Sáng tác

Truyện ngắn: Mèo ăn thịt người (Murakami Haruki)

Tôi mua một tờ báo tại bến cảng và lướt qua bài viết về một người phụ nữ lớn tuổi bị lũ mèo ăn thịt. Bà đã bảy mươi tuổi và sống một mình ở vùng ngoại ô nhỏ gần Athens.

Published

on

1

Tôi mua một tờ báo tại bến cảng và lướt qua bài viết về một người phụ nữ lớn tuổi bị lũ mèo ăn thịt. Bà đã bảy mươi tuổi và sống một mình ở vùng ngoại ô nhỏ gần Athens – một cuộc sống êm đềm, chỉ có bà và ba con mèo bà nuôi cùng sống trong căn hộ một buồng nhỏ. Ngày nọ, bà lão đột ngột ngã quỵ trong tư thế úp mặt xuống ghế sofa – chắc là một cơn trụy tim. Chẳng ai biết đã phải mất bao lâu khiến bà qua đời sau khi bị ngã quỵ xuống thế. Bà lão vốn không có bất cứ thân thích nào, kể cả bạn bè hay qua lại thăm nom, và phải trải qua cả một tuần trước khi thi thể của bà được phát hiện. Các cửa nẻo trong nhà đều đóng chặt, khiến cho lũ mèo bị mắc kẹt. Đồ khô, hoặc chắc phải có chút gì ăn được trong tủ lạnh, nhưng bọn mèo tài nào đột biến đến mức tự mở cửa tủ được. Trên bờ vực của sự chết đói, lũ mèo buộc phải ăn thịt của chủ chúng.

Tôi đọc bài báo này cho Izumi nghe, nàng đang ngồi ở phía đối diện tôi. Vào những ngày hửng nắng, nàng và tôi thường thả bộ xuống bến cảng, mua một tờ báo Athens bản tiếng Anh và gọi cà-phê ở cửa tiệm gần sở thuế, rồi tôi sẽ tóm tắt lại bằng tiếng Nhật bất cứ điều gì hay hay mình đã xem qua. Đó là mức độ lịch trình hằng ngày của chúng tôi trên đảo. Nếu có vài chuyện gì đó đặc biệt gây hứng thú cho cả hai, thì tôi và nàng sẽ bắt đầu tranh luận một lúc. Tiếng Anh của Izumi khá sõi, nàng có thể tự đọc hết các bài viết một mình. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy nàng đụng đến tờ báo nào.

“Em thích có người đọc cho mình nghe”, nàng giải thích. “Mơ ước từ bé đấy. Em là một đứa trẻ – được ngồi ở một nơi đầy nắng, ngó lăm lăm lên bầu trời hay biển gì đấy, rồi có người đọc to lên cho em nghe. Em cũng không quan tâm đến những gì họ đọc – báo, sách giáo khoa, truyện tiểu thuyết. Gì cũng được. Nhưng chẳng có ai làm điều này cho em trước đó cả. Nên em nghĩ rằng anh đang lấp đầy những cơ hội bị mất ấy. Mà, em cũng thích giọng của anh.”

Thì chúng tôi đang có cả bầu trời và bờ biển ở đây. Tôi cũng rất tận hưởng cảm giác đọc to lên thành tiếng. Khi còn ở Nhật, tôi vẫn thường đọc to sách ảnh lên cho cu con mình nghe. Đọc to thành tiếng là một điều khác hẳn so với việc đọc bằng mắt. Một điều gì đó bất ngờ vọng lên trong tâm tưởng của bạn, một loại cộng hưởng khác khó xác định khiến tôi cảm thấy khó cưỡng lại được.

Nhấp một ngụm cà-phê đắng, tôi chầm chậm đọc mẩu tin ngắn cho Izumi. Tôi thử tự đọc trước vài dòng, nghiền ngẫm xem thế nào để chuyển chúng qua tiếng Nhật, sau đó thì dịch lớn. Vài con ong bất thần xuất hiện trong vô định để liếm chút mứt vị khách trước đó đã làm dây lên bàn. Chúng mất một lúc để vỗ cánh, rồi như chợt nhớ ra điều gì, chúng lượn vài vòng trong không khí như một nghi thức bay đầy kiểu cách, vo ve vòng quanh bàn đôi lần, rồi sau đó – lại thêm vài lần nữa như để khởi động lại bộ nhớ – mới đậu xuống mặt bàn. Sau khi tôi đọc hết toàn bài báo, Izumi vẫn ngồi đó, bất động, khuỷu tay chống lên mặt bàn. Nàng đặt những đầu ngón tay của bàn tay phải đối lên những ngón của bàn tay trái thành hình một chiếc lều. Tôi khẽ đặt tờ báo lên đùi mình và nhìn chằm chằm vào bàn tay thon nhỏ của nàng. Còn nàng thì nhìn tôi qua khe hở giữa những ngón tay mình.

“Rồi sao nữa?” nàng hỏi.

“Thế thôi”, tôi đáp, và gấp tờ báo lại. Rút chiếc khăn mùi-xoa ra khỏi túi rồi lau vệt cà phê đọng lại trên khóe môi. “Ít ra đó là tất cả những gì bài báo đề cập.”

“Nhưng điều gì đã xảy ra với bọn mèo chứ?”

Tôi nhét chiếc khăn mùi-xoa lại vào túi. “Anh không biết. Nó không nói.”

Izumi bĩu môi qua một bên, đây là một thói quen nhỏ của riêng nàng. Bất cứ lúc nào khi nàng định đưa ra ý kiến? Khi luôn phải điền vào một mẫu đơn khai báo ngắn? Nàng sẽ thường bĩu môi như thế, như thể đang giật mạnh một tấm ga trải giường mịn mướt thì lại lòi ra một nếp nhăn đi lạc. Thuở ban đầu khi mới gặp nàng, tôi cảm thấy thói quen này thực sự cuốn hút.

“Báo chí toàn cá mè một lứa cả, dù anh có đi đến tận đẩu tận đâu”, cuối cùng nàng tuyên bố. “Chả bao giờ họ chịu cho mình biết những điều mình muốn biết cả.”

Nàng lấy một điếu Salem ra khỏi hộp, đưa lên môi, và quẹt một que diêm. Mỗi ngày nàng đều hút một gói Salem – không hơn, không kém. Nàng bóc một gói mới vào buổi sáng và hút cạn nó cho đến cuối ngày. Tôi thì không hút thuốc. Vợ tôi đã khiến tôi bỏ thuốc lá vào 5 năm trước, khi cô ấy đang mang thai.

“Cái mà em thực sự muốn biết ấy à?” Izumi mào đầu, những lọn khói từ điếu thuốc của nàng âm thầm cuộn mình vào không khí, “Là đã xảy ra chuyện gì với lũ mèo sau đó? Phải chăng các cơ quan chức năng đã giết hết bọn chúng vì bọn chúng nhỡ ăn tươi con người? Hay là họ đã nói “Chúng mày đã thật sự trải qua một khoảng thời gian khó khăn rồi”, rồi vỗ nhẹ vào đầu chúng và cho lên đường luôn? Anh nghĩ sao?”

Tôi nhìn chằm chằm vào lũ ong đang bay vo ve trên bàn và nghĩ về chuyện đó. Trong một khoảnh khắc, lũ ong nhỏ đang bồn chồn liếm mứt và ba con mèo đã nuốt thịt bà lão chợt gộp thành một trong tâm trí tôi. Một con hải âu đang kêu quàng quạc chói tai chồng chéo với tiếng ù ù của lũ ong, rồi trong một hoặc hai giây gì đó ý thức của tôi đã đi lạc trên biên giới giữa thực tế và vô thực. Tôi đã ở đâu? Và tôi đang làm gì ở đây? Tôi không thể níu kéo lấy thực tại. Tôi hít một hơi sâu, nhìn đăm đắm lên trời, và quay sang Izumi.

“Anh không có ý tưởng gì cả.”

“Nghĩ thử xem, nếu anh là thị trưởng hay cảnh sát trưởng của thành phố đó thì anh sẽ làm gì với lũ mèo?”

“Làm sao để tống chúng vào một trại giáo dưỡng” Tôi nói. “Cải tạo chúng thành một đám mèo ăn chay.”

Izumi không hề nhếch mép cười. Nàng kéo một hơi thuốc và từ từ nhả ra một luồng khói. “Chuyện này làm em nhớ về một bài giảng sau khi em bắt đầu vào học ở trường dòng cấp 2. Em đã nói với anh là em từng học ở một trường dòng rất nghiêm ngặt chưa? Ngay sau lễ khai giảng thôi, một trong các bà sơ đứng đầu đã xếp chúng em vào trong một khán phòng, sau đó bà lên bục giảng và bắt đầu thuyết giáo về giáo lý Công Giáo. Bà nói với chúng em rất nhiều thứ? Nhưng mà những chuyện em nhớ nhất là gì? Điều duy nhất thực sự làm em nhớ rõ ư? Đó chính là chuyện bị đắm tàu trên một hòn đảo sa mạc cùng với một con mèo.”

“Nghe thú nhỉ”, tôi tiếp lời.

“Các em đang ở trong một con tàu đắm”, bà nói với chúng em. “Những người duy nhất được nằm trong xuồng cứu sinh là em và một con mèo. Rồi em dạt vào một hòn đảo hoang vô danh và không có bất cứ thứ gì ăn được. Tất cả những gì các em có là lượng nước và số lương khô đủ cho một người ăn trong cỡ mười ngày”. Bà nói tiếp, “Phải, tất cả các em, tôi muốn các em hãy thử hình dung mình trong hoàn cảnh đó. Nhắm mắt lại và cố tưởng tượng ra nó. Các em đang bị lạc trong hoang đảo, chỉ có em và một con mèo. Em không có nhiều thực phẩm để ăn. Các em có hiểu không? Em đang đói rã rời và khát cháy cổ, và cuối cùng em sẽ chết. Em nên làm gì? Có nên chia sẻ chút thực phẩm dự trữ ít ỏi cho con mèo ấy hay không? Không, các em không nên làm vậy. Đó sẽ là một sai lầm. Các em là những tạo vật trân quý được chính Đức Chúa Trời chọn, còn con mèo thì không. Đó là lý do vì sao các em nên ăn hết số đồ ăn dự trữ ấy một mình.” Các bà sơ đã cho chúng em một cái nhìn nghiêm trọng chết người như thế. Em thậm chí đã bị shock một tẹo. Điều gì có thể trở thành vấn đề cấp thiết đến mức phải kể một câu chuyện thế này cho lũ chíp hôi mới bắt đầu nhập học ở trường cơ chứ? Em đã thầm nghĩ rằng, ồ quao, mình đang được giao trứng cho một nơi kiểu gì thế này?”

2

Izumi và tôi đang sống trong một căn hộ cao cấp trên một hòn đảo Hy Lạp nhỏ. Đây là mùa nghỉ, và hòn đảo không hẳn là một địa điểm du lịch, vì vậy giá thuê khá rẻ. Không ai trong hai chúng tôi đã nghe về hòn đảo này trước khi đặt chân đến đó. Nó nằm cạnh biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, vào những ngày trời trong nắng đẹp, bạn có thể nhìn ra được những ngọn núi xanh của Thổ. Còn những hôm lộng gió, dân địa phương nói giỡn rằng thậm chí còn có thể ngửi thấy được mùi thịt nướng xiên luôn. Bỏ mấy chuyện giỡn hớt ấy qua một bên, hòn đảo của chúng tôi nằm cạnh bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ rồi mới đến hòn đảo Hy Lạp gần nhất kế tiếp, và ở đó – thấp thoáng ngay trước mắt – chính là vùng Tiểu Á.

Giữa quảng trường thành phố có đặt một bức tượng anh hùng của nền độc lập Hy Lạp. Ông đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa trên đất liền của Hy Lạp và lên kế hoạch nổi dậy chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ, về sau bọn này đã chiếm quyền kiểm soát hòn đảo. Nhưng quân Thổ đã bắt được và tra tấn ông đến chết. Chúng dựng lên một chiếc cọc sắt sắc nhọn giữa quảng trường gần bến cảng, lột truồng vị anh hùng vô phương chống cự và đặt hạ thân ông ta xuống cọc. Sức nặng của cơ thể đẩy lút cây cọc qua hậu môn, xuyên qua phần còn lại của thân người cho đến khi nó chui ra khỏi miệng ông. Một cách hành hạ cực kỳ chậm và dã man để bức tử. Bức tượng được dựng lên ngay tại chỗ được cho là đã xảy ra sự việc. Khi nó được xây dựng lần đầu, hẳn nó đã phải gây ấn tượng lắm, nhưng ở thời điểm hiện tại khi kinh qua đủ gió biển, bụi đất và phân của lũ mòng biển thậm chí còn khiến người ta không thể nhìn ra được từng đường nét đặc trưng của người đàn ông. Dân địa phương hầu như còn không thèm liếc qua bức tượng ấy một cái, và người anh hùng trông như thể đã quay lưng lại với tất cả mọi người, hòn đảo này, và cả thế giới.

Khi Izumi và tôi ngồi ở cửa tiệm cà-phê ngoài trời quen thuộc, nhấm nháp chút cà-phê hoặc bia, lơ đãng nhìn ra những chiếc thuyền neo ở bến cảng hay những ngọn đồi Thổ Nhĩ Kỳ xa xăm, như thể chúng tôi đang ngồi ở rìa Âu Châu. Những ngọn gió này là những ngọn gió thổi ở rìa thế giới. Một thứ sắc màu hoài niệm khó thể lờ đi được đang lấp đầy nơi này. Nó khiến cho tôi cảm thấy mình đang âm thầm bị nuốt chửng bởi một thực tại lạ lẫm, một thứ xa lạ và ngoài tầm với, mơ hồ nhưng dịu dàng đến lạ lùng. Và cái bóng của chất màu ấy đã bao phủ lên toàn bộ mọi khuôn mặt, đôi mắt, và cả làn da của những người dân đang tụ tập quanh bến cảng.

Thi thoảng tôi lại không nắm bắt được thực tế mình là một phần của cảnh tượng hiện tại. Cho dù tôi đã cố níu lấy biết bao nhiêu khung cảnh đang diễn ra quanh mình, bất kể tôi đã cố hít thở lấy biết bao không khí, thì vẫn không có được thứ kết nối hữu cơ giữa tôi và tất cả những điều ấy.

Hai tháng trước, tôi còn đang sống với vợ và cậu con trai 4 tuổi ở một căn hộ 3 phòng ngủ ở khu Unoki, Tokyo. Không phải là một nơi rộng rãi gì, cũng chỉ là một căn hộ cơ bản với đầy đủ tiện nghi. Vợ tôi và tôi có phòng ngủ riêng của mình, cu con trai cũng vậy, rồi đến phòng còn lại phục vụ cho việc nghiên cứu riêng của tôi. Một căn hộ yên tĩnh với tầm nhìn khá đẹp. Vào những ngày cuối tuần, vợ chồng con cái sẽ cùng nhau tản bộ dọc theo bờ sông Tama. Khi đến mùa xuân, những cây hoa anh đào bên sông vừa nở rộ, tôi sẽ đặt thằng cu con của mình lên yên sau xe đạp rồi cả hai bố con cùng chở nhau đi xem đội Tokyo Giants Triple A trong kỳ huấn luyện mùa xuân.

Tôi làm việc tại một công ty thiết kế tầm trung chuyên về bố cục sách và tạp chí. Gọi tôi là “Nhà thiết kế” thì nghe có vẻ kêu hơn thực chất, vì công việc này khá rành mạch và khô khan. Chẳng có gì rực rỡ lung linh hay giàu tính tưởng tượng cả. Trong hầu hết thời gian, lịch trình của chúng tôi luôn phải bận rộn. Và cứ vài lần mỗi tháng, tôi toàn phải kéo mọi người lại làm việc thâu đêm trong văn phòng. Có vài công việc còn làm tôi phát chán đến chảy cả nước mắt. Tuy nhiên tôi chẳng quá bận tâm với công việc lắm, với lại công ty cũng là một nơi khá thoải mái. Vì tôi cũng là người có thâm niên trong công ty nên tôi có thể tự chọn công việc và nói những thứ mình muốn nói. Ông chủ tính cách ok, còn đồng nghiệp cũng đã hợp tác dài lâu. Mức lương lại không tệ chút nào. Vì vậy nếu không có chuyện gì xảy ra, có lẽ tôi sẽ tiếp tục ở lại công ty trong thời gian gần nữa. Và đời tôi – cũng giống như con sông Moldau – hoặc là, nói chính xác hơn, như những dòng nước vô danh đã tạo nên con sông Moldau ấy – sẽ còn tiếp tục chảy, rồi chảy xiết hơn; cho đến khi hòa mình vào đại dương mênh mông.

Nhưng rồi tôi đã gặp Izumi.

3

Izumi thua tôi 10 tuổi. Chúng tôi gặp nhau trong một lần họp bàn công việc. Một cái gì đó đã được kích lên giữa hai chúng tôi trong lần đầu tiên cả hai chạm phải mắt nhau. Đây không phải là loại chuyện có thể xảy ra thường xuyên. Cả hai gặp nhau hai lần sau đó, chỉ để bàn về chi tiết của dự án chung. Tôi sẽ đến văn phòng của nàng hoặc nàng đến sở làm của tôi. Những cuộc gặp của chúng tôi thường khá ngắn ngủi, có nhiều người khác tham gia nữa, nói chung cũng chỉ là những cuộc họp bàn chuyện làm ăn thông thường mà thôi. Rồi thì dự án của chúng tôi cũng kết thúc, thế nhưng, một nỗi cô đơn khủng khiếp đã quét qua tôi. Như thể một điều gì đó quan trọng đã bị cưỡng ép để giật lấy khỏi tầm tay. Tôi đã không cảm thấy như thế trong nhiều năm rồi. Và tôi nghĩ nàng cũng cảm thấy vậy.

Một tuần lễ sau đó, nàng gọi đến sở làm của tôi nói về một số vấn đề nhỏ và chúng tôi tán gẫu một chút. Tôi nói đùa, và nàng bật cười. “Cô có muốn ra ngoài uống chút gì không?” Tôi hỏi. Chúng tôi đi đến một quán bar nhỏ và làm vài ly. Tôi không thể nhớ chính xác được những chuyện cả hai đã nói, nhưng chúng tôi đã tìm ra được hàng triệu chủ đề và dường như trò chuyện đến bất tận. Với một sự rõ rệt như tia la-ze, tôi có thể nắm bắt được bất cứ điều gì nàng muốn cất lời. Cả những điều tôi không thể giải thích rành mạch với bất cứ ai khác cũng tình cờ đến với nàng một cách chính xác khiến tôi phải kinh ngạc. Cả hai chúng tôi đều đã có gia đình, cũng không phàn nàn gì về đời sống vợ chồng của mình cả. Chúng tôi yêu người phối ngẫu và trân trọng họ. Tuy nhiên đây có phải là một phép mầu nhỏ được đặt trước hay không? Lướt ngang qua một người mà bạn có thể thể hiện mọi cảm xúc một cách thực sự rõ rệt, hoàn toàn. Hầu hết mọi người đều phải đi đến hết cuộc đời mà không gặp được một người giống như vậy. Sẽ là một sai lầm nếu dán cho nó cái mác “Luyến ái”. Nó giống như một sự thấu cảm tuyệt đối hơn.

Chúng tôi bắt đầu ra ngoài thường hơn để uống với nhau. Công việc của chồng nàng luôn khiến anh ta phải ra ngoài khá muộn, vì vậy nàng được tùy ý đi lại tự do theo ý thích. Khi chúng tôi ở bên nhau, mặc dù chỉ đơn giản để thời gian trôi qua thì khi liếc nhìn đồng hồ đeo tay cả hai đều phát hiện ra rằng mình chỉ còn có thể bắt chuyến tàu cuối. Thật khó để nói lời tạm biệt. Có quá nhiều thứ mà cả hai chúng tôi muốn nói với nhau.

Không ai trong hai chúng tôi cố tình dụ hoặc về việc lên giường, nhưng chúng tôi đã ngủ với nhau. Cả hai đã luôn chung thủy với vợ chồng mình cho đến tận thời điểm đó, có điều cả tôi và nàng đều không hề cảm thấy tội lỗi, vì lý do đơn giản là chúng tôi cần phải làm điều đó. Cởi bỏ lớp vướng bận, nhẹ nhàng mơn trớn làn da, ôm chặt lấy nàng và trượt sâu vào bên trong, rồi cùng lên đến đỉnh – tất cả những điều đó chỉ là phần mở rộng tự nhiên thêm cho cuộc trò chuyện giữa chúng tôi. Thật tự nhiên rằng việc ân ái của tôi và nàng không phải chỉ là hứng thú thèm muốn về thể xác; nó chỉ là một hành động êm dịu, dễ chịu, để tước đi mọi sự phỉnh phờ. Tuyệt vời nhất vẫn là những cuộc trò chuyện khẽ của chúng tôi ở trên giường sau khi đã qua cơn hoan ái. Tôi ôm sát lấy thân thể trần trụi của nàng, và nàng cuộn mình lại trong vòng tay của tôi. Và rồi hai chúng tôi rủ rỉ với nhau về những bí mật bằng thứ ngôn ngữ riêng của mình.

Chúng tôi đến gặp nhau bất cứ khi nào có thể. Thật kỳ lạ, hoặc cũng chẳng lạ gì, chúng tôi đã hoàn toàn tin rằng mối quan hệ này có thể kéo dài mãi mãi, hoặc làm lễ cưới ở phía bên kia bán cầu, mối quan hệ giữa cả hai với nhau đều chẳng phát sinh vấn đề gì. Chúng tôi đã tự thuyết phục mình rằng chuyện này sẽ chẳng bao giờ bị rò rỉ. Chắc hẳn là chúng tôi đã làm tình với nhau rồi, nhưng điều đó thì làm đau được đến ai? Vào những đêm ân ái với Izumi, tôi đều về nhà muộn và phải tìm cách nói dối vợ tôi, và đúng là tôi cảm thấy áy náy lương tâm thật, nhưng dường như đó không hẳn là một sự phản bội thực sự. Izumi và tôi đã có một mối quan hệ chặt chẽ nhưng chưa hoàn toàn sâu sắc.

Và nếu như không có chuyện gì xảy ra, có lẽ chúng tôi sẽ tiếp tục như thế vĩnh viễn, nhấm nháp món Vodka pha Tonic, lăn lộn trên những tấm drap trải giường bất cứ khi nào có thể. Hoặc dường như chúng tôi cũng đã quá mệt mỏi với việc phải lừa dối người phối ngẫu của mình và quyết định để cuộc hôn nhân này chết đi theo lẽ tự nhiên, từ đó cả hai có thể quay về cuộc sống thoải mái ít kiểu cách. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng không nghĩ mọi chuyện sẽ chuyển sang hướng xấu đi. Tôi không thể chứng minh điều đó, tôi chỉ có linh cảm như thế. Tuy nhiên như một khúc cua của số phận – không thể nào tránh được, khi hồi tưởng lại – đã nhúng tay can thiệp vào, chồng của Izumi nghe phong thanh được về chuyện chúng tôi. Sau khi nổi cơn thịnh nộ với nàng, anh ta đã điên cuồng xông vào nhà tôi trong trạng thái hoàn toàn không kiểm soát được. Như chưa đủ may mắn, vợ tôi lại đang ở nhà một mình vào thời điểm đó và thế là toàn bộ mọi chuyện đã trở nên bung bét. Khi tôi về đến nhà, vợ tôi yêu cầu tôi giải thích hết tất cả những điều vừa xảy ra. Tôi đã kể với cô ấy chính xác những điều đã diễn ra. “Nó không giống như là tình yêu”, tôi giải thích. “Đó là một mối quan hệ đặc biệt nhưng khác hẳn với những gì anh có với em, như ban ngày và ban đêm ấy. Em không hề phát hiện ra bất cứ điều gì đang diễn ra, đúng không? Điều đó chứng tỏ là chuyện không hề như em nghĩ đâu”.

Nhưng vợ tôi từ chối lắng nghe. Đó là một cú sốc quá lớn, cô ấy đã bị đóng băng theo đúng nghĩa đen và không mở miệng nói một lời nào với tôi. Qua hôm sau, cô gom hết tất cả đồ đạc cho vào xe và lái đến nhà bố mẹ ở Chigasaiki, dắt luôn con trai theo cùng. Tôi đã cố gọi cho cô vài cú điện thoại nhưng cô không hề bắt máy. Thay vào đó là bố cô. “Tao không muốn nghe bất cứ thứ lý do lý trấu nào từ mày”, ông cảnh cáo, “Và sẽ lại càng không có chuyện tao để con gái tao quay trở lại với một thằng chó đẻ như mày ”. Ông ấy vốn đã ngăn cản cuộc hôn nhân của chúng tôi ngay từ đầu, và giờ qua giọng nói của ông, tôi biết cuối cùng điều ông ngăn cấm đã được chứng minh là đúng.

Với một sự mất mát hoàn toàn, tôi phải nghỉ việc mấy ngày và chỉ nằm gục trên giường. Izumi gọi cho tôi. Nàng cũng đang ở một mình. Chồng nàng đã bỏ nàng, như đã lường trước, nhưng trước đó không hề tát nàng lấy một cái. Anh ta đã lấy một cái kéo và cắt hết tất cả những bộ y phục nàng sở hữu. Từ áo khoác đến đồ lót, tất cả đều bị vứt rải rác. Nàng cũng không biết anh ta đã đi đâu. “Em mệt quá”, nàng nói, “Em không biết phải làm gì nữa đây. Mọi thứ đã bị hủy hoại hết thảy rồi, và nó sẽ không bao giờ giống như trước nữa. Anh ấy sẽ không quay về.” Giọng nàng nức nở qua điện thoại. Nàng và chồng nàng vốn là một cặp yêu nhau từ thời trung học. Tôi rất muốn vỗ về nàng, nhưng tôi có thể nói gì được đây?

“Cùng đi đâu đó và uống nhé”, nàng gợi ý. Chúng tôi đi đến Shibuya và uống lút đến đêm. Vodka Gimlet cho tôi, còn Daiquiri cho nàng. Tôi cũng quên mất việc để ý cả hai đã uống bao nhiêu. Lần đầu tiên khi chúng tôi gặp nhau, cả hai không có nhiều điều để nói. Sau rốt, chúng tôi giã rượu bằng cách đi bộ đến Harajuku, uống cà-phê và ăn sáng tại tiệm Denny’s. Ấy chính là lúc nàng đưa ra ý tưởng đến Hy Lạp.

“Hy Lạp?” Tôi hỏi.

“Chúng ta không thể ở lại Nhật nữa”, nàng trả lời, nhìn sâu vào mắt tôi.

Tôi quay trở về ý tưởng ấy trong đầu mình. Hy Lạp ư? Rượu Vodka đã ngâm sũng bộ não tôi khiến nó không thể lần theo logic.

“Em đã luôn muốn đến Hy Lạp”, nàng trả lời. “Ước vọng của em đấy. Em rất muốn đến đó vào tuần trăng mặt, nhưng chúng em không có đủ tiền. Giờ thì đi nhé? Chỉ anh và em thôi. Và mình cứ việc sống ở đó, anh thấy đấy, chả phải nghĩ ngợi chuyện gì nữa cả. Lưu lại Nhật Bản thêm ngày nào chỉ tổ làm mình lao đao ngày ấy thôi, cũng sẽ chẳng có tin tốt lành gì đến nữa hết.”

Tôi chẳng có bất cứ hứng thú đặc biệt nào với Hy Lạp, nhưng tôi phải đồng ý với nàng. Chúng tôi đã tính toán số tiền của cả hai đang có. Nàng có hơn hai triệu rưỡi Yên tiền tiết kiệm, còn tôi cũng dành dụm được khoảng một triệu rưỡi. Bốn triệu Yên – cỡ bốn mươi ngàn đô-la.

“Bốn mươi ngàn đô có thể sống được vài năm ở một vùng quê Hy Lạp”, Izumi nói. “Vé máy bay lượt về đã giảm giá chỉ cỡ bốn ngàn thôi. Vậy là hết ba mươi sáu ngàn. Cứ cho là mình xài cỡ một ngàn đô mỗi tháng, thế là đủ tiêu trong ba năm rồi. Hai triệu rưỡi còn lại cứ việc cất để dự phòng. Nào, anh nói gì đi chứ? Đi nào. Mọi chuyện cứ để hạ hồi phân giải.”

Tôi nhìn ra xung quanh. Mới sáng sớm tiệm Denny’s đã đầy ắp những cặp vợ chồng trẻ. Chúng tôi là cặp đôi duy nhất tuổi đã ngoài băm. Và chắc chắn cũng là cặp đôi duy nhất đang thảo luận về chuyện mang hết tiền của mình trốn qua Hy Lạp sau một vụ ồn ào thảm họa. Thật là một mớ hỗn độn, tôi nghĩ. Tôi nhìn chằm chằm vào lòng bàn tay của mình suốt một hồi lâu. Liệu đây có phải lúc cuộc sống đích thực của tôi đã đến?

“Được rồi”, cuối cùng tôi nói. “Triển thôi.”

4

Vào ngày hôm sau, tôi gửi đơn xin từ chức. Sếp tôi đã nghe loáng thoáng những lời đồn đãi và quyết định rằng tốt nhất là cho tôi nghỉ phép vô thời hạn. Các đồng nghiệp của tôi cũng giật nảy mình khi hay tin tôi muốn bỏ việc, nhưng không có ai cố hết sức để bắt chuyện với tôi về việc đó. Bỏ việc không phải là điều gì quá khó khăn, sau hết thảy mọi sự, tôi đã nhận ra được điều này. Một khi anh đã quyết định thoát khỏi việc gì đó, có rất ít phần anh không thể gạt nó đi. Không. Không phải là rất ít. Mà một khi anh đã quyết tâm rồi thì không có gì là không thể thoát khỏi. Và khi anh đã quyết định tung hê hết, anh thấy mình muốn rời bỏ ngay luôn những thứ đấy. Giống như việc anh đi đánh bạc bằng tất cả số tiền mình có và quyết định, cái khỉ gì, ông đây đặt cược hết phần còn lại. Có quá nhiều rắc rối để níu giữ lấy phần còn lại ấy.

Tôi đóng gói hết tất cả những đồ đạc mình nghĩ là cần rồi cho vào một va-li Samsonite màu xanh cỡ trung. Izumi cũng lấy một lượng hành lý tương tự.

Khi chúng tôi bay ngang qua Ai Cập, tôi đột nhiên bị bóp nghẹt bởi một nỗi sợ hãi khủng khiếp rằng ai đó đã mang nhầm túi của tôi. Phải có hàng chục ngàn túi Samsonite giống hệt nhau trên thế giới. Có lẽ nào khi tôi đến Hy Lạp, mở va-li ra, và thấy nó bị nhồi nhét cả tá vật dụng của người nào khác. Một cơn lo âu nghiêm trọng bủa vây lấy tôi. Nếu cái va-li bị thất lạc, sẽ chẳng còn gì liên kết được tôi với cuộc đời mình? Chỉ còn Izumi. Tôi chợt cảm thấy như thể mình đã bốc hơi mất. Đó là cảm giác kỳ lạ nhất. Người đang ngồi trên chiếc máy bay đó không còn là tôi. Bộ não tôi đã bị gắn kết sai lạc với một cái vỏ nào đó giống như tôi. Tâm trí tôi trở nên hoàn toàn hỗn loạn. Tôi phải trở về Nhật Bản và quay lại bên trong cơ thể thật của mình. Nhưng đây là một chiếc tàu bay, đang bay ngang qua Ai Cập, và sẽ không quay đầu. Lớp da thịt tôi đang tạm thời chiếm hữu này cảm giác như thể được làm bằng bột thạch cao. Nếu tôi tự cào xước bản thân mình, từng mảng miếng sẽ bong tróc ra. Tôi bắt đầu run lên một cách vô kiểm soát không thể ngừng lại được. Tôi biết rằng nếu những chấn động này tiếp diễn lâu hơn thì cơ thể tôi đang trú ngụ sẽ vỡ tan ra và hóa ngay thành bụi. Máy bay đã mở điều hòa không khí, nhưng người tôi như nổ tung vì đổ mồ hôi. Lớp áo sơ-mi bết chặt vào da. Một mùi khủng khiếp nảy nòi phát ra từ tôi. Suốt thời gian đó, Izumi đã giữ chặt lấy tay tôi và thỉnh thoảng ôm tôi vào lòng. Nàng không nói một lời nào, nhưng nàng biết tôi đang cảm thấy thế nào. Cơn chấn động kéo dài trong nửa tiếng; tôi muốn chết – muốn áp nòng súng lục vào tai và bóp cò, để tâm trí và xác thịt mình tan thành tro bụi.

Sau khi cơn chấn động từ từ rút đi, tôi chợt cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Tôi thả lỏng cơn căng thẳng và để bản thân mình nhẹ trôi giữa dòng chảy của thời gian. Tôi chìm vào một giấc ngủ sâu. Và khi mở mắt ra, nằm phía dưới tôi đã là những dòng nước xanh rì của vùng biển Aegean.

5

Vấn đề lớn nhất mà chúng tôi phải đối mặt trên hòn đảo này là hầu như không có gì để làm. Việc làm, không. Bạn bè, không. Hòn đảo không có rạp chớp bóng, sân banh quần hoặc sách để đọc. Chúng tôi rời Nhật Bản đột ngột đến nỗi tôi hoàn toàn quên đem cả sách theo. Tôi đành đọc hai cuốn tiểu thuyết lấy được ở sân bay, một ấn bản về những bi kịch của Aeschylus.

Izumi đã mang theo, tôi đọc lại hai lần. Để phục vụ cho khách du lịch, các ki-ốt ở bến cảng cũng có vài tờ báo bản tin tiếng Anh, nhưng không có gì khiến tôi chú ý. Đọc là niềm say mê của tôi, và tôi luôn tưởng tượng rằng nếu có thời gian rảnh rỗi mình sẽ đắm chìm trong sách, nhưng tréo ngoe thay, ở đây có tôi – với tất cả mọi thời giờ trên thế gian này nhưng lại chẳng có gì để đọc.

Izumi bắt đầu học tiếng Hy Lạp. Nàng mang theo một văn bản tiếng Hy Lạp, và lập một biểu đồ các liên hợp động từ mà nàng mang theo, đọc to những động từ như đang niệm bùa chú. Nàng đi đến những điểm mà nàng có thể giao tiếp với các chủ tiệm bằng thứ tiếng Hy Lạp trúc trắc của mình, và cả những người hầu bàn khi chúng tôi cùng bước vào quán cà-phê, thế nên chúng tôi đã làm quen được với vài người. Không chịu thua kém, tôi cũng ra sức trau dồi tiếng Pháp của mình. Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó nó sẽ có ích, nhưng trên hòn đảo nhỏ buồn hiu này tôi chưa từng lướt qua được một người nói tiếng Pháp nào bao giờ. Ở trong thị trấn chúng tôi có thể nói tiếng Anh. Một số người già còn có thể nói được tiếng Ý và tiếng Đức. Thế nên, tiếng Pháp đâm ra trở thành vô dụng.

Không có gì để làm, chúng tôi đi rong khắp nơi. Chúng tôi thử cố gắng câu cá ở bến cảng nhưng không bắt được con nào. Vấn đề không phải là thiếu cá; mà là nước quá trong. Lũ cá có thể nhìn từ hướng mồi móc câu lên đến mặt của những kẻ đang cố bắt chúng. Hẳn phải là một con cá dở hơi lắm mới bị bắt theo cách đó. Tôi mua một cuốn sổ phác thảo và bộ màu nước tại một cửa hàng địa phương để đi loanh quanh hòn đảo phác họa khung cảnh với con người. Izumi thường ngồi bên cạnh tôi, ngắm các bức tranh, trong lúc ghi nhớ những liên hợp từ Hy Lạp. Dân địa phương cũng thường đến xem tôi vẽ phác họa. Để giết thời gian, tôi thường vẽ chân dung của họ, có vẻ như đó là một cú vang lớn. Nếu tôi tặng họ tranh, họ thường sẽ đãi chúng tôi uống bia. Có lần, một người ngư dân đã biếu hẳn chúng tôi nguyên cả con bạch tuộc lớn.

“Anh có thể trở thành một bức chân dung sống động đấy,” Izumi nói “Anh có tài. Và anh dư sức mở một doanh nghiệp nhỏ tại đây. Nếu khoa trương lên rằng anh là một nghệ sĩ Nhật Bản thì kiểu gì người ta cũng bu nghẹt xung quanh anh thôi.”

Tôi bật cười, nhưng nét mặt nàng thật sự nghiêm túc. Tôi thử mường tượng cảnh mình đi bộ dọc hòn đảo Hy Lạp, lấy những bức vẽ chân dung để đổi chác, thưởng thức bia miễn phí thường xuyên. Cũng không phải một ý kiến tồi, tôi kết luận.

“Và em sẽ trở thành một hướng dẫn viên cho khách du lịch đến từ Nhật Bản”, Izumi nói tiếp. “Chúng ta cần phải có nhiều thời gian hơn, và điều đó sẽ giúp chúng ta đến hết đời. Tất nhiên, chuyện đó có nghĩa là em sẽ phải nghiêm túc học tiếng Hy Lạp.

“Em có thực sự nghĩ rằng chúng ta sẽ phải mất cỡ hai năm rưỡi không có gì làm không?” Tôi hỏi.

“Chừng nào chúng ta không bị cướp hay bị bệnh hoặc gặp chuyện gì đó, trừ những việc không lường trước được. Thì chúng ta vẫn có thể sống được. Tuy nhiên, vẫn sẽ tốt hơn nếu mình luôn chuẩn bị cho những điều bất ngờ.”

Cho đến tận lúc đó, tôi hầu như chẳng bao giờ phải đến chỗ bác sĩ, tôi đã nói với nàng thế.

Izumi nhìn tôi chằm chằm, mím môi lại, và nhếch chúng qua một bên.

“Nếu em nói là em đã có thai”, nàng mào đầu. “Anh sẽ làm gì? Anh có thể tự bảo vệ mình tốt nhất có thể, nhưng mọi người vẫn phạm phải sai lầm. Nếu điều đó xảy ra, tiền của chúng ta có thể đổ ra khá nhanh đấy”

“Nếu chuyện đó xảy ra, mình vẫn có thể quay về Nhật mà.” Tôi đáp.

“Anh vẫn không hiểu ư?” Nàng lặng lẽ nói, “Chúng ta không bao giờ có thể trở về Nhật nữa rồi.”

6

Izumi vẫn tiếp tục việc học tiếng Hy Lạp của nàng, còn tôi thì vẫn vẽ phác họa. Đây là khoảng thời gian bình yên nhất trong toàn bộ cuộc đời tôi. Chúng tôi ăn uống giản tiện và rón rén nhâm nhi những bình rượu rẻ tiền nhất. Hàng ngày, chúng tôi vẫn thường leo lên ngọn đồi gần đó. Trên đỉnh đồi có một ngôi làng nhỏ, từ nơi ấy có thể nhìn thấy những hòn đảo khác xa hơn. Với tất cả bầu không khí trong lành và những bài luyện thể dục, tôi đã sớm quay lại trạng thái tốt nhất. Sau khi mặt trời lặn xuống hòn đảo, bạn hầu như sẽ không nghe được bất cứ âm thanh gì. Và trong sự tĩnh lặng đó,Izumi và tôi khẽ khàng quấn lấy nhau và nói đủ thứ chuyện trên đời. Không có nỗi lo lắng về chuyến tàu cuối, hay sự vội vã cùng những lời dối trá phải nói với người phối ngẫu của mình. Thật tuyệt vời ngoài sự tin tưởng. Mùa thu dần đi qua từng chút một, và đông đến sớm hơn. Gió lộng, mặt biển dần sáng ánh đèn.

Ấy là quanh khoảng thời gian chúng tôi đọc được mẩu chuyện về mèo ăn thịt người. Trong cùng tờ báo ấy, có cả bản tin thông báo tình trạng của Nhật Hoàng đang dần xấu đi, nhưng chúng tôi mua nó chỉ để kiểm tra tỷ giá hối đoái. Đồng Yên đang tăng vọt lên so với đồng Drachma. Điều này rất quan trọng với chúng tôi; đồng Yên càng tăng mạnh bao nhiêu, thì chúng tôi lại càng có nhiều tiền bấy nhiêu.

“Nói về chuyện lũ mèo ấy mà”, tôi mở lời sau vài hôm đọc mẩu tin đó, “Hồi bé anh có nuôi một con mèo, song nó lại biến mất một cách kỳ quặc lắm.”

Izumi có vẻ muốn nghe nhiều hơn. Nàng ngẩng mặt lên từ tờ biểu đồ liên hợp từ của mình và nhìn tôi “Sao nữa?”

“Hồi đó anh học cấp 2, chắc là năm thứ 3. Nhà anh sống trong một căn hộ công ty cấp có hẳn một khu vườn rộng. Trong vườn có trồng một cây thông rất xưa, cao lắm, em chỉ có thể nhìn thấy đỉnh của nó thôi. Một ngày kia, anh đang ngồi bên hiên nhà đọc sách, trong lúc con mèo tam thể anh nuôi đang chơi đùa trong vườn. Con mèo cứ chạy vòng quanh thân nó, thỉnh thoảng bọn mèo sẽ hay làm vậy. Nó vẫn thường chú tâm làm điều đó, hoàn toàn không biết thật ra anh đang dõi theo nó. Càng nhìn lâu anh càng sợ hãi. Con mèo dường như đang bắt lấy cái gì đó, nhảy vòng quanh, lông dựng đứng từ đầu đến đuôi. Hình như nó đang trông thấy cái gì đó mà anh không thấy được. Cuối cùng nó bắt đầu chạy vòng vòng xung quanh gốc cây thông, giống như con hổ trong phim “Chú bé da đen Sambo” ấy. Rồi nó vội vã phi thẳng lên nhánh cây cao nhất. Anh chỉ còn có thể trông thấy khuôn mặt nhỏ của nó lấp ló sau những nhành lá trên cùng. Con mèo vẫn đang ở trong trạng thái bị kích động và căng thẳng, nó nấp mình trong những rặng cây, nhìn chằm chằm vào thứ đó. Anh cố gọi tên nó, nhưng nó vẫn hành động như thể nó không nghe thấy tiếng anh.”

“Tên con mèo là gì?” Izumi hỏi.

“Cũng chẳng nhớ nữa,” tôi đáp lại nàng. “Dần dần, màn đêm buông xuống, và càng lúc một tối hơn, anh vô cùng lo sợ và chờ cả một lúc lâu để đợi con mèo leo trở xuống. Cuối cùng, chỉ còn lại bóng tối toàn bích. Và từ đó mọi người không bao giờ trông thấy nó nữa.”

“Đấy cũng không hẳn là điều bất thường lắm đâu” Izumi nói. “Lũ mèo thường hay biến mất như thế, nhất là khi chúng nóng lên, chúng thường trở nên rất căng thẳng và không còn nhớ cách về nhà. Con mèo hẳn đã leo xuống cây thông và bỏ đi đâu đó khi anh không nhìn thấy thôi.”

“Anh cho là vậy” tôi trả lời. “Nhưng lúc đó anh vẫn chỉ là một thằng nhóc, nên anh đã lạc quan nghĩ rằng con mèo ấy quyết định sống trong thân cây luôn rồi. Có vài lý do gì đó khiến nó không thể trở xuống. Mỗi ngày anh đều sẽ ngồi bên hiên nhà và nhìn lên cây thông, hy vọng được thấy nó đang nhìn ra giữa những nhánh cây.”

Izumi có vẻ đã hết hứng với chuyện đó. Nàng châm điếu Salem thứ hai, rồi ngẩng đầu lên và nhìn tôi:

“Có khi nào anh nhớ đến con trai mình không?” Nàng hỏi.

Tôi không biết trả lời sao cho phải. “Thỉnh thoảng”, tôi đáp thật lòng. “Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Chỉ khi nào có chuyện gì đó gợi cho anh nhớ đến nó thôi.”

“Anh không muốn gặp thằng bé à?”

“Đôi khi sẽ có chứ”, tôi đáp. Nhưng đó chỉ là một lời nói dối, tôi chỉ cố rằng đó là cách tốt nhất mình nên cảm thấy thôi. Bất cứ khi nào tôi ở bên cạnh thằng cu con, tôi đều nghĩ thằng bé là điều dễ thương nhất tôi từng được thấy. Bất cứ khi nào tôi về nhà muộn, tôi đều đi đến phòng ngủ của con trai tôi, chỉ để được nhìn ngắm khuôn mặt say ngủ của thằng bé. Đôi khi tôi còn có ham muốn được ôm ghì chặt đến mức thằng bé có thể vỡ mất. Bây giờ tất cả mọi thứ thuộc về thằng cu con – gương mặt, giọng nói, cử chỉ của nó – đều đã tồn tại ở một vùng đất xa xôi. Tất cả những gì có thể gợi nhớ cho tôi chỉ là mùi xà-phòng của nó. Tôi thích tắm chung với cu con và kỳ cọ cho nó. Thằng bé có một làn da nhạy cảm, thế nên vợ tôi luôn cất cho nó một thỏi xà-bông đặc biệt. Tất cả những gì khiến tôi gợi nhớ đến con trai mình là mùi xà-phòng đó.

“Nếu anh muốn quay trở về Nhật, đừng để em cản trở anh,” Izumi nói. “Đừng lo lắng về em, em sẽ tự biết chăm sóc tốt bản thân mình.”

Tôi gật đầu. Nhưng biết rằng điều đó sẽ không xảy ra.

“Em tự hỏi con trai anh sẽ nghĩ về anh thế nào khi thằng bé lớn lên?” , Izumi tiếp tục. “Giống như là con mèo đã biến mất trên cây thông.”

Tôi phì cười, “Có lẽ vậy” Tôi nói.

Izumi di nát điếu thuốc lá của mình và thở dài. “Chúng ta đi về nhà và làm tình nhé, được không?”

“Vẫn đang là ban ngày mà”, tôi bảo.

“Thì có gì không ổn à?”

“Không gì cả”, tôi đáp.

7

Sau đó, khi tôi thức dậy vào giữa đêm, Izumi đã không còn ở đó nữa. Tôi nhìn qua đồng hồ bên cạnh giường. Mười hai giờ rưỡi. Tôi lảo đảo tìm ngọn đèn, bật công-tắc lên và nhìn quanh căn phòng. Mọi thứ đều thinh lặng như thể đã bị kẻ nào đó đánh cắp và rắc thứ bụi tịch mịch lên trên. Có hai đầu lọc hiệu Salem nằm trong gạt-tàn thuốc, cùng một vỏ bao thuốc lá rỗng nằm bên cạnh. Tôi bước ra khỏi giường và nhìn ra phòng khách. Izumi không có ở đó. Nàng cũng không có ở trong bếp hay buồng tắm. Tôi mở cửa và nhìn ra sân trước. Chỉ có một cặp ghế salon bọc nhựa vinyl đang tắm mình trong ánh trăng sáng vằng vặc. “Izumi,” tôi nhỏ giọng hỏi. Không có ai. Tôi lại gọi, lần này to hơn nữa. Tim tôi đập thình thịch. Đây có phải là giọng của tôi không? Nghe có vẻ quá lớn, không chút tự nhiên nào. Vẫn không có tiếng trả lời. Một cơn gió nhẹ từ biển thổi xào xạc trên cánh đồng cỏ. Tôi đóng cửa; quay trở lại bếp, và rót cho mình nửa ly rượu, để bình tĩnh lại.

Ánh trăng sáng rực tràn vào cửa sổ nhà bếp, hắt lên tường một chiếc bóng cổ quái trải dài xuống sàn nhà. Toàn bộ mọi thứ trông như thể biểu tượng của một vở kịch tiên phong. Tôi bất thần nhớ ra, cái đêm mà con mèo biến mất trên cây thông chính xác cũng trông như thế này, một đêm trăng tròn không chút gợn mây. Sau bữa cơm tối hôm đó, tôi lại đi đến hiên nhà để tìm con mèo. Đêm càng sâu hơn, ánh trăng càng sáng rõ. Với vài lý do không hiểu nổi, tôi không thể dời mắt mình khỏi cây thông được. Đôi khi tôi chắc mẩm rằng mình đã nhìn thấy ánh mắt con mèo, đang rực sáng giữa những cành cây. Nhưng đó chỉ là ảo giác.

Tôi tròng chiếc áo len dày và quần Jeans vào người, chụp lấy mớ xu lẻ trên bàn cho vào túi và đi ra ngoài. Izumi hẳn là đã khó ngủ và ra ngoài đi dạo. Chỉ có thể là thế thôi. Gió đã lặng hoàn toàn. Tất cả những gì tôi có thể nghe được là âm thanh của đôi giày tennis tôi đi đang lăn mình trên sỏi, giống như âm thanh của một bộ phim điện ảnh. Izumi chắc phải đi đến bến cảng, tôi quyết định. Chỉ có một con đường vào bến cảng, vì vậy tôi không thể để lạc mất nàng. Ánh đèn trong những ngôi nhà dọc hai bên đường cũng đã tắt, chỉ còn ánh trăng nhuộm bạc cả mặt đất. Trông như thể đang ở dưới đáy biển sâu.

Khoảng nửa đường đến bến cảng, tôi nghe loáng thoáng có tiếng nhạc và dừng lại. Ban đầu tôi nghĩ đó có phải là ảo giác không? Như khi áp suất không khí thay đổi và bạn nghe thấy tiếng chuông trong tai. Nhưng khi cẩn thận lắng nghe, tôi có thể nhận ra đó là một giai điệu. Tôi khẽ nín thở và cố lắng nghe chăm chú nhất có thể. Không nghi ngờ gì nữa, đó chính là âm nhạc. Có ai đó đang chơi nhạc. Là nhạc sống hẳn hòi, không phải mở dàn máy. Nhưng là loại nhạc cụ gì? Đàn măng-đô-lin như Anthony Quinn đã nhảy trong “Zorba the Greek” ư? Đàn măng-đô-lin? Nhưng ai lại chơi đàn măng-đô-lin vào giữa đêm? Và ở đâu mới được chứ?

Âm nhạc dường như xuất phát từ ngôi làng trên đỉnh đồi nơi chúng tôi leo lên mỗi ngày để tập thể dục. Tôi đứng giữa ngã tư, tự hỏi mình phải làm gì, phải đi về hướng nào đây. Izumi hẳn đã nghe thấy cùng một loại âm nhạc tại chính nơi này. Và tôi có một linh cảm rõ rệt rằng nếu nàng đã nghe được, hẳn nàng đã hướng đến nơi phát ra nó.

Tôi lao xuống và quay lại ngay ngã tư, trèo lên con dốc vốn đã thông thạo. Không có cây cối nào lót đường, chỉ có những bụi rậm gai cao đến đầu gối nằm trong bóng tối dọc vách đá. Càng đến gần, tiếng nhạc càng trở nên to rõ. Tôi cũng nhận ra được giai điệu rõ ràng hơn. Nó chứa đựng một sự hào nhoáng đậm chất hội hè. Tôi tưởng tượng rằng hẳn đang có một buổi dạ yến nào đó được tổ chức trong ngôi làng nằm trên đỉnh đồi. Rồi tôi nhớ lại ngày hôm ấy, ở bến cảng, chúng tôi đã được chứng kiến một ​​đám rước dâu đầy sinh động. Đây hẳn phải là một tiệc cưới, diễn ra vào ban đêm.

Ngay sau đó, không một lời cảnh báo, tôi biến mất.

Có thể đó là ánh trăng, hoặc tiếng nhạc nửa đêm. Mỗi một bước chân tôi đi, tôi càng cảm thấy mình chìm sâu hơn vào một vùng cát lún, nơi tôi mất dần đi bản sắc; Đấy là cảm xúc tôi trải qua trên thân tàu bay, khi bay ngang qua Ai Cập. Đây không phải là-tôi-đang bước đi dưới ánh trăng. Đó không phải là tôi mà là một sự tráo đổi, được tạo thành từ bột thạch cao. Tôi chà tay vào mặt mình. Nhưng đó không phải là mặt tôi. Cũng không phải là tay tôi. Tim tôi dội thình thịch vào lồng ngực, đưa máu chảy khắp cơ thể với tốc độ điên cuồng. Thân xác này chỉ là một con rối bằng thạch cao, một con hình nhân voodoo, đã bị lũ phù thủy nào thổi vào đó làn hơi sinh mệnh ngắn ngủi. Sự nồng ấm của cuộc đời thực đã lạc trôi mất. Những cơ bắp giả tạm bợ của tôi đang diễn ra theo từng chuyển động. Tôi đã luôn là một con rối, chỉ để hiến sinh.

Vậy con người thật của tôi giờ đang ở đâu? Tôi tự hỏi.

8

Đột nhiên, giọng nói của Izumi vang lên từ trong vô định. “Con người thực của anh đã bị lũ mèo ăn mất rồi. Trong lúc anh đang đứng đây, lũ mèo đói khát đã ăn thịt anh – nuốt trọn anh. Chỉ còn lại xương mà thôi.”

Tôi nhìn xung quanh. Dĩ nhiên chỉ là ảo giác thôi. Tất cả những gì tôi trông thấy là đất đá, những bụi cây thấp, và cái bóng nhỏ bé của chúng. Tiếng nói đó ở trong đầu tôi.

Dừng ngay việc suy nghĩ những ý nghĩ u ám đó lại đi, tôi tự nhủ. Như thể cố gắng tránh một cơn sóng khổng lồ, tôi bám vào một tảng đá ở dưới đáy biển và cố nín thở. Cơn sóng chắc chắn sẽ đi qua. Mày chỉ đang mệt mỏi thôi, tôi tự nói với mình, và bị quá tải nữa. Hãy nắm lấy một cái gì đó có thật. Một vật không quan trọng cũng được. Chỉ cần lấy cái gì đó thật. Tôi cho tay vào túi để nắm lấy đồng xu. Mồ hôi rịn đầy lòng bàn tay.

Tôi cố gắng nghĩ về cái gì khác. Căn hộ đầy nắng của tôi ở Unoki. Bộ sưu tập đĩa ghi âm mà tôi để lại. Bộ sưu tập nhạc Jazz nhỏ xinh của tôi. Thể loại tôi yêu thích nhất là của các nghệ sĩ Piano Jazz da trắng thập niên 50s và 60s. Lennie Tristano, Al Haig, Claude Williamson, Lou Levy, Russ Freeman … Hầu hết các album đều không được xuất bản, và mất rất nhiều thời gian với tiền bạc để thu thập chúng. Tôi đã cẩn thận vòng qua các cửa hàng thâu âm nhiều lần, giao dịch mua bán với các nhà sưu tập khác, từ từ xây dựng bộ sưu tập của riêng mình. Hầu hết các màn biểu diễn không phải được gọi là “thượng thặng”. Nhưng tôi yêu cái bầu không khí độc đáo, thân mật mà những tập đĩa hát cũ mốc meo này truyền đến. Thế giới sẽ là một nơi chán òm nếu nó được tạo thành chỉ với những thứ “thượng hạng”, nhỉ? Mọi chi tiết của những chiếc vỏ đĩa đó đã trở lại với tôi. Như thể trọng lượng và sức nặng của toàn bộ số album ấy đang nằm trong tay tôi vậy.

Nhưng bây giờ chúng đã biến mất mãi mãi. Và bởi chính tay tôi đã tự hủy hoại chúng. Sẽ chẳng bao giờ tôi được nghe những đĩa nhạc ấy trong đời mình nữa.

Tôi nhớ vị khói thuốc khi tôi hôn Izumi. Cả cảm giác về đôi môi và lưỡi của nàng nữa. Tôi nhắm mắt lại. Tôi muốn có nàng ngay bên cạnh tôi. Tôi muốn được nàng nắm chặt lấy tay, như khoảnh khắc đã trải qua khi chúng tôi bay ngang Ai Cập, và sẽ không bao giờ buông ra.

Con sóng cuối cùng đã lướt qua tôi và trôi thật xa; cùng với tiếng nhạc.

Có phải họ đã ngừng chơi không? Hẳn đấy cũng là một khả năng. Đã gần một tiếng đồng hồ rồi còn gì. Hoặc đã chẳng có tiếng nhạc nào ngay từ đầu cả. Điều đó cũng là hoàn toàn có thể. Tôi đã không còn tin tưởng vào thính giác của mình nữa. Tôi nhắm chặt mắt lại và chìm sâu trong ý thức của chính mình. Rơi thẳng xuống một đường ranh giới mỏng manh, vô trọng lượng trong thứ bóng tối đó. Nhưng tôi chẳng nghe thấy bất cứ âm thanh gì. Không một tiếng vọng.

Tôi liếc nhìn đồng hồ. Và nhận ra mình không hề đeo cái nào cả. Thở dài, đút lại hai tay vào túi quần. Thực sự tôi cũng chẳng quan tâm đến thời gian mấy. Tôi lại nhìn lên bầu trời. Mặt trăng luôn là một hòn đá lạnh lẽo, với làn da bị ăn mòn một cách thô bạo trong nhiều năm. Những vệt bóng mờ trên bề mặt của nó giống như những nốt ung nhọt đang ngoác miệng vươn rộng thêm thứ xúc tu đáng ghê tởm. Ánh trăng như đang vờn lấy tâm trí loài người. Và làm cho lũ mèo biến mất. Có lẽ nó cũng đã khiến cho Izumi biến mất. Dường như nó đã lên kế hoạch sắp đặt rất kỹ, bắt đầu từ đêm trước đó.

Tôi kéo căng, uốn cong cánh tay, và cả những ngón tay của mình. Liệu tôi có nên tiếp tục, hay phải quay trở lại con đường mình vừa đi? Izumi đã đi đâu mất rồi? Nếu như không có nàng, tôi phải sống như thế nào chỉ với bản thân mình trên hòn đảo khỉ ho cò gáy này? Nàng là người duy nhất giữ lấy một kẻ vừa tạm bợ vừa dễ vỡ tan như tôi.

Tôi tiếp tục leo lên dốc. Tôi đã đi khá xa và cũng có thể đã lên đến đỉnh. Thật sự có tồn tại tiếng nhạc ở đó không? Tôi phải tự mình kiểm chứng lấy, ngay cả khi chỉ còn lại những đầu mối mờ nhạt. Trong năm phút, tôi đã leo đến đỉnh. Nhìn về phía Nam, ngọn đồi dốc xuống biển, bến cảng, và cả thị trấn đều đã ngủ say. Ánh sáng phát ra từ những ngọn đèn đường đã thắp sáng con đường biển. Phía bên kia của ngọn núi bị bao phủ trong bóng tối. Không có dấu hiệu nào cho thấy một lễ hội sống động đã diễn ra ở đây, dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi trước đó.

Tôi quay trở lại căn nhà và rót cho mình một cốc Brandy. Tôi đã cố ngủ, nhưng không được. Cho đến tận lúc hừng đông, tôi vẫn bị mặt trăng kìm chặt. Rồi đột nhiên, tôi liên tưởng đến hình ảnh của lũ mèo đó, đói khát đến gần chết trong căn hộ bị khóa chặt. Tôi – con người thật sự của tôi – đã chết rồi, nhưng lũ mèo thì còn sống, chúng nhai thịt tôi, cắn xé quả tim, hút máu tôi, nuốt chửng dương vật của tôi. Xa xa, tôi có thể nghe thấy tiếng chúng liếm hút não mình. Như những mụ phù thủy của Macbeth, ba con mèo nhỏ đang bu quanh chiếc đầu vỡ toác của tôi, soàm soạp húp thứ súp đặc bên trong. Đầu lưỡi thô ráp của chúng liếm lên những nếp gấp mềm mại trong đầu tôi. Và với mỗi cái liếm ấy, ý thức của tôi nhấp nháy như một đốm lửa rồi vụt tắt.

Hết.

Truyện ngắn Mèo ăn thịt người (Hito-kui Neko) được in lần đầu tiên trong tuyển tập truyện ngắn Cây liễu mù và cô gái ngủ (Mekurayanagi to, nemuru onna) xuất bản năm 1991. Bản tiếng Anh do Philip Gabriel chuyển ngữ được đăng trên tạp chí The New Yorker số ngày 4 tháng 12, 2000.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 8: Chương 6

Published

on

Người phụ nữ bước vào phòng tắm và khép cửa lại đằng sau cô. Tiếng vòi sen theo ngay sau đó.

Chuột cố gắng kiềm chế cảm xúc của mình. Hắn rướn người khỏi mớ chăn ga, vồ lấy một điếu thuốc đặt lên môi. Nhưng bật lửa của hắn không có trên bàn hay trong túi quần. Thậm chí hắn cũng chẳng có một que diêm nào. Hắn mò mẫm trong túi xách của người phụ nữ, nhưng cũng chẳng gặp may ở đó. Bỏ cuộc, hắn bật đèn và lục tìm hết các ngăn kéo bàn làm việc cho đến khi lật thấy một hộp diêm cũ có tên của nhà hàng nào đó trên bao bì. Hắn châm thuốc.

Vớ và đồ lót của cô ấy được gấp cẩn thận và xếp trên một chiếc ghế mây của hắn, chiếc đầm màu mù tạt vàng may đo trải lên lưng ghế. Trên bàn đầu giường là chiếc đồng hồ tí xíu và chiếc túi xách hiệu La Bagagerie, không mới nữa nhưng vẫn còn tốt.

Chuột chìm người xuống chiếc ghế đối diện và nhìn chăm ra cửa sổ.

Từ chỗ tọa cao trên dốc núi kia, Chuột có thể thấy các dấu hiệu của hoạt động con người rải rác ở sườn đồi bên dưới. Đôi lúc hắn đứng đó suốt nhiều giờ, hai tay chống hông, tập trung vào quang cảnh bên dưới hệt như một gôn thủ đứng ở đỉnh của một sân gôn nghiêng xuống. Con dốc xuôi nhẹ một góc thoai thoải, tụ lại với những ánh đèn rải rác từ những ngôi nhà. Có những lùm cây sẫm tối, những đồi nhỏ, và, đây đó, những hồ bơi tư nhân lấp lóa trắng dưới các ngọn đèn thủy ngân. Chỗ con dốc bắt đầu bằng phẳng, đường cao tốc bò ngoằn ngoèo qua khung cảnh hệt như một chiếc thắt lưng được chiếu sáng; từ chân núi tới bờ biển chừng nửa dặm xa, thị trấn trải ra phẳng lì và đơn điệu. Đại dương ngoài kia tan hòa vào bầu không thẳm tối, trong khi ánh màu cam từ ngọn đèn hiệu nhỏ kia chớp sáng, biến mất, rồi lại chớp sáng. Và cắt xuyên mọi lớp địa hình, phân chúng gọn gàng làm hai, tuôn dài một luồng nước đen sẫm.

Dòng sông.

Ω

Lần đầu tiên Chuột gặp người phụ nữ ấy là vào đầu tháng Chín, khi bầu trời vẫn còn giữ được chút dấu vết rạng rỡ của mùa hè.

Hắn tìm thấy một máy đánh chữ điện được liệt kê trong mục Hàng hóa đã sử dụng của tờ báo địa phương giữa đống quảng cáo xe cũi đẩy em bé, dụng cụ học ngôn ngữ Linguaphone, xe đạp ba bánh, và đồ tạp dụng linh tinh. Người phụ nữ trẻ trả lời điện thoại nghe có vẻ rất thẳng thắn rành rọt: chiếc máy đánh chữ đã dùng được một năm và còn một năm trong hạn bảo hành; trả hết bằng tiền mặt trước (không trả góp hàng tháng); hắn phải tự mình đến nhận hàng. Họ chốt thỏa thuận, và hắn lái xe đến căn hộ của cô, trả tiền, rồi nhận chiếc máy đánh chữ. Nó đáng giá gần như tương đương với số tiền hắn kiếm được từ công việc bán thời gian vào mùa hè.

Cô nhỏ nhắn mảnh khảnh và mặc một chiếc đầm không tay đầy thu hút. Những cây cỏ xum xuê lá đủ hình dạng và màu sắc trồng trong những chiếc chậu nằm xếp hàng ở lối vào căn hộ. Cô có nét mặt dịu dàng, và tóc được buộc gọn về phía sau. Chuột không thể xác định tuổi cô. Hắn đã nghĩ rằng có thể đâu đó giữa hai mươi hai và hai mươi tám.

Ba ngày sau, cô gọi hắn bảo rằng cô có một nửa tá dải băng máy đánh chữ mà cô vui lòng tặng miễn phí cho hắn. Khi Chuột đến nhận chúng, hắn mời cô đến quán J’s để đãi cocktail thay lời cảm ơn. Dù vậy, họ không tâm đầu ý hiệp ngay từ đầu.

Lần thứ ba họ gặp gỡ là bốn ngày sau đó, ở hồ bơi trong nhà. Hắn lái xe đưa cô về căn hộ và làm tình. Tại sao lại thành ra như thế? Chuột chịu không biết nổi. Hắn đã khơi chuyện đầu tiên hay cô? Họ đã chỉ thuận theo dòng chảy.

Một vài hôm sau, Chuột có thể cảm thấy cái thực tại hữu hình trong mối quan hệ của họ đang trương nở bên trong hắn, như thể một cái nêm mềm đang lấn vào trong đời sống thường nhật của mình. Từng chút một, có điều gì đó đang truyền thông. Phần ngọt ngào, lịch thiệp hắn đã quên lâu dường như đã trải rộng ra mỗi lần hắn nghĩ đến đôi vòng tay mảnh mai gói quanh cơ thể mình kia. 

Chuột có thể thấy rằng cô đang gắng thiết lập một kiểu toàn hảo trong thế giới nhỏ của cô. Hắn cũng nhận thức rõ rằng điều đó yêu cầu một mức độ quyết tâm phi thường. Cô chỉ mặc những chiếc đầm trang nhã song thùy mị nhất bên trên những đồ lót sạch, mới, xức nước hoa loãng nhẹ có mùi hương của ruộng nho ban sớm lên cơ thể, hết mực cẩn thận lựa lời, không đời nào hỏi những câu thiếu trọng tâm, và chừng như còn đã thực hành việc mỉm cười trước gương. Song những điều đó chỉ khiến Chuột thêm buồn. Sau một số lần gặp gỡ hắn đã đoán tuổi cô là hai mươi bảy. Điều đó hóa ra lại là điểm đen.

Đôi bầu ngực cô nhỏ nhắn, và dù cơ thể thon gọn của cô rám nắng tuyệt đẹp, nó miễn cưỡng hơn là kiêu hãnh, như thể nó đã được thế mà không có sự đồng thuận của cô. Xương gò má góc cạnh và đôi môi mỏng của cô đã nói lên sự giáo dục tốt và tâm cốt cương quyết của cô, nhưng chẳng hề có chút gì ngây thơ và dễ tổn thương bên dưới bề mặt đó, thứ được phô diễn với những biến báo tinh vi trong biểu hiện.

Cô đã học ngành kiến trúc ở một trường đại học nghệ thuật và hiện làm việc trong một văn phòng kiến trúc. Nơi sinh của cô ư? Chẳng phải nơi nào gần đây, cô trả lời. Tôi đến vùng này sau khi tốt nghiệp. Cô đến hồ bơi tuần một lần và bắt tàu đến lớp học viola mỗi tối Chủ nhật.

Cả hai bọn họ hội nhau tuần một lần vào đêm Thứ Bảy. Rồi Chuột nhả khói thuốc mơ màng cả ngày Chủ nhật trong khi cô tập chơi Mozart.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 7: Chương 5

Published

on

Khi tôi còn học đại học, chẳng ai trong khu căn hộ của tôi có điện thoại. Khỉ thật, tôi ngờ là không có bất kì ai trong chúng tôi có một cục tẩy. Dù, có một cái điện thoại trả tiền màu hồng, nằm ngoài văn phòng bảo vệ trên chiếc bàn thấp đã bị quẳng đi từ trường tiểu học địa phương. Đấy là chiếc điện thoại duy nhất trong toàn bộ chốn ấy. Các bảng mạch điện thoại là thứ cuối cùng trong tâm trí chúng tôi. Những tâm trí đó là một thế giới bình yên trong một thời đoạn bình yên.

Từ khi người bảo vệ không bao giờ ở văn phòng ấy nữa, một người trong chúng tôi phải trả lời điện thoại khi nó đổ chuông và chạy ào đi thông báo cho người nhận cuộc gọi ấy. Dĩ nhiên có những lần (như là một cuộc gọi đến lúc 2 giờ sáng) thì chẳng ai nhấc máy. Hệt như một con voi nhận thức cái chết gần kề của mình, chiếc điện thoại đã đổ chuông như điên (số lần đổ chuông nhiều nhất tôi đếm được là 32) rồi chết. Tôi dùng từ chết theo nghĩa đen hẳn hoi. Thời khắc cuộc gọi cuối cùng lượn xuống hành lang dài và biến mất vào đêm đen, một sự im lặng ngự trên cả tòa nhà. Đó là một sự tịch mịch kì quái. Chúng tôi nằm đó trong giường ngủ của mình, nín thở, khi chúng tôi nghe ngóng cuộc gọi chết tươi kia.  

Những cuộc gọi vào đêm muộn luôn luôn đáng ngã lòng. Ai đó sẽ nhấc ống nghe lên và bắt đầu thấp giọng trò chuyện:

“Thôi đi… Không, anh nhầm rồi… Chuyện gì xong thì đã xong, đúng không?... Thực đấy. Sao tôi phải nói dối chứ?... Không, tôi chỉ mệt thôi… Dĩ nhiên nó làm phiền tôi… Nhưng anh thấy đó… Ừ, tôi nhận được tấm hình rồi. Nhưng tôi cần thời gian, hiểu chứ?... Tôi không thể giải thích qua điện thoại đâu…”

Mỗi chúng ta có đủ thứ rắc rối khả dĩ phải đeo mang. Chúng từ trên trời rơi xuống và ta điên cuồng chạy quanh tìm nhặt lên, cho vào túi mình. Tại sao ta lại làm thế đã bắt bí tôi, cho đến giờ. Có lẽ chúng ta đã nghĩ chúng là thứ gì đó khác.

Có cả những bức điện tín nữa. Một chiếc mô-tô sẽ gầm rú ngoài cửa trước tầm bốn giờ sáng, theo sau là tiếng những bước chân sầm sập gần tiền sảnh. Rồi một nắm đấm sẽ nện lên cửa nhà ai đó. Tiếng động kia luôn luôn nhắc tôi về Tử Thần. Bum, bum. Chúng ta đã ngả quá nhiều về phía các tai ương –những cuộc đời mất đi vì tự sát, những tâm trí đổ nát, những trái tim bị bỏ rơi trong những vũng tù của thời gian, những cơ thể bỏng cháy với các ám ảnh rời rã–và chúng ta trao cho nhau một đống rắc rối đọa đày. Một ngàn chín trăm bảy mươi là năm đại loại như thế. Song nếu cứ bám lấy niềm tin rằng thân xác con người được tạo ra để cải thiện chính nó thông qua kiểu tiến trình biện chứng nào đó, một năm khủng khiếp như năm 1970 có thể dạy ta điều gì đó.

  Ω

Phòng tôi nằm ở tầng một cạnh văn phòng bảo vệ, trong khi cô gái có mái tóc dài kia sống ở tầng hai, kế cầu thang. Bởi cô rõ ràng là người thắng khi có các cuộc gọi đến, nên tôi bị kẹt vào việc lon ton lên xuống mười lăm bậc cầu thang kia hàng ngàn lần để gọi cô nghe điện thoại. Người gọi cho cô có đủ dạng. Giọng của họ có thể lịch thiệp hay bất nhã, buồn bã hoặc trịch thượng. Lúc nào họ cũng hỏi bằng tên cô. Song tôi đã quên bẵng cái tên đó là gì. Hồi ức duy nhất của tôi là tên cô thông thường đến não lòng.

Giọng cô trên điện thoại thì thào mệt lử, gần như không nghe thấy nổi. Diện mạo cô thu hút vừa đủ, nhưng có phần nào sầu u. Mặc dù chúng tôi thi thoảng ngang qua nhau trên phố, tôi chưa bao giờ mở lời với cô. Vẻ mặt của cô khi tiến bước hệt như ai đó đang cưỡi một con voi trắng trên một lối mòn hẹp chốn rừng sâu.

Ω

Cô sống ở khu căn hộ của chúng tôi được sáu tháng. Từ lúc bắt đầu mùa thu đến hết mùa đông.

Tôi sẽ trả lời điện thoại, leo cầu thang, gõ cửa nhà cô, bảo, “Cô có điện thoại,” và một chốc sau cô sẽ nói, “Cảm ơn.” “Cảm ơn” là từ duy nhất cô từng nói với tôi. Đổi lại, “Cô có điện thoại,” là hết thảy lời tôi từng nói với cô.

Đó cũng là một mùa cô độc với tôi. Khi quay về căn hộ của mình và trút bỏ quần áo vào cuối ngày, xương cốt tôi hăm he nổ bung ra ngoài da thịt và văng bay tứ tán. Như thể một lực lượng nội tại huyền bí nào đó đang dồn thúc tôi vào sai hướng, dẫn tôi đến một thế giới khác.

Những cuộc điện thoại khiến tôi suy nghĩ. Ai đó đang cố truyền thông với một ai khác. Song hầu như chẳng có ai từng gọi cho tôi. Tuyệt không một người cố với đến tôi, và ngay cả nếu họ đã làm vậy, ắt họ đã chẳng nói điều tôi muốn nghe.

Mỗi chúng ta, với mức độ cao thấp khác nhau, đều nhất quyết sống theo đúng hệ thống của chính mình. Nếu cách suy nghĩ của người khác quá khác biệt với tôi, nó khiến tôi phát điên; quá bức bí, và tôi đâm buồn. Đấy, chỉ thế thôi.

    Ω

Khi mùa đông kết thúc chính là lúc tôi đã nhận chuyển cuộc điện thoại cuối cùng của cô. Một sáng thứ Bảy trong trẻo đầu tháng Ba. Đại để giữa buổi sáng, mười giờ, nắng mùa đông tươi sáng đang dọi khắp ngóc ngách trong căn phòng nhỏ của tôi. Lúc nhận thức được tiếng chuông, tôi đang ngồi trên giường nhìn qua cửa sổ vào vườn bắp cải cạnh cửa chính. Những mảng tuyết lóng lánh rải rác trên đất đen hệt như những vũng nước – thảy đều là di tích của trận tuyết cuối vào đợt rét đột ngột sau cùng trong năm.

Điện thoại đổ mười lần mà chẳng ai nhấc máy. Rồi năm phút sau lại bắt đầu. Tiếng chuông rầy rà nên tôi đành tròng chiếc áo len đan lên bộ đồ ngủ rồi đi bắt máy.

“Có cô… đó không?” một người đàn ông hỏi. Giọng anh ta phẳng lì, không biểu cảm. Lẩm bẩm gì đó bất đắc dĩ, tôi lê bước lên cầu thang và gõ cửa nhà cô.

“Cô có điện thoại.”

“Cảm ơn.”

Tôi về lại phòng mình, nằm xuống giường, và quan sát trần nhà. Tôi có thể nghe tiếng bước chân cô đang đi xuống, rồi tiếng thì thào đó. Một cuộc thoại ngắn bất thường đối với cô. Có lẽ chỉ mười lăm giây. Tôi nghe cô cúp máy và rồi có một sự tĩnh lặng kéo dài, không tiếng bước chân, không gì cả. Một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân chầm chậm đến gần cửa nhà tôi, kèm theo hai tiếng gõ. Có một khoảng ngừng chừng một hơi thở sâu, rồi lại thêm hai tiếng khác.

Khi tôi mở cửa cô đang đứng đó trong bộ áo phông thùng thình và quần jean. Tôi thoáng nghĩ mình đã nhầm lẫn, rằng cuộc gọi kia được nhằm vào ai khác, nhưng cô đã chẳng nói gì cả, chỉ đứng đó run run với hai tay ôm nhau trước ngực và mắt dán vào tôi. Trông cô hệt như ai đấy trong chiếc xuồng cứu sinh đang nhìn con tàu chìm dần. Hoặc có lẽ là tình huống ngược lại cũng nên.    

“Tôi vào được không? Ngoài này rét quá.”

Tôi bị bất ngờ, nhưng vẫn để cô vào và khép cửa. Cô ngồi xuống trước lò sưởi bằng gas để hơ ấm đôi tay và nhìn quanh.

“Phòng này trống trơ kinh dị, nhỉ?”

Tôi gật. Thực sự chẳng có gì. Chỉ một chiếc giường cạnh cửa sổ, và thế thôi. Một chiếc giường quá lớn cho một người, và quá bé cho hai. Tôi cũng chẳng mua nó. Đúng hơn là, một người quen đã cho tôi. Tại sao anh ấy tặng nó cho một kẻ rõ là xa lạ thì tôi chịu. Chúng tôi hiếm khi nói chuyện. Là một chàng trai nhà giàu đến từ vùng xa xăm nào đó, anh đã bỏ trường sau khi bị các thành viên trong một nhóm chính trị đối lập đánh hội đồng, họ đá vào đầu anh khi đang mang ủng công trường, trận đánh này đã gây tác hại cho thị lực của anh. Chuyện đó diễn ra ở sân trường, và anh thổn thức suốt đường từ đó đến bệnh xá của trường, trước sự ghê tởm bàng hoàng của tôi. Một vài ngày sau anh bảo tôi rằng anh rời trường. Và tặng tôi chiếc giường.

“Có thứ gì đó âm ấm để uống không?” cô nói. Không, tôi đáp, lắc đầu. Không cà phê, không trà, thậm chí ấm đun nước cũng không. Chỉ có một cái chảo để nấu nước nóng khi tôi cạo râu vào buổi sáng. Chờ đây nhé, cô nói với một tiếng thở dài. Cô đứng lên và rời phòng, quay lại sau năm phút với một hộp giấy cứng trong tay. Bên trong là thực phẩm dự trữ đủ cho sáu tháng gồm trà túi lọc và trà xanh, hai gói bánh quy, đường cát, một bộ ấm đĩa cơ bản, cùng hai chiếc cốc có hình cún Snoopy. Đặt chiếc hộp xuống giường, cô lấy chiếc ấm ra và bắt đầu đun nước.

“Làm sao anh xoay xở được thế? Anh sống hệt như Robinson trên đảo hoang ấy!”  

“Đúng là không vui thú gì mấy.”

“Tôi cũng đoán thế.”

Chúng tôi uống trà túi lọc trong im lặng.

“Anh có thể nhận hết mấy thứ này,” cô nói.

Tôi suýt sặc trà. “Sao cô lại làm thế?”

“Cách tôi nói lời cảm ơn thôi. Cho tất cả những lần anh đã trả lời hộ điện thoại.”

“Nhưng cô không cần dùng nữa à?”

Cô lắc đầu. “Mai tôi chuyển đi rồi. Chẳng còn ích gì với tôi nữa.”

Hẳn phải có thứ gì đó giải thích được chuỗi sự kiện mới này, nhưng tôi chẳng thể hình dung được là gì.

“Đã có chuyện gì tốt đẹp sao? Hay chuyện gì đấy tệ hả?”

“Không tốt lắm, tôi cho là vậy. Ý tôi là tôi đang bỏ học và về quê.”

Ánh nắng mùa đông tràn ngập căn phòng mờ đi một thoáng, rồi hửng sáng lên lại.

“Nhưng anh chẳng muốn nghe chuyện ấy đâu, phải không? Phải tôi thì chắc sẽ không. Ai đời lại muốn dùng những chiếc đĩa mà người khác đã bỏ đi chứ!”

Sáng hôm sau, một cơn mưa lạnh lẽo bắt đầu rơi. Một cơn mưa phùn đã len lỏi rỉ qua áo mưa của tôi và ngấm vào áo phông thể thao bên dưới. Mọi thứ – chiếc rương lớn tôi đang ì ạch kéo và chiếc va-li cùng túi cô đeo vai – đều thẫm đen vì hơi ẩm. Người tài xế ta-xi chộp lấy chúng tôi chẳng cho để bất cứ món nào lên ghế ngồi. Trong xe nóng và ngột ngạt với mùi thuốc lá lưu cữu, và một bản ballad truyền thống đang rền rĩ từ đài phát thanh của xe, một giai điệu kiểu cũ như một cánh tay chỉ hướng rẽ ở các ô tô đời xưa. Những cành cây trụi lá nhiễu giọt đóng thành băng nhũ xếp hàng dọc hai bên đường trông hệt như rặng san hô dưới nước.

“Tôi chả thích Tokyo ngay lần đầu để mắt đến,” cô nói, “và đến giờ vẫn thế.”

“Thật ư?”

“Ừ. Đất thì quá đen, sông thì bẩn tởm, lại chẳng có ngọn núi nào… Anh thì sao?”

“Tôi đã chả bao giờ nghĩ về phong cảnh cả.” 

Cô thở dài. “Đấy là lí do anh sống sót được ở chốn này,” cô nói cùng một nụ cười mỉm.

Chúng tôi đến sân ga và buông đống túi xách xuống.

“Cảm ơn vì tất cả,” cô nói. “Tới đây tôi có thể tự mang được rồi.”

“Quê cô ở đâu?”

“Ngược lên phía bắc.”

“Tôi cược là lạnh lắm.”

“Cũng ổn cả. Tôi quen rồi.”

Khi đoàn tàu chuyển bánh cô vẫy chào tôi từ cửa sổ. Tôi giơ tay ngang tầm tai, nhưng khi đoàn tàu ra khỏi tầm mắt, bất thình lình tôi bỗng thấy ngượng ngập và đút tay mình vào trong túi áo mưa.

Trời mưa suốt ngày hôm đó và dai dẳng đến tận đêm. Tôi mua hai chai bia ở cửa hàng thức uống địa phương và uống cạn hết bằng một chiếc cốc cô đã cho tôi. Tôi đang lạnh cóng. Chiếc cốc in hình cún Snoopy và chim thư kí Woodstock đang chơi đùa trên mái nhà của Snoopy với một quả bong bóng có ghi, “Hạnh phúc là một người bạn ấm áp.”  

Ω

Cặp sinh đôi đã thiếp ngủ khi tôi mở mắt. Ba giờ sáng. Ánh trăng mùa thu bên ngoài cửa sổ phòng tắm sáng gượng gạo. Tôi ngồi trên rìa quầy bếp cạnh chậu rửa, uống hai cốc nước, và châm thuốc bằng bếp ga. Lớp lớp tiếng của hàng ngàn hàng vạn côn trùng trỗi lên từ sân gôn sáng trăng.

Tôi nhấc cái bảng mạch lên dựa vào quầy bếp và kiểm tra nó cẩn thận, xoay nó đủ mọi góc. Chỉ là một tấm bảng vô nghĩa, đầy bụi bặm và cũ kĩ, bất kể nhìn ngắm nó thế nào đi nữa. Từ bỏ, tôi đặt nó trở lại chỗ cũ, lau bụi bẩn trên tay, và rít một hơi thuốc khác. Mọi thứ có vẻ nhợt nhạt dưới ánh trăng. Trống rỗng cả về giá trị, nghĩa lí, hay phương hướng. Thậm chí những cái bóng cũng mờ ảo. Tôi dụi điếu thuốc vào bồn rửa và châm điếu khác.

Liệu có bao giờ tôi tìm được một chốn đích thực là của riêng tôi? Đấy có thể là đâu? Tôi cứ nghĩ mãi, song chỉ có hình ảnh buồng lái của một chiếc máy bay ném ngư lôi hai chỗ ngồi hiện ra trong tâm trí. Nhưng đó là một ý nghĩ ngu ngốc tuyệt đối. Ý tôi là, những thứ đó đã quá đát từ ba mươi năm trước rồi, phải không?

Tôi quay lại giường và len vào giữa cặp sinh đôi. Họ đang nằm cuộn mình với đầu lệch về phía hai mép giường, thở đều bình an. Tôi kéo chăn lên tận cằm và quan sát trần nhà.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 6: Chương 4

Published

on

Ngọn đèn hiệu không người trơ vơ cuối bến tàu dài ngoằn ngoèo. Ngọn đèn không đặc biệt lớn, chỉ thấp hơn ba mét rưỡi một chút. Những con tàu cá đã dựa vào ánh sáng của nó thời trước khi sự ô nhiễm dồn lũ cá xa bờ. Chẳng có gì giống với một bến cảng ở khu vực này. Thay vào đó, ngư dân đã trang bị một bộ tời bằng gỗ với ống cuộn và dây thừng để kéo tàu của họ từ bãi biển. Ba căn lều của họ đã được dựng gần đấy; vào buổi sáng sẽ thấy những khay gỗ đựng cá nhỏ đang phơi khô trên mặt đê chắn sóng. Tuy nhiên, ở một thời điểm nào đó, ngư dân đã rời bỏ, bị xua đi bởi sự kết hợp của ba yếu tố: sự biến mất của đàn cá, sự ác cảm vô lí của những kẻ đi vé tháng vì có một làng cá gần thị trấn của mình, và lời tuyên bố của quận rằng những căn lều dọc bãi biển kia là bất hợp pháp. Đấy là năm 1962. Chẳng ai đoán nổi những ngư dân kia đã biến về đâu. Đại khái ba căn nhà kia đã hoang tàn, trong khi những con thuyền mục nát, chẳng có chức năng gì cũng chẳng có chỗ nào để vứt bỏ, bị bỏ lại chỏng chơ giữa đám cây cối dọc bờ biển, nơi chúng phục vụ như một sân chơi cho đám trẻ con.

Một khi những tàu cá đã biến mất, những con thuyền nhẹ tư nhân lang thang dọc bãi biển cùng những tàu hàng bỏ neo ngoài bến cảng tìm nơi trú bão và sương mù dày đặc là những phương tiện hàng hải duy nhất có thể thấy rằng ngọn đèn hiệu kia giúp ích nhiều. Nhưng chắc hẳn nó đã không còn phục vụ một mục đích nào nữa.

Ngọn đèn hiệu là một thứ thù lù đen sì có hình như một cái chuông úp hoặc một người gò lưng trong suy tưởng nhìn từ phía lưng. Khi mặt trời bắt đầu lặn và ráng chiều bắt đầu nhuộm màu xanh thẫm, ánh sáng màu cam rực sáng trên đỉnh ngọn đèn – cái núm chuông – và nó bắt đầu xoay chầm chậm. Vào khoảnh khắc đó, khi ngày chuyển đêm, ngọn đèn hiệu đến với đời sống: dù buổi tối có mang một hoàng hôn tuyệt đẹp hay một lốt áo choàng mù sương, chùm sáng ấy bắt đầu quay ngay chính thời khắc mà sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối chuyển giao, và bóng đêm tối thượng ngự lên.

Thời thơ bé, Chuột thường xuống bãi biển vào buổi tối chỉ để chứng kiến khoảnh khắc chớp nhoáng đó trong bóng tối. Nếu những con sóng không quá cao hắn sẽ dạo bộ tới tận đầu kia của bến tàu uốn lượn, đếm số phiến đá lát đường mà hắn đã đi qua. Lúc chớm sụp tối hắn có thể thấy hàng đàn cá nhỏ xíu kinh ngạc lao về phía vùng nước sáng. Chúng sẽ bơi vòng dọc mạn bến tàu, như thể đang tìm kiếm gì đó, trước khi hướng ra khơi.  

Khi cuối cùng cũng đến chỗ ngọn đèn hiệu, Chuột ngồi xuống nơi đầu mút của bến tàu ấy và nghiên cứu bầu trời. Trời mang màu xanh đen đến ngút mắt, với những vỉa mây trông như được vẽ lên dưới nét cọ của một họa sĩ. Màu xanh thẫm kia chừng như không đáy; vực thẳm của nó khiến chân Chuột run lên kinh sợ. Mọi thứ quá sinh động, mùi đại dương, màu ngọn gió.

Nán lại mãi, Chuột uống cạn khung cảnh trải ra trước mắt mình, rồi quay lại. Giờ thì hắn đang chiêm ngắm thế giới của chính mình, quá đỗi tách biệt với biển khơi. Bãi biển và đê chắn sóng trắng bàng bạc, hàng thông xanh yên ả, và, đằng sau chúng, nhô in trên nền trời, đường viền sắc nhọn của những ngọn núi đen thẫm xanh.

Xa bên mạn trái của hắn là khu cảng lớn, với những cần trục, vũng tàu đậu dập dềnh, những nhà kho như hình hộp, những chiếc tàu hàng, và các tòa nhà cao. Bên phải hắn, đối mặt đại dương và trải dài theo đường bờ biển cong cong, là khu dân cư im lìm, bãi đậu thuyền nhẹ, một số kho rượu cũ kĩ, và, một khoảng vừa phải phía xa kia, hàng dãy những bể chứa hình cầu cùng các ống khói nhà máy chọc trời của khu công nghiệp, đã che phủ bầu trời trong làn khói trắng mù mịt. Những thứ đó đánh dấu sự cáo chung của thế giới thời niên thiếu mà Chuột đã biết.

Suốt thuở ấu thời, từ xuân đến chớm thu, Chuột dành cho những chuyến thăm ngọn đèn hiệu. Khi sóng lớn, bụi nước bắn vào chân hắn, gió gào, và hắn thi thoảng trượt ngã trên những phiến đá lát trơn rêu. Song con đường đến ngọn đèn hiệu đã thân thiết với hắn hơn bất cứ gì khác. Hắn sẽ ngồi ở chốn tận cùng của bến tàu ấy lắng nghe sóng vỗ, ngắm những đám mây, bầu trời, và hàng đàn cá nhỏ, và ném những viên cuội mình mang theo trong túi vào làn nước.

Lúc trời sẫm tối hắn sẽ lại bước trên cùng con đường ấy để quay về thế giới của chính mình. Dù cho, sự quay lại này đã luôn luôn đồng hành với một nỗi buồn không sao tả nổi. Cái thế giới đang chờ đợi hắn ngoài kia đúng là quá lớn lao, quá mạnh bạo; chốn đó chừng như chẳng hề có chỗ nào hắn khả dĩ đào sâu vào được.

Căn hộ của người phụ nữ không xa bến tàu. Kí ức mơ hồ về thời thơ ấu của hắn và dư hương của những buổi tối kia trở lại với Chuột mỗi lần hắn đến thăm cô. Hắn sẽ đỗ xe trên con đường dọc bờ biển và đi băng qua những cây thông đứng rải rác được trồng để ngăn cát thổi vào từ bãi biển. Cát phát ra âm thanh khô khốc dưới chân hắn.

Khu căn hộ nằm đúng nơi những căn lều của các ngư dân đã từng dựng lên. Nếu đào xuống một vài mét, nước biển màu nâu đỏ sẽ phun trào bọt. Những cây chuối hoa Nam Mĩ ủ rũ trong vườn trước, như thể ai đó đã giẫm đạp chúng. Người phụ nữ sống ở tầng hai – khi gió thổi nó sẽ quét qua cửa sổ của cô những luồng cát mịn. Căn hộ nhỏ nhắn gọn gàng của cô xoay mặt hướng nam, nhưng nó ảm đạm lạ lùng. Chính đại dương đấy, cô nói. Chính vì gần đến chết tiệt – mùi thủy triều, gió, tiếng sóng, mùi hôi của cá… hết thảy.   

“Em chẳng thể ngửi thấy mùi cá ở đây đâu,” Chuột bảo.

Chắc chắn em có thể, cô nói. Cô kéo sợi dây cuộn và bức mành mành khép rụp. Anh sẽ có thể nếu anh sống nơi này.

Cát quất vào cửa sổ.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Cafe sáng