FICTION

Truyện ngắn: Còn nhiều chuyện hơn nữa (Jorge Luis Borges)

Dành tưởng nhớ H. P. Lovecraft

Published

on

Dịch từ truyện ngắn There Are More Things trong tập The Book of Sand của Jorge Luis Borges, bản dịch tiếng Anh của Norman Thomas di Giovanni.

*

Ngay khi tôi chuẩn bị tham dự kỳ thi sau chót tại Đại học Texas, Austin, tôi hay tin chú Edwin Arnett đã chết vì chứng phình động mạch ở miền biên viễn xứ Nam Mỹ. Tôi cảm thấy như chúng ta vẫn luôn cảm thấy khi ai đó qua đời – nhận thức đau buồn, giờ đây vô ích, về cái cách lẽ ra ta phải yêu thương nhiều hơn song lại ít đến dường nào. Người ta quên mất một người chết thì trái ngược với người chết. Tôi học triết; tôi nhớ hồi ở Nhà Đỏ gần Lomas, chú tôi, không đụng tới một danh từ riêng nào, đã hé mở cho tôi những phức tạp đầy duyên dáng của giới luật. Chú ấy dùng một trong các quả cam tráng miệng khai vỡ cho tôi chủ nghĩa duy tâm Berkeley, dùng bàn cờ luận giải nghịch lý Eleatic. Nhiều năm sau, ông cho tôi mượn luận thuyết Hinton, thứ cố gắng chứng minh tính xác thực của chiều không gian thứ tư, động viên người đọc ngộ ra chiều không gian đó thông qua những bài luyện phức tạp với các khối lập phương đủ màu. Tôi sẽ không bao giờ quên mớ lăng trụ và kim tự tháp chúng tôi lắp ráp trên sàn phòng làm việc của ông.

Chú tôi là kỹ sư. Trước khi nghỉ việc ngành đường sắt, ông quyết định chuyển đến Turdera, nơi đem lại cho ông những lợi thế kết hợp giữa một miền hoang vu ảo diệu đầy cô độc và một vùng phụ cận Buenos Aires. Không gì tự nhiên hơn rằng người bạn thân Alexander Muir là kiến trúc sư cho ngôi nhà của chú. Con người nghiêm khắc đó công khai thừa nhận học thuyết khắt khe của Knox; chú tôi, theo lối của hầu hết các quý ông cùng thời, là người độc lập tư tưởng – hay đúng hơn là người theo thuyết bất khả tri – song cùng lúc ông cũng quan tâm đến thần học, theo cùng cách ông quan tâm đến mấy khối lập phương sai lầm của Hinton và những cơn ác mộng có cơ sở của Wells trẻ tuổi. Chú ấy thích chó; ông có một con chó chăn cừu lớn mà ông gọi là Samuel Johnson, để tưởng nhớ Lichfield, thị trấn hẻo lánh nơi ông chào đời.

Nhà Đỏ toạ lạc trên đồi, phía tây bao bọc bởi vùng đầm lầy.

Những cây thông Norfolk dọc ngoài hàng rào không thể xoa dịu bầu không khí ngột ngạt. Thay vì những mái bằng, nơi người ta có thể hít thở khí trời vào đêm oi nồng, ngôi nhà có một mái nhọn lợp ngói đá phiến và một tháp vuông có gắn đồng hồ; những cấu trúc này dường như đè nặng lên các bức tường và cửa sổ cáu bẩn của ngôi nhà. Khi còn bé, tôi chấp nhận sự thật xấu xí đó như người ta chấp nhận mọi điều trái nết chỉ bởi duy nhất lý do tất cả đều chung đụng trong cái gọi là “vũ trụ”.

Tôi hồi hương năm 1921. Để tránh kiện tụng, ngôi nhà được đem đấu giá; một người ngoại quốc, một người đàn ông tên Max Preetorius, người trả gấp đôi mức giá người trả cao thứ hai đặt ra, đã mua nó. Ký xong chứng từ mua bán, một tối ông ta đến cùng hai phụ tá rồi quẳng mọi đồ đạt, sổ sách, hàng gia dụng trong nhà ra một bãi rác không xa Binh Lộ. (Tôi buồn bã nhớ lại mớ biểu đồ trong tập Hinton cùng quả địa cầu vĩ đại bằng đất nung.) Hôm sau, ông ta đến gặp Muir đề xuất đôi chỗ thay đổi nhất định cho ngôi nhà, nhưng Muir phẫn nộ cự tuyệt thi hành. Rồi thì một công ty ở Buenos Aires đảm nhận việc này.

Cánh thợ mộc trong làng khước từ sơn sửa lại ngôi nhà; cuối cùng một Mariani nào đó từ Glew chấp nhận các điều kiện Preetorius đưa ra. Trong nửa mùa trăng, ông ta làm việc về đêm, sau cánh cửa đóng. Và vị chủ mới chuyển đến Nhà Đỏ cũng vào ban đêm. Cửa sổ vĩnh viễn khép kín, song qua bóng tối, có lẽ ai đó phát ra những vệt sáng.

Một buổi sớm khi đang đi dạo, người giao sữa bắt gặp xác con chó chăn cừu, bị chặt đầu và phanh thây.

Mùa đông năm ấy những cây thông Norfolk bị đốn hạ. Không ai gặp lại Preetorius; dường như ông ta xuất ngoại liền sau đó.

Độc giả có thể mường tượng ra những tường trình như thế làm tôi bối rối. Tôi biết mình nổi tiếng vì thói tò mò, thói xấu ấy dẫn lối tôi đến cuộc hôn nhân với một phụ nữ hoàn toàn trái ngược bản thân (chỉ để xem tôi có thể khám phá ra cô ta là ai và thực ra là người thế nào), làm tôi thử thuốc phiện (kết quả không mấy khả quan), thúc đẩy tôi nghiên cứu số vô tỉ, đưa tôi vào câu chuyện phiêu lưu khủng khiếp mà tôi kể ra đây.

Ắt hẳn, tôi quyết định xem xét lại vấn đề kia.

Bước đầu tôi đến gặp Alexander Muir. Tôi nhớ ông người da màu, thẳng đuột, vẻ gầy gò không làm ông yếu ớt; giờ đây năm tháng làm ông khom đi và bộ râu đen tuyền ngả sang màu xám. Ông đón tôi nơi cửa nhà ở Temperley – dễ đoán nhà ông hao hao nhà chú, bởi cả hai đều tuân theo các quy tắc nền tảng của nhà thơ có tài kiêm chủ thầu hạng xoàng William Morris.

Chúng tôi chuyện trò khá cứng nhắc; chẳng phải về mấy chuyện phiếm vặt vãnh như cây kế gai là biểu tượng Scotland. Tuy vậy tôi cảm thấy trà Tích Lan đậm đà cùng dĩa bánh nướng mực thước (mà vị chủ nhà bẻ vụn và phết bơ như thể tôi vẫn còn là một đứa trẻ) thực ra lại là bữa tiệc thanh đạm kiểu đạo Calvin được bày ra cốt chào đón đứa cháu trai người bạn cũ. Tranh luận thần học giữa ông và chú là một ván cờ đằng đẵng, trong đó yêu cầu mỗi kỳ thủ phải cộng hưởng tâm hồn với đối thủ của mình.

Thời gian dần trôi và tôi không thể mang chính bản thân ra nhằm gợi mở đề tài chuyện gẫu. Chúng tôi im lặng trong khiên cưỡng và rồi Muir độc thoại.

“Chàng trai trẻ”, ông nói, “anh không ngại phiền hà tới đây nói với tôi về Edwin hay Hoa Kỳ, xứ sở mà tôi chẳng mấy bận tâm. Điều khiến ban đêm anh mất ngủ là chuyện bán đi Nhà Đỏ, và một kẻ hiếu kỳ đã mua nó. Chà, nó cũng khiến tôi mất ngủ.

Thật lòng mà nói, toàn bộ sự vụ cực kỳ khó chịu, nhưng tôi sẽ nói cho anh những gì tôi biết, dù chẳng nhiều nhặn gì.”

Trong khoảnh khắc, ông từ tốn tiếp lời.

“Trước khi Edwin qua đời, thị trưởng gọi tôi tới văn phòng. Cha xứ ở sẵn trong đó. Họ muốn tôi phác thảo sơ đồ nhà nguyện Công Giáo. Họ sẽ trả hậu cho tôi. Tôi đáp ngay tại chỗ.

Không, tôi nói với họ, tôi là con chiên của Chúa, và tôi không thể phạm tội ghê tởm như dựng nên bệ thờ ngẫu tượng.”

Đến đây ông dừng lại.

“Tất cả chỉ có vậy?”, tôi mạo muội.

“Không. Con lợn Do Thái Preetorius muốn tôi phá hủy công trình của mình, ngôi nhà tôi đã xây nên, và thế vào đó một thứ quái đản. Đúng là có đủ thể loại kinh tởm.”

Ông phát âm những từ này với lực nhấn rất mạnh, sau đó đứng dậy.

Khi tôi rẽ vào góc phố, Daniel Iberra tiến đến chỗ tôi. Chúng tôi biết nhau như cách người trong các thị trấn nhỏ vẫn biết nhau. Gã ta đề nghị chúng tôi cùng nhau quay lưng bách bộ. Tôi không bao giờ giữ bất kỳ bản sơ yếu nào về bất kỳ kẻ khó ưa nào hay về số phận họ, và tôi có thể thấy trước một chuỗi bần tiện ít nhiều bạo lực và ít nhiều những chuyện ngụy tạo bên quầy bar, nhưng tôi chịu thua bản thân và nói mình sẽ đi cùng gã. Trời đã chập tối. Khi gã thấy Nhà Đỏ trên ngọn đồi cách đó vài dãy nhà, Iberra rẽ xuống một con phố khác. Tôi hỏi gã tại sao. Câu trả lời không như tôi mong đợi.

“Tao là cánh tay phải của ông trùm Felipe. Không ai được phép nói tao lùi bước trước bất cứ điều gì. Chắc mày còn nhớ tay Urgoiti từ Merlo đến tận đây lùng tao, và chuyện gì xảy ra với hắn khi tìm thấy tao. Chà, nghe này – vài đêm trước tao từ một vụ lùm xùm lớn trở về. Cách nhà chừng trăm thước, tao thấy thứ gì đó. Tao nổi cả da gà, và nếu tao không nói chuyện với con ả rồi đi dọc con hẻm đó, ắt hẳn tao không phải kể lại chuyện này. Thứ tao đã thấy là…” Gã ta lắc đầu, rồi tức giận chửi bới.

Đêm đó tôi mất ngủ. Hửng sáng, tôi mơ thấy một bản khắc trường phái Piranesi, một bản khắc tôi chưa từng thấy trước đây hoặc đã thấy và đã quên – bản khắc về một loại mê cung. Đó là hí trường bằng đá bao quanh bởi những cây bách, song bờ tường cao hơn ngọn cây. Không có cửa ra vào hay cửa sổ, nhưng xuyên qua nó là những chuỗi vô hạn các gờ dọc đứng hẹp. Tôi đang dùng kính lúp gắng tìm con Nhân Ngưu. Cuối cùng tôi cũng thấy nó. Nó là quái vật trong quái vật; nó ít giống bò đực hơn trâu, còn phần nhân dạng của nó nằm sát mặt đất. Nó dường như đang ngủ, và đang mơ – nhưng mơ về cái gì, hay về ai?

Tối đó tôi ngang qua Nhà Đỏ. Cổng hàng rào bị khoá, vài ba thanh sắt xoắn xuýt xung quanh. Những gì là vườn tược trước kia thì giờ đây trở thành cỏ dại. Bên phải có một rãnh mương cạn, bờ mương bị giẫm nát.

Tôi vẫn còn con bài tẩy trong tay áo, nhưng trì hoãn sử dụng vài ngày, không chỉ vì tôi cảm thấy nó vô dụng đến nhường nào mà còn vì nó sẽ kéo tôi đến điều không thể tránh khỏi, điều tối hậu.

Cuối cùng tôi đến Glew, chẳng hy vọng gì nhiều. Mariani, người thợ mộc, giờ đây sau nhiều năm đã già đi, một người Ý núc ních, hồng hào – một ông bạn rất thân thiện, khiêm nhường. Giây phút nhìn thấy ông, tôi từ bỏ mớ âm mưu đầy hứa hẹn nảy ra mấy ngày trước. Tôi đưa ông danh thiếp, ông đánh vần thành tiếng nom kiểu cách, và pha lẫn chút kính cẩn trong một thoáng khi ông đọc đến từ Tiến Sĩ. Tôi nói với ông rằng mình quan tâm tới những đồ dùng mà ông làm cho chú trong ngôi nhà ở Turdera. Ông già liên tục tiếp chuyện. Tôi không cố phiên lại những chữ (và được phát ngôn rõ ràng) ông dùng, song ông bảo đảm với tôi phương châm của ông là “dù cho có kỳ cục đến đâu, cũng phải thoả mãn nhu cầu khách hàng”, và cho hay ông sống theo lẽ đó. Sau khi lục tung mấy cái hộp, ông đưa tôi xem mớ giấy tờ mà tôi không thể đọc ra, có chữ ký của Preetorius khó lường. (Ắt hẳn ông nghĩ tôi là luật sư.) Giờ phút chia tay, ông tâm sự mọi tiền của trên đời cũng không thuyết phục được ông đặt chân trở lại Turdera, ít nhất là trở lại căn nhà đó. Ông còn cho hay khách hàng luôn đúng, nhưng theo thiển ý của mình, Ngài Preetorius “không đúng cho lắm,” ấy là nếu tôi hiểu ý ông – ông gõ gõ ngón tay lên trán. Rồi, hối hận vì đi quá xa, ông không nói nữa. Tôi sẽ không được nghe thêm bất cứ lời nào từ ông.

Tôi đã thấy trước thất bại này, nhưng thất bại này lại giúp thấy trước chuyện gì đó, và chuyện gì khác nữa khi chúng xảy đến.

Tôi không ngừng tự nói với bản thân rằng thời gian – mạng lưới vô tận của hôm qua, hôm nay, tương lai, mãi mãi, không bao giờ – là bí ẩn thực sự duy nhất. Những suy nghĩ uyên áo như vậy chẳng giúp gì cho tôi; sau khi dành cả buổi tối nghiên cứu Schopenhauer hay Royce tôi vẫn sẽ lang thang, đêm này qua đêm khác, dọc những con đường đất giáp ranh Nhà Đỏ. Đôi khi tôi thấy thứ ánh sáng rất trắng phát ra trên đồi, những lúc khác tôi nghĩ mình nghe thấy tiếng rên rỉ. Chuyện này tiếp diễn cho tới mười chín tháng Giêng.

Đó là một trong những ngày ở Buenos Aires khi người ta không những cảm thấy bị mùa hè lăng mạ và lạm dụng, mà thậm chí còn cảm thấy ô nhục. Khoảng mười một giờ đêm những đám mây bão xổ ra. Đầu tiên là gió nam, rồi sau đó là những màng, sóng, dòng nước. Tôi chạy loạn xạ trong bóng đêm, cố tìm lấy một cái cây nhằm trú ẩn. Trong thứ ánh sáng sắc lảnh loé lên từ một tia chớp, tôi thấy mình cách hàng rào vài bước chân. Tôi không chắc vì sợ hãi hay hy vọng mà tôi thử vượt qua cổng. Thật ngạc nhiên, cổng đã mở. Bị bão thổi quất, tôi di chuyển về phía trong, đất trời như đang thúc ép tôi. Cửa trước khép hờ. Mưa từng cơn tạt vào mặt và tôi bước vào.

Bên trong, sàn nhà được nâng lên, chân tôi giẫm lên từng lùm, từng mảng cỏ. Mùi ngai ngái, ngòn ngọt tràn ngập ngôi nhà. Bên trái hay phải, tôi không chắc lắm, tôi vấp phải một bờ dốc đá. Tôi trườn lên nó. Gần như vô thức, tay tôi cố mò cho ra công tắc đèn.

Phòng ăn và thư viện trong hồi tưởng của tôi giờ đây (bức tường ngăn cách đã bị phá bỏ) là một căn phòng lớn hoang tàn, đồ đạc liểng xiểng vương vãi xung quanh. Tôi không cố mô tả bởi vì bất chấp thứ ánh sáng trắng gay gắt, tôi không chắc thực sự mình có nhìn rõ chúng hay không. Hãy cho tôi giải thích: Muốn thực sự nhìn thấy một sự vật, người ta trước tiên phải hiểu chúng. Ghế bành ám chỉ cơ thể con người, với các khớp và chi; cái kéo, với hành động cắt. Từ một ngọn đèn, hay một chiếc ô tô có thể nói lên điều gì? Kẻ man rợ không thực sự lĩnh hội Kinh Thánh của nhà truyền giáo; người hành khách không nhận thấy cấu trúc con tàu như thủy thủ đoàn. Nếu chúng ta thực sự nhìn thấy vũ trụ, có lẽ ta sẽ hiểu nó.

Không có bất kỳ hình thái vô tri nào mà tôi nhìn thấy tối hôm đó tương ứng với nhân dạng hay bất kỳ cách sử dụng nào có thể hình dung ra được.

Chúng sinh ra nỗi kinh hoàng và sự ghê tởm. Trong một góc tôi thấy có cái thang dựng đứng trên sàn. Các bậc thang rộng bằng sắt, không quá mười bậc, cách đều nhau; cái thang đó, ngụ ý tay và chân, có thể hiểu được, và vì lý do nào đó tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi tắt đèn rồi đợi một chút trong bóng tối. Bốn bề im lặng như tờ, nhưng sự hiện hữu của quá nhiều thứ khó lường làm tôi mất nhuệ khí. Cuối cùng, tôi ra quyết định.

Bàn tay run rẩy của tôi lần nữa vươn tới công tắc đèn trên gác. Cơn ác mộng báo hiệu bằng sự lay động ở tầng dưới và khai nở ở gác trên. Có nhiều vật thể hay vài thứ đan dệt vào nhau. Giờ đây tôi nhớ lại thứ đồ dài, hình chữ U trông như bàn mổ, rất cao, với các lỗ tròn tại mỗi thái cực. Tôi chợt nghĩ đây có thể là cái giường mà chủ nhân ngôi nhà sử dụng, một kẻ có giải phẫu quái đản được vật thể kia chưng hửng tiết lộ, giống như cách thông qua cái bóng ta biết được giải phẫu của động vật hay thánh thần. Từ mấy trang sách Lucan, đọc năm trước rồi lại quên, chữ amphisboena chạm ngõ đầu môi, nó ám chỉ (dù không đầy đủ ý nghĩa) những gì mắt tôi thấy sau đó. Tôi cũng nhớ lại vật thể hình chữ V trong gương lẫn vào những cái bóng bên trên.

Kẻ trú ẩn trong ngôi nhà này phải giống cái gì? Nó phải kiếm tìm thứ gì nơi đây, trên hành tinh này, nơi đối với nó cũng khủng khiếp chẳng kém gì nó đối với chúng ta? Từ những lãnh địa bí mật nào của thiên tượng hay thời gian, từ những buổi hoàng hôn khôn lường cổ xưa và hiện tại nào mà nó đã đến vùng ngoại vi Nam Mỹ này, lại chính xác vào đêm nay?

Tôi cảm thấy mình xâm nhập trái phép vào hỗn mang. Ngoài kia, mưa đã tạnh. Tôi nhìn đồng hồ và kinh ngạc đã gần hai giờ sáng. Tôi để đèn sáng rồi thận trọng quay lại trèo xuống thang. Trèo xuống một khi đã trèo lên được không phải là chuyện bất khả thi – trèo xuống trước khi kẻ trú ẩn đó trở lại. Tôi đoán chừng nó không khoá cửa trước và cổng vào vì nó không biết cách.

Chân tôi chỉ vừa chạm tới bậc áp chót khi tôi nghe có thứ gì đó trườn đến bờ dốc – thứ gì đó nặng nề và chậm chạp và không đơn độc. Lòng hiếu kỳ chiến thắng nỗi sợ, và tôi không thể nhắm mắt lại.

Hết.

3V dịch.

Ảnh đầu bài: Adam Scovell

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Truyện ngắn: Cua (Murakami Haruki)

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. “Hừm… Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì… “

Published

on

Special thanks to bé Ryou Hiroshi vì đã góp phần hoàn thiện bản dịch này.
Bản dịch tiếng Việt của tác phẩm này được đặc biệt dành tặng Hải Âu.

Họ tình cờ chạy ngang qua một nhà hàng nhỏ. Ấy là buổi tối đầu tiên của hai người ở Singapore và lúc đó cả hai đang thả bộ gần bờ biển, đột nhiên cái ý nghĩ ấy chợt nảy ra trong đầu , họ bèn rẽ vào bên hông đường rồi vô tình lướt ngang qua chốn đó. Nhà hàng ấy là một căn nhà một tầng được bao quanh bởi một bức tường gạch cao, với khu vườn trồng toàn cây cọ thấp và chỉ kê vỏn vẹn năm chiếc bàn gỗ. Mặt tiền chính như vừa được trát vữa xong, phủ lên mình một lớp sơn hồng chói lọi. Phía dưới mỗi bàn đều có một cây dù lớn bạc phếch bay màu theo thời gian đã bung sẵn ra. Trời vẫn còn sớm, nhưng nơi này nom như thể đã bị bỏ hoang từ lâu. Chỉ có hai người đàn ông lớn tuổi với mái tóc ngắn, đặc sệt chất Trung Hoa, ngồi đối diện nhau, uống bia và im lặng nhắm với những món ăn nhẹ. Họ không nói với nhau câu nào. Ở dưới đất, ngay cạnh chân họ, là một chú chó mực rất to đang nằm im lìm đầy mệt mỏi, mắt lim dim khép hờ. Một luồng hơi nước rực rỡ tuôn ra từ cửa sổ nhà bếp, cùng thứ mùi hấp dẫn của món gì đó đang được xào nấu. Những tiếng nói cười thích chí của đám đầu bếp rộ lên, lộ rõ hẳn giữa những âm thanh lách cách của niêu chảo xoong nồi chạm vào nhau. Những mầm cọ nhú trên thân cây, run rẩy trong gió nhẹ, nổi bật giữa ánh mặt trời đang dần lặn xuống.

Người phụ nữ tạm ngừng bước chân, hòa vào khung cảnh này:

“Ăn tối ở đây thì thế nào?” Nàng hỏi.

Người đàn ông trẻ đọc tên của nhà hàng trên lối vào và nhìn xung quanh để tìm thực đơn. Nhưng không có bảng thực đơn nào được đặt ở bên ngoài. Anh đưa ra vài suy nghĩ. "Hừm... Anh cũng không biết nữa. Em biết rồi đấy, đi ăn ở một nơi nào đó chúng ta không biết chắc chắn ở nước ngoài thì... "

"Nhưng mà em có giác quan thứ sáu về mấy chuyện nhà hàng ăn uống này nọ đấy. Em lúc nào cũng có thể đánh hơi được mấy chốn ngon lành trăm phần trăm. Và tiệm ăn này chắc chắn là tuyệt cú mèo. Em dám đảm bảo điều đó luôn. Tại sao mình không vào ăn thử nhỉ?"

Người đàn ông nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. Anh không biết họ nấu nướng những món gì ở đây, nhưng anh phải thừa nhận rằng nó có hương vị thực rất hấp dẫn. Nội bản thân nhà hàng này cũng có một sự quyến rũ nhất định tự lan tỏa rồi. "Nhưng em có nghĩ là nó sạch sẽ không?"

Nàng kéo lấy tay anh. "Anh nhạy cảm quá đấy, ông tướng ạ. Đừng lo lắng gì cả. Chúng mình đã tự lạc trôi đến đây, thế nên cũng phải mạo hiểm một tí chứ. Em chả muốn nhai cơm trệu trạo trong nhà ăn khách sạn ngày này sang ngày khác đâu. Nhàm chán bỏ xừ đi được ấy. Nào, chúng ta hãy vào thử xem."

Khi đã vào trong rồi, họ mới nhận ra rằng cửa tiệm này chuyên về các món cua. Thực đơn được viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Hoa. Hầu hết khách hàng đều là người địa phương, và giá cả khá hợp lý. Theo thực đơn thì Singapore tự hào có hàng chục loại cua, với hơn cả trăm kiểu cách nấu món cua. Người trai trẻ và người phụ nữ đã gọi bia Singapore, và sau khi xem hết những món sẵn có, họ chọn vài món cua rồi chia đôi ra. Phần nào phần nấy đều hào phóng, nguyên liệu thì tươi rói và nêm nếm gia vị vừa miệng.

"Ngon tuyệt cú mèo," người trai trẻ thốt lên, đầy ấn tượng.

"Thấy chưa? Em đã nói với anh những gì nào? Em nói với anh rằng em có năng khiếu đánh hơi được những thứ đỉnh của đỉnh. Bây giờ anh đã tin em chưa?"

"Dĩ nhiên rồi. Phải nói rằng anh nên tin em mới đúng", người trai trẻ thừa nhận.

"Loại năng lực này thực sự có ích đấy," người phụ nữ nói. "Anh biết đấy, chuyện ăn uống quan trọng hơn hầu hết mọi người nghĩ. Có một khoảng thời gian sẽ xảy ra trong cuộc sống của anh trong lúc anh chỉ cần có một cái gì đó siêu ngon. Và khi anh đang đứng ở ngã tư đường đó, cả cuộc đời anh liền có thể thay đổi, tùy thuộc vào nơi anh bước chân vào - một quán ăn tuyệt vời hay một nhà hàng dở ói. Nó cũng giống như là – anh ngã vào phía bên này của hàng rào, hay là phía bên kia. "

"Nghe thú vị đấy," anh nói. "Cuộc sống có thể rất đáng sợ, phải không?"

"Chuẩn," Nàng đáp lời, và bật ra một ngón tay nghịch ngợm. "Cuộc sống là một điều đáng sợ. Hơn tất cả những gì anh có thể tưởng tượng ra nhiều. "

Người trai trẻ gật đầu. "Và chúng mình đã rơi trúng vào phía bên trong hàng rào, nhỉ".

"Chính xác."

"Tốt rồi," người trai trẻ thản nhiên nói. "Em có thích cua không?"

“Ưmmm, lúc nào mà em chả mê nó. Còn anh thì sao?"

"Anh cũng thích. Nhưng anh không nghĩ mình sẽ ăn cua mỗi ngày đâu. "

"Một điểm chung mới giữa hai ta," nàng cười rạng rỡ.

Người trai trẻ mỉm cười, và hai người nâng ly thêm một lần nữa.

"Chúng mình phải trở lại đây vào ngày mai," Nàng nói. "Chẳng thể có nhiều nơi như thế này trên thế giới đâu. Ý em là, nó đã rất ngon thì chớ - và nhìn vào bảng giá của nó mà xem."

Trong ba ngày kế tiếp, họ thường đến ăn ở nhà hàng nhỏ. Vào mỗi buổi sáng, cả hai sẽ xuống bãi biển để bơi, rồi tắm nắng, sau đó đi dạo quanh thị trấn và chọn quà lưu niệm tại các cửa hàng thủ công địa phương. Vào khoảng thời gian tương tự vào mỗi buổi tối, họ lại đi đến nhà hàng nhỏ ấy, thử các món cua khác nhau, sau đó quay trở lại phòng khách sạn thong thả làm tình, rồi chìm vào giấc ngủ sâu không mộng mị. Mỗi ngày trôi qua đều như đang ở trên thiên đường. Người phụ nữ tròn hai mươi sáu tuổi, nàng dạy tiếng Anh ở một trường trung học cơ sở. Còn người đàn ông vừa bước qua tuổi hăm tám, anh làm nghề kiểm toán viên tại một ngân hàng lớn. Gần như là một phép lạ khi họ có thể cùng nhau đi nghỉ mát cùng một thời điểm, và cả hai muốn tìm đến một nơi mà không ai có thể quấy rầy họ, nơi họ chỉ đơn giản được tận hưởng bản thân nhau. Hai người đã cố gắng hết sức để né bất cứ chủ đề nào có thể làm hỏng tâm trạng và thời gian chung đôi quý báu của mình.

Vào ngày thứ tư - ngày cuối cùng trong kỳ nghỉ của họ - cả hai lại ăn cua như thường lệ vào buổi tối. Khi hai người đang bóc thịt từ càng cua bằng một chiếc kìm bằng kim loại, cả hai bàn luận về việc ở đây sẽ như thế nào, về chuyện bơi lội mỗi ngày bên bờ biển, về chuyện ăn cua vào ban đêm, khiến cho cuộc sống khi trở về Tokyo bắt đầu trở nên vô thực và xa xôi quá đỗi. Hầu hết cả hai người đều tâm tình về hiện tại. Sự im lặng bao phủ lên bữa ăn của họ tùy theo từng thời điểm, ấy là khi mỗi người trong số họ lại trở nên chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình. Nhưng đó không phải là một sự im lặng khó chịu. Bia lạnh và cua nóng đã lấp đầy những khoảng trống ấy một cách êm đềm.

Họ rời khỏi nhà hàng và quay lại khách sạn cả hai thuê trọ, và cũng như mọi khi, họ kết thúc một ngày của hai người bằng cách làm tình. Yên tĩnh, nhưng tràn đầy viên mãn. Cả hai đều đi tắm và sớm ngủ thiếp đi.

Nhưng chỉ một lúc mau sau người trai trẻ đã vội bật dậy, anh cảm thấy rất khủng khiếp. Anh có cảm giác như thể mình đã nuốt phải một đám mây cứng ngắc. Anh ta vội vã đi vào phòng tắm, vịn tay lên bồn vệ sinh rồi nôn hết mọi thứ trong bụng ra. Dạ dày của anh đã nhồi đầy thịt cua trắng. Anh không có thời gian để bật đèn lên, nhưng dưới ánh trăng mờ tỏ lập lờ trôi trên biển, anh đã có thể nhận ra chuyện gì đang xảy ra trong nhà vệ sinh. Anh hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại, và để thời gian trôi qua. Đầu óc anh trống rỗng, và anh không thể thành hình nổi một suy nghĩ nào trọn vẹn. Tất cả những gì anh có thể làm là chờ đợi. Một cơn sóng buồn nôn khác đã ào đến, đánh lật anh và một lần nữa khiến anh tống hết mọi thứ còn sót lại ra khỏi dạ dày.

Khi anh mở mắt ra, đập vào mắt anh là một cục to trắng phớ anh vừa nôn đang trôi nổi trong bồn nước nhà vệ sinh. Một số lượng khủng khiếp. Mình đã ngốn cái quái quỷ gì thế này! Anh ta nghĩ, dẫu cũng khá ấn tượng. Chén đẫy quá nhiều cua từ ngày này qua ngày khác - chả có khỉ gì lạ khi mình trở nên phát ốm. Cho dù có cố giảm bớt ra sao, thì cũng là quá nhiều cua rồi. Phải đến cỡ lượng cua có thể ăn trong hai, ba năm chỉ trong vòng có bốn ngày.

Đến lúc nhìn chằm chằm vào, anh mới chợt nhận thấy cục trắng trắng đang nổi trong bồn vệ sinh đó dường như đang chuyển động thoáng qua. Lúc đầu anh nghĩ có lẽ anh đã tưởng tượng ra mấy thứ đó. Ánh trăng mờ ảo hẳn đã tạo ra ảo giác. Một đám mây thi thoảng trôi qua sẽ che phủ mất mặt trăng, làm cho mọi thứ, trong một khoảnh khắc chợt trở nên mù mịt hơn trước. Người trai trẻ nhắm mắt, hít một hơi sâu và mở mắt ra. Đó không phải chỉ là ảo giác. Miếng thịt cua chắc chắn là đang di chuyển. Giống như những nếp nhăn xoắn quanh, bề mặt của thịt đang lắc lư. Người trai trẻ liền đứng dậy và bật đèn phòng tắm. Anh ta cúi xuống gần cục thịt và nhận ra những gì đang không ngừng lúc nhúc trên mặt đất là vô số con bọ. Loại bọ nhỏ tí hon có màu sắc giống y như màu thịt cua, hàng triệu con đang bám trên bề mặt của miếng thịt.

Anh lại cố ói ra hết mọi thứ trong dạ dày mình ra lần nữa. Nhưng không còn gì sót lại, và dạ dày của anh siết chặt lại thành một nắm đấm. Mật xanh mật vàng dội lên, vọt ra khỏi thành ruột anh. Không chấp nhận nổi điều này, anh liền nuốt luôn nước súc miệng và cố nhổ nó ra lần nữa . Anh giật mạnh công tắc xả nước bồn cầu, giật đi giật lại để chắc chắn rằng tất cả đã bị cuốn trôi sạch sẽ. Rồi anh ngâm mặt mình vào bồn rửa, dùng khăn tắm sạch để lau miệng, và đánh răng thật kỹ. Anh đặt tay lên bồn rửa và nhìn chằm chằm vào hình bóng phản chiếu của mình trong gương. Khuôn mặt anh đã trở nên đau khổ, nhăn nhúm rúm ró lại, làn da chuyển màu xám ngoét. Anh không thể tin được đây thực sự là khuôn mặt của anh. Trông như thể là một lão già nào đó.

Anh rời khỏi phòng tắm, tựa lưng vào cửa và nhìn quanh phòng ngủ. Bạn gái của anh vẫn đang nằm trên giường, say ngủ. Mặt chôn sâu vào gối, nàng còn đang ngáy ngủ một cách thanh thản, không biết điều gì đã xảy ra. Giống như một kẻ ái mộ đầy tinh tế, mái tóc dài của nàng che phủ đôi bờ má, chảy tràn lên vai. Ngay dưới đôi vai ấy có hai nốt ruồi nhỏ, xếp hàng như một cặp song sinh. Trên lưng nàng còn lộ rõ những vết dây áo tắm. Ánh sáng từ mặt trăng trắng muốt lặng lẽ lọt qua những tấm rèm, hòa cùng âm thanh đơn điệu của những con sóng vỗ bờ. Cạnh bên giường, những con số màu lục của chiếc đồng hồ báo thức vẫn đang phát sáng. Không có gì thay đổi. Trừ lúc này, những con cua vẫn còn bên trong cơ thể nàng - như tối hôm đó họ đã cùng chia sẻ một món ăn. Chỉ có nàng là đã không nhận thức được điều đó.

Người trai trẻ ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh cửa sổ, nhắm mắt lại, hít thở, từ từ và đều đặn. Hít thở không khí trong lành vào phổi, thở ra, hít vào. Anh cố gắng hít thở không khí thật nhiều hết mức có thể vào cơ thể mình. Anh muốn tất cả các lỗ chân lông trong cơ thể anh nở rộng. Tựa như một chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ nằm trong một căn phòng trống rỗng, trái tim anh đập mạnh từng tiếng, cứng và khô khốc.

Nhìn người bạn gái đang ngủ của mình, anh đã hình dung vô số con bọ nhỏ lúc nhúc trong dạ dày của nàng. Liệu anh có nên đánh thức nàng dậy và nói với nàng về điều đó? Rồi họ có thể làm gì hơn? Anh không dám chắc mình phải làm gì, anh suy nghĩ một lúc, và quyết định ngăn nó lại. Nó sẽ không tạo ra được chuyện gì hay hớm cả. Nàng đã không nhận thấy được bất cứ điều gì. Và đó mới là vấn đề chính.

Thế giới bỗng trở nên hỗn loạn chưa từng có. Anh có thể nghe thấy những tiếng cót két qua quỹ đạo mới này. Có một cái gì đó đã xảy ra, anh nghĩ, và thế giới đã thay đổi. Tất cả mọi thứ đã thoát ra khỏi trật tự, và sẽ không bao giờ trở lại như thuở ban đầu đã từng. Mọi thứ đã thay đổi, và tất cả những gì có thể làm là tiếp tục theo hướng mới này. Ngày mai mình sẽ trở lại Tokyo, anh nghĩ. Trở lại với cuộc sống mà mình đã để lại nơi đó. Ngoài mặt tuy không có gì thay đổi, nhưng mình không nghĩ rằng mình có thể sẽ hòa hợp được với nàng một lần nữa. Mình sẽ không bao giờ cảm nhận lại được cái cách mình đã cảm nhận về nàng cho đến ngày hôm qua, người trai trẻ biết. Nhưng đó không phải là tất cả. Mình không tin là mình có khả năng hợp nhất với chính mình thêm lần nào nữa. Giống như thể chúng mình đã rơi ra khỏi bên ngoài dãy hàng rào cao vút. Hoàn toàn không có một tiếng động. Và nàng thậm chí còn chẳng nhận ra.

Người trai trẻ cứ ngồi trên ghế mây cho đến khi bình minh, lặng lẽ hít thở. Thỉnh thoảng lại có một cơn gió mạnh vút qua vào ban đêm, với những giọt mưa đập vào cửa sổ như một kiểu trừng phạt. Những đám mây mù rồi sẽ lại trôi qua và mặt trăng dần ló dạng. Cứ lặp đi lặp lại như thế. Nhưng người phụ nữ không bao giờ tỉnh dậy. Hoặc thậm chí trở người trên giường cũng không. Vai nàng có lắc lư đôi ba lần, nhưng chỉ có thế. Hơn bất cứ điều gì trên đời, anh muốn ngủ, ngủ thật ngon và thức dậy để thấy rằng mọi chuyện đã được giải quyết cả rồi, rằng mọi thứ đều giống như nó đã từng, vẫn hoạt động trôi chảy như mọi khi. Người trai trẻ không muốn gì hơn là chìm vào giấc ngủ sâu. Nhưng cho dù anh có cố gắng vươn tay đến thế nào, giấc ngủ vẫn nằm ngoài tầm với.

Người trai trẻ nhớ lại đêm đầu tiên, khi họ đi ngang qua nhà hàng nhỏ bên đường. Hai người đàn ông Trung Hoa lặng lẽ dùng đồ ăn của họ, con chó mực mắt nhắm lại, nằm dưới chân hai ông, chiếc ô lớn bạc màu nơi bàn ăn. Nàng đã kéo tay anh ra sao. Mọi chuyện dường như xảy ra đã cách đây nhiều năm. Nhưng chỉ mới ba ngày thôi. Chỉ ba ngày đó thôi, xuyên qua một thứ sức mạnh kỳ quái nào đó, mà anh đã biến thành một trong những người đàn ông xấu xí, già cỗi mất rồi. Tất cả diễn ra ở một thành phố biển yên tĩnh, xinh đẹp của Singapore.

Anh đưa hai tay ra trước mặt mình và nhìn chúng chăm chú. Anh nhìn vào đôi bàn tay, sau đó là lòng bàn tay. Không gì có thể che giấu được sự thật là tay anh đang run lên, dẫu là không đáng kể.

"Ưmmm, em lúc nào cũng yêu món cua cả," anh có thể nghe thấy tiếng nàng nói. "Còn anh thì sao?"

Anh không biết, anh nghĩ.

Trái tim anh cảm thấy bị che khuất bởi một thứ gì đó vô hình, bao quanh bởi một điều huyền bí thẳm sâu và mềm mại. Anh đã không còn sở hữu những manh mối mờ nhạt nơi phía trước của cuộc đời mình, và những điều có thể chờ đợi anh ở đó nữa. Nhưng cuối cùng cũng đã đến lúc chân trời phía Đông bắt đầu rạng lên, anh chợt nảy ra một suy nghĩ đột ngột: Có một điều mình dám chắc, anh nghĩ. Bất kể là dù mình có đi đến đâu, mình cũng sẽ không bao giờ ăn cua nữa.

Hết.

Truyện ngắn Cua (Kani) được in lần đầu tiên trong tuyển tập truyện ngắn Stories #50 xuất bản năm 1984. Bản tiếng Anh do Philip Gabriel chuyển ngữ.

Lời người dịch:

Kỳ thực mà nói, đây không phải lần đầu tiên tôi tiếp cận tác phẩm này, nhưng lại chính là lần đầu tiên đọc nó. Truyện ngắn “Cua” đã từng được đề cập trong tác phẩm “Sân bóng chày” trong tập truyện ngắn “Người Ti-vi” do bác Phạm Vũ Thịnh dịch, tôi đã được đọc sáu năm trước khi còn là một đứa học sinh cấp 3. “Sân bóng chày” là một truyện ngắn không nổi trội mấy so với mặt bằng chung các truyện của Murakami, nhưng trong đó có một đoạn hội thoại của hai người đàn ông, một người làm nghề xuất bản đã kể về truyện ngắn “Cua” này thông qua một cuộc thi viết truyện ngắn do tạp chí/nhà xuất bản của ông ta tổ chức. Tôi cứ nhớ nhớ quên quên, thế nào mà suýt bỏ qua một truyện siêu ngắn nhưng đặc sắc như vậy.

Đầu tiên tôi định dịch chỉ để tặng một người bạn thân nhằm vui đùa là chính thôi. Nhưng dịch xong rồi mới tâm đắc rút ra một chân lý: Phàm truyện ngắn nào của Murakami mà tựa đề dính đến tên con vật, là truyện ngắn đó... dịch rất mệt! Thế thôi. Mời mọi người thưởng thức.

Nguyễn Thảo Trang
dịch từ bản tiếng Anh của Phillip Gabriel

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Thiếu nhi đánh cờ tướng (Kỳ Y)

Published

on

By

Tại đại hội cờ tướng tiểu học cấp thành phố năm đó, quận Phú Nhuận cử ba em học sinh tiểu học đạt giải cấp quận đi thi đấu. Tôi và hai người khác trường – chúng tôi hẳn vẫn còn hỷ mũi chưa sạch nhưng đã vác một trọng trách to lớn. Tôi là đứa trẻ nhất, lớp hai, còn lại là một anh lớp bốn và một anh lớp năm. Phú Nhuận chưa bao giờ được giải nào cả, cái trường của tôi cũng chưa, và rất nhiều thứ chưa, chưa, chưa chỉ càng khiến tôi muốn mình là người đầu tiên phải chiến thắng. Đầu tiên, phải, đó cũng là năm đầu tiên tôi biết chơi cờ rồi đi thi đấu. Với sức chiến ngoan cường nén trong một đứa nhỏ thó, tôi đã có mặt ở đây sau hai vòng đấu trường và đấu quận khắc nghiệt. 

Sau trận đầu tiên thắng “xiềng” (theo lối nói từ ba tôi), huấn luyện viên quận gọi chúng tôi ra. Tôi, như một thằng láu cá háo thắng, xâu kẻ thù thành một xiên, bắt đầu vẫy vẫy cái xiên ấy rồi khoe tới tấp dẫu cái xiên mới chỉ tòng teng một chiến lợi phẩm. Ôi tôi tưởng như mình vô địch đến nơi! Dù nhà thi đấu trần cao như nhà hát và hoàn toàn khiến những đứa nhỏ chúng tôi vốn nhỏ lại càng teo nhỏ hơn vì kinh hãi, nhưng tôi, dường như lại bình tĩnh hơn cả. Khi thấy biên bản ghi điểm, ông huấn luyện viên khá hài lòng. Ông ta bắt đầu nhắc lại rằng ráng sức thắng những ván đầu, việc này rất quan trọng vì chúng tôi thi theo hệ số cộng dồn nên nếu thua thì xem như thua về đường dài. Còn nếu không thắng được thì hãy cố thủ hòa, vớt vát và có thể lội nước rút ở những ván sau. Nhưng thắng vẫn hơn, chỉ có thắng mới vui hết công suất được. 

Ba tôi cũng có mặt tại đó, nhìn ông hớn hở tôi biết ông rất mong thấy tôi được giải. Tôi nhớ đây là quãng thời gian hiếm hoi tôi xem ông như một người bạn, ông không còn là ông Nghị mà tôi vẫn khiếp sợ (Nghị: Ngờ-i-nghi-nặng-nghị – một loạt tổ hợp những thứ dữ dội, vừa có nghi lại vừa có ngờ, vừa có nặng lại vừa có nghiêm). Hai hôm thi vòng trường và vòng quận tôi đều được ông chở ăn phở. Thi giải thành phố khó hơn và kéo dài gần cả tuần nhưng ông vẫn đảm bảo cả tuần tôi được ăn những gì mình thích, thậm chí gà rán và pizza cỡ nhỏ. Ông hay xoa đầu tôi, ông bảo nếu tôi không được giải thì cho tôi cọ xát để biết mình chơi tốt chơi dở thế nào. Tôi biết ông nói vậy cho tôi đỡ áp lực thôi chứ sâu trong tôi không muốn phụ lòng ông. Tôi chỉ chực chờ, phải, tôi như một cục đá lửa chuẩn bị nẹt cháy tụi nó, hình ảnh ấy cứ ở trong đầu tôi, dù tôi hoàn toàn biết những đứa quận 1, quận 5 rất cao cường. Nói chung hai quận này toàn con cái nhà giàu nứt vách và đều cắp cặp đi học lớp ban đêm như luyện gà đội tuyển tụi Trung Quốc. Tức không phải hạng dễ xử. Tôi đã hỏi các anh lớp bốn lớp năm từng thi đấu xem tên này tên kia hay đánh thế gì để chuẩn bị trước. Còn ba bảo tôi bình tĩnh, hãy cố biến những thế cờ lạ thành thế cờ quen thuộc. 

Ván thứ hai sáng ngày hôm sau tôi thủ hòa với một tên quận 1. Tên ấy lớp bốn. Tôi bắt đầu biết khiêm tốn hơn vì tôi suýt thua đậm. Cho dù tôi đã biết tên đó đi Phản Công Mã nhưng tôi không bật lại được, tên này đánh quá dữ dằn và trây đến tận cờ tàn – thứ chẳng hề quen thuộc với tôi. Thằng khốn đó còn chơi trò tâm lý, giữa ván lúc tôi suy nghĩ lâu nó gọi cho ba nó (thứ công tử bột thích khoe điện thoại) bảo ba chở nó về, nó sắp thắng rồi. Tôi không lấy làm nao núng, dù tay tôi hơi run và yếu đi, mỗi hơi thở của tôi trở nên dồn dập hơn. Tôi có nghĩ mình sắp gục vì căng thẳng, và rồi đi đại một nước, một nước quan trọng. 

Hầu như những lựa chọn trọng đại trong cờ lẫn trong đời (thứ mô phỏng cờ) tôi đều chọn đại như vậy, như thể sau những hồi căng thẳng đến chết đi được, thì tôi sẵn sàng chết cho thật chóng vánh. 

May sao hòa trận. Được nửa điểm. Tôi giảm đi sự hớn hở với ba mình. Lúc ăn trưa ông có vẻ không an tâm tôi cho lắm, ông bảo tôi lấy biên bản ra và diễn lại trận đấu. Như giải trí thôi. Nhưng ba phân tích khá kỹ khiến tôi hơi căng thẳng, rằng tôi lại bỏ sót loạt nước yếu của đối thủ, rằng tôi đã không chớpthời cơ, rằng tôi điều quân lòng vòng và để nó quật cho hòa. Tôi gật gù và cố dung nạp những lời ba tôi căn dặn. Đầu óc tôi trên mây và đánh giá chúng cao quá chăng? Hóa ra chúng không ghê như tôi tưởng, vần vũ cho cùng cũng chỉ là khoa trương, cây nhà lá vườn vẫn ổn hơn cao lương mỹ vị. Tôi lấy tự tin trở lại cho ván đấu chiều. 

Tôi đợi đối thủ đến và nhâm nhi chai nước lạnh ba tôi mua cho. Thằng này đến trễ, dân cờ quận 5, nó định chơi trò tâm lý như thằng quận 1 thật sao? Đầu óc tôi bay lòng vòng trên những giàn đèn rồi chớp lóe thay cho chúng. Tôi vốn biết mấy trò tâm lý. Như nhiều thằng khi đương đánh lại bỏ đi sang bàn khác, ngắm nghía rồi toát ra vẻ mặt kiêu kỳ. Một vài đứa khác có trò vào nhà vệ sinh đi tiểu – thì hẳn chúng chẳng nhờ ai mách nước đâu, nhưng có khi lại cầu cứu ông thần vệ binh ông thần vệ sinh nào trong đấy. Toàn thứ ra vẻ, toàn thứ hèn nhát. Tôi sốt ruột chờ tên ấy, trọng tài bấm đồng hồ giúp tôi trừ giờ thằng đó. Tôi bắt đầu háo hức, tôi có thể được miễn đấu và thắng một điểm không tốn sức. Tôi bắt đầu mơ mộng. Bỗng nhiên những dòng sung sướng cuộn trong tôi như phước báu kiếp trước lũ lượt ùa về. Tôi cầu tên đó ngủ quên. Tôi cầu tên đó bị mất giấy thi đấu. Tôi cầu tên đó bị kẹt xe tắc đường; nếu không tắc thì tôi cầu cho tên đó ngồi trên bàn cầu, bị thần vệ sinh trừng phạt và ban cho cơn tiêu chảy. Tôi thật ác độc, nhưng tôi cũng thật chính đáng. 

Nhưng rồi rột rẹt, tạch, tạch, tạch. Tên đó đến, ký giấy và chúng tôi lao vào trận đấu nghẹt thở. Đồng hồ cứ thế luân phiên ăn bớt thời gian mỗi người. Hóa ra mơ mộng chỉ khiến cho con người ta kiểu nào cũng phải xấu hổ. Tôi đã phí phạm thời gian nghĩ chuyện không đâu. Mọi thứ vốn dĩ nằm ngoài dự đoán của ta đấy thôi. Tôi có chút thất vọng, và rồi từ hùng hồn tôi chuyển sang khuynh hướng có chút sợ hãi rằng mình đã suy nghĩ xấu cho đối thủ và sẽ gặp quả báo. Tôi đi trước, đã chĩa họng Pháo nhòm xa vào mặt Tướng đối thủ, tên đó vừa vào đã đá hai Mã vào trung tâm, Sĩ gác Tượng nâng phòng thủ chắc chắn. Những quân cờ lạnh lùng, chốc chốc lại chém giết, hất nhau nhảy ra bàn cờ cho đại cục. Bình Phong Mã, thế cờ lừng danh mà tôi vốn biết và yêu thích chơi cho bên Hậu, giờ tôi phải đấu với kẻ dùng chính thế trận yêu thích của mình. Nhưng vui thay, cây nhà lá vườn vẫn hơn cao lương mỹ vị, tên này không biết đánh và để mất một con Xe “yếu nhớt”. Tôi muốn bật cười ha ha như mấy bộ phim hoạt hình nhố nhăng tôi vẫn hay xem. Trời, thật chứ? Con Xe, một trong những con đắt giá nhất bàn cờ, tận 10 điểm. Không thể tin được, tuyển thủ quận 5 đây sao? Người Việt đánh cờ vẫn hơn người Hoa! – tôi nhớ có ai nói vậy.

Tôi cầm chắc phần thắng. Tôi đi chầm chậm lại chờ cho nó hết giờ. Tôi chỉ có thể thắng. Tôi dâng con Xe “ngon nghẻ” của mình lên (tôi thích cách nói này từ ba tôi lắm), bỏ lại hàng rào phòng thủ, như một cầu thủ đang muốn tạo đột phá. Tên đó hình như điềm tĩnh trở lại… nó dốc hết lực đánh tôi, bên cánh phải, chỉ để lại một con Mã ở quê nhà. Tôi bắt đầu căng thẳng. Mọi việc hóa ra không trơn láng, nó chỉ trơn láng khi ta chỉ cứ một mạch mà đi, đằng này, tôi lại bắt đầu do dự. Tôi sợ bị đột kích. Tôi không thể thua nhảm nhí được. Tôi hít sâu, rồi hơi thở tôi đẩy mạnh như một cái pô xe phân khối lớn. Tôi chần chừ phần thắng, vì tôi muốn mình không được thua trước. Tôi bốc con Xe lùi lại.

“Ê! Kỳ vậy! Trọng tài!”

Nó làm ngắt mạch suy nghĩ của tôi và làm tôi chuẩn bị phải suy nghĩ lại từ đầu. Vì lý do gì đó. Không sao. Tới lượt nó đi. Tôi có thêm thời gian ký sinh từ thời gian của nó.

“Sao em?”

Ông ta bước lại, dáng vẻ hơi nhọc vì cái bụng mỡ. Ông là trọng tài duy nhất của dãy bàn chúng tôi, tôi thiển nghĩ, hẳn ông cực lắm vì ông cứ đi qua đi lại hoài. Rồi tôi thấy cái bụng nhòng nhòng trồi đập vào lớp áo thun, cái bụng y như một tù nhân đòi được thoát khỏi cái nhà tù bằng vải.

“Bạn này bốc con Mã nhưng lại đi con khác.”

“Là sao? Em, em bốc cờ thì phải đi chứ.”

“Con… con đâu có bốc con Mã đâu! Bạn nói gì kỳ vậy?”

“Có bốc đàng hoàng, con thấy rõ ràng luôn chú!”

“Không! Làm gì có!”

“À, em có nói sửa cờ không?”

“Bạn không hề nói sửa cờ. Cách bạn bốc cờ không phải là sửa cờ cho ngay lại chú, mà bốc xong bạn rụt tay lại hối hận. Rồi bạn bốc con khác!” 

Nó diễn lại nước vừa rồi cùng tư thế ngồi của tôi. Tôi căng mắt và không thể tin được, vì đúng là tôi đã vô thức chạm trúng tay con Mã.

“Vậy... là con có đụng, cho con xin lỗi.”

Sau lời nói run rẩy của tôi, ông ta gật gù, biên độ của ông theo biên độ đập tay lên bàn của nó, khi nó đang giải thích kỹ hơn một lần nữa. Nhưng rồi vì sự hiền hậu ở những người có chiếc bụng ông địa toát lên, ông ta dịu dàng trấn an:

“Thôi thôi, bình tĩnh. Lần này chú nhắc, lần sau là không nhắc lại.”

“Dạ... con nhớ rồi!”

“Đụng quân là phải đi. Luật là luật! Nhớ đó. Hai đứa đánh tiếp đi. Tới giờ của em đúng không, rồi.”

Kịt, ông ta ấn đồng hồ.

“Dạ…” 

Tôi lí nhí, rồi thất thần quay đầu trở lại bàn cờ. Ông ta bước rảo qua bàn bên, một luồng khí luồn dọc sống lưng tôi. Tôi bị làm sao không thể tỏ. Tôi đã cẩn trọng đến mức như thể chủ quan. Tôi rơi vào điểm mù của cẩn trọng. Tôi tìm cách thoát ra, nhưng không thể. Tại sao có nhiều nước để đi thế này và nước nào cũng rất triển vọng lẫn rủi ro? Tôi muốn đi đại, nhưng không được, vì tôi không thể thua. Tôi thấy nghẹt thở quá. Hẳn người lớn hay gọi đây là áp lực, vì nó căng phồng khắp tôi, biến tôi thành trái bong bóng chực chờ nổ tung.

Tên đó bốc con Pháo đâm xuống đáy bên phía tôi, dọa chiếu bí bằng đòn Pháo Trùng. Tôi há hốc mắt mình ra vì kinh ngạc, tên đó đã lấy lại phong độ trở lại. Không sao, tôi chỉ cần một nước xuất Tướng là xong. Nhưng từ từ, tôi có thể thắng ngay bây giờ không? Tôi hẳn phải có nước nào đó chiếu liên tù tì. Tôi phải dứt điểm sớm, như ba tôi nói, tôi không thể chần chừ.

Không, cho dù đã hơn thế trận thì tôi vẫn không thể nào chủ quan. Tôi không thể để nỗi sợ thua ám muội mình. Tôi chỉ sợ chiến thắng vụt mất. Giờ tôi mà bốc con cờ khác là thua ngay. Tôi không được bốc con cờ khác. Chỉ cần chạm con Tướng thôi, là tất cả chiêu trò dụ dỗ được tháo gỡ.

“Sửa cờ.”

Tôi hô lên, giữ bình tĩnh, chỉnh các quân cờ ngay ngắn lại trước khi thực hiện nước quan trọng. Luật là chỉ cần hô lên và dùng tay dịch sửa cờ thôi, tôi không bị tính lỗi là bốc quân mà không chịu đi. Nó nhăn mặt nhìn tôi, ra vẻ bất ý. Rồi tôi đưa sự tập trung của mình trở lại trận địa. Nhưng tôi không thể sơ sót, tôi xem kỹ lại vị trí các quân cờ một lần nữa. Những tia sét xẹt trong đầu tôi, vì khi căng thẳng chơi cờ, não con người ta phát sáng cực độ, và tôi đây đang nhìn vào khoảng vô định cùng những mộng tưởng và sát chiêu. Tôi căng thẳng quá, tôi không thể chịu được!

“Trọng tài ơi!”

“Sao, có gì nữa!”

“Bạn này mới bốc con Tượng rồi không chịu đi!”

“Sao sao, đâu.”

“Bạn bốc cờ rồi không đi.”

“Nữa hả? Em lại vậy nữa. Chú đã dặn em rồi!”

“Đã vậy con đâm con Pháo xuống chiếu bí bạn, bạn không chịu, đòi đi lại.”

“Em này, chú đã nhắc em rồi! Bốc cờ là phải đi!”

“Em…? Em… không, em không có bốc mà!” 

“Đây chú, bạn này bốc con Tượng, nãy bạn đụng tay vậy nè, chính tay bạn đụng luôn. Bạn đụng rồi rụt tay lại, bạn không hề nói sửa cờ! Rồi con mới đâm con Pháo xuống đây, chiếu bí hết cờ!”

“Em à, em có đụng không?”

“Em không đụng… em không đụng thật mà!”

“Trời, nó nói xạo! Nó đụng rõ ràng!”

Vài người lớn hiếu kỳ bước lại chỗ bàn tôi, tôi và thằng đối thủ đang làm ầm nhà thi đấu lên. Chúng tôi cãi cọ. Một số người phụ dời bàn những đứa khác ra xa, tránh để bị phân tâm. Bọn chúng nhìn tôi – nhìn tôi, chứ không phải thằng đối thủ tôi – như thể tôi là một kẻ đểu cáng lừa lọc. Tôi đang cố sức minh oan cho mình, nhưng tôi không thể nhớ được.

“Ba?”

Ba tôi đứng ở ngoài, ông thấy bàn tôi nhiều người lớn xôm tụ lại như kiến bu dĩa đường. Khi tôi vừa thấy ba, ba bật cười. Lòng tôi cấn lên đau nhói, hẳn ông đang nghĩ rằng tôi đánh hay đến mức hút cả người lớn lại xem, rằng ván cờ của thằng con mình có khi được lên báo, dẫu nó có thua hay thắng cũng không sao cả. Nhưng rồi, thấy có gì đó không ổn, rằng tôi lại không đánh cờ mà lại nói chuyện với trọng tài, ba bước lại. 

“Có chuyện gì vậy anh?”

Ông trọng tài bước lại ba tôi rồi quơ tay giải thích. Ba tôi khựng lại như để trút hết mọi ảo tưởng, ông điềm đạm bước lại gần bàn cờ. Và rồi ông cũng đứng sau tôi. Ông trọng tài lặp lại vấn đề. Chốc chốc ông ta lại chỉ vào bàn cờ, ba tôi bắt đầu dõi theo với ánh mắt sắc cạnh. Đến lượt bọn chúng, bọn con nít tuyển thủ nhìn ba tôi. Ba tôi không bận tâm, rồi bình tĩnh chỉ “là tới đây nó bốc con Tượng à?” Rồi, như tôi dự đoán, ba tôi không tin, ông nhìn tôi, dáng vẻ như một con hổ hừm hừm. Ông hỏi tôi.

“Con, có đụng không con?”

“Con… con không…”

“Nó đụng anh ạ.”

“Từ từ! Con tui không có đụng cờ. Nó nói không đụng là không đụng. Ông có bằng chứng gì không? Có camera không? Ai làm chứng?”

“Có mấy đứa bàn cạnh làm chứng. Anh bình tĩnh, để hỏi thử một đứa xem là biết liền.”

“Tụi nó lo đánh nhau, hơi đâu mà để ý bàn khác. Nhảm nhí!”

“Anh bình tĩnh! Em này nãy đã bắt lỗi con anh một lần, tôi đã dặn kỹ cả hai, rất kỹ. Không lý gì em kia lại bắt lỗi con anh nữa nếu con anh không sai.”

“Anh nói không không như vậy chẳng ích gì! Camera, có camera không?”

Ông trọng tài lắc đầu rồi giơ cánh tay quảng đại của nhạc trưởng. Ông cố giải thích mọi chuyện với chất giọng âm ấm: nhà thi đấu có camera, dù rất mờ, nhưng nếu muốn ông có thể liên hệ với bảo vệ bật cho chúng tôi cùng xem.

Rồi chuyện đi xa hơn. Chẳng cần đợi lâu, bảo vệ cũng nghiêm nghị bước vào cuộc. Họ mang máy tính xách tay đến và trích xuất camera. Chuyện hệ trọng rồi. Quả là camera mờ thật, chỗ chúng tôi hơi khuất tầm camera, đó là chưa kể các quân cờ khá nhỏ. Tôi, ngồi xếp hai tay che bàn cờ, bị khuất khá nhiều – chuyện cũng tương tự với tên đối thủ của tôi. Mười lăm phút trôi qua, bảo vệ tua hết chỗ nọ, cũng không thấy được ván cờ như thế nào. Ai nấy sốt ruột. Ba tôi lắc đầu, và tôi biết ông đang tìm cách để tôi đi lại nước cờ, hoặc tệ lắm là đấu lại ván mới. Nhưng rồi trọng tài gạt bỏ hết tất cả: 

“Quan trọng là có tôi ở đây giám sát. Tôi biết em nào nói dối hay không. Tôi là trọng tài cờ tướng hai mươi năm rồi, nhiều trường hợp các em đụng cờ không chịu đi, tôi cũng phải xử thua. Con nít mà anh. Mà không phải hơ đâu một cái các em bị lỗi mà tôi xử, trước đó tôi phải dặn dò các em rất kỹ. Giờ anh nghĩ xem, đấu lại, có phải không thỏa đáng không?”

“Thế nào mới thỏa đáng? Rõ là con tui sắp thắng! Nó không thể bốc cờ ngớ ngẩn như vậy được! Còn thằng này nó thua đến nơi rồi, nó mới chơi thủ đoạn. Anh nhìn thế cờ này đi, anh tin ai?”

“Nhưng đứa này thắng trước, anh nhìn đi.”

“Trời, vui thật ha.”

Ba tôi cười chua chát. Tên đối thủ lên tiếng:

“Nhưng rõ ràng là bạn này đụng cờ! Nếu không đụng cờ, sao bạn lại run như vậy chứ!”

“Mình không đụng… vì đụng con đó chả khác nào thua cờ... Mình đã nói sửa cờ rồi mà.”

“Kỳ, con nói lại lần cuối cho ba xem. Con có đụng hay không?”

Ông chủ giải thưởng bước đến. Đầu óc tôi rối bừng, và giờ vẻ như tôi không thể nhớ là tôi có đụng hay không.

“Anh à… bớt nóng, ở đây có nhiều em đang thi đấu. Trọng tài đã nói như vậy rồi, có gì không ổn mình nói nhỏ nhẹ với nhau. Mình cư xử có văn hóa chút ạ.”

“Thôi… mấy người ăn chia với nhau, quận 5 lúc nào chả được ưu ái,” ba tôi bật cười mỉa mai. 

“Anh nói như vậy mà nghe được à? Đây là luật.”

Hai dòng nước mắt của tôi thi nhau chảy. Tôi không nói được lời nào vì cổ họng tôi bận co giật thút thít. Thằng quận 5 được nước gác tay lên xoang má, rồi ra vẻ không muốn nhìn thấy cảnh tượng nhảm nhí này. Hắn ra vẻ như người lớn. 

“Tóm lại, con anh nó chạm vào quân cờ mà không chịu đi. Nãy giờ hơn một tiếng đồng hồ đôi co, tui đã nhắc nó kỹ rồi mà nó vẫn phạm, thì tui xử thua chứ sao! Giờ anh có ý kiến hay phân bua gì không?”

“Con... không… đụng mà…” 

“Trời, thằng này nó đụng đàng hoàng!”

“Không…” 

Tôi như thằng nói dối. Tôi cảm tưởng mình càng nói thì càng sai, nên đành nín lặng.

“Tôi quyết định xử thua.” 

Ba tôi quát lớn lên với toàn thể hội đồng: 

“ANH IM ĐI!” 

Vừa ngay khi tiếng la của ba vang vọng khắp trần nhà làm rung những chòm đèn, tất cả mọi người ngoái đầu nhìn. Có những tiếng xì xầm rộ lên kèm những gương mặt đắc thắng ở bàn bên, có lẽ bọn chúng vui vì có thêm chuyện để nói. Bảo vệ chuẩn bị sấn bước đến can thiệp. 

Mọi người xem ba như trò cười. Còn tôi thì lại khóc. Ngày một lớn hơn. 

Ba tôi dứt lời rồi nghiến chặt răng bước ra sảnh. Tôi có thể đoán thế, dù tôi không thể và cũng không dám nhìn ai, tôi xấu hổ khi mình lớn xác mà lại còn khóc nhè. Tôi không xấu hổ ba mình. Tôi chỉ xấu hổ vì tôi đã đưa ba vào tình cảnh này. Bù lu bù loa, tôi chỉ một mạch bước đi, màn sương phủ lấy tôi, tôi như kẻ mù bởi chính nước mắt mình. Tôi lẽo đeo núp sau ba tôi rồi cũng tới bãi xe. Khi ngồi ôm ba sau xe, tôi dịu lại. Ba chở tôi ra công viên Hoàng Văn Thụ rồi hai cha con chúng tôi ăn kem xe bán hàng rong. Ba tôi không nói gì một lúc. 

“Con có đụng con Tượng không…?” 

Rồi sự thật, một sự thật phũ phàng từ sâu thẳm cơn quên hiện lên.

“Dạ… có…” 

Ông im lặng. 

Tôi cúi gầm mặt, rồi chẳng khóc được nữa.

Buổi chiều nắng vàng rực đến mức không thể cắt nổi nghĩa. Tôi chính thức thua cuộc khi trông thấy mái đầu ba mình óng ánh bạc nắng.

Tôi từ bỏ thi đấu cờ tướng vĩnh viễn, chỉ xem nó như trò giải trí cho đến tận sau này. Dù ba muốn tôi thi đấu tiếp, nhưng rồi tôi không thể nào vượt qua được sức nặng của những lựa chọn.  

Kỳ Y

Đọc bài viết

FICTION

Thơ: Thế giới của chúng ta (Hải Âu)

Những nỗi buồn tan vào mây / Buổi chiều lộng lẫy / Tiếng thở dài luồn qua kẽ tay / Rơi vào thinh lặng

Published

on

Cho chúng ta.

Những nỗi buồn tan vào mây
Buổi chiều lộng lẫy
Tiếng thở dài luồn qua kẽ tay
Rơi vào thinh lặng

Em ngủ dậy chưa?
Căn phòng này trống vắng
Chỉ có ta và chiếc bóng
Của chính ta

Hoàng hôn đã tắt
Thành phố sao xa lạ
Những mảng tường trắng xóa
Như bức vẽ không màu

Em đang ở đâu?
Ngay đây hay ngoài tầm với
Muốn nghe em cười nói
Những chuyện ngày xưa

Tôi đi tìm em
Mò mẫm trong cơn mưa
Mỏi mòn trong ánh nắng
Em ngủ dậy chưa?

Cô bé của tôi
Cô bé trong tấm gương này
Cô bé trong bức ảnh này
Em đang ở đâu?

Em lạc trong tôi
Ta tan chảy trong nhau
Cả niềm vui lẫn nỗi đau
Người muôn bộ mặt

Của em và tôi
Của anh ta cô ta nữa
Chúng ta đang ở đâu?
Ở đâu?

Hải Âu

Đọc bài viết

Cafe sáng