FICTION

Truyện ngắn: Còn nhiều chuyện hơn nữa (Jorge Luis Borges)

Dành tưởng nhớ H. P. Lovecraft

Published

on

Dịch từ truyện ngắn There Are More Things trong tập The Book of Sand của Jorge Luis Borges, bản dịch tiếng Anh của Norman Thomas di Giovanni.

*

Ngay khi tôi chuẩn bị tham dự kỳ thi sau chót tại Đại học Texas, Austin, tôi hay tin chú Edwin Arnett đã chết vì chứng phình động mạch ở miền biên viễn xứ Nam Mỹ. Tôi cảm thấy như chúng ta vẫn luôn cảm thấy khi ai đó qua đời – nhận thức đau buồn, giờ đây vô ích, về cái cách lẽ ra ta phải yêu thương nhiều hơn song lại ít đến dường nào. Người ta quên mất một người chết thì trái ngược với người chết. Tôi học triết; tôi nhớ hồi ở Nhà Đỏ gần Lomas, chú tôi, không đụng tới một danh từ riêng nào, đã hé mở cho tôi những phức tạp đầy duyên dáng của giới luật. Chú ấy dùng một trong các quả cam tráng miệng khai vỡ cho tôi chủ nghĩa duy tâm Berkeley, dùng bàn cờ luận giải nghịch lý Eleatic. Nhiều năm sau, ông cho tôi mượn luận thuyết Hinton, thứ cố gắng chứng minh tính xác thực của chiều không gian thứ tư, động viên người đọc ngộ ra chiều không gian đó thông qua những bài luyện phức tạp với các khối lập phương đủ màu. Tôi sẽ không bao giờ quên mớ lăng trụ và kim tự tháp chúng tôi lắp ráp trên sàn phòng làm việc của ông.

Chú tôi là kỹ sư. Trước khi nghỉ việc ngành đường sắt, ông quyết định chuyển đến Turdera, nơi đem lại cho ông những lợi thế kết hợp giữa một miền hoang vu ảo diệu đầy cô độc và một vùng phụ cận Buenos Aires. Không gì tự nhiên hơn rằng người bạn thân Alexander Muir là kiến trúc sư cho ngôi nhà của chú. Con người nghiêm khắc đó công khai thừa nhận học thuyết khắt khe của Knox; chú tôi, theo lối của hầu hết các quý ông cùng thời, là người độc lập tư tưởng – hay đúng hơn là người theo thuyết bất khả tri – song cùng lúc ông cũng quan tâm đến thần học, theo cùng cách ông quan tâm đến mấy khối lập phương sai lầm của Hinton và những cơn ác mộng có cơ sở của Wells trẻ tuổi. Chú ấy thích chó; ông có một con chó chăn cừu lớn mà ông gọi là Samuel Johnson, để tưởng nhớ Lichfield, thị trấn hẻo lánh nơi ông chào đời.

Nhà Đỏ toạ lạc trên đồi, phía tây bao bọc bởi vùng đầm lầy.

Những cây thông Norfolk dọc ngoài hàng rào không thể xoa dịu bầu không khí ngột ngạt. Thay vì những mái bằng, nơi người ta có thể hít thở khí trời vào đêm oi nồng, ngôi nhà có một mái nhọn lợp ngói đá phiến và một tháp vuông có gắn đồng hồ; những cấu trúc này dường như đè nặng lên các bức tường và cửa sổ cáu bẩn của ngôi nhà. Khi còn bé, tôi chấp nhận sự thật xấu xí đó như người ta chấp nhận mọi điều trái nết chỉ bởi duy nhất lý do tất cả đều chung đụng trong cái gọi là “vũ trụ”.

Tôi hồi hương năm 1921. Để tránh kiện tụng, ngôi nhà được đem đấu giá; một người ngoại quốc, một người đàn ông tên Max Preetorius, người trả gấp đôi mức giá người trả cao thứ hai đặt ra, đã mua nó. Ký xong chứng từ mua bán, một tối ông ta đến cùng hai phụ tá rồi quẳng mọi đồ đạt, sổ sách, hàng gia dụng trong nhà ra một bãi rác không xa Binh Lộ. (Tôi buồn bã nhớ lại mớ biểu đồ trong tập Hinton cùng quả địa cầu vĩ đại bằng đất nung.) Hôm sau, ông ta đến gặp Muir đề xuất đôi chỗ thay đổi nhất định cho ngôi nhà, nhưng Muir phẫn nộ cự tuyệt thi hành. Rồi thì một công ty ở Buenos Aires đảm nhận việc này.

Cánh thợ mộc trong làng khước từ sơn sửa lại ngôi nhà; cuối cùng một Mariani nào đó từ Glew chấp nhận các điều kiện Preetorius đưa ra. Trong nửa mùa trăng, ông ta làm việc về đêm, sau cánh cửa đóng. Và vị chủ mới chuyển đến Nhà Đỏ cũng vào ban đêm. Cửa sổ vĩnh viễn khép kín, song qua bóng tối, có lẽ ai đó phát ra những vệt sáng.

Một buổi sớm khi đang đi dạo, người giao sữa bắt gặp xác con chó chăn cừu, bị chặt đầu và phanh thây.

Mùa đông năm ấy những cây thông Norfolk bị đốn hạ. Không ai gặp lại Preetorius; dường như ông ta xuất ngoại liền sau đó.

Độc giả có thể mường tượng ra những tường trình như thế làm tôi bối rối. Tôi biết mình nổi tiếng vì thói tò mò, thói xấu ấy dẫn lối tôi đến cuộc hôn nhân với một phụ nữ hoàn toàn trái ngược bản thân (chỉ để xem tôi có thể khám phá ra cô ta là ai và thực ra là người thế nào), làm tôi thử thuốc phiện (kết quả không mấy khả quan), thúc đẩy tôi nghiên cứu số vô tỉ, đưa tôi vào câu chuyện phiêu lưu khủng khiếp mà tôi kể ra đây.

Ắt hẳn, tôi quyết định xem xét lại vấn đề kia.

Bước đầu tôi đến gặp Alexander Muir. Tôi nhớ ông người da màu, thẳng đuột, vẻ gầy gò không làm ông yếu ớt; giờ đây năm tháng làm ông khom đi và bộ râu đen tuyền ngả sang màu xám. Ông đón tôi nơi cửa nhà ở Temperley – dễ đoán nhà ông hao hao nhà chú, bởi cả hai đều tuân theo các quy tắc nền tảng của nhà thơ có tài kiêm chủ thầu hạng xoàng William Morris.

Chúng tôi chuyện trò khá cứng nhắc; chẳng phải về mấy chuyện phiếm vặt vãnh như cây kế gai là biểu tượng Scotland. Tuy vậy tôi cảm thấy trà Tích Lan đậm đà cùng dĩa bánh nướng mực thước (mà vị chủ nhà bẻ vụn và phết bơ như thể tôi vẫn còn là một đứa trẻ) thực ra lại là bữa tiệc thanh đạm kiểu đạo Calvin được bày ra cốt chào đón đứa cháu trai người bạn cũ. Tranh luận thần học giữa ông và chú là một ván cờ đằng đẵng, trong đó yêu cầu mỗi kỳ thủ phải cộng hưởng tâm hồn với đối thủ của mình.

Thời gian dần trôi và tôi không thể mang chính bản thân ra nhằm gợi mở đề tài chuyện gẫu. Chúng tôi im lặng trong khiên cưỡng và rồi Muir độc thoại.

“Chàng trai trẻ”, ông nói, “anh không ngại phiền hà tới đây nói với tôi về Edwin hay Hoa Kỳ, xứ sở mà tôi chẳng mấy bận tâm. Điều khiến ban đêm anh mất ngủ là chuyện bán đi Nhà Đỏ, và một kẻ hiếu kỳ đã mua nó. Chà, nó cũng khiến tôi mất ngủ.

Thật lòng mà nói, toàn bộ sự vụ cực kỳ khó chịu, nhưng tôi sẽ nói cho anh những gì tôi biết, dù chẳng nhiều nhặn gì.”

Trong khoảnh khắc, ông từ tốn tiếp lời.

“Trước khi Edwin qua đời, thị trưởng gọi tôi tới văn phòng. Cha xứ ở sẵn trong đó. Họ muốn tôi phác thảo sơ đồ nhà nguyện Công Giáo. Họ sẽ trả hậu cho tôi. Tôi đáp ngay tại chỗ.

Không, tôi nói với họ, tôi là con chiên của Chúa, và tôi không thể phạm tội ghê tởm như dựng nên bệ thờ ngẫu tượng.”

Đến đây ông dừng lại.

“Tất cả chỉ có vậy?”, tôi mạo muội.

“Không. Con lợn Do Thái Preetorius muốn tôi phá hủy công trình của mình, ngôi nhà tôi đã xây nên, và thế vào đó một thứ quái đản. Đúng là có đủ thể loại kinh tởm.”

Ông phát âm những từ này với lực nhấn rất mạnh, sau đó đứng dậy.

Khi tôi rẽ vào góc phố, Daniel Iberra tiến đến chỗ tôi. Chúng tôi biết nhau như cách người trong các thị trấn nhỏ vẫn biết nhau. Gã ta đề nghị chúng tôi cùng nhau quay lưng bách bộ. Tôi không bao giờ giữ bất kỳ bản sơ yếu nào về bất kỳ kẻ khó ưa nào hay về số phận họ, và tôi có thể thấy trước một chuỗi bần tiện ít nhiều bạo lực và ít nhiều những chuyện ngụy tạo bên quầy bar, nhưng tôi chịu thua bản thân và nói mình sẽ đi cùng gã. Trời đã chập tối. Khi gã thấy Nhà Đỏ trên ngọn đồi cách đó vài dãy nhà, Iberra rẽ xuống một con phố khác. Tôi hỏi gã tại sao. Câu trả lời không như tôi mong đợi.

“Tao là cánh tay phải của ông trùm Felipe. Không ai được phép nói tao lùi bước trước bất cứ điều gì. Chắc mày còn nhớ tay Urgoiti từ Merlo đến tận đây lùng tao, và chuyện gì xảy ra với hắn khi tìm thấy tao. Chà, nghe này – vài đêm trước tao từ một vụ lùm xùm lớn trở về. Cách nhà chừng trăm thước, tao thấy thứ gì đó. Tao nổi cả da gà, và nếu tao không nói chuyện với con ả rồi đi dọc con hẻm đó, ắt hẳn tao không phải kể lại chuyện này. Thứ tao đã thấy là…” Gã ta lắc đầu, rồi tức giận chửi bới.

Đêm đó tôi mất ngủ. Hửng sáng, tôi mơ thấy một bản khắc trường phái Piranesi, một bản khắc tôi chưa từng thấy trước đây hoặc đã thấy và đã quên – bản khắc về một loại mê cung. Đó là hí trường bằng đá bao quanh bởi những cây bách, song bờ tường cao hơn ngọn cây. Không có cửa ra vào hay cửa sổ, nhưng xuyên qua nó là những chuỗi vô hạn các gờ dọc đứng hẹp. Tôi đang dùng kính lúp gắng tìm con Nhân Ngưu. Cuối cùng tôi cũng thấy nó. Nó là quái vật trong quái vật; nó ít giống bò đực hơn trâu, còn phần nhân dạng của nó nằm sát mặt đất. Nó dường như đang ngủ, và đang mơ – nhưng mơ về cái gì, hay về ai?

Tối đó tôi ngang qua Nhà Đỏ. Cổng hàng rào bị khoá, vài ba thanh sắt xoắn xuýt xung quanh. Những gì là vườn tược trước kia thì giờ đây trở thành cỏ dại. Bên phải có một rãnh mương cạn, bờ mương bị giẫm nát.

Tôi vẫn còn con bài tẩy trong tay áo, nhưng trì hoãn sử dụng vài ngày, không chỉ vì tôi cảm thấy nó vô dụng đến nhường nào mà còn vì nó sẽ kéo tôi đến điều không thể tránh khỏi, điều tối hậu.

Cuối cùng tôi đến Glew, chẳng hy vọng gì nhiều. Mariani, người thợ mộc, giờ đây sau nhiều năm đã già đi, một người Ý núc ních, hồng hào – một ông bạn rất thân thiện, khiêm nhường. Giây phút nhìn thấy ông, tôi từ bỏ mớ âm mưu đầy hứa hẹn nảy ra mấy ngày trước. Tôi đưa ông danh thiếp, ông đánh vần thành tiếng nom kiểu cách, và pha lẫn chút kính cẩn trong một thoáng khi ông đọc đến từ Tiến Sĩ. Tôi nói với ông rằng mình quan tâm tới những đồ dùng mà ông làm cho chú trong ngôi nhà ở Turdera. Ông già liên tục tiếp chuyện. Tôi không cố phiên lại những chữ (và được phát ngôn rõ ràng) ông dùng, song ông bảo đảm với tôi phương châm của ông là “dù cho có kỳ cục đến đâu, cũng phải thoả mãn nhu cầu khách hàng”, và cho hay ông sống theo lẽ đó. Sau khi lục tung mấy cái hộp, ông đưa tôi xem mớ giấy tờ mà tôi không thể đọc ra, có chữ ký của Preetorius khó lường. (Ắt hẳn ông nghĩ tôi là luật sư.) Giờ phút chia tay, ông tâm sự mọi tiền của trên đời cũng không thuyết phục được ông đặt chân trở lại Turdera, ít nhất là trở lại căn nhà đó. Ông còn cho hay khách hàng luôn đúng, nhưng theo thiển ý của mình, Ngài Preetorius “không đúng cho lắm,” ấy là nếu tôi hiểu ý ông – ông gõ gõ ngón tay lên trán. Rồi, hối hận vì đi quá xa, ông không nói nữa. Tôi sẽ không được nghe thêm bất cứ lời nào từ ông.

Tôi đã thấy trước thất bại này, nhưng thất bại này lại giúp thấy trước chuyện gì đó, và chuyện gì khác nữa khi chúng xảy đến.

Tôi không ngừng tự nói với bản thân rằng thời gian – mạng lưới vô tận của hôm qua, hôm nay, tương lai, mãi mãi, không bao giờ – là bí ẩn thực sự duy nhất. Những suy nghĩ uyên áo như vậy chẳng giúp gì cho tôi; sau khi dành cả buổi tối nghiên cứu Schopenhauer hay Royce tôi vẫn sẽ lang thang, đêm này qua đêm khác, dọc những con đường đất giáp ranh Nhà Đỏ. Đôi khi tôi thấy thứ ánh sáng rất trắng phát ra trên đồi, những lúc khác tôi nghĩ mình nghe thấy tiếng rên rỉ. Chuyện này tiếp diễn cho tới mười chín tháng Giêng.

Đó là một trong những ngày ở Buenos Aires khi người ta không những cảm thấy bị mùa hè lăng mạ và lạm dụng, mà thậm chí còn cảm thấy ô nhục. Khoảng mười một giờ đêm những đám mây bão xổ ra. Đầu tiên là gió nam, rồi sau đó là những màng, sóng, dòng nước. Tôi chạy loạn xạ trong bóng đêm, cố tìm lấy một cái cây nhằm trú ẩn. Trong thứ ánh sáng sắc lảnh loé lên từ một tia chớp, tôi thấy mình cách hàng rào vài bước chân. Tôi không chắc vì sợ hãi hay hy vọng mà tôi thử vượt qua cổng. Thật ngạc nhiên, cổng đã mở. Bị bão thổi quất, tôi di chuyển về phía trong, đất trời như đang thúc ép tôi. Cửa trước khép hờ. Mưa từng cơn tạt vào mặt và tôi bước vào.

Bên trong, sàn nhà được nâng lên, chân tôi giẫm lên từng lùm, từng mảng cỏ. Mùi ngai ngái, ngòn ngọt tràn ngập ngôi nhà. Bên trái hay phải, tôi không chắc lắm, tôi vấp phải một bờ dốc đá. Tôi trườn lên nó. Gần như vô thức, tay tôi cố mò cho ra công tắc đèn.

Phòng ăn và thư viện trong hồi tưởng của tôi giờ đây (bức tường ngăn cách đã bị phá bỏ) là một căn phòng lớn hoang tàn, đồ đạc liểng xiểng vương vãi xung quanh. Tôi không cố mô tả bởi vì bất chấp thứ ánh sáng trắng gay gắt, tôi không chắc thực sự mình có nhìn rõ chúng hay không. Hãy cho tôi giải thích: Muốn thực sự nhìn thấy một sự vật, người ta trước tiên phải hiểu chúng. Ghế bành ám chỉ cơ thể con người, với các khớp và chi; cái kéo, với hành động cắt. Từ một ngọn đèn, hay một chiếc ô tô có thể nói lên điều gì? Kẻ man rợ không thực sự lĩnh hội Kinh Thánh của nhà truyền giáo; người hành khách không nhận thấy cấu trúc con tàu như thủy thủ đoàn. Nếu chúng ta thực sự nhìn thấy vũ trụ, có lẽ ta sẽ hiểu nó.

Không có bất kỳ hình thái vô tri nào mà tôi nhìn thấy tối hôm đó tương ứng với nhân dạng hay bất kỳ cách sử dụng nào có thể hình dung ra được.

Chúng sinh ra nỗi kinh hoàng và sự ghê tởm. Trong một góc tôi thấy có cái thang dựng đứng trên sàn. Các bậc thang rộng bằng sắt, không quá mười bậc, cách đều nhau; cái thang đó, ngụ ý tay và chân, có thể hiểu được, và vì lý do nào đó tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi tắt đèn rồi đợi một chút trong bóng tối. Bốn bề im lặng như tờ, nhưng sự hiện hữu của quá nhiều thứ khó lường làm tôi mất nhuệ khí. Cuối cùng, tôi ra quyết định.

Bàn tay run rẩy của tôi lần nữa vươn tới công tắc đèn trên gác. Cơn ác mộng báo hiệu bằng sự lay động ở tầng dưới và khai nở ở gác trên. Có nhiều vật thể hay vài thứ đan dệt vào nhau. Giờ đây tôi nhớ lại thứ đồ dài, hình chữ U trông như bàn mổ, rất cao, với các lỗ tròn tại mỗi thái cực. Tôi chợt nghĩ đây có thể là cái giường mà chủ nhân ngôi nhà sử dụng, một kẻ có giải phẫu quái đản được vật thể kia chưng hửng tiết lộ, giống như cách thông qua cái bóng ta biết được giải phẫu của động vật hay thánh thần. Từ mấy trang sách Lucan, đọc năm trước rồi lại quên, chữ amphisboena chạm ngõ đầu môi, nó ám chỉ (dù không đầy đủ ý nghĩa) những gì mắt tôi thấy sau đó. Tôi cũng nhớ lại vật thể hình chữ V trong gương lẫn vào những cái bóng bên trên.

Kẻ trú ẩn trong ngôi nhà này phải giống cái gì? Nó phải kiếm tìm thứ gì nơi đây, trên hành tinh này, nơi đối với nó cũng khủng khiếp chẳng kém gì nó đối với chúng ta? Từ những lãnh địa bí mật nào của thiên tượng hay thời gian, từ những buổi hoàng hôn khôn lường cổ xưa và hiện tại nào mà nó đã đến vùng ngoại vi Nam Mỹ này, lại chính xác vào đêm nay?

Tôi cảm thấy mình xâm nhập trái phép vào hỗn mang. Ngoài kia, mưa đã tạnh. Tôi nhìn đồng hồ và kinh ngạc đã gần hai giờ sáng. Tôi để đèn sáng rồi thận trọng quay lại trèo xuống thang. Trèo xuống một khi đã trèo lên được không phải là chuyện bất khả thi – trèo xuống trước khi kẻ trú ẩn đó trở lại. Tôi đoán chừng nó không khoá cửa trước và cổng vào vì nó không biết cách.

Chân tôi chỉ vừa chạm tới bậc áp chót khi tôi nghe có thứ gì đó trườn đến bờ dốc – thứ gì đó nặng nề và chậm chạp và không đơn độc. Lòng hiếu kỳ chiến thắng nỗi sợ, và tôi không thể nhắm mắt lại.

Hết.

3V dịch.

Ảnh đầu bài: Adam Scovell

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Sáng tác

Thơ: Lau nước mắt và lại đi… (Lavender So Blue)

Published

on

Em có biết không?
Tự do từ đâu mà có
Câu chuyện từ đâu mà được kể
Những bài báo vui buồn từ đâu mà viết ra
Em có biết không?
Niềm tin từ đâu mà có
Mảnh đất này còn bao sự diệu kỳ
Đâu phải chỉ có những xót xa
Lấy trời làm nhà
Đất làm chăn ấm
Gió gội mái đầu xanh và biển bạc tắm ướt đẫm da vàng
Chốn thị phi
Người cô độc than khóc
Kẻ lỡ làng đi tìm tri kỷ
Còn ta chỉ là người hay khóc
Lau nước mắt và lại đi…

Lavender So Blue

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Những chiếc lá zombie (Điển Tuyết)

Published

on

Tôi quyết định đổi nơi làm việc, dù Wyandotte là một nơi chốn vô cùng bình yên suốt 5 năm qua. Tôi không định nói lời chia tay đồng nghiệp. Bọn họ quá bận rộn để đọc và hồi đáp một email chia tay giữa mùa Covid. Ai cần tôi thì họ sẽ vẫn liên lạc thôi.

Trong căn hộ này, mỗi một inch đều chất chứa nhiều kỉ niệm, kỉ niệm của tôi những năm tháng hậu chia tay Stovall. Lúc này là vào cuối đông, nhưng cây phong ngoài cửa sổ vẫn còn nguyên những chiếc lá khô cong như hồi cuối thu. Gió vùng này thổi rất mạnh, nhưng lạ lùng làm sao, những chiếc lá phong khô héo, chết lâu ngày kia vẫn không chịu lìa cành. Cứ như thể chúng vẫn đang sống, sống đời zombie của giống loài thực vật. Màu nâu, màu nâu cong, là màu mới của sự sinh tồn chăng?

Căn hộ của tôi chất đầy thùng các tông để mở. Thật khó quyết định những gì cần mang theo đến nơi ở mới. Mất cả tuần liền, tôi chỉ ngồi phân loại mọi thứ ra thành hai loại: cần và rất cần. Thật, có thứ gì trong căn hộ này mà tôi không cần đâu?

Soạn mãi soạn mãi, rồi không rõ thế nào mà tôi vớ phải tập ảnh Stovall chụp khi chúng tôi còn chung sống. Mới chừng hai chục năm trước đây thôi. Có một tấm tôi mỉm cười với khuôn miệng rộng, gương mặt rạng rỡ, phía sau là vườn mai vàng lộng lẫy. Lúc đó, chúng tôi vừa cưới xong, đang bắt tay vào trang trí căn nhà đầu tiên của cả hai. Stovall chụp lại mọi thứ trong nhà, kể cả những vật dụng bình thường nhất, chẳng hạn như chiếc bàn chải đánh răng bằng gỗ tre của tôi. Cảm giác hạnh phúc chầm chậm dâng lên trong tôi, Stovall luôn luôn đáng tin cậy, luôn luôn hết lòng yêu thương tôi. Làm sao tôi có thể bỏ đi kỉ niệm đầu tiên êm ấm này? Đã bao lần, tôi đã định bỏ tập ảnh nhưng...

Năm năm trước, chúng tôi ly hôn. Stovall hỏi tôi liệu có cách nào khác không vì chuyện đâu có đến nỗi nào, tình yêu của chúng tôi chỉ nhạt đi như bất kỳ đôi lứa nào, rồi sẽ ấm áp lại nhanh thôi mà.

Tôi nhìn sâu vào mắt anh, trả lời: “Em biết điều anh muốn là gì.” Và tôi dọn ra khỏi nhà, mặc cho Stovall ôm đầu đau khổ. Anh vẫn gọi cho tôi thường xuyên trong năm đầu tiên, cố thuyết phục tôi quay trở lại, ngay cả khi biết tôi đã có mối quan hệ mới. Anh thôi làm chuyện vô vọng khi tôi qua lại đến người đàn ông thứ ba. Dù vậy, mỗi khi cần nhau tư vấn về thiết kế mĩ thuật, chúng tôi vẫn ôm điện thoại sôi nổi như không hề có bất kỳ xáo trộn gì trong đời sống tình cảm. Chúng tôi rất hòa hợp với nhau trong nghề nghiệp. À, kỳ thực là trong hầu như tất cả mọi mặt, ngoại trừ việc tôi không thể...

Stovall vừa lấy vợ hồi năm ngoái. Họ kết hôn khi bé Hermes vừa chập chững bước đi. Tôi đã bật khóc như mưa khi biết tin anh yêu Ariana, một người bạn thân thiết của cả hai. Tôi thấy tim mình đau đớn đến không khóc được khi Hermes ra đời, và phải nói là tận cùng của sụp đổ khi nhận được thiệp cưới của hai người họ.

Rất nhanh, tôi chúc mừng Stovall. Anh và Ariana không thể tìm thấy người bạn nào tốt hơn tôi nữa, tôi chứng minh cho cả thế giới thấy mình là một người cũ văn minh. Tôi thậm chí còn tay trong tay với Greg, người tình thứ 6, thứ 7 gì đó, đến dự đám cưới của Stovall và vẽ các họa tiết trên váy cưới giúp Ariana.

Tập ảnh này là thứ duy nhất còn sót lại về cuộc hôn nhân đầu tiên và duy nhất của tôi. Chỉ cần bỏ nó vào trong đống lửa dưới sân chung cư thì tôi có thể thực sự kết thúc cơn đau kéo dài suốt 20 năm của mình rồi.

Nhưng không, không, Stovall và tôi của ngày xưa không có tội tình gì để bị đốt cháy thành than tro như vậy cả. Ký ức đó vẫn có đời sống riêng của nó, như những chiếc lá phong khô đét trên cành kia, tuy khô tàn héo rũ nhưng thượng đế vẫn xót thương gìn giữ chúng bình yên xuyên suốt mùa đông dập dìu mưa tuyết và gió bão. Vào mùa thu, bằng một phép màu nào đó, những chiếc lá sẽ lại xanh tươi, sẽ lại đỏ rực trên cành. Chỉ là không biết những chiếc lá nâu khô cong kia sẽ biến đi đâu và biến đi vào lúc nào mà thôi.

Khi dọn đến nơi ở mới, Boize, tôi tìm mãi không thấy tập ảnh cũ của Stovall, dù đã lục tung tất cả các thùng các-tông và cẩn thận bài trí lại mọi thứ y nguyên như trong căn hộ cũ ở Wyandotte.

Bằng một phép màu nào đó, tập ảnh đã không cánh mà bay. Tôi chắc chắn mình không vì say khướt mà ném nó vào đống lửa ngoài sân. Chỉ nhớ mang máng vào buổi chiều cuối cùng tôi đã ngồi tựa đầu vào cây phong lộng gió rất lâu. Với tập ảnh trong tay.

Điển Tuyết

Đọc bài viết

Sáng tác

Truyện ngắn: Hồi ức (Điển Tuyết)

Published

on

Đôi mắt của Hắc Ám không rõ đang buồn hay đang vui. Bầu trời từ từ sầm tối. Âm nhạc của những buổi chiều muộn nhân lên nỗi niềm trong cô. Những thước phim buồn trong đời chiếu lại trong tâm trí. Cuộc đời nhiều phút bất ngờ quá, và lòng người, như ngàn năm vẫn vậy, là thứ ẩn tiềm nhiều bất trắc.

Một cuộc gọi. Phía đầu dây bên kia là một khách hàng cần sự giúp đỡ.

“Cảm ơn cô! Không có cô tôi không biết làm sao!” Người khách hàng trẻ tuổi nói sau khi xong việc.

Hắc Ám vui nhẹ, tạm quên những đau đớn hằn sâu trong lòng. Tình người của những năm tháng này xa xôi như vậy đó, xa như một ngọn nến leo lét cháy trong đêm mịt mù, chỉ nhoi nhói lên chút hy vọng.

Một cuộc gọi khác. Phía đầu dây bên kia là một người quen cần nói một điều gì đó. Những lời nói như cứa vào lòng Hắc Ám, khiến cô toàn thân run rẩy. Cô bấm nút tắt, chặn và không quên xóa luôn số của người ta.

Danh bạ của cô bây giờ chỉ còn những cuộc gọi của khách hàng và những số điện thoại tiếp thị. Cô đã đến tình trạng bất kỳ lời nói chớm trách hờn, chớm mỉa mai, chớm châm chọc nào cũng làm cho bản thân thấy phẫn uất.

“Sao ngươi ghét người quá vậy?” Ai đó hiện ra trong giấc mơ.

“Ừ! Kệ đi!” Hắc Ám buồn rầu.

Nếu sự im lặng có tác dụng làm cho ai đó đỡ phải ngại ngùng mở lời hoặc đỡ phải ngượng ngùng nhận sai, nó có tác dụng hủy diệt đi tình thương và niềm tin của Hắc Ám – người phải chịu đựng sự im lặng phi lý và đôi khi, cả những lời lẽ không thể tàn nhẫn hơn mà con người đã dành cho nhau.

Điều khủng khiếp nhất chưa dừng lại đó. Hắc Ám của những năm tháng về sau này cũng lấy phương thức tệ hại đó để áp dụng với người khác. Còn tàn nhẫn hơn.

Điển Tuyết

Đọc bài viết

Cafe sáng