Sáng tác

Truyện ngắn: Quả thận đá nhảy nhót mỗi ngày (Murakami Haruki)

Published

on

Hồi Junpei vừa tròn 16 thì bố gã đưa ra cái nhận định đáng giật mình ấy. Họ đúng là cha con có cùng huyết thống thật, nhưng cả hai người đều không gần gụi nhau đến mức có thể mở lòng với đối phương. Thành thử đó là lần hiếm hoi duy nhất bố của Junpei chịu bày tỏ cho gã thấy những quan điểm về cuộc sống mà có lẽ (có lẽ thôi nhé) được gọi là triết học. Nên kể từ đó, cuộc chuyện trò ấy vẫn còn mãi sống động trong tâm trí gã, dù gã đã quên mất điều gì thôi thúc nó ra đời.

“Trong những người phụ nữ mà một người đàn ông gặp trong đời, thì chỉ có ba người là có ý nghĩa thực thụ với hắn thôi. Không hơn, không kém,” bố gã nói, hay đúng hơn, là tuyên bố chắc nịch. Ông nói một cách lạnh lùng nhưng đầy chắc chắn, như thể vừa khám phá ra được trái đất phải mất đến một năm mới xoay quanh hết mặt trời. Junpei chỉ biết im lặng lắng nghe, phần vì lời tuyên bố của ông bố gã quá bất ngờ, gã không biết phải nói gì để hưởng ứng trong lúc ấy.

“Sau này mày có thể qua lại với nhiều đàn bà,” cha của gã nói tiếp, “Nhưng mày sẽ lãng phí thời gian nếu những cô nàng đó không phải là đúng người, con trai ạ. Và bố muốn mày nhớ rõ điều đó.”

Mãi về sau, có nhiều câu hỏi đã được hình thành và lẩn quẩn trong tâm trí non trẻ của Junpei: Liệu ông bố mình đã gặp được ba người phụ nữ của đời ông ấy chưa nhỉ? Và mẹ mình có phải là một người trong số họ? Vậy thì đã xảy ra những chuyện gì với hai người đàn bà kia? Nhưng gã không thể mở miệng hỏi cha những câu hỏi này. Như đã kể ngay trước đó, vốn dĩ cả hai người đều không quá thân mật để có thể tâm tình sâu sắc với nhau.

Khi Junpei được 18 tuổi, gã rời nhà lên Tokyo học Đại Học. Theo thời gian, gã cũng có quan hệ với một vài phụ nữ, có một cô trong số đó có “ý nghĩa thực thụ” với gã thật. Thế nhưng trước khi gã có thể bày tỏ tình cảm của mình (về bản chất, gã vốn phải mất nhiều thời gian hơn hầu hết mọi người để bộc lộ tình cảm của mình), thì cô này đã vớt luôn tay bạn thân nhất của gã và lập tức trở thành bà mẹ bỉm sữa trong vòng một nốt nhạc. Thành thử ở thì hiện tại, cô nàng liền bị sút ra khỏi danh sách những ứng cử viên tiềm năng mà cuộc sống đã dâng tặng cho Junpei. Gã phải gồng lòng và phủi bay hình ảnh cô ta khỏi tâm trí, cuối cùng số phụ nữ còn lại sẽ có “ý nghĩa thực thụ” với cuộc đời gã, ấy là nếu gã chịu chấp nhận thứ lý thuyết của cha mình, đã giảm xuống còn hai.

Mỗi lần Junpei gặp gỡ một người phụ nữ nào đó, gã vẫn thường tự hỏi mình, liệu đây có phải là người đàn bà có ý nghĩa thực thụ với mình không? Và câu hỏi ấy sẽ vẽ ra một vấn đề nan giải. Ngay cả khi gã đã tiếp tục kỳ vọng (có ai mà không kỳ vọng cơ chứ?) rằng gã sẽ gặp được một người có ý nghĩa đích thực với mình, thì gã vẫn sợ phải lật những quân bài được chia còn lại lên quá sớm. Vì thất bại trong việc gắn kết với người đàn bà quan trọng đầu tiên mà gã gặp, đâm ra gã mất luôn niềm tin vào khả năng của mình, thứ khả năng trọng yếu nhất, chính là bộc lộ ra được những cảm xúc yêu thương đúng lúc đúng tình. “Mày chỉ là một kẻ giỏi nắm bắt những thứ linh tinh trong cái cuộc đời này, nhưng lại để vụt mất những điều quan trọng”: Cứ mỗi lần ý niệm này dấy lên, đan xen chằng chéo trong tâm tưởng, trái tim gã sẽ lại sa lầy vào một vùng tối tăm lạnh lẽo. Chuyện xảy ra như cơm bữa.

Lúc nào cũng vậy, cứ quen một cô được vài tháng, gã lại bắt đầu đánh hơi thấy có điều gì đó lấn cấn về tính tình hay lối cư xử của cô ta, tuy chả có gì đáng kể, nhưng lại làm gã khó chịu hay bực dọc đâu đó trong lòng. Rốt cuộc nó đã biến luôn thành cái dớp để gã lại tiếp tục những mối quan hệ thiếu nồng nhiệt lẫn dứt khoát với hết nường này đến nường nọ. Xong xuôi rồi thì mấy mối này tự rã đám. Các cuộc chia tay không bao giờ dính líu đến cãi cọ hay mâu thuẫn, căn bản là vì gã chả đời nào qua lại với mấy cô nàng có vẻ khó dứt ra.

Junpei không chắc liệu khả năng này xuất phát từ tính cách bẩm sinh của mình, hay được hình thành từ môi trường gã lớn lên? Còn nữa, có khi nó là kết quả từ lời nguyền của cha gã cũng nên. Trong khoảng thời gian tốt nghiệp Đại Học, gã đã cãi nhau dữ dội với cha mình và cắt đứt mọi liên lạc với ông. Nhưng vẫn là cái lý thuyết chết tiệt “Ba người đàn bà” kiên quyết bám dính lấy gã, dù không hề có cơ sở giải thích đầy đủ nào. Có một khoảng thời gian, gã thậm chí còn nửa đùa nửa thật tự coi mình như một tay đồng tính: Có khi làm vậy thì mai mốt gã lại thoát được khỏi trò đếm ngược lố bịch này. Ấy vậy mà, chả biết là tốt hay không, đàn bà vẫn chỉ đối tượng duy nhất mà Junpei có hứng thú tính dục.

Người phụ nữ tiếp theo Junpei gặp lớn tuổi hơn gã. Nàng ba mươi sáu tuổi. Junpei thì ba mốt. Một người quen của gã vừa mở một nhà hàng nhỏ kiểu Pháp trên một con phố dẫn ra trung tâm Tokyo, và Junpei được mời đến bữa tiệc. Gã diện một chiếc áo sơ-mi Perry Ellis lụa xanh sẫm, khoác áo khoác thể thao mùa hè ăn rơ. Gã đã lên kế hoạch đến gặp người bạn thân trong bữa tiệc, nhưng người bạn này lại hủy kèo vào phút cuối, khiến Junpei không có ai để trò chuyện. Gã đành ngồi đơn độc nhấm nháp một ly vang đỏ lớn tại quầy bar. Ngay lúc gã chuẩn bị định rời đi và bắt đầu quét mắt khắp đám đông tìm chủ quán để chào tạm biệt, một người phụ nữ cao ráo đã tiến đến chỗ gã với ly cocktail màu tím trên tay. Suy nghĩ đầu tiên dấy lên trong Junpei khi gã vừa nhìn thấy nàng: Một cô nàng có dáng điệu thật tuyệt vời!

“Có vài người ở đằng kia đã bảo với tôi rằng ông đây là một nhà văn, phải không nhỉ?”

“Tôi đồ là như vậy, theo lối nào đó,” Junpei trả lời.

“Một nhà văn “theo lối nào đó” ư?”

Junpei gật đầu.

“Ông đã xuất bản bao nhiêu quyển sách rồi?”

“Hai tập truyện ngắn và một cuốn sách tôi dịch. Chẳng có quyển nào bán chạy cả.”

Nàng liếc nhanh gã từ đầu đến chân và mỉm cười với sự thỏa mãn rõ rệt.

“Dù sao đi nữa, ông vẫn là nhà văn thực thụ đầu tiên mà tôi được gặp đấy.”

“Hẳn sẽ làm quý cô đây có đôi chút thất vọng,” Junpei nói. “Một nghệ sĩ dương cầm có thể đàn tặng cô một giai điệu. Một vị họa sĩ cũng có thể vẽ tặng cô. Hay một ảo thuật gia biết biểu diễn ngón nghề kỹ xảo nào đó làm vui lòng người đẹp. Còn mấy tay nhà văn thì chẳng có trò gì để thực hành tại chỗ cả.”

“Ồ, tôi không biết đâu. Có lẽ vì tôi đã thụ cảm được hào quang nghệ sĩ nơi ông chăng?”

“Hào quang nghệ sĩ ư?”, Junpei hỏi lại.

“Một loại hào quang đặc biệt, thứ ánh sáng mà ông không thể tìm được trên những người bình phàm ấy.”

“Sáng nào cạo râu tôi cũng nhìn lom lom vào mặt mình trong gương, nhưng thú thực là tôi chưa bao giờ nhận ra thứ gì kiểu kiểu thế.”

Nàng cười rộ lên và hỏi tiếp, “Thế ông viết thể loại sách gì vậy?”

“Mọi người cũng hay hỏi tôi câu đấy đấy, nhưng truyện của tôi thật sự không phù hợp để xếp vào bất cứ mâm nào cả.”

Nàng miết ngón tay vòng quanh miệng ly cocktail. “Tôi đoán là ông đây chuyên viết tiểu thuyết giả tưởng chăng?”

“Tôi đoán là”, cách cô nói như thể quý cô đang nghi ngờ về những chuỗi thư gửi dây chuyền vậy.”

Nàng lại cười phá lên. “Liệu tôi có thể vinh hạnh được biết quý danh ông chứ?”

“Cô có hay đọc các tạp chí văn học không?”

Nàng bày ra một cái lắc đầu ngắn và dứt khoát.

“Thế thì cô có thể không biết đâu. Vốn tôi cũng chẳng có tiếng tăm gì cho lắm.”

Không cần đợi cho phép, nàng ngồi xuống quầy bar bên cạnh gã, nhấm nháp những gì còn sót lại trong ly coctail, và nói cho gã biết tên nàng: Kirie.

Junpei ước chừng nàng phải cao hơn gã từ hai đến ba phân. Nàng có một làn da rám nắng đậm, mái tóc ngắn và một cái đầu có hình dáng rất đẹp. Nàng khoác trên người một chiếc áo vải lanh màu xanh lục, tay áo xắn đến khuỷu và chân váy loe dài đến đầu gối. Dưới lớp áo khoác là chiếc áo phông đơn giản, đính kèm một chiếc trâm cài ngọc lam tí hon bên cổ áo. Bộ ngực rất vừa vặn. Nàng ăn vận rất có gu, và hầu như chẳng điều gì có thể ảnh hưởng đến cái gu ấy, toàn bộ phục trang của nàng toát lên một vẻ mạnh mẽ và độc lập. Đôi môi nàng đầy đặn, và mỗi khi nàng kết thúc một câu nói, chúng lại trải dài và khẽ nhếch lên. Điều này khiến nàng trở nên sinh động đến kỳ lạ. Ba nếp nhăn song song hiển hiện trên bờ trán rộng của nàng mỗi khi nàng dừng lại để suy nghĩ về điều gì đó; Khi đã nghĩ ra, những nếp nhăn lại biến mất.

Junpei nhận ra mình đã bị nàng cuốn hút. Một thứ gì đó khó xác định nhưng dai dẳng đã làm gã phấn khích, bơm đầy adrenaline vào quả tim gã. Đột nhiên nhận ra cổ họng mình đang khô khốc, gã bèn gọi một chai nước khoáng Perrier từ người phục vụ vừa đi qua. Và vẫn như mọi bận, gã liền tự hỏi mình, liệu nàng có phải là người phụ nữ mang ý nghĩa thật sự đối với gã không? Nàng sẽ là một trong hai người phụ nữ còn lại? Hay sẽ cú đánh bóng số hai của gã? Liệu gã nên để nàng đi mất, hay là bắt lấy ngay cơ hội này?

“Ông vẫn luôn muốn trở thành nhà văn chứ?”, Kirie hỏi gã.

“Hừmmm… Tôi có thể nói là chẳng còn điều gì khác mà tôi muốn trở thành cả.”

“Vậy nên ước mơ của ông đã thành hiện thực rồi.”

“Tôi luôn nghĩ mình muốn trở thành một nhà văn vĩ đại.” Junpei dang hai tay rộng cỡ một sải chân. “Nhưng tôi cho rằng có một khoảng cách siêu to khổng lồ giữa hai chuyện đó.”

“Mọi người phải có điểm bắt đầu chứ. Ông có tương lai của riêng mình ở phía trước, và không thể ngay một cái đã hoàn hảo được.” Rồi nàng hỏi, “Ông bao nhiêu tuổi?”

Việc hơn tuổi gã dường như cũng chẳng làm nàng phiền lòng. Và gã cũng chẳng ngại ngần gì về điều đó. Gã thích những người đàn bà già dặn hơn gái trẻ. Chia tay họ thường đơn giản hơn mấy cô nàng còn non và xanh.

“Cô làm công việc gì?” Gã hỏi.

Đôi môi của nàng tạo thành một đường thẳng hoàn hảo, và lần đầu tiên nàng trở nên nghiêm túc.

“Ông nghĩ tôi làm công việc gì?”

Junpei lắc nhẹ ly của mình làm rượu vang đỏ bên trong xoay đúng một vòng. “Có thể cho tôi chút gợi ý không, người đẹp?”

“Không có gợi ý nào dành cho ông đâu. Có khó đoán quá không? Quan sát và đánh giá là phần của ông đây chứ nhỉ.”

“Không hẳn,” gã đáp. “Những gì một tay nhà văn được cho là phải làm là quan sát, quan sát và quan sát hết lần này đến lần khác, và gượm lại việc đưa ra phán đoán cho đến phút có thể cuối cùng.”

“Đương nhiên rồi”, nàng nói. “Ô kê, vậy thì hãy quan sát và quan sát và quan sát tiếp đi, rồi vận dụng trí tưởng tượng của ông. Điều đó không xung đột với đạo đức nghề nghiệp của ông, nhỉ?”

Junpei ngước mắt lên và nghiên cứu khuôn mặt Kirie với một sự tập trung mới mẻ, hy vọng tìm thấy một dấu hiệu bí mật ở đó. Nàng nhìn thẳng vào mắt gã, và gã cũng nhìn thẳng vào mắt nàng.

Sau một lúc tạm ngừng, gã lên tiếng, “Được rồi, dựa trên những manh mối ít ỏi thì tôi mường tượng ra thế này: Cô là một chuyên gia. Không phải ai cũng có thể làm công việc của cô. Nó đòi hỏi vài thứ chuyên môn đặc biệt.”

“Đúng trọng điểm rồi đấy! Nhưng cụ thể hơn nữa nào!”

“Làm nhạc hả?”

“Không”

“Thiết kế thời trang chăng?”

“Không”

“Quần vợt”

“Lại càng không”, nàng cảm thán.

Junpei lắc đầu. “Hừm, cô có một làn da rám nắng, cơ thể rất săn chắc, tay còn có một chút cơ bắp. Có thể cô đã chơi khá nhiều môn thể thao ngoài trời. Tôi thì tôi không hề nghĩ cô đây là một người lao động ngoài trời. Ở cô không có thứ cảm giác đó.”

Kirie đặt tay lên quầy và lật tay lại, nhìn kỹ chúng. “Ông sắp đi đến đích rồi đấy.”

“Nhưng tôi vẫn chưa cho cô được đáp án chính xác.”

“Việc giữ lại vài bí mật nho nhỏ luôn quan trọng”, Kirie nói. “Tuy nhiên tôi không muốn tước đi niềm vui chuyên nghiệp của ông, quan sát và tưởng tượng ấy… Thế nên tôi sẽ cho ông một gợi ý. Tôi cũng giống như ông vậy.”

“Giống như thế nào?”

“Ý tôi là, nghề nghiệp của tôi chính xác là những gì tôi luôn muốn làm, kể từ khi tôi còn là một cô bé. Y như ông vậy. Tuy nhiên từ vị trí của tôi, nó không hề là một hành trình dễ dàng gì.”

“Càng tốt”, Junpei nói. “Quan trọng đấy chứ. Công việc của cô nên là một hành động xuất phát từ tình yêu chứ không phải chỉ là một cuộc hôn nhân tùy tiện.”

“Một hành động xuất phát từ tình yêu ư,” Kirie nói. Những lời ấy dường như đã gây ấn tượng với nàng. “Quả là một phép ẩn dụ tuyệt vời!”

“Trong lúc đấy, cô có nghĩ rằng tôi có thể đã nghe thấy tên của cô ở đâu đó không?” Junpei hỏi.

“Có lẽ là không đâu,” nàng trả lời, lắc đầu. “Tôi không vang danh đến thế.”

“À vâng, mỗi người đều có điểm xuất phát ở đâu đó cơ mà.”

“Chuẩn”, Kirie cười, nói. Rồi thoắt cái nàng chợt trở nên nghiêm túc. “Tình huống của tôi khác với ông theo kiểu khác. Tôi đã dự kiến ​​sẽ đạt được sự hoàn hảo ngay từ đầu. Không được phép sai sót. Một là ăn cả, hoặc ngã về không. Không lưng chừng. Và cũng không có cơ hội thứ hai.”

“Tôi đồ rằng đây là một gợi ý khác.”

“Cũng có thể.”

Một người phục vụ đang tiến lại gần họ với khay rượu sâm-panh trên tay. Nàng bèn lấy hai ly và đưa một ly cho Junpei.

“Nâng cốc nào,” nàng nói.

“Vì các lĩnh vực chuyên môn được thẩm định của chúng ta,” Junpei lên tiếng.

Cả hai cùng cạn ly.

Nàng đã trải qua đêm ấy trong căn phòng của Junpei. Họ uống rất nhiều rượu vang của nhà hàng tặng, làm tình và ngủ. Khi Junpei tỉnh giấc vào mười giờ sáng hôm sau, nàng đã rời khỏi đó, chỉ để lại một vết lõm như vệt ký ức trên chiếc gối nằm cạnh và dòng ghi chú viết tay: “Em đi làm đây. Nếu thích thì gọi cho em.” kèm theo số điện thoại.

Gã gọi cho nàng, và họ dùng bữa tối ở một nhà hàng vào thứ bảy tuần sau. Cả hai đã uống chút rượu, ái ân trong phòng Junpei, và đi ngủ. Một lần nữa vào sáng hôm sau nàng lại rời đi. Hôm đó là Chủ Nhật, nhưng chú thích nàng viết vẫn là: “Phải đi làm.”

Junpei vẫn không biết Kirie làm công việc gì, nhưng chắc chắn là bắt đầu vào sáng sớm. Và thi thoảng nàng lại làm việc vào Chủ Nhật.

Cả hai không bao giờ thiếu chuyện để nói. Nàng sở hữu đầu óc nhạy bén và am hiểu nhiều chủ đề. Nàng thích đọc sách, nhưng thường thích những cuốn sách khác ngoài tiểu thuyết viễn tưởng như tiểu sử danh nhân, lịch sử, tâm lý học, và khoa học phổ biến chẳng hạn, và ghi nhớ một lượng thông tin đáng kinh ngạc. Có lần, Junpei còn phải ngã ngửa trước kiến ​​thức chi tiết của nàng về lịch sử nhà ở tiền chế.

“Nhà ở tiền chế? Công việc của em có liên quan đến xây dựng hoặc kiến ​​trúc à?”

“Không,” nàng đáp. “Em chỉ có xu hướng bị thu hút bởi các chủ đề thực tế. Thế thôi.”

Thế nhưng nàng đã đọc hai tập truyện ngắn mà Junpei đã xuất bản và thấy chúng rất tuyệt. “Hay hơn em tưởng đấy,” nàng nói với gã. “Nói thật với anh là em đã lo sốt vó lên. Sẽ thế nào nếu em đọc truyện anh viết và thấy chán bỏ xừ nhỉ? Em sẽ phải rặn ra những nhận xét thế nào đây? Nhưng giờ thì không phải lo nữa rồi. Em thích lắm.”

“Anh rất mừng khi nghe em nói thế,” Junpei đáp lại, gần như ngay lập tức. Gã cũng có nỗi lo lắng tương tự khi đưa sách cho nàng theo lời nàng đề nghị.

“Em không nói điều này chỉ để làm anh cảm thấy thoải mái đâu,” Kirie nói, “Nhưng anh có vài thứ gì đó rất đặc biệt, và yếu tố đặc biệt đấy có thể giúp anh trở thành một nhà văn xuất sắc. Những truyện ngắn anh viết cực kỳ sống động với lối văn phong bay bổng, nhưng cái chính là những gì anh viết rất cân bằng. Đối với em, đó luôn là điều quan trọng nhất trong âm nhạc, tiểu thuyết, và cả trong hội họa nữa. Bất cứ khi nào em gặp phải một tác phẩm hoặc một màn trình diễn nào đấy thiếu cân bằng, em sẽ phát ốm lên như say tàu xe ấy. Đó có lẽ là lý do mà em không đi đến các buổi hòa nhạc và hầu như chẳng đọc bất cứ quyển tiểu thuyết nào cả.”

“Vì em không muốn đụng phải những thứ bất-cân-bằng?”

“Chuẩn rồi.”

“Nghe có vẻ hơi xa vời với anh.”

“Em thuộc cung Thiên Bình. Em không tài nào chịu nổi mấy thứ mất cân xứng. Không, nó cũng không quá đến mức mà em không chịu được, nhưng mà…”

Nàng ngậm miệng lại để tìm kiếm những từ thích hợp, nhưng không thể tìm ra, thay vào đó là những tiếng thở dài ngập ngừng. “À, thôi, đừng bận tâm,” nàng tiếp lời. “Em chỉ muốn nói rằng em tin là một ngày nào đó anh sẽ viết tiểu thuyết. Và khi anh làm điều đó, anh sẽ trở thành một nhà văn có sức nặng hơn. Có thể sẽ mất một khoảng thời gian đấy, nhưng em cảm thấy vậy.”

“Anh là kẻ sinh ra chỉ để viết truyện ngắn,” giọng Junpei khô khốc. “Anh không hợp để viết tiểu thuyết đâu.”

Gã không nói gì thêm về chủ đề này, chỉ lặng lẽ nằm nghe tiếng máy điều hòa. Thực tế, gã đã nhiều lần cố gắng viết một cuốn tiểu thuyết, nhưng luôn bị sa lầy giữa chừng. Đơn giản là gã không thể duy trì được sự tập trung cần thiết để viết một câu chuyện trong một khoảng thời gian dài. Gã từng bắt đầu tin rằng mình sẽ viết một cái gì đó đáng kinh ngạc. Phần lớn câu chuyện sẽ tự tuôn chảy ra. Nhưng càng đi xa hơn, năng lượng và sự rực rỡ của nó lại từ từ mất đi một cách không thể phủ nhận, cho đến khi nó hoàn toàn bốc hơi, như một động cơ bị ngừng hoạt động.

Hai người nằm dài trên giường. Đang độ vào thu, cả hai đều trần truồng sau một cơn hoan ái nồng nàn kéo dài. Bờ vai Kirie ép sát vào cơ thể Junpei, đang vòng tay ôm lấy nàng. Hai ly vang trắng vẫn đứng yên trên chiếc tủ đầu giường.

“Junpei”

“Ừm hửm?”

“Có phải anh đang yêu một người đàn bà nào khác không? Một người anh không thể nào quên được ấy.”

“Phải,” Junpei thừa nhận. “Em biết sao?”

“Đương nhiên rồi,” nàng đáp. “Phụ nữ rất nhạy bén với những điều như vậy. Anh không thể gặp cô nàng đó nữa à?”

“Nhiều vấn đề lắm.”

“Và “những vấn đề” đó không có khả năng giải quyết ư?”

“Không.” Junpei trả lời với một cái lắc đầu chóng vánh.

Kirie uống một chút rượu. “Em không có ai như thế cả,” nàng nói, gần như nín thở. “Em mến anh nhiều lắm, Junpei. Anh khiến cho em cảm thấy rung động. Mỗi khi chúng ta ở bên nhau như thế này, em lại thấy vô cùng hạnh phúc và yên bình. Nhưng như thế không đồng nghĩa với việc em muốn có một mối quan hệ nghiêm túc với anh. Làm cách nào để khiến anh có thể cảm nhận nó đây? Sự vỗ về ư?”

Junpei lướt ngón tay qua tóc nàng. Thay vì trả lời câu hỏi của nàng, gã lại hỏi một câu của mình. “Sao lại thế?”

“Vì sao em lại không muốn ở bên anh á?”

“Ừm hứm”

“Nó khiến anh phiền lòng sao?”

“Một tí tẹo tèo teo.”

“Em không thể xây dựng mối quan hệ nghiêm túc với bất kỳ ai được. Đâu chỉ riêng anh, mà với-ai-cũng-thế,” nàng đáp. “Em muốn tập trung hoàn toàn vào những gì em đang làm hiện giờ. Nếu em sống với ai đó, nếu em có mối quan hệ tình cảm sâu sắc với ai đó thì em không thể làm công việc đó được.”

Junpei suy nghĩ một chốc. “Ý em là em không muốn mình bị phân tâm?”

“Phải.”

“Nếu em bị phân tâm, em có thể mất thăng bằng và điều đó chứng tỏ là có trở ngại cho sự nghiệp của em?”

“Chính xác.” Nàng gật đầu.

“Nhưng em vẫn chưa nói cho anh biết công việc ấy là gì?”

“Đoán xem.”

“Em là một cô nàng siêu đạo chích.”

“Không đâu,” Kirie đáp lại với vẻ thích thú. “Thật là một suy đoán gợi cảm! Nhưng chả có siêu đạo chích nào đi mần ăn vào sáng bảnh mắt tinh mơ cả!”

“Vậy thì em là một tên sát thủ chuyên nghiệp.”

“Nữ sát thủ,” nàng chỉnh lại lời Junpei. “Cũng không trúng luôn. Nhưng sao anh cứ nảy ra những ý tưởng hâm dở thế hử?”

“Vậy tất cả những gì em làm là hoàn toàn hợp pháp?”

“Hoàn toàn hợp pháp.”

“Đặc vụ tay trong?”

“Không… Nhưng thôi được rồi, tạm dừng cho hôm nay. Kể cho em nghe về việc viết lách của anh đi. Dạo này anh có viết gì không?”

“Có đấy, một truyện ngắn.”

“Là loại truyện gì thế?”

“Anh đã viết xong đâu.”

“Thế thì kể cho em nghe những gì diễn ra từ đầu truyện đến hiện thời cũng được.”

Junpei rơi vào trầm tư. Gã đã đặt ra một quy tắc là không kể với bất cứ ai về công việc của mình đang làm. Nếu gã biến câu chuyện của mình thành lời nói, và những lời đó vừa rời khỏi miệng gã, thì gã sợ điều quan trọng nhất sẽ bốc hơi như sương sớm. Những sắc thái ý nghĩa tinh tế sẽ bị san phẳng thành một thứ bề mặt nông cạn. Bí mật sẽ không còn là bí mật. Nhưng khi ở trên chiếc giường này, và lướt những ngón tay qua mái tóc ngắn của Kirie, Junpei cảm thấy chẳng sao cả nếu kể nó với nàng. Rốt cuộc, gã đã tạm dừng câu chuyện vì chưa biết cách hoàn thành nó ra sao. Mấy ngày nay gã vẫn chưa viết thêm được chữ gì.

“Đó là một người thứ ba, và nhân vật chính là một phụ nữ,” gã bắt đầu kể. “Cô ấy khoảng chớm ba mươi, là một bác sĩ nội khoa tập sự và công tác tại một bệnh viện lớn. Cô còn độc thân nhưng đang dan díu với một bác sĩ phẫu thuật khác ở cùng bệnh viện. Tay này đã quá tứ tuần, cũng có vợ con cả rồi.”

Kirie mất một lúc để mường tượng ra nhân vật nữ chính. “Cô nàng có hấp dẫn không?”

“Anh nghĩ là có. Khá hấp dẫn,” Junpei đáp. “Nhưng không hấp dẫn bằng em đâu.”

Kirie hôn vào cổ Junpei. “Câu trả lời này chuẩn không cần chỉnh đấy!” nàng nói.

“Nhưng rồi cô nàng đã có một kỳ nghỉ và tự mình đi du lịch một chuyến vào mùa thu. Cô lưu lại một khu nghỉ mát suối nước nóng nhỏ trên núi và đi dạo dọc theo bờ suối. Vốn là một người ưa quan sát chim, và đặc biệt thích ngắm nhìn bọn bói cá, nên cô ta đã bước xuống lòng con suối cạn và nhận thấy một hòn đá kỳ lạ. Nó có màu đen pha chút đỏ, mịn màng và có hình dạng quen thuộc. Cô ta lập tức nhận ra ngay rằng nó có hình dạng giống quả thận. Ý anh là, dù sao cô nàng vốn cũng là một bác sĩ mà. Tất cả mọi đặc điểm của hòn đá đều giống như một quả thận thực sự từ kích thước đến độ dày.”

“Nên cô ấy đã lượm nó lên và mang về nhà.”

“Đúng rồi,” Junpei đồng ý. “Cô ta đã mang hòn đá đến văn phòng của cô ở bệnh viện và tận dụng nó như một cái chặn giấy. Hòn đá vốn có kích thước và trọng lượng phù hợp mà.”

“Và nó có hình dáng hoàn hảo cho một bệnh viện.”

“Ừ,” Junpei nói. “Nhưng vài ngày sau, tự nhiên cô thấy một hiện tượng lạ.”

Kirie im lặng chờ đợi gã kể tiếp câu chuyện. Junpei đang dừng lại như thể cố tình trêu chọc người nghe của mình, nhưng thực tế điều này không hề có chủ ý. Gã vẫn chưa viết phần còn lại của câu chuyện. Đây là điểm mà gã đã dừng lại. Đứng giữa ngã tư đường dang dở này, gã bèn tham khảo môi trường xung quanh và vận dụng đầu óc hết sức có thể. Rồi gã cố nghĩ cách để tiếp tục câu chuyện.

“Một sáng nọ, cô nhìn thấy hòn đá đã ở một nơi khác. Cô vốn là một người rất có quy củ, thế nên cô vẫn luôn để nó ở đúng một vị trí trên bàn khi về nhà vào buổi tối, nhưng cứ vào buổi sáng, là cô lại thấy nó lúc thì chiễm chệ trên đệm ghế xoay, hoặc lúc lại ở sát bình hoa, và có khi là nằm trên sàn nhà. Suy nghĩ đầu tiên nảy ra là trí nhớ của cô đang chơi khăm cô một vố. Cánh cửa văn phòng của cô đã khóa kỹ, và không ai có thể vào được. Tất nhiên, người canh gác ban đêm có chìa khóa, nhưng ông ta đã làm việc ở bệnh viện trong nhiều năm và ông sẽ không bao giờ tự tiện đi vào văn phòng của ai. Vả lại, cái chính là gì mà ông ta phải xông vào văn phòng cô mỗi đêm chỉ để thay đổi vị trí của một viên đá cô dùng làm chặn giấy? Văn phòng cũng không có gì đổi khác, không thiếu thứ gì và không hề có món gì bị đánh tráo. Điều duy nhất thay đổi là vị trí của hòn đá. Cô rối hết cả lên. Điều gì đang xảy ra cơ chứ? Sao có thể nghĩ rằng tự hòn đá đã di chuyển trong đêm?”

“Quả thận đá tự có lý do riêng để hành động theo những gì nó đã làm.” Kirie nói với sự quả quyết đơn thuần.

“Là kiểu lý do gì mà một quả thận đá có thể có?”

“Nó muốn khuấy động cô ả lên. Từng chút, từng chút một. Trong một khoảng thời gian dài chứ sao.”

“Được rồi, thế thì tại sao nó lại muốn khuấy động cô ấy?”

“Sao em biết,” Kirie đáp. Rồi với một tiếng cười khúc khích, nàng nói thêm, “Có khi nó muốn làm rung chuyển thế giới của cô ả.”

“Đó là trò chơi chữ dẩm hồn nhất anh từng nghe đấy,” Junpei rên rỉ.

(Nguyên văn Murakami dùng là “Rock her world”. Rock vừa có nghĩa là “Khuấy động; rung chuyển; gây bối rối” và cũng có nghĩa là “Đá” – ND)

“Phải rồi, anh là tác giả cơ mà. Không phải anh mới là người quyết định à?”

Junpei cau mày. Gã cảm thấy một cơn nhói nhẹ phía sau thái dương vì đã tập trung hết mức. Có lẽ gã đã uống quá nhiều rượu. “Những ý tưởng không hề đến cùng lúc đâu,” gã nói. “Cốt truyện của anh sẽ không được tiếp tục được trừ khi anh thực sự ngồi ở bàn và chuyển động tay, đặt câu. Tuy nhiên, khi kể nó ra thế này, anh bắt đầu cảm thấy như thể phần còn lại của câu chuyện sẽ tự động được giải quyết.”

“Em sẽ đợi,” Nàng với lấy ly của mình và nhấp một ngụm rượu. “Nhưng câu chuyện đang trở nên thú vị quá. Em muốn biết chuyện gì xảy ra với quả thận đá.”

Nàng xoay người về hướng gã và tựa bộ ngực đầy đặn vào cạnh người gã. Hạ giọng, như để chia sẻ một điều bí mật, nàng nói, “Anh biết không, Junpei, mọi thứ trong đời đều có lý do, khiến người ta làm những chuyện người ta đã làm.” Junpei đã ngủ thiếp đi nên không trả lời. Trong không khí ban đêm, câu nói của nàng mất đi cấu trúc bình thường, dường như nó tan loãng vào mùi rượu vang trước khi chạm đến những ngõ ngách sâu thẳm trong ý thức của gã. “Ví dụ như, gió có lý do của gió. Chúng ta chỉ không chú ý đến gió khi chúng ta sống và làm việc hằng ngày. Nhưng đến một lúc nào đó chúng ta sẽ phải chú ý đến nó. Gió bao trùm anh với một mục đích cố định, và nó lay chuyển anh. Gió biết tất cả những gì bên trong tâm hồn anh. Và không chỉ riêng có gió mà thôi. Tất cả mọi thứ, kể cả đá. Chúng biết chúng ta rất rõ ràng. Từ trên xuống dưới. Điều này chỉ xảy đến với chúng ta vào một khoảng thời gian nhất định. Và tất cả những điều chúng ta có thể làm là tuân theo ý muốn của chúng. Khi chúng ta chấp nhận chúng, chúng ta sẽ tồn tại, và trở nên sâu sắc hơn.”

Trong năm ngày tiếp theo, Junpei hầu như không rời khỏi nhà; gã bám lấy bàn làm việc, viết phần còn lại của câu chuyện về quả thận đá. Như Kirie đã dự đoán, hòn đá tiếp tục lặng lẽ khuấy động cô bác sĩ, từng chút một, nhưng dứt khoát. Cô đang bận lao vào một cuộc mây mưa vội vã với người tình trong phòng khách sạn không tên vào một buổi tối. Khi cô lén lút vòng tay qua lưng hắn và cảm thấy hình dạng của một quả thận. Một điều gì đó mách bảo với cô rằng quả thận đá của cô đang ẩn nấp trong đó. Thận là nguồn cung cấp thông tin bí mật rằng bản thân cô đã chôn vùi trong cơ thể gã tình nhân của mình. Bên dưới những ngón tay cô, nó vặn vẹo như một con côn trùng, truyền đạt thông điệp cho cô. Cô đang trò chuyện với quả thận khôn ngoan biết trao đổi. Cô có thể cảm nhận được sự nhầy nhụa của nó trên lòng bàn tay.

Nữ bác sĩ dần dần quen với sự tồn tại của quả thận đá biết thay đổi vị trí mỗi đêm. Cô trở nên chấp nhận nó như một lẽ tự nhiên, không còn ngạc nhiên khi thấy nó đã dịch chuyển. Mỗi buổi sáng khi đến bệnh viện, cô tìm lấy hòn đá, nhặt nó lên và đặt nó lại bàn làm việc. Điều này đơn giản đã trở thành một phần thói quen của cô. Chừng nào cô còn ở trong phòng, thì chừng nấy hòn đá sẽ không di chuyển. Nó lặng lẽ nằm ở một góc, như một chú mèo ngoan ngoãn ngủ trưa dưới ánh mặt trời. Chỉ tỉnh thức và bắt đầu nhảy nhót sau khi cô rời khỏi văn phòng và khóa cửa mà thôi.

Bất cứ khi nào cô có một khoảnh khắc thư giãn ở bàn làm việc, cô lại vươn tay ra và vuốt ve mặt đá nhẵn bóng. Sau một thời gian, cô càng khó rời mắt khỏi hòn đá; như thể cô đã bị thôi miên. Cô dần mất hứng thú với bất cứ điều gì khác. Cô không còn đọc sách được nữa. Và dừng việc đi đến phòng tập thể dục. Nói chuyện với đồng nghiệp cũng làm cô phát chán ốm. Cô trở nên thờ ơ với việc chải chuốt của chính mình. Cô mất cảm giác ngon miệng. Ngay cả cái ôm của người tình cũng trở thành một thứ gây khó chịu. Khi không có ai khác ở xung quanh, cô nói chuyện với hòn đá bằng giọng trầm thấp, cách người cô đơn trò chuyện với một con chó con mèo, và cô lắng nghe những lời trong thinh lặng mà hòn đá nói với cô. Giờ đây quả thận đá hắc ám đang điều khiển phần lớn cuộc đời cô.

Chắc chắn rằng hòn đá không chỉ là một sự cứu rỗi đến với cô từ sự thiếu thốn: Junpei nhận ra điều này khi câu chuyện của gã tiến triển. Mấu chốt là một cái gì đó bên trong bản thân cô. Một cái gì đó bên trong cô đang kích hoạt quả thận đá và thúc giục cô thực hiện nhiều hành động. Nó liên tục gửi tín hiệu của cô cho mục đích ấy, thứ tín hiệu nằm sâu bên trong hòn đá có hình quả thận vẫn di chuyển mỗi đêm.

Trong khi viết, Junpei nghĩ về Kirie. Gã cảm nhận được rằng nàng (hoặc một điều gì đó bên trong nàng) đang thúc đẩy câu chuyện; gã chưa bao giờ có ý định viết những thứ thoát ly khỏi hiện thực. Những gì Junpei đã mơ hồ mường tượng ra trước đó là một câu chuyện tâm lý, yên tĩnh hơn. Trong câu chuyện đó, chẳng có hòn đá nào tự mình di chuyển cả.

Junpei tưởng tượng ra cảnh nàng bác sĩ sẽ cắt đứt quan hệ của cô với tay bác sĩ phẫu thuật đã có vợ kia. Cô thậm chí còn có thể trở nên ghét hắn. Đây có lẽ là thứ mà cô đã luôn tìm kiếm, trong vô thức.

Một khi phần còn lại của câu chuyện đã được hiển lộ rõ ràng trước mắt gã, thì rất dễ để viết ra. Vừa nghe các ca khúc của Mahler với âm lượng thấp, Junpei vừa ngồi trước máy tính của mình và viết đoạn kết với tốc độ tối đa.

Nàng bác sĩ đưa ra quyết định chia tay người tình. “Em không thể gặp ông nữa,” cô nói với hắn. “Ít ra em phải giải thích rõ ràng chuyện này đã chứ?” hắn chất vấn. “Không,” cô nói với người tình một cách dứt khoát, “Đó là điều không thể.” Vào ngày nghỉ tiếp theo, cô lên phà ở cảng Tokyo và từ trên boong tàu, cô ném quả thận đá xuống biển. Hòn đá chìm xuống đáy đại dương, lao thẳng xuống lõi trái đất. Cô đã quyết tâm bắt đầu lại cuộc sống của mình lần nữa. Sau khi ném hòn đá đi, cô thấy một cảm giác nhẹ nhõm tươi mới.

Ấy thế nhưng vào ngày hôm sau, khi cô đến bệnh viện, hòn đá vẫn ở trên bàn, lặng lẽ đợi cô. Nó nằm chính xác nơi nó vẫn luôn, với sắc tối và trong hình dáng quả thận như mọi khi.

Ngay sau khi viết xong câu chuyện, Junpei đã gọi cho Kirie. Có lẽ nàng sẽ muốn đọc tác phẩm vừa hoàn thành, mà theo một nghĩa nào đó, nàng đã truyền cảm hứng cho gã để viết. Tuy nhiên, cuộc gọi của gã không có ai bắt máy. “Số máy quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được”, một giọng nói được ghi âm sẵn vang lên. “Xin vui lòng kiểm tra số điện thoại và gọi lại sau”. Junpei đã thử hết lần này đến lần khác. Nhưng kết quả vẫn y hệt như nhau. Có lẽ điện thoại của nàng gặp trục trặc kỹ thuật, gã nghĩ.

Junpei dính chặt ở nhà, chờ đợi tin nhắn từ Kirie, nhưng không có gì gửi đến. Một tháng trôi qua. Một tháng trở thành hai, và hai trở thành ba. Giao mùa sang đông, và một năm mới bắt đầu. Câu chuyện của gã đã chiễm chệ nằm trong số tháng Hai của một tạp chí văn học. Một mẩu quảng cáo trên báo dành cho tạp chí liệt kê tên Junpei và cả tựa đề, “Quả thận đá nhảy nhót mỗi ngày”. Kirie có thể xem được mẩu quảng cáo này, rồi mua tạp chí, đọc truyện ngắn và gọi điện cho gã để chia sẻ ấn tượng của nàng, gã hy vọng là thế. Nhưng tất cả những gì bao trùm lấy gã là những lớp im lặng mới.

Nỗi đau mà Junpei cảm thấy khi Kirie biến mất khỏi cuộc đời gã dữ dội hơn nhiều so với những gì gã có thể tưởng tượng. Trong một ngày gã sẽ nghĩ nhiều lần rằng giá như nàng có ở đây! Gã nhớ nụ cười của nàng, gã nhớ những lời định hình trên đôi môi nàng, gã nhớ da diết những lần chạm vào làn da nàng khi họ ôm siết lấy nhau. Gã không còn cảm nhận được sự thư giãn từ thứ âm nhạc yêu thích của mình, kể cả những quyển sách mới từ các tác gia mà gã mến mộ. Mọi thứ đều có cảm giác xa cách, ly khai khỏi gã. Kirie có thể là người phụ nữ số 2, Junpei nghĩ như vậy.

Cuộc gặp gỡ tiếp theo của Junpei với Kirie diễn ra vào một ngày đầu mùa xuân, mặc dù thực sự khó thể gọi đó là cuộc chạm trán.

Lúc ấy gã đang ở trong một chiếc taxi bị kẹt xe. Người lái xe đang nghe đài FM. Giọng Kirie vang lên từ radio. Lúc đầu, Junpei chưa hề nhận ra rằng gã đang nghe thấy tiếng của Kirie. Gã chỉ nghĩ đơn giản là một giọng nói nào đó giống nàng. Nhưng càng nghe, gã lại càng thấy giống hệt nàng, lối nàng trò chuyện với một ngữ điệu trôi chảy, cùng một phong cách thoải mái, cách nàng đặc biệt dừng lại giữa những suy tư.

Junpei yêu cầu tài xế tăng âm lượng.

“Chắc chắn rồi, thưa ông,” bác tài nói.

Kirie đang được một nữ phát thanh viên phỏng vấn. “Thế nên bạn đã thích những nơi có độ cao từ khi còn là một cô bé ư?” phát thanh viên hỏi.

“Vâng,” Kirie, hay một người phụ nữ nào đó có giọng nói giống hệt nàng, đáp. “Theo những gì tôi có thể nhớ rõ, tôi rất thích được lên trên cao. Càng lên cao, tôi càng cảm thấy yên bình. Tôi vẫn luôn kỳ nèo bố mẹ đưa tôi đến những tòa nhà cao tầng. Đúng là một sinh vật nhỏ kỳ lạ,” nàng vừa cười vừa nói.

“Tôi cho rằng đó là cách bạn bắt đầu công việc hiện tại của mình.”

“Trước tiên tôi làm việc như một nhà phân tích trong một công ty chứng khoán. Nhưng tôi biết ngay rằng nó không hề đúng với tôi. Tôi rời công ty sau ba năm, và việc đầu tiên tôi làm là kiếm ngay một công việc lau quét cửa sổ trong các tòa nhà cao tầng. Điều tôi thực sự muốn là trở thành một người thợ sửa gác chuông, nhưng đó là thế giới riêng của cánh trượng phu và họ sẽ không cho phép phụ nữ tham gia một cách dễ dàng.”

“Từ một nhà phân tích chứng khoán đến người lau rửa cửa sổ, đó là một sự thay đổi gây sốc đấy!”

“Nói thật nhé, rửa cửa sổ thì bớt căng thẳng hơn nhiều đối với tôi. Nếu một thứ gì đó sắp rơi xuống, thì đó chỉ là tôi chứ không phải giá cổ phiếu.” Nàng lại cười.

“Khi nói “người lau cửa sổ”, ý bạn là mấy người được hạ xuống bằng bệ đỡ bên hông các tòa nhà?”

“Đúng vậy. Tất nhiên là họ sẽ cung cấp cho bạn một sợi dây an toàn, nhưng có một số vị trí bạn không thể chạm đến được nếu không tháo dây an toàn ra. Chuyện đó cũng không quấy rầy gì được tôi cả. Dù tôi có lên cao đến đâu, tôi cũng không bao giờ sợ hãi, và điều đó khiến tôi trở thành một người lao động rất có giá trị.”

“Tôi nghĩ là bạn thích đi leo núi?”

“Tôi không có hứng thú với núi non gì mới lạ chứ. Tôi cũng đã cố gắng leo lên một vài lần, nhưng chả có cảm giác gì. Điều duy nhất khiến tôi quan tâm là những cấu trúc nhân tạo mọc thẳng lên khỏi mặt đất. Đừng hỏi tại sao nhé.”

“Nên là bây giờ bạn đang điều hành một công ty rửa cửa sổ chuyên về các tòa nhà cao tầng ở khu vực đô thị Tokyo ư?”

“Chính xác,” nàng đáp. “Tôi đã dành dụm và bắt đầu mở công ty nhỏ của mình khoảng sáu năm trước. Đương nhiên tôi thường ra ngoài làm với đội của mình, nhưng về cơ bản bây giờ tôi là chủ sở hữu. Tôi không phải nhận đơn đặt hàng từ bất kỳ ai và tôi có thể tạo ra các quy tắc của riêng mình.”

“Nghĩa là bạn có thể tháo dây an toàn ra bất cứ lúc nào bạn muốn nhỉ?”

“Phải.” Lại một tiếng cười rộ khác.

“Bạn thực sự thích những nơi cao, phải không?”

“Đúng vậy. Tôi cảm thấy nó như một lời mời gọi tôi hãy lên cao, cao hơn nữa. Tôi không thể tưởng tượng ra được một công việc nào khác. Công việc của bạn nên là một hành động xuất phát từ tình yêu chứ không phải chỉ là một cuộc hôn nhân tùy tiện.”

“Bây giờ là thời gian dành cho một bài hát,” phát thanh viên nói. phát thanh viên nói. “James Taylor với “Up on the roof”. Sau đó chúng ta sẽ trao đổi nhiều hơn về việc đi thăng bằng trên dây.”

Trong khi bài hát được phát, Junpei nghiêng người qua ghế trước và hỏi bác tài,

“Người phụ nữ này làm gì thế?”

“Cô ta giăng dây thừng giữa các tòa nhà cao tầng và đi ngang qua chúng,” bác tài giải thích. “Với một cây sào dài trong tay để giữ thăng bằng. Là một kiểu nghệ sĩ biểu diễn ấy mà. Tôi đoán cô nàng cảm thấy kích thích khi làm thế. Tôi thì tôi chỉ hãi nhất khi đứng trong thang máy bằng kính thôi.”

“Đó là nghề nghiệp của cô ấy sao?” Junpei hỏi. Gã nhận thấy giọng mình khô khốc và sức nặng đã biến mất. Nghe như giọng người khác.

“Vâng. Tôi đoán cô ta có được một loạt các nhà tài trợ và tổ chức một buổi biểu diễn. Cô ta chỉ biểu diễn một lần tại một số nhà thờ nổi tiếng ở Đức. Cổ nói rằng cổ muốn làm điều đó trên các tòa nhà cao hơn nhưng không được cấp phép. Vì nếu lên cao hơn thì sẽ không an toàn nữa. Tất nhiên, cô nàng có thể kiếm sống theo cách đó, nên ông đã nghe cô ta nói rằng cổ sở hữu một công ty lau rửa cửa sổ đấy thôi. Một cô nàng kỳ quặc!”

“Điều tuyệt vời nhất là khi bạn lên trên đó, bạn thay đổi để sinh tồn,” Kirie nói với người phỏng vấn. “Bạn phải thay đổi hoặc bạn không thể sống sót. Khi tôi lên đến một nơi cao, chỉ còn tôi và gió. Không có gì khác. Gió bao trùm lấy tôi, lay tôi dậy. Gió hiểu tôi là ai. Đồng thời, tôi hiểu gió. Chúng tôi chấp nhận nhau và chúng tôi quyết định tiếp tục sống cùng nhau. Đó là khoảnh khắc tôi yêu hơn bất cứ điều gì. Không, tôi không sợ. Khi tôi đặt chân lên nơi cao và hoàn toàn rơi vào trạng thái tập trung đó, mọi nỗi sợ hãi tan biến.”

Nàng nói với vẻ đảm bảo tuyệt đối. Junpei không rõ người phỏng vấn có hiểu nàng đang nói gì không. Khi cuộc phỏng vấn kết thúc, Junpei đề nghị dừng chiếc taxi lại và bước ra ngoài, đi hết quãng đường còn lại tới điểm đến. Thỉnh thoảng gã sẽ ngước nhìn lên một tòa nhà cao tầng và ngắm những đám mây lờ lững trôi qua. Không ai có thể xen ngang giữa nàng và gió, gã nhận ra điều đó, và gã nhận thấy một cơn ghen tuông dữ dội. Nhưng ghen với điều gì cơ chứ? Cơn gió ư? Ai lại đi ghen với gió?

Junpei đợi thêm vài tháng nữa để Kirie liên lạc với gã. Gã muốn gặp lại nàng và nói chuyện với nàng về rất nhiều điều, kể cả viên đá hình quả thận. Nhưng cuộc gọi không bao giờ đến, và cuộc gọi của gã dành cho nàng cũng không bao giờ có thể hoàn thành. Khi mùa hè đến, gã đành bỏ cuộc. Nàng rõ ràng không có ý định gặp lại gã. Và thế là mối quan hệ ấy đã kết thúc một cách tĩnh lặng, không có sự bất hòa hay tiếng cãi vã cào cấu nào, chính xác là cách mà gã đã kết thúc quan hệ với rất nhiều phụ nữ khác. Đến một lúc nào đó, các cuộc gọi sẽ thôi và mọi thứ kết thúc một cách thật lặng lẽ, tự nhiên.

Mình có nên thêm nàng vào số đếm ngược? Có phải nàng là một trong ba người phụ nữ có ý nghĩa thực sự với mình? Junpei đau đớn vì câu hỏi sau nhiều lần không thể đưa ra kết luận. Mình sẽ đợi thêm sáu tháng nữa, gã nghĩ. Sau đó mình sẽ quyết định.

Trong sáu tháng đó, gã đã viết rất tập trung và sáng tác rất nhiều truyện ngắn. Khi ngồi vào bàn trau chuốt một câu chuyện, gã sẽ nghĩ, Kirie có lẽ đang ở một nơi cao với gió vào lúc này. Mình đang ở đây, một mình ở bàn viết truyện, trong khi nàng đơn độc ở trên đó, không có dây an toàn. Khi nàng bước vào trạng thái tập trung đó, mọi nỗi sợ hãi đều tan thành mây khói: chỉ có nàng và gió. Junpei thường sẽ nhớ lại những lời của nàng và nhận ra rằng gã đã đến để cảm nhận điều gì đó thật đặc biệt đối với Kirie, điều mà gã chưa bao giờ cảm thấy với người phụ nữ khác. Đó là một cảm xúc sâu sắc, với những đường nét rõ ràng và có sức nặng thật sự. Gã vẫn không chắc nên gọi cảm xúc này là gì. Ít nhất, đó là một cảm giác không thể đổi lấy bất cứ thứ gì khác. Dù cho gã không bao giờ gặp lại Kirie đi chăng nữa, cảm giác này sẽ ở lại với gã mãi mãi. Ở đâu đó trong cơ thể của gã, có lẽ sâu trong tận xương tủy, gã vẫn sẽ tiếp tục cảm thấy sự thiếu vắng của nàng.

Khi sắp hết năm, Junpei đã quyết định. Gã sẽ coi nàng là số 2. Nàng là một trong những người phụ nữ có ý nghĩa thực sự với gã. Cú đập bóng số 2. Chỉ còn lại một người.

Nhưng gã không còn sợ nữa. Những con số không phải là điều quan trọng, gã tự nhủ. Việc đếm ngược hoàn toàn vô nghĩa. Bây giờ gã đã biết: điều quan trọng nhất là quyết định sâu trong tận trái tim mình để chấp nhận hoàn toàn một người khác. Khi làm điều đó, sẽ luôn luôn là lần đầu tiên và lần cuối cùng.

Vào một buổi sáng, nữ bác sĩ nhận ra quả thận đá sẫm màu đã biến mất khỏi bàn làm việc của mình. Và cô biết rõ: nó sẽ không bao giờ quay trở lại.

Hết.

Truyện ngắn Quả thận đá nhảy nhót mỗi ngày (Hibi idō suru jinzō no katachi wo shita ishi) được in trong tuyển tập truyện ngắn Hợp tuyển bí ẩn Tokyo (Tokyo Kitanshu) phát hành năm 2005.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 8: Chương 6

Published

on

Người phụ nữ bước vào phòng tắm và khép cửa lại đằng sau cô. Tiếng vòi sen theo ngay sau đó.

Chuột cố gắng kiềm chế cảm xúc của mình. Hắn rướn người khỏi mớ chăn ga, vồ lấy một điếu thuốc đặt lên môi. Nhưng bật lửa của hắn không có trên bàn hay trong túi quần. Thậm chí hắn cũng chẳng có một que diêm nào. Hắn mò mẫm trong túi xách của người phụ nữ, nhưng cũng chẳng gặp may ở đó. Bỏ cuộc, hắn bật đèn và lục tìm hết các ngăn kéo bàn làm việc cho đến khi lật thấy một hộp diêm cũ có tên của nhà hàng nào đó trên bao bì. Hắn châm thuốc.

Vớ và đồ lót của cô ấy được gấp cẩn thận và xếp trên một chiếc ghế mây của hắn, chiếc đầm màu mù tạt vàng may đo trải lên lưng ghế. Trên bàn đầu giường là chiếc đồng hồ tí xíu và chiếc túi xách hiệu La Bagagerie, không mới nữa nhưng vẫn còn tốt.

Chuột chìm người xuống chiếc ghế đối diện và nhìn chăm ra cửa sổ.

Từ chỗ tọa cao trên dốc núi kia, Chuột có thể thấy các dấu hiệu của hoạt động con người rải rác ở sườn đồi bên dưới. Đôi lúc hắn đứng đó suốt nhiều giờ, hai tay chống hông, tập trung vào quang cảnh bên dưới hệt như một gôn thủ đứng ở đỉnh của một sân gôn nghiêng xuống. Con dốc xuôi nhẹ một góc thoai thoải, tụ lại với những ánh đèn rải rác từ những ngôi nhà. Có những lùm cây sẫm tối, những đồi nhỏ, và, đây đó, những hồ bơi tư nhân lấp lóa trắng dưới các ngọn đèn thủy ngân. Chỗ con dốc bắt đầu bằng phẳng, đường cao tốc bò ngoằn ngoèo qua khung cảnh hệt như một chiếc thắt lưng được chiếu sáng; từ chân núi tới bờ biển chừng nửa dặm xa, thị trấn trải ra phẳng lì và đơn điệu. Đại dương ngoài kia tan hòa vào bầu không thẳm tối, trong khi ánh màu cam từ ngọn đèn hiệu nhỏ kia chớp sáng, biến mất, rồi lại chớp sáng. Và cắt xuyên mọi lớp địa hình, phân chúng gọn gàng làm hai, tuôn dài một luồng nước đen sẫm.

Dòng sông.

Ω

Lần đầu tiên Chuột gặp người phụ nữ ấy là vào đầu tháng Chín, khi bầu trời vẫn còn giữ được chút dấu vết rạng rỡ của mùa hè.

Hắn tìm thấy một máy đánh chữ điện được liệt kê trong mục Hàng hóa đã sử dụng của tờ báo địa phương giữa đống quảng cáo xe cũi đẩy em bé, dụng cụ học ngôn ngữ Linguaphone, xe đạp ba bánh, và đồ tạp dụng linh tinh. Người phụ nữ trẻ trả lời điện thoại nghe có vẻ rất thẳng thắn rành rọt: chiếc máy đánh chữ đã dùng được một năm và còn một năm trong hạn bảo hành; trả hết bằng tiền mặt trước (không trả góp hàng tháng); hắn phải tự mình đến nhận hàng. Họ chốt thỏa thuận, và hắn lái xe đến căn hộ của cô, trả tiền, rồi nhận chiếc máy đánh chữ. Nó đáng giá gần như tương đương với số tiền hắn kiếm được từ công việc bán thời gian vào mùa hè.

Cô nhỏ nhắn mảnh khảnh và mặc một chiếc đầm không tay đầy thu hút. Những cây cỏ xum xuê lá đủ hình dạng và màu sắc trồng trong những chiếc chậu nằm xếp hàng ở lối vào căn hộ. Cô có nét mặt dịu dàng, và tóc được buộc gọn về phía sau. Chuột không thể xác định tuổi cô. Hắn đã nghĩ rằng có thể đâu đó giữa hai mươi hai và hai mươi tám.

Ba ngày sau, cô gọi hắn bảo rằng cô có một nửa tá dải băng máy đánh chữ mà cô vui lòng tặng miễn phí cho hắn. Khi Chuột đến nhận chúng, hắn mời cô đến quán J’s để đãi cocktail thay lời cảm ơn. Dù vậy, họ không tâm đầu ý hiệp ngay từ đầu.

Lần thứ ba họ gặp gỡ là bốn ngày sau đó, ở hồ bơi trong nhà. Hắn lái xe đưa cô về căn hộ và làm tình. Tại sao lại thành ra như thế? Chuột chịu không biết nổi. Hắn đã khơi chuyện đầu tiên hay cô? Họ đã chỉ thuận theo dòng chảy.

Một vài hôm sau, Chuột có thể cảm thấy cái thực tại hữu hình trong mối quan hệ của họ đang trương nở bên trong hắn, như thể một cái nêm mềm đang lấn vào trong đời sống thường nhật của mình. Từng chút một, có điều gì đó đang truyền thông. Phần ngọt ngào, lịch thiệp hắn đã quên lâu dường như đã trải rộng ra mỗi lần hắn nghĩ đến đôi vòng tay mảnh mai gói quanh cơ thể mình kia. 

Chuột có thể thấy rằng cô đang gắng thiết lập một kiểu toàn hảo trong thế giới nhỏ của cô. Hắn cũng nhận thức rõ rằng điều đó yêu cầu một mức độ quyết tâm phi thường. Cô chỉ mặc những chiếc đầm trang nhã song thùy mị nhất bên trên những đồ lót sạch, mới, xức nước hoa loãng nhẹ có mùi hương của ruộng nho ban sớm lên cơ thể, hết mực cẩn thận lựa lời, không đời nào hỏi những câu thiếu trọng tâm, và chừng như còn đã thực hành việc mỉm cười trước gương. Song những điều đó chỉ khiến Chuột thêm buồn. Sau một số lần gặp gỡ hắn đã đoán tuổi cô là hai mươi bảy. Điều đó hóa ra lại là điểm đen.

Đôi bầu ngực cô nhỏ nhắn, và dù cơ thể thon gọn của cô rám nắng tuyệt đẹp, nó miễn cưỡng hơn là kiêu hãnh, như thể nó đã được thế mà không có sự đồng thuận của cô. Xương gò má góc cạnh và đôi môi mỏng của cô đã nói lên sự giáo dục tốt và tâm cốt cương quyết của cô, nhưng chẳng hề có chút gì ngây thơ và dễ tổn thương bên dưới bề mặt đó, thứ được phô diễn với những biến báo tinh vi trong biểu hiện.

Cô đã học ngành kiến trúc ở một trường đại học nghệ thuật và hiện làm việc trong một văn phòng kiến trúc. Nơi sinh của cô ư? Chẳng phải nơi nào gần đây, cô trả lời. Tôi đến vùng này sau khi tốt nghiệp. Cô đến hồ bơi tuần một lần và bắt tàu đến lớp học viola mỗi tối Chủ nhật.

Cả hai bọn họ hội nhau tuần một lần vào đêm Thứ Bảy. Rồi Chuột nhả khói thuốc mơ màng cả ngày Chủ nhật trong khi cô tập chơi Mozart.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 7: Chương 5

Published

on

Khi tôi còn học đại học, chẳng ai trong khu căn hộ của tôi có điện thoại. Khỉ thật, tôi ngờ là không có bất kì ai trong chúng tôi có một cục tẩy. Dù, có một cái điện thoại trả tiền màu hồng, nằm ngoài văn phòng bảo vệ trên chiếc bàn thấp đã bị quẳng đi từ trường tiểu học địa phương. Đấy là chiếc điện thoại duy nhất trong toàn bộ chốn ấy. Các bảng mạch điện thoại là thứ cuối cùng trong tâm trí chúng tôi. Những tâm trí đó là một thế giới bình yên trong một thời đoạn bình yên.

Từ khi người bảo vệ không bao giờ ở văn phòng ấy nữa, một người trong chúng tôi phải trả lời điện thoại khi nó đổ chuông và chạy ào đi thông báo cho người nhận cuộc gọi ấy. Dĩ nhiên có những lần (như là một cuộc gọi đến lúc 2 giờ sáng) thì chẳng ai nhấc máy. Hệt như một con voi nhận thức cái chết gần kề của mình, chiếc điện thoại đã đổ chuông như điên (số lần đổ chuông nhiều nhất tôi đếm được là 32) rồi chết. Tôi dùng từ chết theo nghĩa đen hẳn hoi. Thời khắc cuộc gọi cuối cùng lượn xuống hành lang dài và biến mất vào đêm đen, một sự im lặng ngự trên cả tòa nhà. Đó là một sự tịch mịch kì quái. Chúng tôi nằm đó trong giường ngủ của mình, nín thở, khi chúng tôi nghe ngóng cuộc gọi chết tươi kia.  

Những cuộc gọi vào đêm muộn luôn luôn đáng ngã lòng. Ai đó sẽ nhấc ống nghe lên và bắt đầu thấp giọng trò chuyện:

“Thôi đi… Không, anh nhầm rồi… Chuyện gì xong thì đã xong, đúng không?... Thực đấy. Sao tôi phải nói dối chứ?... Không, tôi chỉ mệt thôi… Dĩ nhiên nó làm phiền tôi… Nhưng anh thấy đó… Ừ, tôi nhận được tấm hình rồi. Nhưng tôi cần thời gian, hiểu chứ?... Tôi không thể giải thích qua điện thoại đâu…”

Mỗi chúng ta có đủ thứ rắc rối khả dĩ phải đeo mang. Chúng từ trên trời rơi xuống và ta điên cuồng chạy quanh tìm nhặt lên, cho vào túi mình. Tại sao ta lại làm thế đã bắt bí tôi, cho đến giờ. Có lẽ chúng ta đã nghĩ chúng là thứ gì đó khác.

Có cả những bức điện tín nữa. Một chiếc mô-tô sẽ gầm rú ngoài cửa trước tầm bốn giờ sáng, theo sau là tiếng những bước chân sầm sập gần tiền sảnh. Rồi một nắm đấm sẽ nện lên cửa nhà ai đó. Tiếng động kia luôn luôn nhắc tôi về Tử Thần. Bum, bum. Chúng ta đã ngả quá nhiều về phía các tai ương –những cuộc đời mất đi vì tự sát, những tâm trí đổ nát, những trái tim bị bỏ rơi trong những vũng tù của thời gian, những cơ thể bỏng cháy với các ám ảnh rời rã–và chúng ta trao cho nhau một đống rắc rối đọa đày. Một ngàn chín trăm bảy mươi là năm đại loại như thế. Song nếu cứ bám lấy niềm tin rằng thân xác con người được tạo ra để cải thiện chính nó thông qua kiểu tiến trình biện chứng nào đó, một năm khủng khiếp như năm 1970 có thể dạy ta điều gì đó.

  Ω

Phòng tôi nằm ở tầng một cạnh văn phòng bảo vệ, trong khi cô gái có mái tóc dài kia sống ở tầng hai, kế cầu thang. Bởi cô rõ ràng là người thắng khi có các cuộc gọi đến, nên tôi bị kẹt vào việc lon ton lên xuống mười lăm bậc cầu thang kia hàng ngàn lần để gọi cô nghe điện thoại. Người gọi cho cô có đủ dạng. Giọng của họ có thể lịch thiệp hay bất nhã, buồn bã hoặc trịch thượng. Lúc nào họ cũng hỏi bằng tên cô. Song tôi đã quên bẵng cái tên đó là gì. Hồi ức duy nhất của tôi là tên cô thông thường đến não lòng.

Giọng cô trên điện thoại thì thào mệt lử, gần như không nghe thấy nổi. Diện mạo cô thu hút vừa đủ, nhưng có phần nào sầu u. Mặc dù chúng tôi thi thoảng ngang qua nhau trên phố, tôi chưa bao giờ mở lời với cô. Vẻ mặt của cô khi tiến bước hệt như ai đó đang cưỡi một con voi trắng trên một lối mòn hẹp chốn rừng sâu.

Ω

Cô sống ở khu căn hộ của chúng tôi được sáu tháng. Từ lúc bắt đầu mùa thu đến hết mùa đông.

Tôi sẽ trả lời điện thoại, leo cầu thang, gõ cửa nhà cô, bảo, “Cô có điện thoại,” và một chốc sau cô sẽ nói, “Cảm ơn.” “Cảm ơn” là từ duy nhất cô từng nói với tôi. Đổi lại, “Cô có điện thoại,” là hết thảy lời tôi từng nói với cô.

Đó cũng là một mùa cô độc với tôi. Khi quay về căn hộ của mình và trút bỏ quần áo vào cuối ngày, xương cốt tôi hăm he nổ bung ra ngoài da thịt và văng bay tứ tán. Như thể một lực lượng nội tại huyền bí nào đó đang dồn thúc tôi vào sai hướng, dẫn tôi đến một thế giới khác.

Những cuộc điện thoại khiến tôi suy nghĩ. Ai đó đang cố truyền thông với một ai khác. Song hầu như chẳng có ai từng gọi cho tôi. Tuyệt không một người cố với đến tôi, và ngay cả nếu họ đã làm vậy, ắt họ đã chẳng nói điều tôi muốn nghe.

Mỗi chúng ta, với mức độ cao thấp khác nhau, đều nhất quyết sống theo đúng hệ thống của chính mình. Nếu cách suy nghĩ của người khác quá khác biệt với tôi, nó khiến tôi phát điên; quá bức bí, và tôi đâm buồn. Đấy, chỉ thế thôi.

    Ω

Khi mùa đông kết thúc chính là lúc tôi đã nhận chuyển cuộc điện thoại cuối cùng của cô. Một sáng thứ Bảy trong trẻo đầu tháng Ba. Đại để giữa buổi sáng, mười giờ, nắng mùa đông tươi sáng đang dọi khắp ngóc ngách trong căn phòng nhỏ của tôi. Lúc nhận thức được tiếng chuông, tôi đang ngồi trên giường nhìn qua cửa sổ vào vườn bắp cải cạnh cửa chính. Những mảng tuyết lóng lánh rải rác trên đất đen hệt như những vũng nước – thảy đều là di tích của trận tuyết cuối vào đợt rét đột ngột sau cùng trong năm.

Điện thoại đổ mười lần mà chẳng ai nhấc máy. Rồi năm phút sau lại bắt đầu. Tiếng chuông rầy rà nên tôi đành tròng chiếc áo len đan lên bộ đồ ngủ rồi đi bắt máy.

“Có cô… đó không?” một người đàn ông hỏi. Giọng anh ta phẳng lì, không biểu cảm. Lẩm bẩm gì đó bất đắc dĩ, tôi lê bước lên cầu thang và gõ cửa nhà cô.

“Cô có điện thoại.”

“Cảm ơn.”

Tôi về lại phòng mình, nằm xuống giường, và quan sát trần nhà. Tôi có thể nghe tiếng bước chân cô đang đi xuống, rồi tiếng thì thào đó. Một cuộc thoại ngắn bất thường đối với cô. Có lẽ chỉ mười lăm giây. Tôi nghe cô cúp máy và rồi có một sự tĩnh lặng kéo dài, không tiếng bước chân, không gì cả. Một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân chầm chậm đến gần cửa nhà tôi, kèm theo hai tiếng gõ. Có một khoảng ngừng chừng một hơi thở sâu, rồi lại thêm hai tiếng khác.

Khi tôi mở cửa cô đang đứng đó trong bộ áo phông thùng thình và quần jean. Tôi thoáng nghĩ mình đã nhầm lẫn, rằng cuộc gọi kia được nhằm vào ai khác, nhưng cô đã chẳng nói gì cả, chỉ đứng đó run run với hai tay ôm nhau trước ngực và mắt dán vào tôi. Trông cô hệt như ai đấy trong chiếc xuồng cứu sinh đang nhìn con tàu chìm dần. Hoặc có lẽ là tình huống ngược lại cũng nên.    

“Tôi vào được không? Ngoài này rét quá.”

Tôi bị bất ngờ, nhưng vẫn để cô vào và khép cửa. Cô ngồi xuống trước lò sưởi bằng gas để hơ ấm đôi tay và nhìn quanh.

“Phòng này trống trơ kinh dị, nhỉ?”

Tôi gật. Thực sự chẳng có gì. Chỉ một chiếc giường cạnh cửa sổ, và thế thôi. Một chiếc giường quá lớn cho một người, và quá bé cho hai. Tôi cũng chẳng mua nó. Đúng hơn là, một người quen đã cho tôi. Tại sao anh ấy tặng nó cho một kẻ rõ là xa lạ thì tôi chịu. Chúng tôi hiếm khi nói chuyện. Là một chàng trai nhà giàu đến từ vùng xa xăm nào đó, anh đã bỏ trường sau khi bị các thành viên trong một nhóm chính trị đối lập đánh hội đồng, họ đá vào đầu anh khi đang mang ủng công trường, trận đánh này đã gây tác hại cho thị lực của anh. Chuyện đó diễn ra ở sân trường, và anh thổn thức suốt đường từ đó đến bệnh xá của trường, trước sự ghê tởm bàng hoàng của tôi. Một vài ngày sau anh bảo tôi rằng anh rời trường. Và tặng tôi chiếc giường.

“Có thứ gì đó âm ấm để uống không?” cô nói. Không, tôi đáp, lắc đầu. Không cà phê, không trà, thậm chí ấm đun nước cũng không. Chỉ có một cái chảo để nấu nước nóng khi tôi cạo râu vào buổi sáng. Chờ đây nhé, cô nói với một tiếng thở dài. Cô đứng lên và rời phòng, quay lại sau năm phút với một hộp giấy cứng trong tay. Bên trong là thực phẩm dự trữ đủ cho sáu tháng gồm trà túi lọc và trà xanh, hai gói bánh quy, đường cát, một bộ ấm đĩa cơ bản, cùng hai chiếc cốc có hình cún Snoopy. Đặt chiếc hộp xuống giường, cô lấy chiếc ấm ra và bắt đầu đun nước.

“Làm sao anh xoay xở được thế? Anh sống hệt như Robinson trên đảo hoang ấy!”  

“Đúng là không vui thú gì mấy.”

“Tôi cũng đoán thế.”

Chúng tôi uống trà túi lọc trong im lặng.

“Anh có thể nhận hết mấy thứ này,” cô nói.

Tôi suýt sặc trà. “Sao cô lại làm thế?”

“Cách tôi nói lời cảm ơn thôi. Cho tất cả những lần anh đã trả lời hộ điện thoại.”

“Nhưng cô không cần dùng nữa à?”

Cô lắc đầu. “Mai tôi chuyển đi rồi. Chẳng còn ích gì với tôi nữa.”

Hẳn phải có thứ gì đó giải thích được chuỗi sự kiện mới này, nhưng tôi chẳng thể hình dung được là gì.

“Đã có chuyện gì tốt đẹp sao? Hay chuyện gì đấy tệ hả?”

“Không tốt lắm, tôi cho là vậy. Ý tôi là tôi đang bỏ học và về quê.”

Ánh nắng mùa đông tràn ngập căn phòng mờ đi một thoáng, rồi hửng sáng lên lại.

“Nhưng anh chẳng muốn nghe chuyện ấy đâu, phải không? Phải tôi thì chắc sẽ không. Ai đời lại muốn dùng những chiếc đĩa mà người khác đã bỏ đi chứ!”

Sáng hôm sau, một cơn mưa lạnh lẽo bắt đầu rơi. Một cơn mưa phùn đã len lỏi rỉ qua áo mưa của tôi và ngấm vào áo phông thể thao bên dưới. Mọi thứ – chiếc rương lớn tôi đang ì ạch kéo và chiếc va-li cùng túi cô đeo vai – đều thẫm đen vì hơi ẩm. Người tài xế ta-xi chộp lấy chúng tôi chẳng cho để bất cứ món nào lên ghế ngồi. Trong xe nóng và ngột ngạt với mùi thuốc lá lưu cữu, và một bản ballad truyền thống đang rền rĩ từ đài phát thanh của xe, một giai điệu kiểu cũ như một cánh tay chỉ hướng rẽ ở các ô tô đời xưa. Những cành cây trụi lá nhiễu giọt đóng thành băng nhũ xếp hàng dọc hai bên đường trông hệt như rặng san hô dưới nước.

“Tôi chả thích Tokyo ngay lần đầu để mắt đến,” cô nói, “và đến giờ vẫn thế.”

“Thật ư?”

“Ừ. Đất thì quá đen, sông thì bẩn tởm, lại chẳng có ngọn núi nào… Anh thì sao?”

“Tôi đã chả bao giờ nghĩ về phong cảnh cả.” 

Cô thở dài. “Đấy là lí do anh sống sót được ở chốn này,” cô nói cùng một nụ cười mỉm.

Chúng tôi đến sân ga và buông đống túi xách xuống.

“Cảm ơn vì tất cả,” cô nói. “Tới đây tôi có thể tự mang được rồi.”

“Quê cô ở đâu?”

“Ngược lên phía bắc.”

“Tôi cược là lạnh lắm.”

“Cũng ổn cả. Tôi quen rồi.”

Khi đoàn tàu chuyển bánh cô vẫy chào tôi từ cửa sổ. Tôi giơ tay ngang tầm tai, nhưng khi đoàn tàu ra khỏi tầm mắt, bất thình lình tôi bỗng thấy ngượng ngập và đút tay mình vào trong túi áo mưa.

Trời mưa suốt ngày hôm đó và dai dẳng đến tận đêm. Tôi mua hai chai bia ở cửa hàng thức uống địa phương và uống cạn hết bằng một chiếc cốc cô đã cho tôi. Tôi đang lạnh cóng. Chiếc cốc in hình cún Snoopy và chim thư kí Woodstock đang chơi đùa trên mái nhà của Snoopy với một quả bong bóng có ghi, “Hạnh phúc là một người bạn ấm áp.”  

Ω

Cặp sinh đôi đã thiếp ngủ khi tôi mở mắt. Ba giờ sáng. Ánh trăng mùa thu bên ngoài cửa sổ phòng tắm sáng gượng gạo. Tôi ngồi trên rìa quầy bếp cạnh chậu rửa, uống hai cốc nước, và châm thuốc bằng bếp ga. Lớp lớp tiếng của hàng ngàn hàng vạn côn trùng trỗi lên từ sân gôn sáng trăng.

Tôi nhấc cái bảng mạch lên dựa vào quầy bếp và kiểm tra nó cẩn thận, xoay nó đủ mọi góc. Chỉ là một tấm bảng vô nghĩa, đầy bụi bặm và cũ kĩ, bất kể nhìn ngắm nó thế nào đi nữa. Từ bỏ, tôi đặt nó trở lại chỗ cũ, lau bụi bẩn trên tay, và rít một hơi thuốc khác. Mọi thứ có vẻ nhợt nhạt dưới ánh trăng. Trống rỗng cả về giá trị, nghĩa lí, hay phương hướng. Thậm chí những cái bóng cũng mờ ảo. Tôi dụi điếu thuốc vào bồn rửa và châm điếu khác.

Liệu có bao giờ tôi tìm được một chốn đích thực là của riêng tôi? Đấy có thể là đâu? Tôi cứ nghĩ mãi, song chỉ có hình ảnh buồng lái của một chiếc máy bay ném ngư lôi hai chỗ ngồi hiện ra trong tâm trí. Nhưng đó là một ý nghĩ ngu ngốc tuyệt đối. Ý tôi là, những thứ đó đã quá đát từ ba mươi năm trước rồi, phải không?

Tôi quay lại giường và len vào giữa cặp sinh đôi. Họ đang nằm cuộn mình với đầu lệch về phía hai mép giường, thở đều bình an. Tôi kéo chăn lên tận cằm và quan sát trần nhà.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Sáng tác

Tiểu thuyết: Pinball – Bóng ghim (Murakami Haruki) | Kì 6: Chương 4

Published

on

Ngọn đèn hiệu không người trơ vơ cuối bến tàu dài ngoằn ngoèo. Ngọn đèn không đặc biệt lớn, chỉ thấp hơn ba mét rưỡi một chút. Những con tàu cá đã dựa vào ánh sáng của nó thời trước khi sự ô nhiễm dồn lũ cá xa bờ. Chẳng có gì giống với một bến cảng ở khu vực này. Thay vào đó, ngư dân đã trang bị một bộ tời bằng gỗ với ống cuộn và dây thừng để kéo tàu của họ từ bãi biển. Ba căn lều của họ đã được dựng gần đấy; vào buổi sáng sẽ thấy những khay gỗ đựng cá nhỏ đang phơi khô trên mặt đê chắn sóng. Tuy nhiên, ở một thời điểm nào đó, ngư dân đã rời bỏ, bị xua đi bởi sự kết hợp của ba yếu tố: sự biến mất của đàn cá, sự ác cảm vô lí của những kẻ đi vé tháng vì có một làng cá gần thị trấn của mình, và lời tuyên bố của quận rằng những căn lều dọc bãi biển kia là bất hợp pháp. Đấy là năm 1962. Chẳng ai đoán nổi những ngư dân kia đã biến về đâu. Đại khái ba căn nhà kia đã hoang tàn, trong khi những con thuyền mục nát, chẳng có chức năng gì cũng chẳng có chỗ nào để vứt bỏ, bị bỏ lại chỏng chơ giữa đám cây cối dọc bờ biển, nơi chúng phục vụ như một sân chơi cho đám trẻ con.

Một khi những tàu cá đã biến mất, những con thuyền nhẹ tư nhân lang thang dọc bãi biển cùng những tàu hàng bỏ neo ngoài bến cảng tìm nơi trú bão và sương mù dày đặc là những phương tiện hàng hải duy nhất có thể thấy rằng ngọn đèn hiệu kia giúp ích nhiều. Nhưng chắc hẳn nó đã không còn phục vụ một mục đích nào nữa.

Ngọn đèn hiệu là một thứ thù lù đen sì có hình như một cái chuông úp hoặc một người gò lưng trong suy tưởng nhìn từ phía lưng. Khi mặt trời bắt đầu lặn và ráng chiều bắt đầu nhuộm màu xanh thẫm, ánh sáng màu cam rực sáng trên đỉnh ngọn đèn – cái núm chuông – và nó bắt đầu xoay chầm chậm. Vào khoảnh khắc đó, khi ngày chuyển đêm, ngọn đèn hiệu đến với đời sống: dù buổi tối có mang một hoàng hôn tuyệt đẹp hay một lốt áo choàng mù sương, chùm sáng ấy bắt đầu quay ngay chính thời khắc mà sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối chuyển giao, và bóng đêm tối thượng ngự lên.

Thời thơ bé, Chuột thường xuống bãi biển vào buổi tối chỉ để chứng kiến khoảnh khắc chớp nhoáng đó trong bóng tối. Nếu những con sóng không quá cao hắn sẽ dạo bộ tới tận đầu kia của bến tàu uốn lượn, đếm số phiến đá lát đường mà hắn đã đi qua. Lúc chớm sụp tối hắn có thể thấy hàng đàn cá nhỏ xíu kinh ngạc lao về phía vùng nước sáng. Chúng sẽ bơi vòng dọc mạn bến tàu, như thể đang tìm kiếm gì đó, trước khi hướng ra khơi.  

Khi cuối cùng cũng đến chỗ ngọn đèn hiệu, Chuột ngồi xuống nơi đầu mút của bến tàu ấy và nghiên cứu bầu trời. Trời mang màu xanh đen đến ngút mắt, với những vỉa mây trông như được vẽ lên dưới nét cọ của một họa sĩ. Màu xanh thẫm kia chừng như không đáy; vực thẳm của nó khiến chân Chuột run lên kinh sợ. Mọi thứ quá sinh động, mùi đại dương, màu ngọn gió.

Nán lại mãi, Chuột uống cạn khung cảnh trải ra trước mắt mình, rồi quay lại. Giờ thì hắn đang chiêm ngắm thế giới của chính mình, quá đỗi tách biệt với biển khơi. Bãi biển và đê chắn sóng trắng bàng bạc, hàng thông xanh yên ả, và, đằng sau chúng, nhô in trên nền trời, đường viền sắc nhọn của những ngọn núi đen thẫm xanh.

Xa bên mạn trái của hắn là khu cảng lớn, với những cần trục, vũng tàu đậu dập dềnh, những nhà kho như hình hộp, những chiếc tàu hàng, và các tòa nhà cao. Bên phải hắn, đối mặt đại dương và trải dài theo đường bờ biển cong cong, là khu dân cư im lìm, bãi đậu thuyền nhẹ, một số kho rượu cũ kĩ, và, một khoảng vừa phải phía xa kia, hàng dãy những bể chứa hình cầu cùng các ống khói nhà máy chọc trời của khu công nghiệp, đã che phủ bầu trời trong làn khói trắng mù mịt. Những thứ đó đánh dấu sự cáo chung của thế giới thời niên thiếu mà Chuột đã biết.

Suốt thuở ấu thời, từ xuân đến chớm thu, Chuột dành cho những chuyến thăm ngọn đèn hiệu. Khi sóng lớn, bụi nước bắn vào chân hắn, gió gào, và hắn thi thoảng trượt ngã trên những phiến đá lát trơn rêu. Song con đường đến ngọn đèn hiệu đã thân thiết với hắn hơn bất cứ gì khác. Hắn sẽ ngồi ở chốn tận cùng của bến tàu ấy lắng nghe sóng vỗ, ngắm những đám mây, bầu trời, và hàng đàn cá nhỏ, và ném những viên cuội mình mang theo trong túi vào làn nước.

Lúc trời sẫm tối hắn sẽ lại bước trên cùng con đường ấy để quay về thế giới của chính mình. Dù cho, sự quay lại này đã luôn luôn đồng hành với một nỗi buồn không sao tả nổi. Cái thế giới đang chờ đợi hắn ngoài kia đúng là quá lớn lao, quá mạnh bạo; chốn đó chừng như chẳng hề có chỗ nào hắn khả dĩ đào sâu vào được.

Căn hộ của người phụ nữ không xa bến tàu. Kí ức mơ hồ về thời thơ ấu của hắn và dư hương của những buổi tối kia trở lại với Chuột mỗi lần hắn đến thăm cô. Hắn sẽ đỗ xe trên con đường dọc bờ biển và đi băng qua những cây thông đứng rải rác được trồng để ngăn cát thổi vào từ bãi biển. Cát phát ra âm thanh khô khốc dưới chân hắn.

Khu căn hộ nằm đúng nơi những căn lều của các ngư dân đã từng dựng lên. Nếu đào xuống một vài mét, nước biển màu nâu đỏ sẽ phun trào bọt. Những cây chuối hoa Nam Mĩ ủ rũ trong vườn trước, như thể ai đó đã giẫm đạp chúng. Người phụ nữ sống ở tầng hai – khi gió thổi nó sẽ quét qua cửa sổ của cô những luồng cát mịn. Căn hộ nhỏ nhắn gọn gàng của cô xoay mặt hướng nam, nhưng nó ảm đạm lạ lùng. Chính đại dương đấy, cô nói. Chính vì gần đến chết tiệt – mùi thủy triều, gió, tiếng sóng, mùi hôi của cá… hết thảy.   

“Em chẳng thể ngửi thấy mùi cá ở đây đâu,” Chuột bảo.

Chắc chắn em có thể, cô nói. Cô kéo sợi dây cuộn và bức mành mành khép rụp. Anh sẽ có thể nếu anh sống nơi này.

Cát quất vào cửa sổ.

Ω

Còn tiếp.

Như Lôi
dịch từ bản tiếng Anh Pinball, 1973 của Ted Goosen

Đọc bài viết

Cafe sáng