Dòng sông.

Ω

Lần đầu tiên Chuột gặp người phụ nữ ấy là vào đầu tháng Chín, khi bầu trời vẫn còn giữ được chút dấu vết rạng rỡ của mùa hè.

Hắn tìm thấy một máy đánh chữ điện được liệt kê trong mục Hàng hóa đã sử dụng của tờ báo địa phương giữa đống quảng cáo xe cũi đẩy em bé, dụng cụ học ngôn ngữ Linguaphone, xe đạp ba bánh, và đồ tạp dụng linh tinh. Người phụ nữ trẻ trả lời điện thoại nghe có vẻ rất thẳng thắn rành rọt: chiếc máy đánh chữ đã dùng được một năm và còn một năm trong hạn bảo hành; trả hết bằng tiền mặt trước (không trả góp hàng tháng); hắn phải tự mình đến nhận hàng. Họ chốt thỏa thuận, và hắn lái xe đến căn hộ của cô, trả tiền, rồi nhận chiếc máy đánh chữ. Nó đáng giá gần như tương đương với số tiền hắn kiếm được từ công việc bán thời gian vào mùa hè.

Cô nhỏ nhắn mảnh khảnh và mặc một chiếc đầm không tay đầy thu hút. Những cây cỏ xum xuê lá đủ hình dạng và màu sắc trồng trong những chiếc chậu nằm xếp hàng ở lối vào căn hộ. Cô có nét mặt dịu dàng, và tóc được buộc gọn về phía sau. Chuột không thể xác định tuổi cô. Hắn đã nghĩ rằng có thể đâu đó giữa hai mươi hai và hai mươi tám.

Ba ngày sau, cô gọi hắn bảo rằng cô có một nửa tá dải băng máy đánh chữ mà cô vui lòng tặng miễn phí cho hắn. Khi Chuột đến nhận chúng, hắn mời cô đến quán J’s để đãi cocktail thay lời cảm ơn. Dù vậy, họ không tâm đầu ý hiệp ngay từ đầu.

Lần thứ ba họ gặp gỡ là bốn ngày sau đó, ở hồ bơi trong nhà. Hắn lái xe đưa cô về căn hộ và làm tình. Tại sao lại thành ra như thế? Chuột chịu không biết nổi. Hắn đã khơi chuyện đầu tiên hay cô? Họ đã chỉ thuận theo dòng chảy.

Một vài hôm sau, Chuột có thể cảm thấy cái thực tại hữu hình trong mối quan hệ của họ đang trương nở bên trong hắn, như thể một cái nêm mềm đang lấn vào trong đời sống thường nhật của mình. Từng chút một, có điều gì đó đang truyền thông. Phần ngọt ngào, lịch thiệp hắn đã quên lâu dường như đã trải rộng ra mỗi lần hắn nghĩ đến đôi vòng tay mảnh mai gói quanh cơ thể mình kia. 

Chuột có thể thấy rằng cô đang gắng thiết lập một kiểu toàn hảo trong thế giới nhỏ của cô. Hắn cũng nhận thức rõ rằng điều đó yêu cầu một mức độ quyết tâm phi thường. Cô chỉ mặc những chiếc đầm trang nhã song thùy mị nhất bên trên những đồ lót sạch, mới, xức nước hoa loãng nhẹ có mùi hương của ruộng nho ban sớm lên cơ thể, hết mực cẩn thận lựa lời, không đời nào hỏi những câu thiếu trọng tâm, và chừng như còn đã thực hành việc mỉm cười trước gương. Song những điều đó chỉ khiến Chuột thêm buồn. Sau một số lần gặp gỡ hắn đã đoán tuổi cô là hai mươi bảy. Điều đó hóa ra lại là điểm đen.

Đôi bầu ngực cô nhỏ nhắn, và dù cơ thể thon gọn của cô rám nắng tuyệt đẹp, nó miễn cưỡng hơn là kiêu hãnh, như thể nó đã được thế mà không có sự đồng thuận của cô. Xương gò má góc cạnh và đôi môi mỏng của cô đã nói lên sự giáo dục tốt và tâm cốt cương quyết của cô, nhưng chẳng hề có chút gì ngây thơ và dễ tổn thương bên dưới bề mặt đó, thứ được phô diễn với những biến báo tinh vi trong biểu hiện.

Cô đã học ngành kiến trúc ở một trường đại học nghệ thuật và hiện làm việc trong một văn phòng kiến trúc. Nơi sinh của cô ư? Chẳng phải nơi nào gần đây, cô trả lời. Tôi đến vùng này sau khi tốt nghiệp. Cô đến hồ bơi tuần một lần và bắt tàu đến lớp học viola mỗi tối Chủ nhật.

Cả hai bọn họ hội nhau tuần một lần vào đêm Thứ Bảy. Rồi Chuột nhả khói thuốc mơ màng cả ngày Chủ nhật trong khi cô tập chơi Mozart.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 7: Chương 5

Published

on

Khi tôi còn học đại học, chẳng ai trong khu căn hộ của tôi có điện thoại. Khỉ thật, tôi ngờ là không có bất kì ai trong chúng tôi có một cục tẩy. Dù, có một cái điện thoại trả tiền màu hồng, nằm ngoài văn phòng bảo vệ trên chiếc bàn thấp đã bị quẳng đi từ trường tiểu học địa phương. Đấy là chiếc điện thoại duy nhất trong toàn bộ chốn ấy. Các bảng mạch điện thoại là thứ cuối cùng trong tâm trí chúng tôi. Những tâm trí đó là một thế giới bình yên trong một thời đoạn bình yên.

Từ khi người bảo vệ không bao giờ ở văn phòng ấy nữa, một người trong chúng tôi phải trả lời điện thoại khi nó đổ chuông và chạy ào đi thông báo cho người nhận cuộc gọi ấy. Dĩ nhiên có những lần (như là một cuộc gọi đến lúc 2 giờ sáng) thì chẳng ai nhấc máy. Hệt như một con voi nhận thức cái chết gần kề của mình, chiếc điện thoại đã đổ chuông như điên (số lần đổ chuông nhiều nhất tôi đếm được là 32) rồi chết. Tôi dùng từ chết theo nghĩa đen hẳn hoi. Thời khắc cuộc gọi cuối cùng lượn xuống hành lang dài và biến mất vào đêm đen, một sự im lặng ngự trên cả tòa nhà. Đó là một sự tịch mịch kì quái. Chúng tôi nằm đó trong giường ngủ của mình, nín thở, khi chúng tôi nghe ngóng cuộc gọi chết tươi kia.  

Những cuộc gọi vào đêm muộn luôn luôn đáng ngã lòng. Ai đó sẽ nhấc ống nghe lên và bắt đầu thấp giọng trò chuyện:

“Thôi đi… Không, anh nhầm rồi… Chuyện gì xong thì đã xong, đúng không?... Thực đấy. Sao tôi phải nói dối chứ?... Không, tôi chỉ mệt thôi… Dĩ nhiên nó làm phiền tôi… Nhưng anh thấy đó… Ừ, tôi nhận được tấm hình rồi. Nhưng tôi cần thời gian, hiểu chứ?... Tôi không thể giải thích qua điện thoại đâu…”

Mỗi chúng ta có đủ thứ rắc rối khả dĩ phải đeo mang. Chúng từ trên trời rơi xuống và ta điên cuồng chạy quanh tìm nhặt lên, cho vào túi mình. Tại sao ta lại làm thế đã bắt bí tôi, cho đến giờ. Có lẽ chúng ta đã nghĩ chúng là thứ gì đó khác.

Có cả những bức điện tín nữa. Một chiếc mô-tô sẽ gầm rú ngoài cửa trước tầm bốn giờ sáng, theo sau là tiếng những bước chân sầm sập gần tiền sảnh. Rồi một nắm đấm sẽ nện lên cửa nhà ai đó. Tiếng động kia luôn luôn nhắc tôi về Tử Thần. Bum, bum. Chúng ta đã ngả quá nhiều về phía các tai ương –những cuộc đời mất đi vì tự sát, những tâm trí đổ nát, những trái tim bị bỏ rơi trong những vũng tù của thời gian, những cơ thể bỏng cháy với các ám ảnh rời rã–và chúng ta trao cho nhau một đống rắc rối đọa đày. Một ngàn chín trăm bảy mươi là năm đại loại như thế. Song nếu cứ bám lấy niềm tin rằng thân xác con người được tạo ra để cải thiện chính nó thông qua kiểu tiến trình biện chứng nào đó, một năm khủng khiếp như năm 1970 có thể dạy ta điều gì đó.

  Ω

Phòng tôi nằm ở tầng một cạnh văn phòng bảo vệ, trong khi cô gái có mái tóc dài kia sống ở tầng hai, kế cầu thang. Bởi cô rõ ràng là người thắng khi có các cuộc gọi đến, nên tôi bị kẹt vào việc lon ton lên xuống mười lăm bậc cầu thang kia hàng ngàn lần để gọi cô nghe điện thoại. Người gọi cho cô có đủ dạng. Giọng của họ có thể lịch thiệp hay bất nhã, buồn bã hoặc trịch thượng. Lúc nào họ cũng hỏi bằng tên cô. Song tôi đã quên bẵng cái tên đó là gì. Hồi ức duy nhất của tôi là tên cô thông thường đến não lòng.

Giọng cô trên điện thoại thì thào mệt lử, gần như không nghe thấy nổi. Diện mạo cô thu hút vừa đủ, nhưng có phần nào sầu u. Mặc dù chúng tôi thi thoảng ngang qua nhau trên phố, tôi chưa bao giờ mở lời với cô. Vẻ mặt của cô khi tiến bước hệt như ai đó đang cưỡi một con voi trắng trên một lối mòn hẹp chốn rừng sâu.

Ω

Cô sống ở khu căn hộ của chúng tôi được sáu tháng. Từ lúc bắt đầu mùa thu đến hết mùa đông.

Tôi sẽ trả lời điện thoại, leo cầu thang, gõ cửa nhà cô, bảo, “Cô có điện thoại,” và một chốc sau cô sẽ nói, “Cảm ơn.” “Cảm ơn” là từ duy nhất cô từng nói với tôi. Đổi lại, “Cô có điện thoại,” là hết thảy lời tôi từng nói với cô.

Đó cũng là một mùa cô độc với tôi. Khi quay về căn hộ của mình và trút bỏ quần áo vào cuối ngày, xương cốt tôi hăm he nổ bung ra ngoài da thịt và văng bay tứ tán. Như thể một lực lượng nội tại huyền bí nào đó đang dồn thúc tôi vào sai hướng, dẫn tôi đến một thế giới khác.

Những cuộc điện thoại khiến tôi suy nghĩ. Ai đó đang cố truyền thông với một ai khác. Song hầu như chẳng có ai từng gọi cho tôi. Tuyệt không một người cố với đến tôi, và ngay cả nếu họ đã làm vậy, ắt họ đã chẳng nói điều tôi muốn nghe.

Mỗi chúng ta, với mức độ cao thấp khác nhau, đều nhất quyết sống theo đúng hệ thống của chính mình. Nếu cách suy nghĩ của người khác quá khác biệt với tôi, nó khiến tôi phát điên; quá bức bí, và tôi đâm buồn. Đấy, chỉ thế thôi.

    Ω

Khi mùa đông kết thúc chính là lúc tôi đã nhận chuyển cuộc điện thoại cuối cùng của cô. Một sáng thứ Bảy trong trẻo đầu tháng Ba. Đại để giữa buổi sáng, mười giờ, nắng mùa đông tươi sáng đang dọi khắp ngóc ngách trong căn phòng nhỏ của tôi. Lúc nhận thức được tiếng chuông, tôi đang ngồi trên giường nhìn qua cửa sổ vào vườn bắp cải cạnh cửa chính. Những mảng tuyết lóng lánh rải rác trên đất đen hệt như những vũng nước – thảy đều là di tích của trận tuyết cuối vào đợt rét đột ngột sau cùng trong năm.

Điện thoại đổ mười lần mà chẳng ai nhấc máy. Rồi năm phút sau lại bắt đầu. Tiếng chuông rầy rà nên tôi đành tròng chiếc áo len đan lên bộ đồ ngủ rồi đi bắt máy.

“Có cô… đó không?” một người đàn ông hỏi. Giọng anh ta phẳng lì, không biểu cảm. Lẩm bẩm gì đó bất đắc dĩ, tôi lê bước lên cầu thang và gõ cửa nhà cô.

“Cô có điện thoại.”

“Cảm ơn.”

Tôi về lại phòng mình, nằm xuống giường, và quan sát trần nhà. Tôi có thể nghe tiếng bước chân cô đang đi xuống, rồi tiếng thì thào đó. Một cuộc thoại ngắn bất thường đối với cô. Có lẽ chỉ mười lăm giây. Tôi nghe cô cúp máy và rồi có một sự tĩnh lặng kéo dài, không tiếng bước chân, không gì cả. Một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân chầm chậm đến gần cửa nhà tôi, kèm theo hai tiếng gõ. Có một khoảng ngừng chừng một hơi thở sâu, rồi lại thêm hai tiếng khác.

Khi tôi mở cửa cô đang đứng đó trong bộ áo phông thùng thình và quần jean. Tôi thoáng nghĩ mình đã nhầm lẫn, rằng cuộc gọi kia được nhằm vào ai khác, nhưng cô đã chẳng nói gì cả, chỉ đứng đó run run với hai tay ôm nhau trước ngực và mắt dán vào tôi. Trông cô hệt như ai đấy trong chiếc xuồng cứu sinh đang nhìn con tàu chìm dần. Hoặc có lẽ là tình huống ngược lại cũng nên.    

“Tôi vào được không? Ngoài này rét quá.”

Tôi bị bất ngờ, nhưng vẫn để cô vào và khép cửa. Cô ngồi xuống trước lò sưởi bằng gas để hơ ấm đôi tay và nhìn quanh.

“Phòng này trống trơ kinh dị, nhỉ?”

Tôi gật. Thực sự chẳng có gì. Chỉ một chiếc giường cạnh cửa sổ, và thế thôi. Một chiếc giường quá lớn cho một người, và quá bé cho hai. Tôi cũng chẳng mua nó. Đúng hơn là, một người quen đã cho tôi. Tại sao anh ấy tặng nó cho một kẻ rõ là xa lạ thì tôi chịu. Chúng tôi hiếm khi nói chuyện. Là một chàng trai nhà giàu đến từ vùng xa xăm nào đó, anh đã bỏ trường sau khi bị các thành viên trong một nhóm chính trị đối lập đánh hội đồng, họ đá vào đầu anh khi đang mang ủng công trường, trận đánh này đã gây tác hại cho thị lực của anh. Chuyện đó diễn ra ở sân trường, và anh thổn thức suốt đường từ đó đến bệnh xá của trường, trước sự ghê tởm bàng hoàng của tôi. Một vài ngày sau anh bảo tôi rằng anh rời trường. Và tặng tôi chiếc giường.

“Có thứ gì đó âm ấm để uống không?” cô nói. Không, tôi đáp, lắc đầu. Không cà phê, không trà, thậm chí ấm đun nước cũng không. Chỉ có một cái chảo để nấu nước nóng khi tôi cạo râu vào buổi sáng. Chờ đây nhé, cô nói với một tiếng thở dài. Cô đứng lên và rời phòng, quay lại sau năm phút với một hộp giấy cứng trong tay. Bên trong là thực phẩm dự trữ đủ cho sáu tháng gồm trà túi lọc và trà xanh, hai gói bánh quy, đường cát, một bộ ấm đĩa cơ bản, cùng hai chiếc cốc có hình cún Snoopy. Đặt chiếc hộp xuống giường, cô lấy chiếc ấm ra và bắt đầu đun nước.

“Làm sao anh xoay xở được thế? Anh sống hệt như Robinson trên đảo hoang ấy!”  

“Đúng là không vui thú gì mấy.”

“Tôi cũng đoán thế.”

Chúng tôi uống trà túi lọc trong im lặng.

“Anh có thể nhận hết mấy thứ này,” cô nói.

Tôi suýt sặc trà. “Sao cô lại làm thế?”

“Cách tôi nói lời cảm ơn thôi. Cho tất cả những lần anh đã trả lời hộ điện thoại.”

“Nhưng cô không cần dùng nữa à?”

Cô lắc đầu. “Mai tôi chuyển đi rồi. Chẳng còn ích gì với tôi nữa.”

Hẳn phải có thứ gì đó giải thích được chuỗi sự kiện mới này, nhưng tôi chẳng thể hình dung được là gì.

“Đã có chuyện gì tốt đẹp sao? Hay chuyện gì đấy tệ hả?”

“Không tốt lắm, tôi cho là vậy. Ý tôi là tôi đang bỏ học và về quê.”

Ánh nắng mùa đông tràn ngập căn phòng mờ đi một thoáng, rồi hửng sáng lên lại.

“Nhưng anh chẳng muốn nghe chuyện ấy đâu, phải không? Phải tôi thì chắc sẽ không. Ai đời lại muốn dùng những chiếc đĩa mà người khác đã bỏ đi chứ!”

Sáng hôm sau, một cơn mưa lạnh lẽo bắt đầu rơi. Một cơn mưa phùn đã len lỏi rỉ qua áo mưa của tôi và ngấm vào áo phông thể thao bên dưới. Mọi thứ – chiếc rương lớn tôi đang ì ạch kéo và chiếc va-li cùng túi cô đeo vai – đều thẫm đen vì hơi ẩm. Người tài xế ta-xi chộp lấy chúng tôi chẳng cho để bất cứ món nào lên ghế ngồi. Trong xe nóng và ngột ngạt với mùi thuốc lá lưu cữu, và một bản ballad truyền thống đang rền rĩ từ đài phát thanh của xe, một giai điệu kiểu cũ như một cánh tay chỉ hướng rẽ ở các ô tô đời xưa. Những cành cây trụi lá nhiễu giọt đóng thành băng nhũ xếp hàng dọc hai bên đường trông hệt như rặng san hô dưới nước.

“Tôi chả thích Tokyo ngay lần đầu để mắt đến,” cô nói, “và đến giờ vẫn thế.”

“Thật ư?”

“Ừ. Đất thì quá đen, sông thì bẩn tởm, lại chẳng có ngọn núi nào… Anh thì sao?”

“Tôi đã chả bao giờ nghĩ về phong cảnh cả.” 

Cô thở dài. “Đấy là lí do anh sống sót được ở chốn này,” cô nói cùng một nụ cười mỉm.

Chúng tôi đến sân ga và buông đống túi xách xuống.

“Cảm ơn vì tất cả,” cô nói. “Tới đây tôi có thể tự mang được rồi.”

“Quê cô ở đâu?”

“Ngược lên phía bắc.”

“Tôi cược là lạnh lắm.”

“Cũng ổn cả. Tôi quen rồi.”

Khi đoàn tàu chuyển bánh cô vẫy chào tôi từ cửa sổ. Tôi giơ tay ngang tầm tai, nhưng khi đoàn tàu ra khỏi tầm mắt, bất thình lình tôi bỗng thấy ngượng ngập và đút tay mình vào trong túi áo mưa.

Trời mưa suốt ngày hôm đó và dai dẳng đến tận đêm. Tôi mua hai chai bia ở cửa hàng thức uống địa phương và uống cạn hết bằng một chiếc cốc cô đã cho tôi. Tôi đang lạnh cóng. Chiếc cốc in hình cún Snoopy và chim thư kí Woodstock đang chơi đùa trên mái nhà của Snoopy với một quả bong bóng có ghi, “Hạnh phúc là một người bạn ấm áp.”  

Ω

Cặp sinh đôi đã thiếp ngủ khi tôi mở mắt. Ba giờ sáng. Ánh trăng mùa thu bên ngoài cửa sổ phòng tắm sáng gượng gạo. Tôi ngồi trên rìa quầy bếp cạnh chậu rửa, uống hai cốc nước, và châm thuốc bằng bếp ga. Lớp lớp tiếng của hàng ngàn hàng vạn côn trùng trỗi lên từ sân gôn sáng trăng.

Tôi nhấc cái bảng mạch lên dựa vào quầy bếp và kiểm tra nó cẩn thận, xoay nó đủ mọi góc. Chỉ là một tấm bảng vô nghĩa, đầy bụi bặm và cũ kĩ, bất kể nhìn ngắm nó thế nào đi nữa. Từ bỏ, tôi đặt nó trở lại chỗ cũ, lau bụi bẩn trên tay, và rít một hơi thuốc khác. Mọi thứ có vẻ nhợt nhạt dưới ánh trăng. Trống rỗng cả về giá trị, nghĩa lí, hay phương hướng. Thậm chí những cái bóng cũng mờ ảo. Tôi dụi điếu thuốc vào bồn rửa và châm điếu khác.

Liệu có bao giờ tôi tìm được một chốn đích thực là của riêng tôi? Đấy có thể là đâu? Tôi cứ nghĩ mãi, song chỉ có hình ảnh buồng lái của một chiếc máy bay ném ngư lôi hai chỗ ngồi hiện ra trong tâm trí. Nhưng đó là một ý nghĩ ngu ngốc tuyệt đối. Ý tôi là, những thứ đó đã quá đát từ ba mươi năm trước rồi, phải không?

Tôi quay lại giường và len vào giữa cặp sinh đôi. Họ đang nằm cuộn mình với đầu lệch về phía hai mép giường, thở đều bình an. Tôi kéo chăn lên tận cằm và quan sát trần nhà.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 6: Chương 4

Published

on

Ngọn đèn hiệu không người trơ vơ cuối bến tàu dài ngoằn ngoèo. Ngọn đèn không đặc biệt lớn, chỉ thấp hơn ba mét rưỡi một chút. Những con tàu cá đã dựa vào ánh sáng của nó thời trước khi sự ô nhiễm dồn lũ cá xa bờ. Chẳng có gì giống với một bến cảng ở khu vực này. Thay vào đó, ngư dân đã trang bị một bộ tời bằng gỗ với ống cuộn và dây thừng để kéo tàu của họ từ bãi biển. Ba căn lều của họ đã được dựng gần đấy; vào buổi sáng sẽ thấy những khay gỗ đựng cá nhỏ đang phơi khô trên mặt đê chắn sóng. Tuy nhiên, ở một thời điểm nào đó, ngư dân đã rời bỏ, bị xua đi bởi sự kết hợp của ba yếu tố: sự biến mất của đàn cá, sự ác cảm vô lí của những kẻ đi vé tháng vì có một làng cá gần thị trấn của mình, và lời tuyên bố của quận rằng những căn lều dọc bãi biển kia là bất hợp pháp. Đấy là năm 1962. Chẳng ai đoán nổi những ngư dân kia đã biến về đâu. Đại khái ba căn nhà kia đã hoang tàn, trong khi những con thuyền mục nát, chẳng có chức năng gì cũng chẳng có chỗ nào để vứt bỏ, bị bỏ lại chỏng chơ giữa đám cây cối dọc bờ biển, nơi chúng phục vụ như một sân chơi cho đám trẻ con.

Một khi những tàu cá đã biến mất, những con thuyền nhẹ tư nhân lang thang dọc bãi biển cùng những tàu hàng bỏ neo ngoài bến cảng tìm nơi trú bão và sương mù dày đặc là những phương tiện hàng hải duy nhất có thể thấy rằng ngọn đèn hiệu kia giúp ích nhiều. Nhưng chắc hẳn nó đã không còn phục vụ một mục đích nào nữa.

Ngọn đèn hiệu là một thứ thù lù đen sì có hình như một cái chuông úp hoặc một người gò lưng trong suy tưởng nhìn từ phía lưng. Khi mặt trời bắt đầu lặn và ráng chiều bắt đầu nhuộm màu xanh thẫm, ánh sáng màu cam rực sáng trên đỉnh ngọn đèn – cái núm chuông – và nó bắt đầu xoay chầm chậm. Vào khoảnh khắc đó, khi ngày chuyển đêm, ngọn đèn hiệu đến với đời sống: dù buổi tối có mang một hoàng hôn tuyệt đẹp hay một lốt áo choàng mù sương, chùm sáng ấy bắt đầu quay ngay chính thời khắc mà sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối chuyển giao, và bóng đêm tối thượng ngự lên.

Thời thơ bé, Chuột thường xuống bãi biển vào buổi tối chỉ để chứng kiến khoảnh khắc chớp nhoáng đó trong bóng tối. Nếu những con sóng không quá cao hắn sẽ dạo bộ tới tận đầu kia của bến tàu uốn lượn, đếm số phiến đá lát đường mà hắn đã đi qua. Lúc chớm sụp tối hắn có thể thấy hàng đàn cá nhỏ xíu kinh ngạc lao về phía vùng nước sáng. Chúng sẽ bơi vòng dọc mạn bến tàu, như thể đang tìm kiếm gì đó, trước khi hướng ra khơi.  

Khi cuối cùng cũng đến chỗ ngọn đèn hiệu, Chuột ngồi xuống nơi đầu mút của bến tàu ấy và nghiên cứu bầu trời. Trời mang màu xanh đen đến ngút mắt, với những vỉa mây trông như được vẽ lên dưới nét cọ của một họa sĩ. Màu xanh thẫm kia chừng như không đáy; vực thẳm của nó khiến chân Chuột run lên kinh sợ. Mọi thứ quá sinh động, mùi đại dương, màu ngọn gió.

Nán lại mãi, Chuột uống cạn khung cảnh trải ra trước mắt mình, rồi quay lại. Giờ thì hắn đang chiêm ngắm thế giới của chính mình, quá đỗi tách biệt với biển khơi. Bãi biển và đê chắn sóng trắng bàng bạc, hàng thông xanh yên ả, và, đằng sau chúng, nhô in trên nền trời, đường viền sắc nhọn của những ngọn núi đen thẫm xanh.

Xa bên mạn trái của hắn là khu cảng lớn, với những cần trục, vũng tàu đậu dập dềnh, những nhà kho như hình hộp, những chiếc tàu hàng, và các tòa nhà cao. Bên phải hắn, đối mặt đại dương và trải dài theo đường bờ biển cong cong, là khu dân cư im lìm, bãi đậu thuyền nhẹ, một số kho rượu cũ kĩ, và, một khoảng vừa phải phía xa kia, hàng dãy những bể chứa hình cầu cùng các ống khói nhà máy chọc trời của khu công nghiệp, đã che phủ bầu trời trong làn khói trắng mù mịt. Những thứ đó đánh dấu sự cáo chung của thế giới thời niên thiếu mà Chuột đã biết.

Suốt thuở ấu thời, từ xuân đến chớm thu, Chuột dành cho những chuyến thăm ngọn đèn hiệu. Khi sóng lớn, bụi nước bắn vào chân hắn, gió gào, và hắn thi thoảng trượt ngã trên những phiến đá lát trơn rêu. Song con đường đến ngọn đèn hiệu đã thân thiết với hắn hơn bất cứ gì khác. Hắn sẽ ngồi ở chốn tận cùng của bến tàu ấy lắng nghe sóng vỗ, ngắm những đám mây, bầu trời, và hàng đàn cá nhỏ, và ném những viên cuội mình mang theo trong túi vào làn nước.

Lúc trời sẫm tối hắn sẽ lại bước trên cùng con đường ấy để quay về thế giới của chính mình. Dù cho, sự quay lại này đã luôn luôn đồng hành với một nỗi buồn không sao tả nổi. Cái thế giới đang chờ đợi hắn ngoài kia đúng là quá lớn lao, quá mạnh bạo; chốn đó chừng như chẳng hề có chỗ nào hắn khả dĩ đào sâu vào được.

Căn hộ của người phụ nữ không xa bến tàu. Kí ức mơ hồ về thời thơ ấu của hắn và dư hương của những buổi tối kia trở lại với Chuột mỗi lần hắn đến thăm cô. Hắn sẽ đỗ xe trên con đường dọc bờ biển và đi băng qua những cây thông đứng rải rác được trồng để ngăn cát thổi vào từ bãi biển. Cát phát ra âm thanh khô khốc dưới chân hắn.

Khu căn hộ nằm đúng nơi những căn lều của các ngư dân đã từng dựng lên. Nếu đào xuống một vài mét, nước biển màu nâu đỏ sẽ phun trào bọt. Những cây chuối hoa Nam Mĩ ủ rũ trong vườn trước, như thể ai đó đã giẫm đạp chúng. Người phụ nữ sống ở tầng hai – khi gió thổi nó sẽ quét qua cửa sổ của cô những luồng cát mịn. Căn hộ nhỏ nhắn gọn gàng của cô xoay mặt hướng nam, nhưng nó ảm đạm lạ lùng. Chính đại dương đấy, cô nói. Chính vì gần đến chết tiệt – mùi thủy triều, gió, tiếng sóng, mùi hôi của cá… hết thảy.   

“Em chẳng thể ngửi thấy mùi cá ở đây đâu,” Chuột bảo.

Chắc chắn em có thể, cô nói. Cô kéo sợi dây cuộn và bức mành mành khép rụp. Anh sẽ có thể nếu anh sống nơi này.

Cát quất vào cửa sổ.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Cafe sáng