Sáng tác

Truyện ngắn: Thiếu nhi đánh cờ tướng (Kỳ Y)

Published

on

Tại đại hội cờ tướng tiểu học cấp thành phố năm đó, quận Phú Nhuận cử ba em học sinh tiểu học đạt giải cấp quận đi thi đấu. Tôi và hai người khác trường – chúng tôi hẳn vẫn còn hỷ mũi chưa sạch nhưng đã vác một trọng trách to lớn. Tôi là đứa trẻ nhất, lớp hai, còn lại là một anh lớp bốn và một anh lớp năm. Phú Nhuận chưa bao giờ được giải nào cả, cái trường của tôi cũng chưa, và rất nhiều thứ chưa, chưa, chưa chỉ càng khiến tôi muốn mình là người đầu tiên phải chiến thắng. Đầu tiên, phải, đó cũng là năm đầu tiên tôi biết chơi cờ rồi đi thi đấu. Với sức chiến ngoan cường nén trong một đứa nhỏ thó, tôi đã có mặt ở đây sau hai vòng đấu trường và đấu quận khắc nghiệt. 

Sau trận đầu tiên thắng “xiềng” (theo lối nói từ ba tôi), huấn luyện viên quận gọi chúng tôi ra. Tôi, như một thằng láu cá háo thắng, xâu kẻ thù thành một xiên, bắt đầu vẫy vẫy cái xiên ấy rồi khoe tới tấp dẫu cái xiên mới chỉ tòng teng một chiến lợi phẩm. Ôi tôi tưởng như mình vô địch đến nơi! Dù nhà thi đấu trần cao như nhà hát và hoàn toàn khiến những đứa nhỏ chúng tôi vốn nhỏ lại càng teo nhỏ hơn vì kinh hãi, nhưng tôi, dường như lại bình tĩnh hơn cả. Khi thấy biên bản ghi điểm, ông huấn luyện viên khá hài lòng. Ông ta bắt đầu nhắc lại rằng ráng sức thắng những ván đầu, việc này rất quan trọng vì chúng tôi thi theo hệ số cộng dồn nên nếu thua thì xem như thua về đường dài. Còn nếu không thắng được thì hãy cố thủ hòa, vớt vát và có thể lội nước rút ở những ván sau. Nhưng thắng vẫn hơn, chỉ có thắng mới vui hết công suất được. 

Ba tôi cũng có mặt tại đó, nhìn ông hớn hở tôi biết ông rất mong thấy tôi được giải. Tôi nhớ đây là quãng thời gian hiếm hoi tôi xem ông như một người bạn, ông không còn là ông Nghị mà tôi vẫn khiếp sợ (Nghị: Ngờ-i-nghi-nặng-nghị – một loạt tổ hợp những thứ dữ dội, vừa có nghi lại vừa có ngờ, vừa có nặng lại vừa có nghiêm). Hai hôm thi vòng trường và vòng quận tôi đều được ông chở ăn phở. Thi giải thành phố khó hơn và kéo dài gần cả tuần nhưng ông vẫn đảm bảo cả tuần tôi được ăn những gì mình thích, thậm chí gà rán và pizza cỡ nhỏ. Ông hay xoa đầu tôi, ông bảo nếu tôi không được giải thì cho tôi cọ xát để biết mình chơi tốt chơi dở thế nào. Tôi biết ông nói vậy cho tôi đỡ áp lực thôi chứ sâu trong tôi không muốn phụ lòng ông. Tôi chỉ chực chờ, phải, tôi như một cục đá lửa chuẩn bị nẹt cháy tụi nó, hình ảnh ấy cứ ở trong đầu tôi, dù tôi hoàn toàn biết những đứa quận 1, quận 5 rất cao cường. Nói chung hai quận này toàn con cái nhà giàu nứt vách và đều cắp cặp đi học lớp ban đêm như luyện gà đội tuyển tụi Trung Quốc. Tức không phải hạng dễ xử. Tôi đã hỏi các anh lớp bốn lớp năm từng thi đấu xem tên này tên kia hay đánh thế gì để chuẩn bị trước. Còn ba bảo tôi bình tĩnh, hãy cố biến những thế cờ lạ thành thế cờ quen thuộc. 

Ván thứ hai sáng ngày hôm sau tôi thủ hòa với một tên quận 1. Tên ấy lớp bốn. Tôi bắt đầu biết khiêm tốn hơn vì tôi suýt thua đậm. Cho dù tôi đã biết tên đó đi Phản Công Mã nhưng tôi không bật lại được, tên này đánh quá dữ dằn và trây đến tận cờ tàn – thứ chẳng hề quen thuộc với tôi. Thằng khốn đó còn chơi trò tâm lý, giữa ván lúc tôi suy nghĩ lâu nó gọi cho ba nó (thứ công tử bột thích khoe điện thoại) bảo ba chở nó về, nó sắp thắng rồi. Tôi không lấy làm nao núng, dù tay tôi hơi run và yếu đi, mỗi hơi thở của tôi trở nên dồn dập hơn. Tôi có nghĩ mình sắp gục vì căng thẳng, và rồi đi đại một nước, một nước quan trọng. 

Hầu như những lựa chọn trọng đại trong cờ lẫn trong đời (thứ mô phỏng cờ) tôi đều chọn đại như vậy, như thể sau những hồi căng thẳng đến chết đi được, thì tôi sẵn sàng chết cho thật chóng vánh. 

May sao hòa trận. Được nửa điểm. Tôi giảm đi sự hớn hở với ba mình. Lúc ăn trưa ông có vẻ không an tâm tôi cho lắm, ông bảo tôi lấy biên bản ra và diễn lại trận đấu. Như giải trí thôi. Nhưng ba phân tích khá kỹ khiến tôi hơi căng thẳng, rằng tôi lại bỏ sót loạt nước yếu của đối thủ, rằng tôi đã không chớpthời cơ, rằng tôi điều quân lòng vòng và để nó quật cho hòa. Tôi gật gù và cố dung nạp những lời ba tôi căn dặn. Đầu óc tôi trên mây và đánh giá chúng cao quá chăng? Hóa ra chúng không ghê như tôi tưởng, vần vũ cho cùng cũng chỉ là khoa trương, cây nhà lá vườn vẫn ổn hơn cao lương mỹ vị. Tôi lấy tự tin trở lại cho ván đấu chiều. 

Tôi đợi đối thủ đến và nhâm nhi chai nước lạnh ba tôi mua cho. Thằng này đến trễ, dân cờ quận 5, nó định chơi trò tâm lý như thằng quận 1 thật sao? Đầu óc tôi bay lòng vòng trên những giàn đèn rồi chớp lóe thay cho chúng. Tôi vốn biết mấy trò tâm lý. Như nhiều thằng khi đương đánh lại bỏ đi sang bàn khác, ngắm nghía rồi toát ra vẻ mặt kiêu kỳ. Một vài đứa khác có trò vào nhà vệ sinh đi tiểu – thì hẳn chúng chẳng nhờ ai mách nước đâu, nhưng có khi lại cầu cứu ông thần vệ binh ông thần vệ sinh nào trong đấy. Toàn thứ ra vẻ, toàn thứ hèn nhát. Tôi sốt ruột chờ tên ấy, trọng tài bấm đồng hồ giúp tôi trừ giờ thằng đó. Tôi bắt đầu háo hức, tôi có thể được miễn đấu và thắng một điểm không tốn sức. Tôi bắt đầu mơ mộng. Bỗng nhiên những dòng sung sướng cuộn trong tôi như phước báu kiếp trước lũ lượt ùa về. Tôi cầu tên đó ngủ quên. Tôi cầu tên đó bị mất giấy thi đấu. Tôi cầu tên đó bị kẹt xe tắc đường; nếu không tắc thì tôi cầu cho tên đó ngồi trên bàn cầu, bị thần vệ sinh trừng phạt và ban cho cơn tiêu chảy. Tôi thật ác độc, nhưng tôi cũng thật chính đáng. 

Nhưng rồi rột rẹt, tạch, tạch, tạch. Tên đó đến, ký giấy và chúng tôi lao vào trận đấu nghẹt thở. Đồng hồ cứ thế luân phiên ăn bớt thời gian mỗi người. Hóa ra mơ mộng chỉ khiến cho con người ta kiểu nào cũng phải xấu hổ. Tôi đã phí phạm thời gian nghĩ chuyện không đâu. Mọi thứ vốn dĩ nằm ngoài dự đoán của ta đấy thôi. Tôi có chút thất vọng, và rồi từ hùng hồn tôi chuyển sang khuynh hướng có chút sợ hãi rằng mình đã suy nghĩ xấu cho đối thủ và sẽ gặp quả báo. Tôi đi trước, đã chĩa họng Pháo nhòm xa vào mặt Tướng đối thủ, tên đó vừa vào đã đá hai Mã vào trung tâm, Sĩ gác Tượng nâng phòng thủ chắc chắn. Những quân cờ lạnh lùng, chốc chốc lại chém giết, hất nhau nhảy ra bàn cờ cho đại cục. Bình Phong Mã, thế cờ lừng danh mà tôi vốn biết và yêu thích chơi cho bên Hậu, giờ tôi phải đấu với kẻ dùng chính thế trận yêu thích của mình. Nhưng vui thay, cây nhà lá vườn vẫn hơn cao lương mỹ vị, tên này không biết đánh và để mất một con Xe “yếu nhớt”. Tôi muốn bật cười ha ha như mấy bộ phim hoạt hình nhố nhăng tôi vẫn hay xem. Trời, thật chứ? Con Xe, một trong những con đắt giá nhất bàn cờ, tận 10 điểm. Không thể tin được, tuyển thủ quận 5 đây sao? Người Việt đánh cờ vẫn hơn người Hoa! – tôi nhớ có ai nói vậy.

Tôi cầm chắc phần thắng. Tôi đi chầm chậm lại chờ cho nó hết giờ. Tôi chỉ có thể thắng. Tôi dâng con Xe “ngon nghẻ” của mình lên (tôi thích cách nói này từ ba tôi lắm), bỏ lại hàng rào phòng thủ, như một cầu thủ đang muốn tạo đột phá. Tên đó hình như điềm tĩnh trở lại… nó dốc hết lực đánh tôi, bên cánh phải, chỉ để lại một con Mã ở quê nhà. Tôi bắt đầu căng thẳng. Mọi việc hóa ra không trơn láng, nó chỉ trơn láng khi ta chỉ cứ một mạch mà đi, đằng này, tôi lại bắt đầu do dự. Tôi sợ bị đột kích. Tôi không thể thua nhảm nhí được. Tôi hít sâu, rồi hơi thở tôi đẩy mạnh như một cái pô xe phân khối lớn. Tôi chần chừ phần thắng, vì tôi muốn mình không được thua trước. Tôi bốc con Xe lùi lại.

“Ê! Kỳ vậy! Trọng tài!”

Nó làm ngắt mạch suy nghĩ của tôi và làm tôi chuẩn bị phải suy nghĩ lại từ đầu. Vì lý do gì đó. Không sao. Tới lượt nó đi. Tôi có thêm thời gian ký sinh từ thời gian của nó.

“Sao em?”

Ông ta bước lại, dáng vẻ hơi nhọc vì cái bụng mỡ. Ông là trọng tài duy nhất của dãy bàn chúng tôi, tôi thiển nghĩ, hẳn ông cực lắm vì ông cứ đi qua đi lại hoài. Rồi tôi thấy cái bụng nhòng nhòng trồi đập vào lớp áo thun, cái bụng y như một tù nhân đòi được thoát khỏi cái nhà tù bằng vải.

“Bạn này bốc con Mã nhưng lại đi con khác.”

“Là sao? Em, em bốc cờ thì phải đi chứ.”

“Con… con đâu có bốc con Mã đâu! Bạn nói gì kỳ vậy?”

“Có bốc đàng hoàng, con thấy rõ ràng luôn chú!”

“Không! Làm gì có!”

“À, em có nói sửa cờ không?”

“Bạn không hề nói sửa cờ. Cách bạn bốc cờ không phải là sửa cờ cho ngay lại chú, mà bốc xong bạn rụt tay lại hối hận. Rồi bạn bốc con khác!” 

Nó diễn lại nước vừa rồi cùng tư thế ngồi của tôi. Tôi căng mắt và không thể tin được, vì đúng là tôi đã vô thức chạm trúng tay con Mã.

“Vậy… là con có đụng, cho con xin lỗi.”

Sau lời nói run rẩy của tôi, ông ta gật gù, biên độ của ông theo biên độ đập tay lên bàn của nó, khi nó đang giải thích kỹ hơn một lần nữa. Nhưng rồi vì sự hiền hậu ở những người có chiếc bụng ông địa toát lên, ông ta dịu dàng trấn an:

“Thôi thôi, bình tĩnh. Lần này chú nhắc, lần sau là không nhắc lại.”

“Dạ… con nhớ rồi!”

“Đụng quân là phải đi. Luật là luật! Nhớ đó. Hai đứa đánh tiếp đi. Tới giờ của em đúng không, rồi.”

Kịt, ông ta ấn đồng hồ.

“Dạ…” 

Tôi lí nhí, rồi thất thần quay đầu trở lại bàn cờ. Ông ta bước rảo qua bàn bên, một luồng khí luồn dọc sống lưng tôi. Tôi bị làm sao không thể tỏ. Tôi đã cẩn trọng đến mức như thể chủ quan. Tôi rơi vào điểm mù của cẩn trọng. Tôi tìm cách thoát ra, nhưng không thể. Tại sao có nhiều nước để đi thế này và nước nào cũng rất triển vọng lẫn rủi ro? Tôi muốn đi đại, nhưng không được, vì tôi không thể thua. Tôi thấy nghẹt thở quá. Hẳn người lớn hay gọi đây là áp lực, vì nó căng phồng khắp tôi, biến tôi thành trái bong bóng chực chờ nổ tung.

Tên đó bốc con Pháo đâm xuống đáy bên phía tôi, dọa chiếu bí bằng đòn Pháo Trùng. Tôi há hốc mắt mình ra vì kinh ngạc, tên đó đã lấy lại phong độ trở lại. Không sao, tôi chỉ cần một nước xuất Tướng là xong. Nhưng từ từ, tôi có thể thắng ngay bây giờ không? Tôi hẳn phải có nước nào đó chiếu liên tù tì. Tôi phải dứt điểm sớm, như ba tôi nói, tôi không thể chần chừ.

Không, cho dù đã hơn thế trận thì tôi vẫn không thể nào chủ quan. Tôi không thể để nỗi sợ thua ám muội mình. Tôi chỉ sợ chiến thắng vụt mất. Giờ tôi mà bốc con cờ khác là thua ngay. Tôi không được bốc con cờ khác. Chỉ cần chạm con Tướng thôi, là tất cả chiêu trò dụ dỗ được tháo gỡ.

“Sửa cờ.”

Tôi hô lên, giữ bình tĩnh, chỉnh các quân cờ ngay ngắn lại trước khi thực hiện nước quan trọng. Luật là chỉ cần hô lên và dùng tay dịch sửa cờ thôi, tôi không bị tính lỗi là bốc quân mà không chịu đi. Nó nhăn mặt nhìn tôi, ra vẻ bất ý. Rồi tôi đưa sự tập trung của mình trở lại trận địa. Nhưng tôi không thể sơ sót, tôi xem kỹ lại vị trí các quân cờ một lần nữa. Những tia sét xẹt trong đầu tôi, vì khi căng thẳng chơi cờ, não con người ta phát sáng cực độ, và tôi đây đang nhìn vào khoảng vô định cùng những mộng tưởng và sát chiêu. Tôi căng thẳng quá, tôi không thể chịu được!

“Trọng tài ơi!”

“Sao, có gì nữa!”

“Bạn này mới bốc con Tượng rồi không chịu đi!”

“Sao sao, đâu.”

“Bạn bốc cờ rồi không đi.”

“Nữa hả? Em lại vậy nữa. Chú đã dặn em rồi!”

“Đã vậy con đâm con Pháo xuống chiếu bí bạn, bạn không chịu, đòi đi lại.”

“Em này, chú đã nhắc em rồi! Bốc cờ là phải đi!”

“Em…? Em… không, em không có bốc mà!” 

“Đây chú, bạn này bốc con Tượng, nãy bạn đụng tay vậy nè, chính tay bạn đụng luôn. Bạn đụng rồi rụt tay lại, bạn không hề nói sửa cờ! Rồi con mới đâm con Pháo xuống đây, chiếu bí hết cờ!”

“Em à, em có đụng không?”

“Em không đụng… em không đụng thật mà!”

“Trời, nó nói xạo! Nó đụng rõ ràng!”

Vài người lớn hiếu kỳ bước lại chỗ bàn tôi, tôi và thằng đối thủ đang làm ầm nhà thi đấu lên. Chúng tôi cãi cọ. Một số người phụ dời bàn những đứa khác ra xa, tránh để bị phân tâm. Bọn chúng nhìn tôi – nhìn tôi, chứ không phải thằng đối thủ tôi – như thể tôi là một kẻ đểu cáng lừa lọc. Tôi đang cố sức minh oan cho mình, nhưng tôi không thể nhớ được.

“Ba?”

Ba tôi đứng ở ngoài, ông thấy bàn tôi nhiều người lớn xôm tụ lại như kiến bu dĩa đường. Khi tôi vừa thấy ba, ba bật cười. Lòng tôi cấn lên đau nhói, hẳn ông đang nghĩ rằng tôi đánh hay đến mức hút cả người lớn lại xem, rằng ván cờ của thằng con mình có khi được lên báo, dẫu nó có thua hay thắng cũng không sao cả. Nhưng rồi, thấy có gì đó không ổn, rằng tôi lại không đánh cờ mà lại nói chuyện với trọng tài, ba bước lại. 

“Có chuyện gì vậy anh?”

Ông trọng tài bước lại ba tôi rồi quơ tay giải thích. Ba tôi khựng lại như để trút hết mọi ảo tưởng, ông điềm đạm bước lại gần bàn cờ. Và rồi ông cũng đứng sau tôi. Ông trọng tài lặp lại vấn đề. Chốc chốc ông ta lại chỉ vào bàn cờ, ba tôi bắt đầu dõi theo với ánh mắt sắc cạnh. Đến lượt bọn chúng, bọn con nít tuyển thủ nhìn ba tôi. Ba tôi không bận tâm, rồi bình tĩnh chỉ “là tới đây nó bốc con Tượng à?” Rồi, như tôi dự đoán, ba tôi không tin, ông nhìn tôi, dáng vẻ như một con hổ hừm hừm. Ông hỏi tôi.

“Con, có đụng không con?”

“Con… con không…”

“Nó đụng anh ạ.”

“Từ từ! Con tui không có đụng cờ. Nó nói không đụng là không đụng. Ông có bằng chứng gì không? Có camera không? Ai làm chứng?”

“Có mấy đứa bàn cạnh làm chứng. Anh bình tĩnh, để hỏi thử một đứa xem là biết liền.”

“Tụi nó lo đánh nhau, hơi đâu mà để ý bàn khác. Nhảm nhí!”

“Anh bình tĩnh! Em này nãy đã bắt lỗi con anh một lần, tôi đã dặn kỹ cả hai, rất kỹ. Không lý gì em kia lại bắt lỗi con anh nữa nếu con anh không sai.”

“Anh nói không không như vậy chẳng ích gì! Camera, có camera không?”

Ông trọng tài lắc đầu rồi giơ cánh tay quảng đại của nhạc trưởng. Ông cố giải thích mọi chuyện với chất giọng âm ấm: nhà thi đấu có camera, dù rất mờ, nhưng nếu muốn ông có thể liên hệ với bảo vệ bật cho chúng tôi cùng xem.

Rồi chuyện đi xa hơn. Chẳng cần đợi lâu, bảo vệ cũng nghiêm nghị bước vào cuộc. Họ mang máy tính xách tay đến và trích xuất camera. Chuyện hệ trọng rồi. Quả là camera mờ thật, chỗ chúng tôi hơi khuất tầm camera, đó là chưa kể các quân cờ khá nhỏ. Tôi, ngồi xếp hai tay che bàn cờ, bị khuất khá nhiều – chuyện cũng tương tự với tên đối thủ của tôi. Mười lăm phút trôi qua, bảo vệ tua hết chỗ nọ, cũng không thấy được ván cờ như thế nào. Ai nấy sốt ruột. Ba tôi lắc đầu, và tôi biết ông đang tìm cách để tôi đi lại nước cờ, hoặc tệ lắm là đấu lại ván mới. Nhưng rồi trọng tài gạt bỏ hết tất cả: 

“Quan trọng là có tôi ở đây giám sát. Tôi biết em nào nói dối hay không. Tôi là trọng tài cờ tướng hai mươi năm rồi, nhiều trường hợp các em đụng cờ không chịu đi, tôi cũng phải xử thua. Con nít mà anh. Mà không phải hơ đâu một cái các em bị lỗi mà tôi xử, trước đó tôi phải dặn dò các em rất kỹ. Giờ anh nghĩ xem, đấu lại, có phải không thỏa đáng không?”

“Thế nào mới thỏa đáng? Rõ là con tui sắp thắng! Nó không thể bốc cờ ngớ ngẩn như vậy được! Còn thằng này nó thua đến nơi rồi, nó mới chơi thủ đoạn. Anh nhìn thế cờ này đi, anh tin ai?”

“Nhưng đứa này thắng trước, anh nhìn đi.”

“Trời, vui thật ha.”

Ba tôi cười chua chát. Tên đối thủ lên tiếng:

“Nhưng rõ ràng là bạn này đụng cờ! Nếu không đụng cờ, sao bạn lại run như vậy chứ!”

“Mình không đụng… vì đụng con đó chả khác nào thua cờ… Mình đã nói sửa cờ rồi mà.”

“Kỳ, con nói lại lần cuối cho ba xem. Con có đụng hay không?”

Ông chủ giải thưởng bước đến. Đầu óc tôi rối bừng, và giờ vẻ như tôi không thể nhớ là tôi có đụng hay không.

“Anh à… bớt nóng, ở đây có nhiều em đang thi đấu. Trọng tài đã nói như vậy rồi, có gì không ổn mình nói nhỏ nhẹ với nhau. Mình cư xử có văn hóa chút ạ.”

“Thôi… mấy người ăn chia với nhau, quận 5 lúc nào chả được ưu ái,” ba tôi bật cười mỉa mai. 

“Anh nói như vậy mà nghe được à? Đây là luật.”

Hai dòng nước mắt của tôi thi nhau chảy. Tôi không nói được lời nào vì cổ họng tôi bận co giật thút thít. Thằng quận 5 được nước gác tay lên xoang má, rồi ra vẻ không muốn nhìn thấy cảnh tượng nhảm nhí này. Hắn ra vẻ như người lớn. 

“Tóm lại, con anh nó chạm vào quân cờ mà không chịu đi. Nãy giờ hơn một tiếng đồng hồ đôi co, tui đã nhắc nó kỹ rồi mà nó vẫn phạm, thì tui xử thua chứ sao! Giờ anh có ý kiến hay phân bua gì không?”

“Con… không… đụng mà…” 

“Trời, thằng này nó đụng đàng hoàng!”

“Không…” 

Tôi như thằng nói dối. Tôi cảm tưởng mình càng nói thì càng sai, nên đành nín lặng.

“Tôi quyết định xử thua.” 

Ba tôi quát lớn lên với toàn thể hội đồng: 

“ANH IM ĐI!” 

Vừa ngay khi tiếng la của ba vang vọng khắp trần nhà làm rung những chòm đèn, tất cả mọi người ngoái đầu nhìn. Có những tiếng xì xầm rộ lên kèm những gương mặt đắc thắng ở bàn bên, có lẽ bọn chúng vui vì có thêm chuyện để nói. Bảo vệ chuẩn bị sấn bước đến can thiệp. 

Mọi người xem ba như trò cười. Còn tôi thì lại khóc. Ngày một lớn hơn. 

Ba tôi dứt lời rồi nghiến chặt răng bước ra sảnh. Tôi có thể đoán thế, dù tôi không thể và cũng không dám nhìn ai, tôi xấu hổ khi mình lớn xác mà lại còn khóc nhè. Tôi không xấu hổ ba mình. Tôi chỉ xấu hổ vì tôi đã đưa ba vào tình cảnh này. Bù lu bù loa, tôi chỉ một mạch bước đi, màn sương phủ lấy tôi, tôi như kẻ mù bởi chính nước mắt mình. Tôi lẽo đeo núp sau ba tôi rồi cũng tới bãi xe. Khi ngồi ôm ba sau xe, tôi dịu lại. Ba chở tôi ra công viên Hoàng Văn Thụ rồi hai cha con chúng tôi ăn kem xe bán hàng rong. Ba tôi không nói gì một lúc. 

“Con có đụng con Tượng không…?” 

Rồi sự thật, một sự thật phũ phàng từ sâu thẳm cơn quên hiện lên.

“Dạ… có…” 

Ông im lặng. 

Tôi cúi gầm mặt, rồi chẳng khóc được nữa.

Buổi chiều nắng vàng rực đến mức không thể cắt nổi nghĩa. Tôi chính thức thua cuộc khi trông thấy mái đầu ba mình óng ánh bạc nắng.

Tôi từ bỏ thi đấu cờ tướng vĩnh viễn, chỉ xem nó như trò giải trí cho đến tận sau này. Dù ba muốn tôi thi đấu tiếp, nhưng rồi tôi không thể nào vượt qua được sức nặng của những lựa chọn.  

Kỳ Y

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 8: Chương 6

Published

on

Người phụ nữ bước vào phòng tắm và khép cửa lại đằng sau cô. Tiếng vòi sen theo ngay sau đó.

Chuột cố gắng kiềm chế cảm xúc của mình. Hắn rướn người khỏi mớ chăn ga, vồ lấy một điếu thuốc đặt lên môi. Nhưng bật lửa của hắn không có trên bàn hay trong túi quần. Thậm chí hắn cũng chẳng có một que diêm nào. Hắn mò mẫm trong túi xách của người phụ nữ, nhưng cũng chẳng gặp may ở đó. Bỏ cuộc, hắn bật đèn và lục tìm hết các ngăn kéo bàn làm việc cho đến khi lật thấy một hộp diêm cũ có tên của nhà hàng nào đó trên bao bì. Hắn châm thuốc.

Vớ và đồ lót của cô ấy được gấp cẩn thận và xếp trên một chiếc ghế mây của hắn, chiếc đầm màu mù tạt vàng may đo trải lên lưng ghế. Trên bàn đầu giường là chiếc đồng hồ tí xíu và chiếc túi xách hiệu La Bagagerie, không mới nữa nhưng vẫn còn tốt.

Chuột chìm người xuống chiếc ghế đối diện và nhìn chăm ra cửa sổ.

Từ chỗ tọa cao trên dốc núi kia, Chuột có thể thấy các dấu hiệu của hoạt động con người rải rác ở sườn đồi bên dưới. Đôi lúc hắn đứng đó suốt nhiều giờ, hai tay chống hông, tập trung vào quang cảnh bên dưới hệt như một gôn thủ đứng ở đỉnh của một sân gôn nghiêng xuống. Con dốc xuôi nhẹ một góc thoai thoải, tụ lại với những ánh đèn rải rác từ những ngôi nhà. Có những lùm cây sẫm tối, những đồi nhỏ, và, đây đó, những hồ bơi tư nhân lấp lóa trắng dưới các ngọn đèn thủy ngân. Chỗ con dốc bắt đầu bằng phẳng, đường cao tốc bò ngoằn ngoèo qua khung cảnh hệt như một chiếc thắt lưng được chiếu sáng; từ chân núi tới bờ biển chừng nửa dặm xa, thị trấn trải ra phẳng lì và đơn điệu. Đại dương ngoài kia tan hòa vào bầu không thẳm tối, trong khi ánh màu cam từ ngọn đèn hiệu nhỏ kia chớp sáng, biến mất, rồi lại chớp sáng. Và cắt xuyên mọi lớp địa hình, phân chúng gọn gàng làm hai, tuôn dài một luồng nước đen sẫm.

Dòng sông.

Ω

Lần đầu tiên Chuột gặp người phụ nữ ấy là vào đầu tháng Chín, khi bầu trời vẫn còn giữ được chút dấu vết rạng rỡ của mùa hè.

Hắn tìm thấy một máy đánh chữ điện được liệt kê trong mục Hàng hóa đã sử dụng của tờ báo địa phương giữa đống quảng cáo xe cũi đẩy em bé, dụng cụ học ngôn ngữ Linguaphone, xe đạp ba bánh, và đồ tạp dụng linh tinh. Người phụ nữ trẻ trả lời điện thoại nghe có vẻ rất thẳng thắn rành rọt: chiếc máy đánh chữ đã dùng được một năm và còn một năm trong hạn bảo hành; trả hết bằng tiền mặt trước (không trả góp hàng tháng); hắn phải tự mình đến nhận hàng. Họ chốt thỏa thuận, và hắn lái xe đến căn hộ của cô, trả tiền, rồi nhận chiếc máy đánh chữ. Nó đáng giá gần như tương đương với số tiền hắn kiếm được từ công việc bán thời gian vào mùa hè.

Cô nhỏ nhắn mảnh khảnh và mặc một chiếc đầm không tay đầy thu hút. Những cây cỏ xum xuê lá đủ hình dạng và màu sắc trồng trong những chiếc chậu nằm xếp hàng ở lối vào căn hộ. Cô có nét mặt dịu dàng, và tóc được buộc gọn về phía sau. Chuột không thể xác định tuổi cô. Hắn đã nghĩ rằng có thể đâu đó giữa hai mươi hai và hai mươi tám.

Ba ngày sau, cô gọi hắn bảo rằng cô có một nửa tá dải băng máy đánh chữ mà cô vui lòng tặng miễn phí cho hắn. Khi Chuột đến nhận chúng, hắn mời cô đến quán J’s để đãi cocktail thay lời cảm ơn. Dù vậy, họ không tâm đầu ý hiệp ngay từ đầu.

Lần thứ ba họ gặp gỡ là bốn ngày sau đó, ở hồ bơi trong nhà. Hắn lái xe đưa cô về căn hộ và làm tình. Tại sao lại thành ra như thế? Chuột chịu không biết nổi. Hắn đã khơi chuyện đầu tiên hay cô? Họ đã chỉ thuận theo dòng chảy.

Một vài hôm sau, Chuột có thể cảm thấy cái thực tại hữu hình trong mối quan hệ của họ đang trương nở bên trong hắn, như thể một cái nêm mềm đang lấn vào trong đời sống thường nhật của mình. Từng chút một, có điều gì đó đang truyền thông. Phần ngọt ngào, lịch thiệp hắn đã quên lâu dường như đã trải rộng ra mỗi lần hắn nghĩ đến đôi vòng tay mảnh mai gói quanh cơ thể mình kia. 

Chuột có thể thấy rằng cô đang gắng thiết lập một kiểu toàn hảo trong thế giới nhỏ của cô. Hắn cũng nhận thức rõ rằng điều đó yêu cầu một mức độ quyết tâm phi thường. Cô chỉ mặc những chiếc đầm trang nhã song thùy mị nhất bên trên những đồ lót sạch, mới, xức nước hoa loãng nhẹ có mùi hương của ruộng nho ban sớm lên cơ thể, hết mực cẩn thận lựa lời, không đời nào hỏi những câu thiếu trọng tâm, và chừng như còn đã thực hành việc mỉm cười trước gương. Song những điều đó chỉ khiến Chuột thêm buồn. Sau một số lần gặp gỡ hắn đã đoán tuổi cô là hai mươi bảy. Điều đó hóa ra lại là điểm đen.

Đôi bầu ngực cô nhỏ nhắn, và dù cơ thể thon gọn của cô rám nắng tuyệt đẹp, nó miễn cưỡng hơn là kiêu hãnh, như thể nó đã được thế mà không có sự đồng thuận của cô. Xương gò má góc cạnh và đôi môi mỏng của cô đã nói lên sự giáo dục tốt và tâm cốt cương quyết của cô, nhưng chẳng hề có chút gì ngây thơ và dễ tổn thương bên dưới bề mặt đó, thứ được phô diễn với những biến báo tinh vi trong biểu hiện.

Cô đã học ngành kiến trúc ở một trường đại học nghệ thuật và hiện làm việc trong một văn phòng kiến trúc. Nơi sinh của cô ư? Chẳng phải nơi nào gần đây, cô trả lời. Tôi đến vùng này sau khi tốt nghiệp. Cô đến hồ bơi tuần một lần và bắt tàu đến lớp học viola mỗi tối Chủ nhật.

Cả hai bọn họ hội nhau tuần một lần vào đêm Thứ Bảy. Rồi Chuột nhả khói thuốc mơ màng cả ngày Chủ nhật trong khi cô tập chơi Mozart.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 7: Chương 5

Published

on

Khi tôi còn học đại học, chẳng ai trong khu căn hộ của tôi có điện thoại. Khỉ thật, tôi ngờ là không có bất kì ai trong chúng tôi có một cục tẩy. Dù, có một cái điện thoại trả tiền màu hồng, nằm ngoài văn phòng bảo vệ trên chiếc bàn thấp đã bị quẳng đi từ trường tiểu học địa phương. Đấy là chiếc điện thoại duy nhất trong toàn bộ chốn ấy. Các bảng mạch điện thoại là thứ cuối cùng trong tâm trí chúng tôi. Những tâm trí đó là một thế giới bình yên trong một thời đoạn bình yên.

Từ khi người bảo vệ không bao giờ ở văn phòng ấy nữa, một người trong chúng tôi phải trả lời điện thoại khi nó đổ chuông và chạy ào đi thông báo cho người nhận cuộc gọi ấy. Dĩ nhiên có những lần (như là một cuộc gọi đến lúc 2 giờ sáng) thì chẳng ai nhấc máy. Hệt như một con voi nhận thức cái chết gần kề của mình, chiếc điện thoại đã đổ chuông như điên (số lần đổ chuông nhiều nhất tôi đếm được là 32) rồi chết. Tôi dùng từ chết theo nghĩa đen hẳn hoi. Thời khắc cuộc gọi cuối cùng lượn xuống hành lang dài và biến mất vào đêm đen, một sự im lặng ngự trên cả tòa nhà. Đó là một sự tịch mịch kì quái. Chúng tôi nằm đó trong giường ngủ của mình, nín thở, khi chúng tôi nghe ngóng cuộc gọi chết tươi kia.  

Những cuộc gọi vào đêm muộn luôn luôn đáng ngã lòng. Ai đó sẽ nhấc ống nghe lên và bắt đầu thấp giọng trò chuyện:

“Thôi đi… Không, anh nhầm rồi… Chuyện gì xong thì đã xong, đúng không?... Thực đấy. Sao tôi phải nói dối chứ?... Không, tôi chỉ mệt thôi… Dĩ nhiên nó làm phiền tôi… Nhưng anh thấy đó… Ừ, tôi nhận được tấm hình rồi. Nhưng tôi cần thời gian, hiểu chứ?... Tôi không thể giải thích qua điện thoại đâu…”

Mỗi chúng ta có đủ thứ rắc rối khả dĩ phải đeo mang. Chúng từ trên trời rơi xuống và ta điên cuồng chạy quanh tìm nhặt lên, cho vào túi mình. Tại sao ta lại làm thế đã bắt bí tôi, cho đến giờ. Có lẽ chúng ta đã nghĩ chúng là thứ gì đó khác.

Có cả những bức điện tín nữa. Một chiếc mô-tô sẽ gầm rú ngoài cửa trước tầm bốn giờ sáng, theo sau là tiếng những bước chân sầm sập gần tiền sảnh. Rồi một nắm đấm sẽ nện lên cửa nhà ai đó. Tiếng động kia luôn luôn nhắc tôi về Tử Thần. Bum, bum. Chúng ta đã ngả quá nhiều về phía các tai ương –những cuộc đời mất đi vì tự sát, những tâm trí đổ nát, những trái tim bị bỏ rơi trong những vũng tù của thời gian, những cơ thể bỏng cháy với các ám ảnh rời rã–và chúng ta trao cho nhau một đống rắc rối đọa đày. Một ngàn chín trăm bảy mươi là năm đại loại như thế. Song nếu cứ bám lấy niềm tin rằng thân xác con người được tạo ra để cải thiện chính nó thông qua kiểu tiến trình biện chứng nào đó, một năm khủng khiếp như năm 1970 có thể dạy ta điều gì đó.

  Ω

Phòng tôi nằm ở tầng một cạnh văn phòng bảo vệ, trong khi cô gái có mái tóc dài kia sống ở tầng hai, kế cầu thang. Bởi cô rõ ràng là người thắng khi có các cuộc gọi đến, nên tôi bị kẹt vào việc lon ton lên xuống mười lăm bậc cầu thang kia hàng ngàn lần để gọi cô nghe điện thoại. Người gọi cho cô có đủ dạng. Giọng của họ có thể lịch thiệp hay bất nhã, buồn bã hoặc trịch thượng. Lúc nào họ cũng hỏi bằng tên cô. Song tôi đã quên bẵng cái tên đó là gì. Hồi ức duy nhất của tôi là tên cô thông thường đến não lòng.

Giọng cô trên điện thoại thì thào mệt lử, gần như không nghe thấy nổi. Diện mạo cô thu hút vừa đủ, nhưng có phần nào sầu u. Mặc dù chúng tôi thi thoảng ngang qua nhau trên phố, tôi chưa bao giờ mở lời với cô. Vẻ mặt của cô khi tiến bước hệt như ai đó đang cưỡi một con voi trắng trên một lối mòn hẹp chốn rừng sâu.

Ω

Cô sống ở khu căn hộ của chúng tôi được sáu tháng. Từ lúc bắt đầu mùa thu đến hết mùa đông.

Tôi sẽ trả lời điện thoại, leo cầu thang, gõ cửa nhà cô, bảo, “Cô có điện thoại,” và một chốc sau cô sẽ nói, “Cảm ơn.” “Cảm ơn” là từ duy nhất cô từng nói với tôi. Đổi lại, “Cô có điện thoại,” là hết thảy lời tôi từng nói với cô.

Đó cũng là một mùa cô độc với tôi. Khi quay về căn hộ của mình và trút bỏ quần áo vào cuối ngày, xương cốt tôi hăm he nổ bung ra ngoài da thịt và văng bay tứ tán. Như thể một lực lượng nội tại huyền bí nào đó đang dồn thúc tôi vào sai hướng, dẫn tôi đến một thế giới khác.

Những cuộc điện thoại khiến tôi suy nghĩ. Ai đó đang cố truyền thông với một ai khác. Song hầu như chẳng có ai từng gọi cho tôi. Tuyệt không một người cố với đến tôi, và ngay cả nếu họ đã làm vậy, ắt họ đã chẳng nói điều tôi muốn nghe.

Mỗi chúng ta, với mức độ cao thấp khác nhau, đều nhất quyết sống theo đúng hệ thống của chính mình. Nếu cách suy nghĩ của người khác quá khác biệt với tôi, nó khiến tôi phát điên; quá bức bí, và tôi đâm buồn. Đấy, chỉ thế thôi.

    Ω

Khi mùa đông kết thúc chính là lúc tôi đã nhận chuyển cuộc điện thoại cuối cùng của cô. Một sáng thứ Bảy trong trẻo đầu tháng Ba. Đại để giữa buổi sáng, mười giờ, nắng mùa đông tươi sáng đang dọi khắp ngóc ngách trong căn phòng nhỏ của tôi. Lúc nhận thức được tiếng chuông, tôi đang ngồi trên giường nhìn qua cửa sổ vào vườn bắp cải cạnh cửa chính. Những mảng tuyết lóng lánh rải rác trên đất đen hệt như những vũng nước – thảy đều là di tích của trận tuyết cuối vào đợt rét đột ngột sau cùng trong năm.

Điện thoại đổ mười lần mà chẳng ai nhấc máy. Rồi năm phút sau lại bắt đầu. Tiếng chuông rầy rà nên tôi đành tròng chiếc áo len đan lên bộ đồ ngủ rồi đi bắt máy.

“Có cô… đó không?” một người đàn ông hỏi. Giọng anh ta phẳng lì, không biểu cảm. Lẩm bẩm gì đó bất đắc dĩ, tôi lê bước lên cầu thang và gõ cửa nhà cô.

“Cô có điện thoại.”

“Cảm ơn.”

Tôi về lại phòng mình, nằm xuống giường, và quan sát trần nhà. Tôi có thể nghe tiếng bước chân cô đang đi xuống, rồi tiếng thì thào đó. Một cuộc thoại ngắn bất thường đối với cô. Có lẽ chỉ mười lăm giây. Tôi nghe cô cúp máy và rồi có một sự tĩnh lặng kéo dài, không tiếng bước chân, không gì cả. Một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân chầm chậm đến gần cửa nhà tôi, kèm theo hai tiếng gõ. Có một khoảng ngừng chừng một hơi thở sâu, rồi lại thêm hai tiếng khác.

Khi tôi mở cửa cô đang đứng đó trong bộ áo phông thùng thình và quần jean. Tôi thoáng nghĩ mình đã nhầm lẫn, rằng cuộc gọi kia được nhằm vào ai khác, nhưng cô đã chẳng nói gì cả, chỉ đứng đó run run với hai tay ôm nhau trước ngực và mắt dán vào tôi. Trông cô hệt như ai đấy trong chiếc xuồng cứu sinh đang nhìn con tàu chìm dần. Hoặc có lẽ là tình huống ngược lại cũng nên.    

“Tôi vào được không? Ngoài này rét quá.”

Tôi bị bất ngờ, nhưng vẫn để cô vào và khép cửa. Cô ngồi xuống trước lò sưởi bằng gas để hơ ấm đôi tay và nhìn quanh.

“Phòng này trống trơ kinh dị, nhỉ?”

Tôi gật. Thực sự chẳng có gì. Chỉ một chiếc giường cạnh cửa sổ, và thế thôi. Một chiếc giường quá lớn cho một người, và quá bé cho hai. Tôi cũng chẳng mua nó. Đúng hơn là, một người quen đã cho tôi. Tại sao anh ấy tặng nó cho một kẻ rõ là xa lạ thì tôi chịu. Chúng tôi hiếm khi nói chuyện. Là một chàng trai nhà giàu đến từ vùng xa xăm nào đó, anh đã bỏ trường sau khi bị các thành viên trong một nhóm chính trị đối lập đánh hội đồng, họ đá vào đầu anh khi đang mang ủng công trường, trận đánh này đã gây tác hại cho thị lực của anh. Chuyện đó diễn ra ở sân trường, và anh thổn thức suốt đường từ đó đến bệnh xá của trường, trước sự ghê tởm bàng hoàng của tôi. Một vài ngày sau anh bảo tôi rằng anh rời trường. Và tặng tôi chiếc giường.

“Có thứ gì đó âm ấm để uống không?” cô nói. Không, tôi đáp, lắc đầu. Không cà phê, không trà, thậm chí ấm đun nước cũng không. Chỉ có một cái chảo để nấu nước nóng khi tôi cạo râu vào buổi sáng. Chờ đây nhé, cô nói với một tiếng thở dài. Cô đứng lên và rời phòng, quay lại sau năm phút với một hộp giấy cứng trong tay. Bên trong là thực phẩm dự trữ đủ cho sáu tháng gồm trà túi lọc và trà xanh, hai gói bánh quy, đường cát, một bộ ấm đĩa cơ bản, cùng hai chiếc cốc có hình cún Snoopy. Đặt chiếc hộp xuống giường, cô lấy chiếc ấm ra và bắt đầu đun nước.

“Làm sao anh xoay xở được thế? Anh sống hệt như Robinson trên đảo hoang ấy!”  

“Đúng là không vui thú gì mấy.”

“Tôi cũng đoán thế.”

Chúng tôi uống trà túi lọc trong im lặng.

“Anh có thể nhận hết mấy thứ này,” cô nói.

Tôi suýt sặc trà. “Sao cô lại làm thế?”

“Cách tôi nói lời cảm ơn thôi. Cho tất cả những lần anh đã trả lời hộ điện thoại.”

“Nhưng cô không cần dùng nữa à?”

Cô lắc đầu. “Mai tôi chuyển đi rồi. Chẳng còn ích gì với tôi nữa.”

Hẳn phải có thứ gì đó giải thích được chuỗi sự kiện mới này, nhưng tôi chẳng thể hình dung được là gì.

“Đã có chuyện gì tốt đẹp sao? Hay chuyện gì đấy tệ hả?”

“Không tốt lắm, tôi cho là vậy. Ý tôi là tôi đang bỏ học và về quê.”

Ánh nắng mùa đông tràn ngập căn phòng mờ đi một thoáng, rồi hửng sáng lên lại.

“Nhưng anh chẳng muốn nghe chuyện ấy đâu, phải không? Phải tôi thì chắc sẽ không. Ai đời lại muốn dùng những chiếc đĩa mà người khác đã bỏ đi chứ!”

Sáng hôm sau, một cơn mưa lạnh lẽo bắt đầu rơi. Một cơn mưa phùn đã len lỏi rỉ qua áo mưa của tôi và ngấm vào áo phông thể thao bên dưới. Mọi thứ – chiếc rương lớn tôi đang ì ạch kéo và chiếc va-li cùng túi cô đeo vai – đều thẫm đen vì hơi ẩm. Người tài xế ta-xi chộp lấy chúng tôi chẳng cho để bất cứ món nào lên ghế ngồi. Trong xe nóng và ngột ngạt với mùi thuốc lá lưu cữu, và một bản ballad truyền thống đang rền rĩ từ đài phát thanh của xe, một giai điệu kiểu cũ như một cánh tay chỉ hướng rẽ ở các ô tô đời xưa. Những cành cây trụi lá nhiễu giọt đóng thành băng nhũ xếp hàng dọc hai bên đường trông hệt như rặng san hô dưới nước.

“Tôi chả thích Tokyo ngay lần đầu để mắt đến,” cô nói, “và đến giờ vẫn thế.”

“Thật ư?”

“Ừ. Đất thì quá đen, sông thì bẩn tởm, lại chẳng có ngọn núi nào… Anh thì sao?”

“Tôi đã chả bao giờ nghĩ về phong cảnh cả.” 

Cô thở dài. “Đấy là lí do anh sống sót được ở chốn này,” cô nói cùng một nụ cười mỉm.

Chúng tôi đến sân ga và buông đống túi xách xuống.

“Cảm ơn vì tất cả,” cô nói. “Tới đây tôi có thể tự mang được rồi.”

“Quê cô ở đâu?”

“Ngược lên phía bắc.”

“Tôi cược là lạnh lắm.”

“Cũng ổn cả. Tôi quen rồi.”

Khi đoàn tàu chuyển bánh cô vẫy chào tôi từ cửa sổ. Tôi giơ tay ngang tầm tai, nhưng khi đoàn tàu ra khỏi tầm mắt, bất thình lình tôi bỗng thấy ngượng ngập và đút tay mình vào trong túi áo mưa.

Trời mưa suốt ngày hôm đó và dai dẳng đến tận đêm. Tôi mua hai chai bia ở cửa hàng thức uống địa phương và uống cạn hết bằng một chiếc cốc cô đã cho tôi. Tôi đang lạnh cóng. Chiếc cốc in hình cún Snoopy và chim thư kí Woodstock đang chơi đùa trên mái nhà của Snoopy với một quả bong bóng có ghi, “Hạnh phúc là một người bạn ấm áp.”  

Ω

Cặp sinh đôi đã thiếp ngủ khi tôi mở mắt. Ba giờ sáng. Ánh trăng mùa thu bên ngoài cửa sổ phòng tắm sáng gượng gạo. Tôi ngồi trên rìa quầy bếp cạnh chậu rửa, uống hai cốc nước, và châm thuốc bằng bếp ga. Lớp lớp tiếng của hàng ngàn hàng vạn côn trùng trỗi lên từ sân gôn sáng trăng.

Tôi nhấc cái bảng mạch lên dựa vào quầy bếp và kiểm tra nó cẩn thận, xoay nó đủ mọi góc. Chỉ là một tấm bảng vô nghĩa, đầy bụi bặm và cũ kĩ, bất kể nhìn ngắm nó thế nào đi nữa. Từ bỏ, tôi đặt nó trở lại chỗ cũ, lau bụi bẩn trên tay, và rít một hơi thuốc khác. Mọi thứ có vẻ nhợt nhạt dưới ánh trăng. Trống rỗng cả về giá trị, nghĩa lí, hay phương hướng. Thậm chí những cái bóng cũng mờ ảo. Tôi dụi điếu thuốc vào bồn rửa và châm điếu khác.

Liệu có bao giờ tôi tìm được một chốn đích thực là của riêng tôi? Đấy có thể là đâu? Tôi cứ nghĩ mãi, song chỉ có hình ảnh buồng lái của một chiếc máy bay ném ngư lôi hai chỗ ngồi hiện ra trong tâm trí. Nhưng đó là một ý nghĩ ngu ngốc tuyệt đối. Ý tôi là, những thứ đó đã quá đát từ ba mươi năm trước rồi, phải không?

Tôi quay lại giường và len vào giữa cặp sinh đôi. Họ đang nằm cuộn mình với đầu lệch về phía hai mép giường, thở đều bình an. Tôi kéo chăn lên tận cằm và quan sát trần nhà.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 6: Chương 4

Published

on

Ngọn đèn hiệu không người trơ vơ cuối bến tàu dài ngoằn ngoèo. Ngọn đèn không đặc biệt lớn, chỉ thấp hơn ba mét rưỡi một chút. Những con tàu cá đã dựa vào ánh sáng của nó thời trước khi sự ô nhiễm dồn lũ cá xa bờ. Chẳng có gì giống với một bến cảng ở khu vực này. Thay vào đó, ngư dân đã trang bị một bộ tời bằng gỗ với ống cuộn và dây thừng để kéo tàu của họ từ bãi biển. Ba căn lều của họ đã được dựng gần đấy; vào buổi sáng sẽ thấy những khay gỗ đựng cá nhỏ đang phơi khô trên mặt đê chắn sóng. Tuy nhiên, ở một thời điểm nào đó, ngư dân đã rời bỏ, bị xua đi bởi sự kết hợp của ba yếu tố: sự biến mất của đàn cá, sự ác cảm vô lí của những kẻ đi vé tháng vì có một làng cá gần thị trấn của mình, và lời tuyên bố của quận rằng những căn lều dọc bãi biển kia là bất hợp pháp. Đấy là năm 1962. Chẳng ai đoán nổi những ngư dân kia đã biến về đâu. Đại khái ba căn nhà kia đã hoang tàn, trong khi những con thuyền mục nát, chẳng có chức năng gì cũng chẳng có chỗ nào để vứt bỏ, bị bỏ lại chỏng chơ giữa đám cây cối dọc bờ biển, nơi chúng phục vụ như một sân chơi cho đám trẻ con.

Một khi những tàu cá đã biến mất, những con thuyền nhẹ tư nhân lang thang dọc bãi biển cùng những tàu hàng bỏ neo ngoài bến cảng tìm nơi trú bão và sương mù dày đặc là những phương tiện hàng hải duy nhất có thể thấy rằng ngọn đèn hiệu kia giúp ích nhiều. Nhưng chắc hẳn nó đã không còn phục vụ một mục đích nào nữa.

Ngọn đèn hiệu là một thứ thù lù đen sì có hình như một cái chuông úp hoặc một người gò lưng trong suy tưởng nhìn từ phía lưng. Khi mặt trời bắt đầu lặn và ráng chiều bắt đầu nhuộm màu xanh thẫm, ánh sáng màu cam rực sáng trên đỉnh ngọn đèn – cái núm chuông – và nó bắt đầu xoay chầm chậm. Vào khoảnh khắc đó, khi ngày chuyển đêm, ngọn đèn hiệu đến với đời sống: dù buổi tối có mang một hoàng hôn tuyệt đẹp hay một lốt áo choàng mù sương, chùm sáng ấy bắt đầu quay ngay chính thời khắc mà sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối chuyển giao, và bóng đêm tối thượng ngự lên.

Thời thơ bé, Chuột thường xuống bãi biển vào buổi tối chỉ để chứng kiến khoảnh khắc chớp nhoáng đó trong bóng tối. Nếu những con sóng không quá cao hắn sẽ dạo bộ tới tận đầu kia của bến tàu uốn lượn, đếm số phiến đá lát đường mà hắn đã đi qua. Lúc chớm sụp tối hắn có thể thấy hàng đàn cá nhỏ xíu kinh ngạc lao về phía vùng nước sáng. Chúng sẽ bơi vòng dọc mạn bến tàu, như thể đang tìm kiếm gì đó, trước khi hướng ra khơi.  

Khi cuối cùng cũng đến chỗ ngọn đèn hiệu, Chuột ngồi xuống nơi đầu mút của bến tàu ấy và nghiên cứu bầu trời. Trời mang màu xanh đen đến ngút mắt, với những vỉa mây trông như được vẽ lên dưới nét cọ của một họa sĩ. Màu xanh thẫm kia chừng như không đáy; vực thẳm của nó khiến chân Chuột run lên kinh sợ. Mọi thứ quá sinh động, mùi đại dương, màu ngọn gió.

Nán lại mãi, Chuột uống cạn khung cảnh trải ra trước mắt mình, rồi quay lại. Giờ thì hắn đang chiêm ngắm thế giới của chính mình, quá đỗi tách biệt với biển khơi. Bãi biển và đê chắn sóng trắng bàng bạc, hàng thông xanh yên ả, và, đằng sau chúng, nhô in trên nền trời, đường viền sắc nhọn của những ngọn núi đen thẫm xanh.

Xa bên mạn trái của hắn là khu cảng lớn, với những cần trục, vũng tàu đậu dập dềnh, những nhà kho như hình hộp, những chiếc tàu hàng, và các tòa nhà cao. Bên phải hắn, đối mặt đại dương và trải dài theo đường bờ biển cong cong, là khu dân cư im lìm, bãi đậu thuyền nhẹ, một số kho rượu cũ kĩ, và, một khoảng vừa phải phía xa kia, hàng dãy những bể chứa hình cầu cùng các ống khói nhà máy chọc trời của khu công nghiệp, đã che phủ bầu trời trong làn khói trắng mù mịt. Những thứ đó đánh dấu sự cáo chung của thế giới thời niên thiếu mà Chuột đã biết.

Suốt thuở ấu thời, từ xuân đến chớm thu, Chuột dành cho những chuyến thăm ngọn đèn hiệu. Khi sóng lớn, bụi nước bắn vào chân hắn, gió gào, và hắn thi thoảng trượt ngã trên những phiến đá lát trơn rêu. Song con đường đến ngọn đèn hiệu đã thân thiết với hắn hơn bất cứ gì khác. Hắn sẽ ngồi ở chốn tận cùng của bến tàu ấy lắng nghe sóng vỗ, ngắm những đám mây, bầu trời, và hàng đàn cá nhỏ, và ném những viên cuội mình mang theo trong túi vào làn nước.

Lúc trời sẫm tối hắn sẽ lại bước trên cùng con đường ấy để quay về thế giới của chính mình. Dù cho, sự quay lại này đã luôn luôn đồng hành với một nỗi buồn không sao tả nổi. Cái thế giới đang chờ đợi hắn ngoài kia đúng là quá lớn lao, quá mạnh bạo; chốn đó chừng như chẳng hề có chỗ nào hắn khả dĩ đào sâu vào được.

Căn hộ của người phụ nữ không xa bến tàu. Kí ức mơ hồ về thời thơ ấu của hắn và dư hương của những buổi tối kia trở lại với Chuột mỗi lần hắn đến thăm cô. Hắn sẽ đỗ xe trên con đường dọc bờ biển và đi băng qua những cây thông đứng rải rác được trồng để ngăn cát thổi vào từ bãi biển. Cát phát ra âm thanh khô khốc dưới chân hắn.

Khu căn hộ nằm đúng nơi những căn lều của các ngư dân đã từng dựng lên. Nếu đào xuống một vài mét, nước biển màu nâu đỏ sẽ phun trào bọt. Những cây chuối hoa Nam Mĩ ủ rũ trong vườn trước, như thể ai đó đã giẫm đạp chúng. Người phụ nữ sống ở tầng hai – khi gió thổi nó sẽ quét qua cửa sổ của cô những luồng cát mịn. Căn hộ nhỏ nhắn gọn gàng của cô xoay mặt hướng nam, nhưng nó ảm đạm lạ lùng. Chính đại dương đấy, cô nói. Chính vì gần đến chết tiệt – mùi thủy triều, gió, tiếng sóng, mùi hôi của cá… hết thảy.   

“Em chẳng thể ngửi thấy mùi cá ở đây đâu,” Chuột bảo.

Chắc chắn em có thể, cô nói. Cô kéo sợi dây cuộn và bức mành mành khép rụp. Anh sẽ có thể nếu anh sống nơi này.

Cát quất vào cửa sổ.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Cafe sáng