FICTION

Thơ: Thế giới của chúng ta (Hải Âu)

Những nỗi buồn tan vào mây / Buổi chiều lộng lẫy / Tiếng thở dài luồn qua kẽ tay / Rơi vào thinh lặng

Published

on

Cho chúng ta.

Những nỗi buồn tan vào mây
Buổi chiều lộng lẫy
Tiếng thở dài luồn qua kẽ tay
Rơi vào thinh lặng

Em ngủ dậy chưa?
Căn phòng này trống vắng
Chỉ có ta và chiếc bóng
Của chính ta

Hoàng hôn đã tắt
Thành phố sao xa lạ
Những mảng tường trắng xóa
Như bức vẽ không màu

Em đang ở đâu?
Ngay đây hay ngoài tầm với
Muốn nghe em cười nói
Những chuyện ngày xưa

Tôi đi tìm em
Mò mẫm trong cơn mưa
Mỏi mòn trong ánh nắng
Em ngủ dậy chưa?

Cô bé của tôi
Cô bé trong tấm gương này
Cô bé trong bức ảnh này
Em đang ở đâu?

Em lạc trong tôi
Ta tan chảy trong nhau
Cả niềm vui lẫn nỗi đau
Người muôn bộ mặt

Của em và tôi
Của anh ta cô ta nữa
Chúng ta đang ở đâu?
Ở đâu?

Hải Âu

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Cua (Murakami Haruki)

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. “Hừm… Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì… “

Published

on

Special thanks to bé Ryou Hiroshi vì đã góp phần hoàn thiện bản dịch này.
Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này được đặc biệt dành tặng Hải Âu.

Họ tình cờ chạy ngang qua một nhà hàng nhỏ. Ấy là buổi tối đầu tiên của hai người ở Singapore và lúc đó cả hai đang thả bộ gần bờ biển, đột nhiên cái ý nghĩ ấy chợt nảy ra trong đầu , họ bèn rẽ vào bên hông đường rồi vô tình lướt ngang qua chốn đó. Nhà hàng ấy là một căn nhà một tầng được bao quanh bởi một bức tường gạch cao, với khu vườn trồng toàn cây cọ thấp và chỉ kê vỏn vẹn năm chiếc bàn gỗ. Mặt tiền chính như vừa được trát vữa xong, phủ lên mình một lớp sơn hồng chói lọi. Phía dưới mỗi bàn đều có một cây dù lớn bạc phếch bay màu theo thời gian đã bung sẵn ra. Trời vẫn còn sớm, nhưng nơi này nom như thể đã bị bỏ hoang từ lâu. Chỉ có hai người đàn ông lớn tuổi với mái tóc ngắn, đặc sệt chất Trung Hoa, ngồi đối diện nhau, uống bia và im lặng nhắm với những món ăn nhẹ. Họ không nói với nhau câu nào. Ở dưới đất, ngay cạnh chân họ, là một chú chó mực rất to đang nằm im lìm đầy mệt mỏi, mắt lim dim khép hờ. Một luồng hơi nước rực rỡ tuôn ra từ cửa sổ nhà bếp, cùng thứ mùi hấp dẫn của món gì đó đang được xào nấu. Những tiếng nói cười thích chí của đám đầu bếp rộ lên, lộ rõ hẳn giữa những âm thanh lách cách của niêu chảo xoong nồi chạm vào nhau. Những mầm cọ nhú trên thân cây, run rẩy trong gió nhẹ, nổi bật giữa ánh mặt trời đang dần lặn xuống.

Người phụ nữ tạm ngừng bước chân, hòa vào khung cảnh này:

“Ăn tối ở đây thì thế nào?” Nàng hỏi.

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. "Hừm... Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì... "

"Nhưng mà em có giác quan thứ sáu về mấy chuyện nhà hàng ăn uống này nọ đấy. Em lúc nào cũng có thể đánh hơi được mấy chốn ngon lành trăm phần trăm. Và tiệm ăn này chắc chắn là tuyệt cú mèo. Em dám đảm bảo điều đó luôn. Tại sao mình không vào ăn thử nhỉ?"

Người đàn ông nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. Anh không biết họ nấu nướng những món gì ở đây, nhưng anh phải thừa nhận rằng nó có hương vị thực rất hấp dẫn. Nội bản thân nhà hàng này cũng có một sự quyến rũ nhất định tự lan tỏa rồi. "Nhưng em có nghĩ là nó sạch sẽ không?"

Nàng kéo lấy tay anh. "Anh nhạy cảm quá đấy, ông tướng ạ. Đừng lo lắng gì cả. Chúng mình đã tự lạc trôi đến đây, thế nên cũng phải mạo hiểm một tí chứ. Em chả muốn nhai cơm trệu trạo trong nhà ăn khách sạn ngày này sang ngày khác đâu. Nhàm chán bỏ xừ đi được ấy. Nào, chúng ta hãy vào thử xem."

Khi đã vào trong rồi, họ mới nhận ra rằng cửa tiệm này chuyên về các món cua. Thực đơn được viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Hoa. Hầu hết khách hàng đều là người địa phương, và giá cả khá hợp lý. Theo thực đơn thì Singapore tự hào có hàng chục loại cua, với hơn cả trăm kiểu cách nấu món cua. Người trai trẻ và người phụ nữ đã gọi bia Singapore, và sau khi xem hết những món sẵn có, họ chọn vài món cua rồi chia đôi ra. Phần nào phần nấy đều hào phóng, nguyên liệu thì tươi rói và nêm nếm gia vị vừa miệng.

"Ngon tuyệt cú mèo," người trai trẻ thốt lên, đầy ấn tượng.

"Thấy chưa? Em đã nói với anh những gì nào? Em nói với anh rằng em có năng khiếu đánh hơi được những thứ đỉnh của đỉnh. Bây giờ anh đã tin em chưa?"

"Dĩ nhiên rồi. Phải nói rằng anh nên tin em mới đúng", người trai trẻ thừa nhận.

"Loại năng lực này thực sự có ích đấy," người phụ nữ nói. "Anh biết đấy, chuyện ăn uống quan trọng hơn hầu hết mọi người nghĩ. Có một khoảng thời gian sẽ xảy ra trong cuộc sống của anh trong lúc anh chỉ cần có một cái gì đó siêu ngon. Và khi anh đang đứng ở ngã tư đường đó, cả cuộc đời anh liền có thể thay đổi, tùy thuộc vào nơi anh bước chân vào - một quán ăn tuyệt vời hay một nhà hàng dở ói. Nó cũng giống như là – anh ngã vào phía bên này của hàng rào, hay là phía bên kia. "

"Nghe thú vị đấy," anh nói. "Cuộc sống có thể rất đáng sợ, phải không?"

"Chuẩn," Nàng đáp lời, và bật ra một ngón tay nghịch ngợm. "Cuộc sống là một điều đáng sợ. Hơn tất cả những gì anh có thể tưởng tượng ra nhiều. "

Người trai trẻ gật đầu. "Và chúng mình đã rơi trúng vào phía bên trong hàng rào, nhỉ".

"Chính xác."

"Tốt rồi," người trai trẻ thản nhiên nói. "Em có thích cua không?"

“Ưmmm, lúc nào mà em chả mê nó. Còn anh thì sao?"

"Anh cũng thích. Nhưng anh không nghĩ mình sẽ ăn cua mỗi ngày đâu. "

"Một điểm chung mới giữa hai ta," nàng cười rạng rỡ.

Người trai trẻ mỉm cười, và hai người nâng ly thêm một lần nữa.

"Chúng mình phải trở lại đây vào ngày mai," Nàng nói. "Chẳng thể có nhiều nơi như thế này trên thế giới đâu. Ý em là, nó đã rất ngon thì chớ - và nhìn vào bảng giá của nó mà xem."

Trong ba ngày kế tiếp, họ thường đến ăn ở nhà hàng nhỏ. Vào mỗi buổi sáng, cả hai sẽ xuống bãi biển để bơi, rồi tắm nắng, sau đó đi dạo quanh thị trấn và chọn quà lưu niệm tại các cửa hàng thủ công địa phương. Vào khoảng thời gian tương tự vào mỗi buổi tối, họ lại đi đến nhà hàng nhỏ ấy, thử các món cua khác nhau, sau đó quay trở lại phòng khách sạn thong thả làm tình, rồi chìm vào giấc ngủ sâu không mộng mị. Mỗi ngày trôi qua đều như đang ở trên thiên đường. Người phụ nữ tròn hai mươi sáu tuổi, nàng dạy tiếng Anh ở một trường trung học cơ sở. Còn người đàn ông vừa bước qua tuổi hăm tám, anh làm nghề kiểm toán viên tại một ngân hàng lớn. Gần như là một phép lạ khi họ có thể cùng nhau đi nghỉ mát cùng một thời điểm, và cả hai muốn tìm đến một nơi mà không ai có thể quấy rầy họ, nơi họ chỉ đơn giản được tận hưởng bản thân nhau. Hai người đã cố gắng hết sức để né bất cứ chủ đề nào có thể làm hỏng tâm trạng và thời gian chung đôi quý báu của mình.

Vào ngày thứ tư - ngày cuối cùng trong kỳ nghỉ của họ - cả hai lại ăn cua như thường lệ vào buổi tối. Khi hai người đang bóc thịt từ càng cua bằng một chiếc kìm bằng kim loại, cả hai bàn luận về việc ở đây sẽ như thế nào, về chuyện bơi lội mỗi ngày bên bờ biển, về chuyện ăn cua vào ban đêm, khiến cho cuộc sống khi trở về Tokyo bắt đầu trở nên vô thực và xa xôi quá đỗi. Hầu hết cả hai người đều tâm tình về hiện tại. Sự im lặng bao phủ lên bữa ăn của họ tùy theo từng thời điểm, ấy là khi mỗi người trong số họ lại trở nên chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình. Nhưng đó không phải là một sự im lặng khó chịu. Bia lạnh và cua nóng đã lấp đầy những khoảng trống ấy một cách êm đềm.

Họ rời khỏi nhà hàng và quay lại khách sạn cả hai thuê trọ, và cũng như mọi khi, họ kết thúc một ngày của hai người bằng cách làm tình. Yên tĩnh, nhưng tràn đầy viên mãn. Cả hai đều đi tắm và sớm ngủ thiếp đi.

Nhưng chỉ một lúc mau sau người trai trẻ đã vội bật dậy, anh cảm thấy rất khủng khiếp. Anh có cảm giác như thể mình đã nuốt phải một đám mây cứng ngắc. Anh ta vội vã đi vào phòng tắm, vịn tay lên bồn vệ sinh rồi nôn hết mọi thứ trong bụng ra. Dạ dày của anh đã nhồi đầy thịt cua trắng. Anh không có thời gian để bật đèn lên, nhưng dưới ánh trăng mờ tỏ lập lờ trôi trên biển, anh đã có thể nhận ra chuyện gì đang xảy ra trong nhà vệ sinh. Anh hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại, và để thời gian trôi qua. Đầu óc anh trống rỗng, và anh không thể thành hình nổi một suy nghĩ nào trọn vẹn. Tất cả những gì anh có thể làm là chờ đợi. Một cơn sóng buồn nôn khác đã ào đến, đánh lật anh và một lần nữa khiến anh tống hết mọi thứ còn sót lại ra khỏi dạ dày.

Khi anh mở mắt ra, đập vào mắt anh là một cục to trắng phớ anh vừa nôn đang trôi nổi trong bồn nước nhà vệ sinh. Một số lượng khủng khiếp. Mình đã ngốn cái quái quỷ gì thế này! Anh ta nghĩ, dẫu cũng khá ấn tượng. Chén đẫy quá nhiều cua từ ngày này qua ngày khác - chả có khỉ gì lạ khi mình trở nên phát ốm. Cho dù có cố giảm bớt ra sao, thì cũng là quá nhiều cua rồi. Phải đến cỡ lượng cua có thể ăn trong hai, ba năm chỉ trong vòng có bốn ngày.

Đến lúc nhìn chằm chằm vào, anh mới chợt nhận thấy cục trắng trắng đang nổi trong bồn vệ sinh đó dường như đang chuyển động thoáng qua. Lúc đầu anh nghĩ có lẽ anh đã tưởng tượng ra mấy thứ đó. Ánh trăng mờ ảo hẳn đã tạo ra ảo giác. Một đám mây thi thoảng trôi qua sẽ che phủ mất mặt trăng, làm cho mọi thứ, trong một khoảnh khắc chợt trở nên mù mịt hơn trước. Người trai trẻ nhắm mắt, hít một hơi sâu và mở mắt ra. Đó không phải chỉ là ảo giác. Miếng thịt cua chắc chắn là đang di chuyển. Giống như những nếp nhăn xoắn quanh, bề mặt của thịt đang lắc lư. Người trai trẻ liền đứng dậy và bật đèn phòng tắm. Anh ta cúi xuống gần cục thịt và nhận ra những gì đang không ngừng lúc nhúc trên mặt đất là vô số con bọ. Loại bọ nhỏ tí hon có màu sắc giống y như màu thịt cua, hàng triệu con đang bám trên bề mặt của miếng thịt.

Anh lại cố ói ra hết mọi thứ trong dạ dày mình ra lần nữa. Nhưng không còn gì sót lại, và dạ dày của anh siết chặt lại thành một nắm đấm. Mật xanh mật vàng dội lên, vọt ra khỏi thành ruột anh. Không chấp nhận nổi điều này, anh liền nuốt luôn nước súc miệng và cố nhổ nó ra lần nữa . Anh giật mạnh công tắc xả nước bồn cầu, giật đi giật lại để chắc chắn rằng tất cả đã bị cuốn trôi sạch sẽ. Rồi anh ngâm mặt mình vào bồn rửa, dùng khăn tắm sạch để lau miệng, và đánh răng thật kỹ. Anh đặt tay lên bồn rửa và nhìn chằm chằm vào hình bóng phản chiếu của mình trong gương. Khuôn mặt anh đã trở nên đau khổ, nhăn nhúm rúm ró lại, làn da chuyển màu xám ngoét. Anh không thể tin được đây thực sự là khuôn mặt của anh. Trông như thể là một lão già nào đó.

Anh rời khỏi phòng tắm, tựa lưng vào cửa và nhìn quanh phòng ngủ. Bạn gái của anh vẫn đang nằm trên giường, say ngủ. Mặt chôn sâu vào gối, nàng còn đang ngáy ngủ một cách thanh thản, không biết điều gì đã xảy ra. Giống như một kẻ ái mộ đầy tinh tế, mái tóc dài của nàng che phủ đôi bờ má, chảy tràn lên vai. Ngay dưới đôi vai ấy có hai nốt ruồi nhỏ, xếp hàng như một cặp song sinh. Trên lưng nàng còn lộ rõ những vết dây áo tắm. Ánh sáng từ mặt trăng trắng muốt lặng lẽ lọt qua những tấm rèm, hòa cùng âm thanh đơn điệu của những con sóng vỗ bờ. Cạnh bên giường, những con số màu lục của chiếc đồng hồ báo thức vẫn đang phát sáng. Không có gì thay đổi. Trừ lúc này, những con cua vẫn còn bên trong cơ thể nàng - như tối hôm đó họ đã cùng chia sẻ một món ăn. Chỉ có nàng là đã không nhận thức được điều đó.

Người trai trẻ ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh cửa sổ, nhắm mắt lại, hít thở, từ từ và đều đặn. Hít thở không khí trong lành vào phổi, thở ra, hít vào. Anh cố gắng hít thở không khí thật nhiều hết mức có thể vào cơ thể mình. Anh muốn tất cả các lỗ chân lông trong cơ thể anh nở rộng. Tựa như một chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ nằm trong một căn phòng trống rỗng, trái tim anh đập mạnh từng tiếng, cứng và khô khốc.

Nhìn người bạn gái đang ngủ của mình, anh đã hình dung vô số con bọ nhỏ lúc nhúc trong dạ dày của nàng. Liệu anh có nên đánh thức nàng dậy và nói với nàng về điều đó? Rồi họ có thể làm gì hơn? Anh không dám chắc mình phải làm gì, anh suy nghĩ một lúc, và quyết định ngăn nó lại. Nó sẽ không tạo ra được chuyện gì hay hớm cả. Nàng đã không nhận thấy được bất cứ điều gì. Và đó mới là vấn đề chính.

Thế giới bỗng trở nên hỗn loạn chưa từng có. Anh có thể nghe thấy những tiếng cót két qua quỹ đạo mới này. Có một cái gì đó đã xảy ra, anh nghĩ, và thế giới đã thay đổi. Tất cả mọi thứ đã thoát ra khỏi trật tự, và sẽ không bao giờ trở lại như thuở ban đầu đã từng. Mọi thứ đã thay đổi, và tất cả những gì có thể làm là tiếp tục theo hướng mới này. Ngày mai mình sẽ trở lại Tokyo, anh nghĩ. Trở lại với cuộc sống mà mình đã để lại nơi đó. Ngoài mặt tuy không có gì thay đổi, nhưng mình không nghĩ rằng mình có thể sẽ hòa hợp được với nàng một lần nữa. Mình sẽ không bao giờ cảm nhận lại được cái cách mình đã cảm nhận về nàng cho đến ngày hôm qua, người trai trẻ biết. Nhưng đó không phải là tất cả. Mình không tin là mình có khả năng hợp nhất với chính mình thêm lần nào nữa. Giống như thể chúng mình đã rơi ra khỏi bên ngoài dãy hàng rào cao vút. Hoàn toàn không có một tiếng động. Và nàng thậm chí còn chẳng nhận ra.

Người trai trẻ cứ ngồi trên ghế mây cho đến khi bình minh, lặng lẽ hít thở. Thỉnh thoảng lại có một cơn gió mạnh vút qua vào ban đêm, với những giọt mưa đập vào cửa sổ như một kiểu trừng phạt. Những đám mây mù rồi sẽ lại trôi qua và mặt trăng dần ló dạng. Cứ lặp đi lặp lại như thế. Nhưng người phụ nữ không bao giờ tỉnh dậy. Hoặc thậm chí trở người trên giường cũng không. Vai nàng có lắc lư đôi ba lần, nhưng chỉ có thế. Hơn bất cứ điều gì trên đời, anh muốn ngủ, ngủ thật ngon và thức dậy để thấy rằng mọi chuyện đã được giải quyết cả rồi, rằng mọi thứ đều giống như nó đã từng, vẫn hoạt động trôi chảy như mọi khi. Người trai trẻ không muốn gì hơn là chìm vào giấc ngủ sâu. Nhưng cho dù anh có cố gắng vươn tay đến thế nào, giấc ngủ vẫn nằm ngoài tầm với.

Người trai trẻ nhớ lại đêm đầu tiên, khi họ đi ngang qua nhà hàng nhỏ bên đường. Hai người đàn ông Trung Hoa lặng lẽ dùng đồ ăn của họ, con chó mực mắt nhắm lại, nằm dưới chân hai ông, chiếc ô lớn bạc màu nơi bàn ăn. Nàng đã kéo tay anh ra sao. Mọi chuyện dường như xảy ra đã cách đây nhiều năm. Nhưng chỉ mới ba ngày thôi. Chỉ ba ngày đó thôi, xuyên qua một thứ sức mạnh kỳ quái nào đó, mà anh đã biến thành một trong những người đàn ông xấu xí, già cỗi mất rồi. Tất cả diễn ra ở một thành phố biển yên tĩnh, xinh đẹp của Singapore.

Anh đưa hai tay ra trước mặt mình và nhìn chúng chăm chú. Anh nhìn vào đôi bàn tay, sau đó là lòng bàn tay. Không gì có thể che giấu được sự thật là tay anh đang run lên, dẫu là không đáng kể.

"Ưmmm, em lúc nào cũng yêu món cua cả," anh có thể nghe thấy tiếng nàng nói. "Còn anh thì sao?"

Anh không biết, anh nghĩ.

Trái tim anh cảm thấy bị che khuất bởi một thứ gì đó vô hình, bao quanh bởi một điều huyền bí thẳm sâu và mềm mại. Anh đã không còn sở hữu những manh mối mờ nhạt nơi phía trước của cuộc đời mình, và những điều có thể chờ đợi anh ở đó nữa. Nhưng cuối cùng cũng đã đến lúc chân trời phía Đông bắt đầu rạng lên, anh chợt nảy ra một suy nghĩ đột ngột: Có một điều mình dám chắc, anh nghĩ. Bất kể là dù mình có đi đến đâu, mình cũng sẽ không bao giờ ăn cua nữa.

Hết.

Truyện ngắn Cua (Kani) được in lần đầu tiên trong tuyển tập truyện ngắn Stories #50 xuất bản năm 1984. Bản tiếng Anh do Philip Gabriel chuyển ngữ.

Lời người dịch:

Kỳ thực mà nói, đây không phải lần đầu tiên tôi tiếp cận tác phẩm này, nhưng lại chính là lần đầu tiên đọc nó. Truyện ngắn “Cua” đã từng được đề cập trong tác phẩm “Sân bóng chày” trong tập truyện ngắn “Người Ti-vi” do bác Phạm Vũ Thịnh dịch, tôi đã được đọc sáu năm trước khi còn là một đứa học sinh cấp 3. “Sân bóng chày” là một truyện ngắn không nổi trội mấy so với mặt bằng chung các truyện của Murakami, nhưng trong đó có một đoạn hội thoại của hai người đàn ông, một người làm nghề xuất bản đã kể về truyện ngắn “Cua” này thông qua một cuộc thi viết truyện ngắn do tạp chí/nhà xuất bản của ông ta tổ chức. Tôi cứ nhớ nhớ quên quên, thế nào mà suýt bỏ qua một truyện siêu ngắn nhưng đặc sắc như vậy.

Đầu tiên tôi định dịch chỉ để tặng một người bạn thân nhằm vui đùa là chính thôi. Nhưng dịch xong rồi mới tâm đắc rút ra một chân lý: Phàm truyện ngắn nào của Murakami mà tựa đề dính đến tên con vật, là truyện ngắn đó... dịch rất mệt! Thế thôi. Mời mọi người thưởng thức.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Thiếu nhi đánh cờ tướng (Kỳ Y)

Published

on

By

Tại đại hội cờ tướng tiểu học cấp thành phố năm đó, quận Phú Nhuận cử ba em học sinh tiểu học đạt giải cấp quận đi thi đấu. Tôi và hai người khác trường – chúng tôi hẳn vẫn còn hỷ mũi chưa sạch nhưng đã vác một trọng trách to lớn. Tôi là đứa trẻ nhất, lớp hai, còn lại là một anh lớp bốn và một anh lớp năm. Phú Nhuận chưa bao giờ được giải nào cả, cái trường của tôi cũng chưa, và rất nhiều thứ chưa, chưa, chưa chỉ càng khiến tôi muốn mình là người đầu tiên phải chiến thắng. Đầu tiên, phải, đó cũng là năm đầu tiên tôi biết chơi cờ rồi đi thi đấu. Với sức chiến ngoan cường nén trong một đứa nhỏ thó, tôi đã có mặt ở đây sau hai vòng đấu trường và đấu quận khắc nghiệt. 

Sau trận đầu tiên thắng “xiềng” (theo lối nói từ ba tôi), huấn luyện viên quận gọi chúng tôi ra. Tôi, như một thằng láu cá háo thắng, xâu kẻ thù thành một xiên, bắt đầu vẫy vẫy cái xiên ấy rồi khoe tới tấp dẫu cái xiên mới chỉ tòng teng một chiến lợi phẩm. Ôi tôi tưởng như mình vô địch đến nơi! Dù nhà thi đấu trần cao như nhà hát và hoàn toàn khiến những đứa nhỏ chúng tôi vốn nhỏ lại càng teo nhỏ hơn vì kinh hãi, nhưng tôi, dường như lại bình tĩnh hơn cả. Khi thấy biên bản ghi điểm, ông huấn luyện viên khá hài lòng. Ông ta bắt đầu nhắc lại rằng ráng sức thắng những ván đầu, việc này rất quan trọng vì chúng tôi thi theo hệ số cộng dồn nên nếu thua thì xem như thua về đường dài. Còn nếu không thắng được thì hãy cố thủ hòa, vớt vát và có thể lội nước rút ở những ván sau. Nhưng thắng vẫn hơn, chỉ có thắng mới vui hết công suất được. 

Ba tôi cũng có mặt tại đó, nhìn ông hớn hở tôi biết ông rất mong thấy tôi được giải. Tôi nhớ đây là quãng thời gian hiếm hoi tôi xem ông như một người bạn, ông không còn là ông Nghị mà tôi vẫn khiếp sợ (Nghị: Ngờ-i-nghi-nặng-nghị – một loạt tổ hợp những thứ dữ dội, vừa có nghi lại vừa có ngờ, vừa có nặng lại vừa có nghiêm). Hai hôm thi vòng trường và vòng quận tôi đều được ông chở ăn phở. Thi giải thành phố khó hơn và kéo dài gần cả tuần nhưng ông vẫn đảm bảo cả tuần tôi được ăn những gì mình thích, thậm chí gà rán và pizza cỡ nhỏ. Ông hay xoa đầu tôi, ông bảo nếu tôi không được giải thì cho tôi cọ xát để biết mình chơi tốt chơi dở thế nào. Tôi biết ông nói vậy cho tôi đỡ áp lực thôi chứ sâu trong tôi không muốn phụ lòng ông. Tôi chỉ chực chờ, phải, tôi như một cục đá lửa chuẩn bị nẹt cháy tụi nó, hình ảnh ấy cứ ở trong đầu tôi, dù tôi hoàn toàn biết những đứa quận 1, quận 5 rất cao cường. Nói chung hai quận này toàn con cái nhà giàu nứt vách và đều cắp cặp đi học lớp ban đêm như luyện gà đội tuyển tụi Trung Quốc. Tức không phải hạng dễ xử. Tôi đã hỏi các anh lớp bốn lớp năm từng thi đấu xem tên này tên kia hay đánh thế gì để chuẩn bị trước. Còn ba bảo tôi bình tĩnh, hãy cố biến những thế cờ lạ thành thế cờ quen thuộc. 

Ván thứ hai sáng ngày hôm sau tôi thủ hòa với một tên quận 1. Tên ấy lớp bốn. Tôi bắt đầu biết khiêm tốn hơn vì tôi suýt thua đậm. Cho dù tôi đã biết tên đó đi Phản Công Mã nhưng tôi không bật lại được, tên này đánh quá dữ dằn và trây đến tận cờ tàn – thứ chẳng hề quen thuộc với tôi. Thằng khốn đó còn chơi trò tâm lý, giữa ván lúc tôi suy nghĩ lâu nó gọi cho ba nó (thứ công tử bột thích khoe điện thoại) bảo ba chở nó về, nó sắp thắng rồi. Tôi không lấy làm nao núng, dù tay tôi hơi run và yếu đi, mỗi hơi thở của tôi trở nên dồn dập hơn. Tôi có nghĩ mình sắp gục vì căng thẳng, và rồi đi đại một nước, một nước quan trọng. 

Hầu như những lựa chọn trọng đại trong cờ lẫn trong đời (thứ mô phỏng cờ) tôi đều chọn đại như vậy, như thể sau những hồi căng thẳng đến chết đi được, thì tôi sẵn sàng chết cho thật chóng vánh. 

May sao hòa trận. Được nửa điểm. Tôi giảm đi sự hớn hở với ba mình. Lúc ăn trưa ông có vẻ không an tâm tôi cho lắm, ông bảo tôi lấy biên bản ra và diễn lại trận đấu. Như giải trí thôi. Nhưng ba phân tích khá kỹ khiến tôi hơi căng thẳng, rằng tôi lại bỏ sót loạt nước yếu của đối thủ, rằng tôi đã không chớpthời cơ, rằng tôi điều quân lòng vòng và để nó quật cho hòa. Tôi gật gù và cố dung nạp những lời ba tôi căn dặn. Đầu óc tôi trên mây và đánh giá chúng cao quá chăng? Hóa ra chúng không ghê như tôi tưởng, vần vũ cho cùng cũng chỉ là khoa trương, cây nhà lá vườn vẫn ổn hơn cao lương mỹ vị. Tôi lấy tự tin trở lại cho ván đấu chiều. 

Tôi đợi đối thủ đến và nhâm nhi chai nước lạnh ba tôi mua cho. Thằng này đến trễ, dân cờ quận 5, nó định chơi trò tâm lý như thằng quận 1 thật sao? Đầu óc tôi bay lòng vòng trên những giàn đèn rồi chớp lóe thay cho chúng. Tôi vốn biết mấy trò tâm lý. Như nhiều thằng khi đương đánh lại bỏ đi sang bàn khác, ngắm nghía rồi toát ra vẻ mặt kiêu kỳ. Một vài đứa khác có trò vào nhà vệ sinh đi tiểu – thì hẳn chúng chẳng nhờ ai mách nước đâu, nhưng có khi lại cầu cứu ông thần vệ binh ông thần vệ sinh nào trong đấy. Toàn thứ ra vẻ, toàn thứ hèn nhát. Tôi sốt ruột chờ tên ấy, trọng tài bấm đồng hồ giúp tôi trừ giờ thằng đó. Tôi bắt đầu háo hức, tôi có thể được miễn đấu và thắng một điểm không tốn sức. Tôi bắt đầu mơ mộng. Bỗng nhiên những dòng sung sướng cuộn trong tôi như phước báu kiếp trước lũ lượt ùa về. Tôi cầu tên đó ngủ quên. Tôi cầu tên đó bị mất giấy thi đấu. Tôi cầu tên đó bị kẹt xe tắc đường; nếu không tắc thì tôi cầu cho tên đó ngồi trên bàn cầu, bị thần vệ sinh trừng phạt và ban cho cơn tiêu chảy. Tôi thật ác độc, nhưng tôi cũng thật chính đáng. 

Nhưng rồi rột rẹt, tạch, tạch, tạch. Tên đó đến, ký giấy và chúng tôi lao vào trận đấu nghẹt thở. Đồng hồ cứ thế luân phiên ăn bớt thời gian mỗi người. Hóa ra mơ mộng chỉ khiến cho con người ta kiểu nào cũng phải xấu hổ. Tôi đã phí phạm thời gian nghĩ chuyện không đâu. Mọi thứ vốn dĩ nằm ngoài dự đoán của ta đấy thôi. Tôi có chút thất vọng, và rồi từ hùng hồn tôi chuyển sang khuynh hướng có chút sợ hãi rằng mình đã suy nghĩ xấu cho đối thủ và sẽ gặp quả báo. Tôi đi trước, đã chĩa họng Pháo nhòm xa vào mặt Tướng đối thủ, tên đó vừa vào đã đá hai Mã vào trung tâm, Sĩ gác Tượng nâng phòng thủ chắc chắn. Những quân cờ lạnh lùng, chốc chốc lại chém giết, hất nhau nhảy ra bàn cờ cho đại cục. Bình Phong Mã, thế cờ lừng danh mà tôi vốn biết và yêu thích chơi cho bên Hậu, giờ tôi phải đấu với kẻ dùng chính thế trận yêu thích của mình. Nhưng vui thay, cây nhà lá vườn vẫn hơn cao lương mỹ vị, tên này không biết đánh và để mất một con Xe “yếu nhớt”. Tôi muốn bật cười ha ha như mấy bộ phim hoạt hình nhố nhăng tôi vẫn hay xem. Trời, thật chứ? Con Xe, một trong những con đắt giá nhất bàn cờ, tận 10 điểm. Không thể tin được, tuyển thủ quận 5 đây sao? Người Việt đánh cờ vẫn hơn người Hoa! – tôi nhớ có ai nói vậy.

Tôi cầm chắc phần thắng. Tôi đi chầm chậm lại chờ cho nó hết giờ. Tôi chỉ có thể thắng. Tôi dâng con Xe “ngon nghẻ” của mình lên (tôi thích cách nói này từ ba tôi lắm), bỏ lại hàng rào phòng thủ, như một cầu thủ đang muốn tạo đột phá. Tên đó hình như điềm tĩnh trở lại… nó dốc hết lực đánh tôi, bên cánh phải, chỉ để lại một con Mã ở quê nhà. Tôi bắt đầu căng thẳng. Mọi việc hóa ra không trơn láng, nó chỉ trơn láng khi ta chỉ cứ một mạch mà đi, đằng này, tôi lại bắt đầu do dự. Tôi sợ bị đột kích. Tôi không thể thua nhảm nhí được. Tôi hít sâu, rồi hơi thở tôi đẩy mạnh như một cái pô xe phân khối lớn. Tôi chần chừ phần thắng, vì tôi muốn mình không được thua trước. Tôi bốc con Xe lùi lại.

“Ê! Kỳ vậy! Trọng tài!”

Nó làm ngắt mạch suy nghĩ của tôi và làm tôi chuẩn bị phải suy nghĩ lại từ đầu. Vì lý do gì đó. Không sao. Tới lượt nó đi. Tôi có thêm thời gian ký sinh từ thời gian của nó.

“Sao em?”

Ông ta bước lại, dáng vẻ hơi nhọc vì cái bụng mỡ. Ông là trọng tài duy nhất của dãy bàn chúng tôi, tôi thiển nghĩ, hẳn ông cực lắm vì ông cứ đi qua đi lại hoài. Rồi tôi thấy cái bụng nhòng nhòng trồi đập vào lớp áo thun, cái bụng y như một tù nhân đòi được thoát khỏi cái nhà tù bằng vải.

“Bạn này bốc con Mã nhưng lại đi con khác.”

“Là sao? Em, em bốc cờ thì phải đi chứ.”

“Con… con đâu có bốc con Mã đâu! Bạn nói gì kỳ vậy?”

“Có bốc đàng hoàng, con thấy rõ ràng luôn chú!”

“Không! Làm gì có!”

“À, em có nói sửa cờ không?”

“Bạn không hề nói sửa cờ. Cách bạn bốc cờ không phải là sửa cờ cho ngay lại chú, mà bốc xong bạn rụt tay lại hối hận. Rồi bạn bốc con khác!” 

Nó diễn lại nước vừa rồi cùng tư thế ngồi của tôi. Tôi căng mắt và không thể tin được, vì đúng là tôi đã vô thức chạm trúng tay con Mã.

“Vậy... là con có đụng, cho con xin lỗi.”

Sau lời nói run rẩy của tôi, ông ta gật gù, biên độ của ông theo biên độ đập tay lên bàn của nó, khi nó đang giải thích kỹ hơn một lần nữa. Nhưng rồi vì sự hiền hậu ở những người có chiếc bụng ông địa toát lên, ông ta dịu dàng trấn an:

“Thôi thôi, bình tĩnh. Lần này chú nhắc, lần sau là không nhắc lại.”

“Dạ... con nhớ rồi!”

“Đụng quân là phải đi. Luật là luật! Nhớ đó. Hai đứa đánh tiếp đi. Tới giờ của em đúng không, rồi.”

Kịt, ông ta ấn đồng hồ.

“Dạ…” 

Tôi lí nhí, rồi thất thần quay đầu trở lại bàn cờ. Ông ta bước rảo qua bàn bên, một luồng khí luồn dọc sống lưng tôi. Tôi bị làm sao không thể tỏ. Tôi đã cẩn trọng đến mức như thể chủ quan. Tôi rơi vào điểm mù của cẩn trọng. Tôi tìm cách thoát ra, nhưng không thể. Tại sao có nhiều nước để đi thế này và nước nào cũng rất triển vọng lẫn rủi ro? Tôi muốn đi đại, nhưng không được, vì tôi không thể thua. Tôi thấy nghẹt thở quá. Hẳn người lớn hay gọi đây là áp lực, vì nó căng phồng khắp tôi, biến tôi thành trái bong bóng chực chờ nổ tung.

Tên đó bốc con Pháo đâm xuống đáy bên phía tôi, dọa chiếu bí bằng đòn Pháo Trùng. Tôi há hốc mắt mình ra vì kinh ngạc, tên đó đã lấy lại phong độ trở lại. Không sao, tôi chỉ cần một nước xuất Tướng là xong. Nhưng từ từ, tôi có thể thắng ngay bây giờ không? Tôi hẳn phải có nước nào đó chiếu liên tù tì. Tôi phải dứt điểm sớm, như ba tôi nói, tôi không thể chần chừ.

Không, cho dù đã hơn thế trận thì tôi vẫn không thể nào chủ quan. Tôi không thể để nỗi sợ thua ám muội mình. Tôi chỉ sợ chiến thắng vụt mất. Giờ tôi mà bốc con cờ khác là thua ngay. Tôi không được bốc con cờ khác. Chỉ cần chạm con Tướng thôi, là tất cả chiêu trò dụ dỗ được tháo gỡ.

“Sửa cờ.”

Tôi hô lên, giữ bình tĩnh, chỉnh các quân cờ ngay ngắn lại trước khi thực hiện nước quan trọng. Luật là chỉ cần hô lên và dùng tay dịch sửa cờ thôi, tôi không bị tính lỗi là bốc quân mà không chịu đi. Nó nhăn mặt nhìn tôi, ra vẻ bất ý. Rồi tôi đưa sự tập trung của mình trở lại trận địa. Nhưng tôi không thể sơ sót, tôi xem kỹ lại vị trí các quân cờ một lần nữa. Những tia sét xẹt trong đầu tôi, vì khi căng thẳng chơi cờ, não con người ta phát sáng cực độ, và tôi đây đang nhìn vào khoảng vô định cùng những mộng tưởng và sát chiêu. Tôi căng thẳng quá, tôi không thể chịu được!

“Trọng tài ơi!”

“Sao, có gì nữa!”

“Bạn này mới bốc con Tượng rồi không chịu đi!”

“Sao sao, đâu.”

“Bạn bốc cờ rồi không đi.”

“Nữa hả? Em lại vậy nữa. Chú đã dặn em rồi!”

“Đã vậy con đâm con Pháo xuống chiếu bí bạn, bạn không chịu, đòi đi lại.”

“Em này, chú đã nhắc em rồi! Bốc cờ là phải đi!”

“Em…? Em… không, em không có bốc mà!” 

“Đây chú, bạn này bốc con Tượng, nãy bạn đụng tay vậy nè, chính tay bạn đụng luôn. Bạn đụng rồi rụt tay lại, bạn không hề nói sửa cờ! Rồi con mới đâm con Pháo xuống đây, chiếu bí hết cờ!”

“Em à, em có đụng không?”

“Em không đụng… em không đụng thật mà!”

“Trời, nó nói xạo! Nó đụng rõ ràng!”

Vài người lớn hiếu kỳ bước lại chỗ bàn tôi, tôi và thằng đối thủ đang làm ầm nhà thi đấu lên. Chúng tôi cãi cọ. Một số người phụ dời bàn những đứa khác ra xa, tránh để bị phân tâm. Bọn chúng nhìn tôi – nhìn tôi, chứ không phải thằng đối thủ tôi – như thể tôi là một kẻ đểu cáng lừa lọc. Tôi đang cố sức minh oan cho mình, nhưng tôi không thể nhớ được.

“Ba?”

Ba tôi đứng ở ngoài, ông thấy bàn tôi nhiều người lớn xôm tụ lại như kiến bu dĩa đường. Khi tôi vừa thấy ba, ba bật cười. Lòng tôi cấn lên đau nhói, hẳn ông đang nghĩ rằng tôi đánh hay đến mức hút cả người lớn lại xem, rằng ván cờ của thằng con mình có khi được lên báo, dẫu nó có thua hay thắng cũng không sao cả. Nhưng rồi, thấy có gì đó không ổn, rằng tôi lại không đánh cờ mà lại nói chuyện với trọng tài, ba bước lại. 

“Có chuyện gì vậy anh?”

Ông trọng tài bước lại ba tôi rồi quơ tay giải thích. Ba tôi khựng lại như để trút hết mọi ảo tưởng, ông điềm đạm bước lại gần bàn cờ. Và rồi ông cũng đứng sau tôi. Ông trọng tài lặp lại vấn đề. Chốc chốc ông ta lại chỉ vào bàn cờ, ba tôi bắt đầu dõi theo với ánh mắt sắc cạnh. Đến lượt bọn chúng, bọn con nít tuyển thủ nhìn ba tôi. Ba tôi không bận tâm, rồi bình tĩnh chỉ “là tới đây nó bốc con Tượng à?” Rồi, như tôi dự đoán, ba tôi không tin, ông nhìn tôi, dáng vẻ như một con hổ hừm hừm. Ông hỏi tôi.

“Con, có đụng không con?”

“Con… con không…”

“Nó đụng anh ạ.”

“Từ từ! Con tui không có đụng cờ. Nó nói không đụng là không đụng. Ông có bằng chứng gì không? Có camera không? Ai làm chứng?”

“Có mấy đứa bàn cạnh làm chứng. Anh bình tĩnh, để hỏi thử một đứa xem là biết liền.”

“Tụi nó lo đánh nhau, hơi đâu mà để ý bàn khác. Nhảm nhí!”

“Anh bình tĩnh! Em này nãy đã bắt lỗi con anh một lần, tôi đã dặn kỹ cả hai, rất kỹ. Không lý gì em kia lại bắt lỗi con anh nữa nếu con anh không sai.”

“Anh nói không không như vậy chẳng ích gì! Camera, có camera không?”

Ông trọng tài lắc đầu rồi giơ cánh tay quảng đại của nhạc trưởng. Ông cố giải thích mọi chuyện với chất giọng âm ấm: nhà thi đấu có camera, dù rất mờ, nhưng nếu muốn ông có thể liên hệ với bảo vệ bật cho chúng tôi cùng xem.

Rồi chuyện đi xa hơn. Chẳng cần đợi lâu, bảo vệ cũng nghiêm nghị bước vào cuộc. Họ mang máy tính xách tay đến và trích xuất camera. Chuyện hệ trọng rồi. Quả là camera mờ thật, chỗ chúng tôi hơi khuất tầm camera, đó là chưa kể các quân cờ khá nhỏ. Tôi, ngồi xếp hai tay che bàn cờ, bị khuất khá nhiều – chuyện cũng tương tự với tên đối thủ của tôi. Mười lăm phút trôi qua, bảo vệ tua hết chỗ nọ, cũng không thấy được ván cờ như thế nào. Ai nấy sốt ruột. Ba tôi lắc đầu, và tôi biết ông đang tìm cách để tôi đi lại nước cờ, hoặc tệ lắm là đấu lại ván mới. Nhưng rồi trọng tài gạt bỏ hết tất cả: 

“Quan trọng là có tôi ở đây giám sát. Tôi biết em nào nói dối hay không. Tôi là trọng tài cờ tướng hai mươi năm rồi, nhiều trường hợp các em đụng cờ không chịu đi, tôi cũng phải xử thua. Con nít mà anh. Mà không phải hơ đâu một cái các em bị lỗi mà tôi xử, trước đó tôi phải dặn dò các em rất kỹ. Giờ anh nghĩ xem, đấu lại, có phải không thỏa đáng không?”

“Thế nào mới thỏa đáng? Rõ là con tui sắp thắng! Nó không thể bốc cờ ngớ ngẩn như vậy được! Còn thằng này nó thua đến nơi rồi, nó mới chơi thủ đoạn. Anh nhìn thế cờ này đi, anh tin ai?”

“Nhưng đứa này thắng trước, anh nhìn đi.”

“Trời, vui thật ha.”

Ba tôi cười chua chát. Tên đối thủ lên tiếng:

“Nhưng rõ ràng là bạn này đụng cờ! Nếu không đụng cờ, sao bạn lại run như vậy chứ!”

“Mình không đụng… vì đụng con đó chả khác nào thua cờ... Mình đã nói sửa cờ rồi mà.”

“Kỳ, con nói lại lần cuối cho ba xem. Con có đụng hay không?”

Ông chủ giải thưởng bước đến. Đầu óc tôi rối bừng, và giờ vẻ như tôi không thể nhớ là tôi có đụng hay không.

“Anh à… bớt nóng, ở đây có nhiều em đang thi đấu. Trọng tài đã nói như vậy rồi, có gì không ổn mình nói nhỏ nhẹ với nhau. Mình cư xử có văn hóa chút ạ.”

“Thôi… mấy người ăn chia với nhau, quận 5 lúc nào chả được ưu ái,” ba tôi bật cười mỉa mai. 

“Anh nói như vậy mà nghe được à? Đây là luật.”

Hai dòng nước mắt của tôi thi nhau chảy. Tôi không nói được lời nào vì cổ họng tôi bận co giật thút thít. Thằng quận 5 được nước gác tay lên xoang má, rồi ra vẻ không muốn nhìn thấy cảnh tượng nhảm nhí này. Hắn ra vẻ như người lớn. 

“Tóm lại, con anh nó chạm vào quân cờ mà không chịu đi. Nãy giờ hơn một tiếng đồng hồ đôi co, tui đã nhắc nó kỹ rồi mà nó vẫn phạm, thì tui xử thua chứ sao! Giờ anh có ý kiến hay phân bua gì không?”

“Con... không… đụng mà…” 

“Trời, thằng này nó đụng đàng hoàng!”

“Không…” 

Tôi như thằng nói dối. Tôi cảm tưởng mình càng nói thì càng sai, nên đành nín lặng.

“Tôi quyết định xử thua.” 

Ba tôi quát lớn lên với toàn thể hội đồng: 

“ANH IM ĐI!” 

Vừa ngay khi tiếng la của ba vang vọng khắp trần nhà làm rung những chòm đèn, tất cả mọi người ngoái đầu nhìn. Có những tiếng xì xầm rộ lên kèm những gương mặt đắc thắng ở bàn bên, có lẽ bọn chúng vui vì có thêm chuyện để nói. Bảo vệ chuẩn bị sấn bước đến can thiệp. 

Mọi người xem ba như trò cười. Còn tôi thì lại khóc. Ngày một lớn hơn. 

Ba tôi dứt lời rồi nghiến chặt răng bước ra sảnh. Tôi có thể đoán thế, dù tôi không thể và cũng không dám nhìn ai, tôi xấu hổ khi mình lớn xác mà lại còn khóc nhè. Tôi không xấu hổ ba mình. Tôi chỉ xấu hổ vì tôi đã đưa ba vào tình cảnh này. Bù lu bù loa, tôi chỉ một mạch bước đi, màn sương phủ lấy tôi, tôi như kẻ mù bởi chính nước mắt mình. Tôi lẽo đeo núp sau ba tôi rồi cũng tới bãi xe. Khi ngồi ôm ba sau xe, tôi dịu lại. Ba chở tôi ra công viên Hoàng Văn Thụ rồi hai cha con chúng tôi ăn kem xe bán hàng rong. Ba tôi không nói gì một lúc. 

“Con có đụng con Tượng không…?” 

Rồi sự thật, một sự thật phũ phàng từ sâu thẳm cơn quên hiện lên.

“Dạ… có…” 

Ông im lặng. 

Tôi cúi gầm mặt, rồi chẳng khóc được nữa.

Buổi chiều nắng vàng rực đến mức không thể cắt nổi nghĩa. Tôi chính thức thua cuộc khi trông thấy mái đầu ba mình óng ánh bạc nắng.

Tôi từ bỏ thi đấu cờ tướng vĩnh viễn, chỉ xem nó như trò giải trí cho đến tận sau này. Dù ba muốn tôi thi đấu tiếp, nhưng rồi tôi không thể nào vượt qua được sức nặng của những lựa chọn.  

Kỳ Y

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Đôi mắt trũng sâu” (Dean Koontz)

Published

on

By

Trích từ: Đôi mắt trũng sâu
Tác giả: Dean Koontz
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

Sáu phút đầu tiên của buổi sáng thứ Ba, trên đường về nhà sau buổi tập muộn cho chương trình biểu diễn mới, Tina Evans nhìn thấy con trai mình là Danny đang trong một chiếc xe của người lạ. Nhưng Danny chết đến nay hơn cả năm rồi.

Dự định mua một quart sữa và ổ bánh mì nguyên cám nên Tina dừng lại ở một cửa hàng mở cửa hai mươi bốn giờ cách nhà cô hai dãy phố và đậu xe trong màn bụi mờ vàng vọt của ánh sáng đèn hơi natri, bên cạnh một chiếc station wagon hiệu Chevrolet màu kem bóng loáng. Đứa bé trai ngồi ghế phía trước, đang chờ ai đó trong cửa hàng. Tina chỉ có thể nhìn thấy một bên mặt của cậu bé, đủ để cô há hốc nhận ra trong đau đớn.

Danny.

Cậu bé khoảng độ mười hai tuổi, bằng tuổi với Danny. Mái tóc đen dày như của Danny, cái mũi y hệt Danny, và một khuôn cằm khá thanh mảnh cũng giống Danny.

Tina thầm gọi tên con trai mình, như thể lo sợ nếu gọi to hơn sẽ làm dáng hình yêu dấu này tan biến.

Không biết cô đang chăm chú nhìn mình, cậu bé đưa một tay lên miệng và cắn nhẹ vào khớp đốt ngón tay cái, giống như Danny đã bắt đầu làm khoảng một năm trước khi chết. Tina đã cố gắng phá bỏ thói quen xấu đó của con nhưng không thành công.

Giờ đây khi quan sát đứa bé này, dường như sự giống nhau giữa nó và Danny còn hơn cả sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đột nhiên Tina nghe thấy từng tiếng thình thịch của tim mình, còn miệng thì trở nên khô khốc và chua chát. Cô vẫn chưa thích nghi được với nỗi mất mát đứa con độc nhất của mình, bởi vì bản thân không bao giờ muốn – hay thử – làm quen với nó. Việc chấp nhận sự giống nhau giữa cậu bé này với Danny rất dễ khiến Tina lầm tưởng rằng nỗi mất mát từ đầu đã không tồn tại.

Có thể… có thể cậu bé này chính là Danny. Tại sao lại không nhỉ? Càng suy xét thì câu chuyện càng có vẻ ít điên rồ hơn. Xét cho cùng, cô chưa bao giờ nhìn thấy thi thể của con. Cảnh sát và những người mai táng đã khuyên rằng không nên nhìn vì cơ thể Danny đã bị rách toạc và giập nát một cách khủng khiếp. Rợn người và kiệt sức vì đau buồn nên cô đã làm theo lời khuyên của họ, tang lễ của Danny đã được cử hành với quan tài đóng kín nên những người đưa tiễn không thể nhìn mặt cậu lần cuối. Biết đâu họ đã nhầm khi nhận diện thi thể. Danny có thể đã không chết trong vụ tai nạn. Có lẽ cậu chỉ bị một chấn thương nhẹ ở đầu nhưng nghiêm trọng vừa đủ để bị… mất đi ký ức. Đúng rồi. Mất trí nhớ. Có lẽ trong vô thức Danny đã rời khỏi chiếc xe buýt vỡ nát và được tìm thấy cách xa hiện trường vụ tai nạn hàng dặm đường, không có giấy tờ tùy thân, không thể nói cho ai biết mình là ai hay từ đâu đến. Hoàn toàn có thể, đúng không? Cô đã từng xem những câu chuyện tương tự trong các bộ phim. Chắc chắn rồi. Mất trí nhớ. Và nếu quả đúng như vậy thì có thể người ta đã đưa cậu bé đến một trung tâm cứu trợ trẻ em để bắt đầu cuộc sống mới. Và rồi bây giờ Danny ngồi trong một chiếc wagon hiệu Chevrolet màu kem, đang được mang đến trước mặt cô nhờ định mệnh và nhờ…

Ý thức được cái nhìn chằm chằm nên cậu bé quay mặt về phía Tina. Cô nín thở khi khuôn mặt ấy chầm chậm hướng về phía mình. Khi nhìn nhau qua hai lớp kính cửa sổ và ánh sáng kỳ lạ của đèn huỳnh quang, Tina có cảm giác như thể họ đang giao tiếp xuyên qua một vực thẳm mênh mông của không gian, thời gian và định mệnh. Nhưng rồi sự thật không thể khác, ảo ảnh của cô tan vỡ vì cậu bé không phải là Danny.

Rời mắt khỏi cậu bé và tập trung vào đôi tay, Tina nhận ra mình đang ghì chặt vô-lăng đến mức khiến tay tê nhức.
“Chết tiệt.”

Cô giận dữ với chính mình. Thường tự cho mình là người phụ nữ có trình độ, luôn điềm tĩnh, cứng cỏi và có thể đương đầu với bất kỳ thử thách nào trong đời, thế mà cuộc sống của Tina đã bị xáo động vì vẫn mãi không thể chấp nhận cái chết của Danny.

Theo sau cú sốc ban đầu, cô đã phải bắt đầu đối phó với sang chấn tâm lý hậu tang lễ. Dần dần, ngày qua ngày, tuần nối tiếp tuần, cô đã để Danny lại phía sau với nỗi tiếc thương, với cảm giác tội lỗi, với nước mắt pha lẫn nhiều cay đắng, nhưng cũng có lòng quyết tâm và kiên định. Trong năm vừa qua cô đã đạt được nhiều bước tiến trong sự nghiệp, và nhờ cậy guồng quay công việc tất bật như một loại thuốc morphine1 để làm vơi bớt nỗi đau cho đến khi vết thương lành hẳn.

Thế rồi một vài tuần mới đây thôi, cô lại bắt đầu rơi vào lại tình trạng khủng khiếp đã từng nhấn chìm mình ngay khi vừa nhận hung tin. Sự cự tuyệt của cô cương quyết đến mức phi lý. Một lần nữa, cô lại bị chấp niệm ám ảnh rằng con mình còn sống. Thời gian đúng ra phải làm vơi bớt nỗi thống khổ của cô, nay lại kéo cô quay về với sự đau thương. Cậu bé trong chiếc station wagon này không phải người đầu tiên cô lầm tưởng là Danny; trong những tuần gần đây, Tina đã nhìn thấy đứa con trai đã mất của mình trong nhiều chiếc xe khác, ở những sân trường mà cô lái xe ngang qua, trên tuyến đường dãy phố, hay giữa một rạp chiếu phim.

Ngoài ra, gần đây một giấc mơ về chuyện Danny vẫn còn sống cứ lặp đi lặp lại làm cho cô phiền muộn. Mỗi lần như vậy, Tina không thể đối mặt với thực tại suốt vài giờ sau khi thức giấc. Cô cứ ngờ ngợ giấc mơ là điềm báo trước rằng rồi một ngày Danny sẽ trở lại với mình, bằng cách nào đó mà cậu bé đã sống sót và sẽ sớm quay về trong vòng tay của cô.

Đó là một hình ảnh tưởng tượng ấm áp tuyệt vời, nhưng cô không thể duy trì nó được lâu. Mặc dù Tina luôn chống cự, nhưng sự thật nghiệt ngã vẫn dần dần len lỏi, liên tục hạ gục cô không thương xót, buộc cô phải thừa nhận rằng giấc mơ không phải là điềm báo. Tuy nhiên, Tina biết rằng khi giấc mơ lại đến với mình, cô sẽ tìm thấy nguồn hy vọng mới như đã từng có rất nhiều lần trước đây.

Nhưng chuyện đó không ổn chút nào.

Bệnh thật, cô tự mắng mình.

Cô liếc nhìn chiếc station wagon và thấy cậu bé vẫn đang nhìn mình chòng chọc. Rồi cô trừng trừng nhìn hai bàn tay đang ghì chặt của mình và cố buông tay khỏi vô-lăng.

Đau buồn có thể khiến con người ta phát điên. Cô đã nghe nói vậy và tin điều đó, nhưng không cho phép nó xảy đến với mình. Cô sẽ đủ cứng rắn để giữ kết nối với thực tại – cho dù thực tại có phũ phàng thế nào đi nữa. Cô không thể tự cho phép mình nuôi dưỡng hy vọng.

Cô yêu Danny bằng cả tâm can, nhưng cậu đã bỏ cô mà đi. Bị rách toạc và giập nát trong một tai nạn xe buýt với mười bốn cậu bé khác, chỉ là một nạn nhân của một thảm kịch lớn hơn. Biến dạng đến mức không thể nhận ra. Chết.

Lạnh lẽo.

Thối rữa.

Trong quan tài.

Dưới mộ sâu.

Mãi mãi.

Môi run rẩy. Cô muốn khóc, cần được khóc, nhưng đã kìm được.

Đứa bé trai trong chiếc Chevy đã mất hứng thú với cô. Cậu bé lại đang chăm chú nhìn vào mặt tiền của cửa hiệu tạp hóa và chờ đợi.

Tina rời chiếc Honda của mình. Trời đêm mát mẻ một cách dễ chịu, khí hậu khô-sa-mạc. Cô hít một hơi thật sâu và bước vào cửa hàng. Không khí trong đó làm cô lạnh đến thấu xương, cộng thêm ánh đèn huỳnh quang sáng chói và không gian quá trống trải nên khó có thể khơi gợi trí tưởng tượng.

Cô mua một quart sữa không béo và ổ bánh mì còn nguyên cám cắt mỏng sẵn cho người ăn kiêng, vì mỗi lát chỉ chứa nửa lượng calorie1 của một lát bánh mì thông thường. Tuy không còn là vũ công nữa mà làm việc ở khâu sản xuất chương trình trong hậu trường, nhưng cô vẫn cảm thấy thể chất và tâm lý mình tốt nhất khi cân nặng không vượt quá thời còn là một nghệ sĩ biểu diễn.

Năm phút sau cô đã về đến nhà. Đó là căn nhà trệt nằm khiêm tốn trong một khu phố yên tĩnh. Những cây ô-liu và tràm gió uể oải lay động trong làn gió nhẹ phảng phất của hoang mạc Mojave.

Tina vào bếp nướng hai lát bánh mì, phết lên đó một lớp mỏng bơ đậu phộng, rót một ly sữa không béo và ngồi vào bàn.

Dù đặc biệt kén ăn nhưng bánh mì nướng bơ đậu phộng là một trong những món ưa thích của Danny từ khi mới chập chững biết đi. Khi còn rất nhỏ cậu đã gọi nó là “pơ dậu phọng”.

Giờ đây vừa nhắm mắt vừa nhai bánh mì nướng, Tina vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của Danny – mới ba tuổi đầu, miệng và cằm lấm lem bơ đậu phộng – cười toe toét bập bẹ, Bánh mì nướng pơ dậu phọng nữa, nữa đi mà.

Giật mình mở mắt vì hình ảnh của con trai trong tâm trí cô quá sống động, nó giống ảo ảnh hơn là ký ức. Ngay lúc này cô không muốn nhớ rõ ràng đến vậy.

Nhưng đã quá muộn. Trái tim se thắt lại trong lồng ngực, môi bắt đầu run rẩy, và Tina gục đầu xuống bàn. Cô khóc.

*

Đêm hôm đó Tina lại mơ thấy Danny còn sống. Bằng cách nào đó. Ở một nơi nào đó. Còn sống. Và cậu cần cô.

Trong giấc mơ, Danny đang đứng ở rìa một hẻm núi sâu không đáy, còn Tina thì ở phía bên kia, đối diện với cậu, nhìn qua vực thẳm mênh mông. Danny đang gọi cô. Cậu bé cô đơn và sợ hãi. Tina đau khổ vì không thể nghĩ ra cách nào để đến với con mình. Trong khi đó, bầu trời ngày càng tối sầm lại; những đám mây dông to lớn như nắm tay siết chặt của những người khổng lồ trên trời đã vắt cạn tia sáng cuối ngày. Tiếng khóc của Danny hòa cùng giọng của cô càng lúc càng trở nên chói tai và tuyệt vọng, vì biết rằng nếu không gặp được nhau trước khi màn đêm buông xuống thì họ sẽ chia xa mãi mãi; trong màn đêm đang đến, một cái gì đó đang rình rập Danny, một thứ đáng sợ sẽ tóm chầm lấy nếu cậu chỉ có một mình giữa đêm tối. Đột nhiên, chớp giật đảo lộn bầu trời, rồi đến một tiếng sấm nổ kinh hoàng và màn đêm bất thình lình sập xuống tối đen, bóng tối mịt mù và vô tận.

Tina Evans ngồi thẳng dậy trên giường, cô tin chắc đã nghe thấy một tiếng động trong nhà. Nó không đơn thuần là tiếng sấm đến từ giấc mơ. Âm thanh mà cô nghe thấy phát ra khi cô đã tỉnh thức, một tiếng động thật sự chứ không phải do tưởng tượng.

Cô chăm chú lắng nghe, sẵn sàng tung chăn và bước khỏi giường. Im lặng ngự trị không gian.

Dần dần sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Thời gian gần đây cô vẫn hay bị giật mình. Đêm nay không phải là đêm đầu tiên cô bị huyễn hoặc về một kẻ đột nhập đang rình rập ngôi nhà của mình. Bốn hoặc năm lần trong suốt hai tuần qua, cô đã lấy khẩu súng lục ở tủ đầu giường và lục soát căn nhà, từng phòng một, nhưng không tìm thấy ai cả. Gần đây cô đã phải chịu rất nhiều áp lực cả về đời sống riêng tư lẫn nghề nghiệp. Có lẽ những gì nghe thấy đêm nay chỉ là tiếng sấm nổ ra trong giấc mơ.

Tina vẫn cảnh giác trong vài phút, nhưng đêm thật yên bình nên cuối cùng phải thừa nhận là trong nhà chỉ có mình cô. Khi nhịp tim chậm dần, cô lại nằm xuống gối.

Những lúc như vậy cô lại ước mình và Michael vẫn còn bên nhau. Cô nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nằm bên cạnh rồi xích lại gần anh trong bóng tối, đụng chạm, vuốt ve, áp người vào và nằm trong vòng tay che chở của anh. Michael sẽ dỗ dành và trấn an cho đến khi giấc ngủ của cô quay trở lại.

Dĩ nhiên, nếu cô và Michael đang ở trên giường ngay lúc này thì tình thế lại khác hoàn toàn. Họ sẽ không làm tình. Họ sẽ cãi nhau. Anh ta sẽ cưỡng lại tình cảm của cô, xua đuổi cô bằng cách gây sự. Anh ta sẽ khơi mào từ một chuyện không đâu rồi trêu tức cô cho đến khi chuyện cãi nhau vặt vãnh leo thang thành cuộc chiến hôn nhân. Đó là những gì đã diễn ra trong mấy tháng cuối cùng họ ở bên nhau. Anh ta luôn sôi sục tâm lý thù địch và kiếm cớ trút giận lên cô.

Tình yêu sâu đậm khiến Tina tổn thương và đau buồn khi mối quan hệ của họ đổ vỡ. Nhưng phải thừa nhận là cô có phần cảm thấy nhẹ nhõm vì cuối cùng nó cũng chấm dứt.

Cô đã mất cả con lẫn chồng trong cùng một năm, người đàn ông rồi đến thằng bé, đứa con trai nằm dưới mộ sâu và người chồng đổi dạ thay lòng. Trong mười hai năm hôn nhân, Tina đã trở thành một con người khác và phức tạp hơn chính cô trong ngày cưới của họ, nhưng Michael thì chẳng hề thay đổi chút nào – và lại không thích con người mới của cô. Họ bắt đầu như những người tình, chia sẻ mọi chuyện trong cuộc sống thường nhật – thành công và thất bại, niềm vui và sự thất vọng – nhưng khi ly hôn xong, họ đã trở thành hai người xa lạ. Mặc dù Michael vẫn đang sống trong thành phố, chỉ cách cô không đầy một dặm (1,6km), nhưng ở một khía cạnh nào đó, anh ta cũng xa cách và không thể chạm tới giống như Danny.

Cô thở dài cam chịu và mở to đôi mắt.

Bây giờ tuy không còn buồn ngủ nữa, nhưng Tina biết mình cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Cô cần phải tươi tắn và tỉnh táo vào sáng mai.

Ngày mai là một trong những ngày trọng đại nhất đời cô: 30 tháng Mười hai. Bình thường ngày đó chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Nhưng ngày 30 tháng Mười hai này chính là dấu mốc cho toàn bộ tương lai của cô dù thế nào chăng nữa.

Trong mười lăm năm, kể từ khi cô vừa tròn mười tám tuổi, hai năm trước khi kết hôn với Michael, Tina Evans đã sống và làm việc ở Las Vegas. Cô khởi nghiệp với vai trò vũ công – không phải showgirl1 mà là một vũ công thực thụ cho Lido de Paris, một chương trình biểu diễn trên sân khấu hoành tráng tại Khách sạn Stardust. Lido là một trong những chương trình biểu diễn xa hoa và lãng phí khó tin đến mức không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới ngoài Vegas, vì chỉ ở Vegas mới có một chương trình trị giá hàng triệu đô-la có thể được tổ chức từ năm này qua năm nọ mà chẳng quan tâm mấy đến lợi nhuận; những khoản tiền kếch xù như vậy đã được chi cho các màn dàn dựng công phu và những bộ trang phục trau chuốt, cũng như cho dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất đông đảo, miễn là doanh thu từ bán vé và đồ uống đủ bù cho chi phí sản xuất thì khách sạn thường vẫn hài lòng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì kỳ lạ vì chương trình chỉ là sự quyến rũ, chèo kéo với mục đích duy nhất là đưa vài ngàn người vào khách sạn mỗi đêm. Khi đến cũng như khi rời khỏi khán phòng, đám đông phải băng qua tất cả các bàn xí ngầu, bàn xì dách và cò quay roulette cũng như những dãy máy đánh bạc lấp lánh, và đó mới chính là nơi tạo ra lợi nhuận. Tina yêu thích công việc nhảy múa với Lido, và cô đã gắn bó hai năm rưỡi cho đến khi biết mình có thai. Cô đã xin nghỉ để dưỡng thai, sinh Danny và dành toàn bộ thời gian ở bên con trong những tháng đầu đời. Khi Danny được sáu tháng tuổi, Tina bắt đầu tập luyện để lấy lại vóc dáng và giành được vị trí trong dàn hợp xướng của một chương trình biểu diễn mới ở Vegas sau ba tháng miệt mài luyện tập. Cô đã xoay xở để vừa là một vũ công giỏi vừa là một người mẹ tốt, mặc dù điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng; thương yêu Danny và đam mê công việc của mình, cô đã chu toàn cả hai nhiệm vụ.

Tuy nhiên, cách đây năm năm, vào dịp sinh nhật lần thứ hai mươi tám của mình, cô bắt đầu nhận ra là mình chỉ còn, nếu may mắn, mười năm để làm một vũ công biểu diễn, nên cô đã quyết định lập nghiệp trong vai trò khác để tránh bị đào thải ở tuổi ba mươi tám. Cô nhận được vị trí biên đạo múa cho một chương trình kịch thời sự bèo bọt, một kiểu bắt chước rẻ tiền đầy ảm đạm so với Lido trị giá hàng triệu đô-la, và cuối cùng kiêm luôn cả phần việc của người lo trang phục. Rồi cô chuyển qua một loạt vị trí tương tự trong các rạp lớn hơn, sau đó là trong các khán phòng nhỏ với bốn hoặc năm trăm chỗ ngồi ở các khách sạn hạng hai với ngân sách chương trình hạn hẹp. Có lúc cô chỉ đạo kịch thời sự, rồi lại xoay qua sản xuất cái này chỉ đạo cái kia. Cô ngày càng được nể trọng trong thế giới giải trí dây mơ rễ má của Vegas, và tin rằng mình đang gần kề với thành công hơn bao giờ hết.

Gần một năm trước, ngay sau cái chết của Danny, Tina đã được mời chào công việc chỉ đạo và hợp tác sản xuất một chương trình khổng lồ trị giá mười triệu đô-la sẽ được dàn dựng trong khán phòng chính hai-ngàn-chỗ-ngồi của Golden Pyramid, một trong những khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất ở Dải1. Lúc đầu, quả thật trái ngang vì một cơ hội tuyệt vời như thế lại đến trước khi cô có đủ thời gian để khâu vá vết thương của mình, như thể định mệnh thật quá hời hợt và vô cảm khi cho rằng có thể an bài và bù đắp cho cái chết của Danny chỉ bằng cách trao tặng cho cô cơ hội việc làm trong mơ. Thế nhưng, dù đang cay đắng và chán nản – hoặc cũng có thể là vì – cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và vô dụng, cô đã nhận lời.

Chương trình mới có tên gọi là Magyck! bởi vì các tiết mục tạp kỹ xen lẫn những tiết mục nhảy múa đều là các màn ảo thuật, vả lại bản thân những tiết mục đồng diễn này tập trung vào các hiệu ứng đặc biệt công phu và được xây dựng xung quanh chủ đề siêu nhiên. Lắt léo chữ nghĩa trong tên gọi không phải là ý tưởng của Tina, nhưng hầu hết phần còn lại của chương trình là sáng tạo của riêng cô, và cô vẫn luôn hài lòng với thành quả của mình. Cũng kiệt sức nữa. Cả năm nay vụt trôi với mười hai đến mười bốn giờ làm việc mỗi ngày, chẳng có kỳ nghỉ mà cũng hiếm khi được nghỉ cuối tuần. Tuy nhiên, dù bận tâm cho Magyck! nhiều như thế, cô vẫn hết sức khó khăn trong việc chấp nhận cái chết của Danny. Cách đây một tháng, lần đầu tiên cô nghĩ rằng cuối cùng mình cũng đã bắt đầu vượt qua được nỗi đau buồn. Cô có thể nhớ đến con mà không tuôn nước mắt, đến thăm mộ con mà không còn bị mất tự chủ vì tiếc thương. Sau khi cân nhắc mọi chuyện, cô cảm thấy khá hơn, thậm chí có phần nào đó phấn khởi. Cô sẽ không bao giờ quên Danny, đứa trẻ ngọt ngào đó là một phần to lớn của cô, nhưng cô không còn phải sống cuộc đời quanh quẩn với khoảng trống mà cậu để lại. Vết thương lòng đã lành lặn tuy vẫn còn nhạy cảm với nỗi đau.

Đó là suy nghĩ của Tina một tháng trước đây. Trong một hoặc hai tuần qua cô ngày càng tiến bộ và dần học cách chấp nhận sự thật. Thế nhưng những giấc mơ mới lại bắt đầu, hơn nữa chúng còn tồi tệ hơn hàng loạt cơn ác mộng đã đến với cô ngay sau khi Danny chết.

Có lẽ những trăn trở về phản ứng của công chúng với Magyck! khiến cô nhớ lại mối lo âu lớn hơn về Danny.

Trong chưa đầy mười bảy giờ nữa – vào lúc tám giờ đêm ngày 30 tháng Mười hai – Khách sạn Golden Pyramid sẽ trình diễn một buổi ra mắt đặc biệt dành cho khách mời VIP1 xem Magyck!, và ngay đêm sau, đêm Giao thừa, chương trình sẽ mở cửa đón công chúng. Nếu phản ứng của khán giả nhiệt tình và tích cực như Tina hy vọng, tương lai tài chính của cô sẽ được đảm bảo, vì theo hợp đồng cô sẽ nhận được hai chấm năm phần trăm trên tổng doanh thu, trừ doanh số bán rượu, sau năm triệu đầu tiên. Nếu Magyck! thành công và chiếm lĩnh sân khấu trong bốn hoặc năm năm, như đôi khi xảy ra với các chương trình thành công khác ở Vegas, cuối cùng cô sẽ lên hàng triệu phú. Tất nhiên, nếu sản phẩm là một thất bại, nếu nó không làm thỏa mãn khán giả, sự nghiệp của cô có thể sẽ xuống dốc và trở lại làm việc trong các rạp nhỏ một lần nữa. Ngành nghề biểu diễn, dù dưới bất kỳ hình thức nào, là một công việc tàn nhẫn.

Rõ ràng cô có lý do xác đáng để mà lo lắng. Nỗi sợ hãi đến ám ảnh của cô về những kẻ đột nhập vào nhà, những giấc mơ đầy bất an về Danny, sự đau buồn trở lại của cô – tất cả những điều này có thể nảy sinh từ nỗi trăn trở về Magyck!. Nếu quả đúng như vậy thì các triệu chứng đó sẽ biến mất ngay sau khi số phận của chương trình được định đoạt. Chỉ cần cố gắng vượt qua trong vài ngày tới, với tâm trạng phần nào thanh thản sau đó, cô có thể tự chữa lành vết thương cho mình.

Trước tiên cô buộc phải ngủ đôi chút. Vào lúc mười giờ sáng mai, cô có lịch hẹn gặp hai đại lý điều hành tour đang có ý định đặt trước tám ngàn vé cho Magyck! trong ba tháng đầu biểu diễn. Sau đó vào lúc một giờ, toàn bộ dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất sẽ tập hợp lại để tổng duyệt lần cuối.

Cô giũ gối, trải lại khăn giường và tròng vào chiếc áo ngủ ngắn của mình. Cô cố gắng thư giãn bằng cách nhắm mắt lại và hình dung một cơn thủy triều đêm đang dịu dàng vỗ về bờ biển ánh màu bàng bạc.

Cạch!

Cô ngồi phắt dậy trên giường.

Có một thứ gì đã bị ngã đổ đâu đó trong nhà. Hẳn nó phải là một vật thể hình dạng to lớn bởi vì âm thanh phát ra đủ lớn để đánh thức cô dậy mặc dù đã bị các bức tường ngăn cách bao bọc.

Dù có là gì đi nữa… nó cũng không đơn giản tự ngã đổ. Nó đã bị va đụng. Những vật thể to nặng không thể tự ngã đổ trong căn phòng vắng.

Cô nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe. Một âm thanh khác nhẹ hơn theo sau tiếng động trước. Tuy kéo dài không đủ lâu để Tina xác định được nguồn gốc nhưng nó có vẻ gì đó lén lút. Lần này mối đe dọa không phải do cô tưởng tượng ra nữa. Ai đó thực sự đang ở trong nhà.

Cô bật đèn ngay khi ngồi bật dậy trên giường. Mở ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường. Khẩu súng lục đã được lắp đạn sẵn. Cô mở hai chốt an toàn.

Dừng lại nghe ngóng một lát.

Trong sự tĩnh mịch của đêm sa mạc, Tina tưởng như mình có thể cảm nhận được kẻ xâm nhập cũng đang lắng nghe, lắng nghe cô.

Cô bước xuống khỏi giường và xỏ chân vào đôi dép lê.

Cầm súng bằng tay phải, cô lặng lẽ đến bên cửa phòng ngủ.

Cô có cân nhắc việc gọi cảnh sát, nhưng sợ sẽ tự biến mình thành một kẻ ngốc. Mọi chuyện sẽ ra sao nếu họ đến, với đèn chớp nháy và còi hụ inh ỏi – và rồi chẳng tìm thấy ai? Suốt hai tuần qua nếu cô cứ viện đến cảnh sát mỗi khi nghĩ rằng mình nghe thấy một kẻ rình mò trong nhà, có lẽ họ chẳng mất nhiều thời gian để kết luận cô là một kẻ thần kinh có vấn đề. Vì kiêu hãnh nên Tina không thể chịu đựng nổi suy nghĩ mình xuất hiện với vẻ hoảng hốt trước mặt hai gã cớm có nụ cười nhăn nhở, để rồi sau đó trong khi nhâm nhi bánh rán và cà phê, họ sẽ đem cô ra làm trò cười. Cô phải tự mình lục soát ngôi nhà, chỉ mình cô mà thôi.

Hướng khẩu súng lên trần nhà, cô lên đạn.

Hít một hơi thật sâu, cô mở khóa cửa phòng ngủ và bước nhẹ ra hành lang.

(Còn tiếp)

Đọc bài viết

Cafe sáng